1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta

25 56 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 99,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta Tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta Tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta Tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta Tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta Tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến GV ĐặngThị Hoài Trong quá trình học tập và tìm hiểu bộ môn Lịch sử các học thuyếtkinh tế, chúng em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn tận tình, tâmhuyết của cô Cô đã giúp chúng em tích lũy thêm kiến thức để có cái nhìn sâusắc và hoàn thiện hơn trong cuộc sống Từ những kiến thức mà cô truyền tải,chúng em đã hiểu được hơn về quá trình hình thành và những lý luận mới củacác học thuyết kinh tế đầu tiền xuất hiện

Trong quá trình hoàn thành bài thảo luận, khó tránh khỏi những sai xót.Chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp đến từ cô để bài thảoluận của chúng em được hoàn thiện hơn

Kính chúc cô sức khoẻ, hạnh phúc, thành công trên con đường sự nghiệpgiảng dạy!!!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG 2

1.1 Hoàn cảnh ra đời của trường phái trọng thương 2

1.2 Những đặc điểm và quan điểm kinh tế của trường phái trọng thương: 2

1.2.1 Sùng bái tiền tệ ,coi tiền tệ la tiêu chuẩn cơ bản của của cải 2

1.2.2 Đề cao vai trò của thương mại đặc biệt là ngoại thương 2

1.2.3 Lợi nhuận do lưu thông đề ra 2

1.2.4 Đề cao vai trò của nhà nước 3

1.3 Các giai đoạn phát triển 3

1.3.1 Giai đoạn từ đầu thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVI 3

1.3.2 Giai đoạn từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII 3

1.3.3 Quá trình tan rã của chủ nghĩa trọng thương 4

1.4 Các mặt tích cực và hạn chế của chủ nghĩa trọng thương: 5

1.4.1 Tích cực 5

1.4.2 Hạn chế 5

1.5 Lí Luận thương mại quốc tế 6

Chương II Ý NGHĨA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 8

2.1 Khái niệm 8

2.2 Hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam những năm gần đây 8

2.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tưởng kinh tế trọng thương đối với Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 11

2.3.1 Gợi ý về giải quyết vấn đề tự do hóa thương mại 11

2.3.2 Bảo hộ mậu dịch, về chiến lược phát triển kinh tế sản xuất thay thế hàng nhập khẩu và sản xuất hướng về xuất khẩu 12

2.3.3 Thể hiện vai trò của nhà nước điều tiết kinh tế và thúc đẩy phát triển ngoại thương 14

2.4 Các biện pháp của Nhà Nước nhằm đẩy mạnh kinh tế đối ngoại của Việt nam hiện nay 15

Trang 4

2.4.1 Các chính sách tăng cường xuất khẩu của nhà nước 15

2.4.2 Các chính sách quản lý nhập khẩu 17

2.4.3 Cải thiện môi trường đầu tư 18

2.4.4 Tích cực, chủ động mở rộng kết nối và hợp tác quốc tế 18

2.4.5 Chủ động nâng cao năng lực hội nhập quốc tế 18

LỜI KẾT THÚC 20

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Chủ nghĩa trọng thương ra đời tuy còn nhiều hạn chế, nhưng với tư cách làhọc thuyết kinh tế đầu tiên cũng đã đưa ra những lý luận cơ bản trong quá trìnhphát triển của chủ nghĩa Tư bản, tạo tiền đề cho nền sản xuất hàng hóa phát triển, và giả quyết được vấn đề cấp bách về vốn trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa

Tư bản

Việt Nam tiến lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua gia đoạn Tư bản chủ nghĩatrong điều kiện nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đó là một nhiệm vụ rất khókhăn và trải qua quá trình lâu dài Một trong những tiền đề để hoàn thành nhiệm

vụ đó là thực hiện công nghiếp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó vấn đề tạodựng và tích lũy vốn đống vai trò quan trọng

Phát triển Thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế là một kênh thu hútnguồn vốn quan trọng của đất nước Do vậy, coi trọng sự phát triển của hoạtđộng thương nghiệp là việc cần thiết, tuy nhiên cần phải bảo đảm nghuyên tắcbình đẳng cạnh tranh lành mạnh, theo chuyển mực và thông lệ quốc tê

Trong điều kiện thực tế nước ta hiện nay , phát triển thương nghiệp vẫn còn

có thể vận dụng những tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương, tuy nhiênviệc nhắm bắt và nhận thức những tư tưởng đó phải có trọn lọc, phù hợp với lịch

sử cà tình hình thực tế cũng như tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển cụ thểnhằm mang lại hiệu quả cao nhất, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp pháttriển công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước với những lý do trên nhóm chúngtôi đã chọn đề tài “tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương-ý nghĩa đối với

sự phát triển kinh tế thị trường của nước ta”

Trang 6

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Hoàn cảnh ra đời của trường phái trọng thương

- Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII ở Tây Âu là thời kì tan rã của chế độphong kiến, là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành tronglòng chế độ phong kiến Lúc này phương thức sản xuất phong kiến tỏ ra lỗi thời,không còn thích hợp, đã kìm hãm sự phát triền của sản xuất Và đây cũng là thời

kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản

- Sản xuất hàng hoá phát triền và trao đổi hàng hoá cũng phát triền theo đòihỏi phải có thị trường tương ứng Vì vậy thương nghiệp đặc biệt là ngoại thươngđóng vai trò quan trọng

- Một loạt những phát kiến về địa lý ở thế kỷ XV như: Tìm ra đường biển

từ Tây âu sáng Ấn độ, colombo tìm ra châu Mỹ, phát hiện ra mỏ vàng ở châuMỹ

Trong bối cảnh đó, nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, các nhà tưtưởng của giai cấp tư sản đã khái quát các kinh nghiệm thành học thuyết Nhưvậy, trường phái Trọng thương ra đời

1.2 Những đặc điểm và quan điểm kinh tế của trường phái trọng thương:

1.2.1 Sùng bái tiền tệ ,coi tiền tệ la tiêu chuẩn cơ bản của của cải.

- Đề cai vai trò của tiền tệ, đồng nhất tiền tệ với của cái, tiền vs sự giàu có

- Phê phán những hoạt động không dẫ đến tích lũy tiền tệ

- Chủ nghĩa trọng thương coi trọng lý thuyết tiền tệ, coi tiền tệ là phươngtiện lưu thông, là của cải cất trữ, là phương tiện để thu lợi nhuận

1.2.2 Đề cao vai trò của thương mại đặc biệt là ngoại thương.

- Cho rằng thương mại là nguồn gốc duy nhất tạo ra, làm tăng của cải

- Khẳng định:’ nội thương là hệ ống dẫn, ngoại thương là máy bơm Muốntăng của cải phải có ngoại thương nhập dần của cải qua nội thương.’

- Đặt nhiệm vụ của ngoại thương là xuất siêu

1.2.3 Lợi nhuận do lưu thông đề ra

- Lợi nhuận là kết quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt mà có

Trang 7

- Các quốc gia phải thu lợi nhuận thì hỉa trà đạp lên lợi ich của quốc giakhác

1.2.4 Đề cao vai trò của nhà nước

- Nhà nước phải giữ được độc quyền của ngoại thương nhưng vẫn phải đưa

ra các chính sách để giúp đỡ cac thương nhân buôn bán với bên ngoài thuận lợi

- Những người trọng thương coi chính sách kinh tế của nhà nước là yếu tốquyết định đối với sự phát triển kinh tế, vì họ là quan niệm chủ nghĩa tư bản mới

ra đời còn non yếu nên muốn tồn tại và phát triển nhờ vào sự ủng hộ và giúp đỡcủa nhà nước

1.3 Các giai đoạn phát triển

1.3.1 Giai đoạn từ đầu thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVI

Đây là giai đoạn sơ kỳ của trường phái Trọng thương Các đại biểu tiêubiểu của thời kỳ này là: William Staford (Anh), G.Skareppa và Serra (Ý)…

Tư tưởng trung tâm của thời kỳ này là “bảng cân đối tiền tệ” Theo họ "cânđối tiền tệ" chính là ngăn chặn không cho tiền tệ ra nước ngoài, khuyến khíchmang tiền từ nước ngoài về Để thực hiện nội dung của bảng "cân đối tiền tệ" họchủ trương thực hiện chính sách hạn chế tối đa nhập khẩu hàng ở nước ngoài,lập hàng rào thuế quan để bảo vệ hàng hoá trong nước, giảm lợi tức cho vay đểkích thích sản xuất và nhập khẩu, bắt thương nhân nước ngoài đến buôn bánphải sử dụng số tiền mà họ có mua hết hàng hoá mang về nước họ

Giai đoạn đầu chính là giai đoạn tích luỹ tiền tệ của chủ nghĩa tư bản, vớikhuynh hướng chung là biện pháp hành chính, tức là có sự can thiệp của nhànước đối với vấn đề kinh tế

1.3.2 Giai đoạn từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII

Đây là giai đoạn trường phái Trọng thương thật sự hình thành Các đại biểutiêu biểu của thời kỳ này là: Thomas Mun (1571 - 1641) người Anh, AntoineMontchretien (1575 – 1621) và Jean Batiste Colbert ( 1618 – 1638 ) ngườiPháp… Tư tưởng trung tâm của các tác phẩm kinh tế là "Bảng cân đối thươngmại": Cấm xuất khẩu công cụ và nguyên liệu, thực hiện thương mại trung gian,thực hiện chế độ thuế quan bảo hộ kiểm soát xuất nhập khẩu, khuyến khích xuất

Trang 8

khẩu và bảo vệ hàng hoá trong nước và các xí nghiệp công nghiệp - công trườngthủ công Đối với nhập khẩu: tán thành nhập khẩu với quy mô lớn các nguyênliệu để chế biến đem xuất khẩu Đối với việc tích trữ tiền: cho xuất khẩu tiền đểbuôn bán, phải đẩy mạnh lưu thông tiền tệ vì đồng tiền có vận động mới sinhlời, do đó lên án việc tích trữ tiền.

So với thời kỳ đầu, thời kỳ sau có sự phát triển cao hơn (đã thấy được vaitrò lưu thông tiền tệ và phát triển sản xuất được quan tâm đặc biệt) Trong biệnpháp cũng khác hơn, không dựa vào biện pháp hành chính là chủ yếu mà dựavào biện pháp kinh tế là chủ yếu Tuy vậy vẫn cùng mục đích: Tích luỹ tiền tệcho sự phát triển chủ nghĩa tư bản, chỉ khác về phương pháp và thủ đoạn

Nhìn chung học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương ở hai giai đoạnđều cho rằng nhiệm vụ kinh tế của mỗi nước là phải làm giàu và phải tích luỹtiền tệ Tuy nhiên các phương pháp tích luỹ tiền tệ là khác nhau

1.3.3 Quá trình tan rã của chủ nghĩa trọng thương

Sự tan rã của chủ nghĩa trọng thương là một tất yếu vì:

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất, thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ củachủ nghĩa tư bản đã chuyển sang thời kỳ phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợiích của giai cấp tư sản đã chuyển sang cả lĩnh vực sản xuất Ảo tưởng làm giàu,bóc lột nước nghèo thuần tuý nhờ hoạt động thương mại không thể tồn tại Tínhchất phiến diện của chủ nghĩa trọng thương đã bộc lộ

- Thực tế đòi hỏi phải phân tích, nghiên cứu sâu sắc sự vận động của nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa như: bản chất các phạm trù kinh tế (hàng hoá, giá trị,tiền tệ, tư bản, lợi nhuận, ), nội dung và vai trò của các quy luật kinh tế (quyluật giá trị, cạnh tranh, cung cầu, ) Chủ nghĩa trọng thương không giải quyếtđược các vấn đề kinh tế đặt ra

- Các chính sách theo quan điểm trọng thương đã hạn chế tự do kinh tế,mâu thuẫn với đông đảo tầng lớp tư bản công nghiệp trong giai cấp tư sản, trongnông nghiệp, nội thương

Trang 9

Với sự tan rã của chủ nghĩa trọng thương, các học thuyết kinh tế tư sản cổđiển ra đời thay thế trong đó nổi bật là học thuyết của chủ nghĩa trọng nôngPháp và học thuyết kinh tế tư sản cổ điển Anh.

1.4 Các mặt tích cực và hạn chế của chủ nghĩa trọng thương:

1.4.1 Tích cực

- Những luận điểm của chủ nghĩa trọng thương so sánh với nguyên lýtrong chính sách kinh tế thời kỳ Trung cổ đã có một bước tiến bộ rất lớn, nóthoát ly với truyền thống tự nhiên, từ bỏ việc tìm kiếm công bằng xã hội, nhữnglời giáo huấn lý luận được trích dẫn trong Kinh thánh

- Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa trọng thương đã tạo ra những tiền để

lý luận kinh tế cho kinh tế học sau này, cụ thể:

- Đưa ra quan điểm, sự giàu có không chỉ là những giá trị sử dụng mà còn

là giá trị, là tiền;

- Mục đích hoạt động của nền kinh tế hàng hoá là lợi nhuận;

- Các chính sách thuế quan bảo hộ có tác dụng rút ngắn sự quá độ từ chủnghĩa phong kiến sang chủ nghĩa tư bản;

- Tư tưởng nhà nước can thiệp vào hoạt động kinh tế là một trong những tưtưởng tiến bộ

1.4.2 Hạn chế

- Những luận điểm của chủ nghĩa trọng thương có rất ít tính chất lý luận vàthường được nêu ra dưới hình thức những lời khuyên thực tiễn về chính sáchkinh tế Lý luận mang nặng tính chất kinh nghiệm (chủ yếu thông qua hoạt độngthương mại của Anh và Hà Lan)

- Những lý luận của chủ nghĩa trọng thương chưa thoát khỏi lĩnh vực lưuthông, nó mới chỉ nghiên cứu những hình thái của giá trị trao đổi Đánh giá saitrong quan hệ trao đổi, vì cho rằng lợi nhuận thương nghiệp có được do kết quảtrao đổi không ngang giá

- Nặng về nghiên cứu hiện tượng bên ngoài, không đi sâu vào nghiên cứubản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế

Trang 10

- Một hạn chế rất lớn của chủ nghĩa trọng thương đó là đã quá coi trọngtiền tệ (vàng, bạc), đã đứng trên lĩnh vực thô sơ của lưu thông hàng hoá để xemxét nền sản xuất TBCN.

- Trong kinh tế đề cao vai trò của nhà nước thì lại không thừa nhận cácquy luật kinh tế

1.5 Lí Luận thương mại quốc tế

Quan điểm về thương mại quốc tế của A.Smith và D.Ricardo A Smith Ôngcho rằng thương mại quốc tế sẽ đem lại lợi ích cho tất cả mọi người , sự giàu cócủa một nước là số hàng hóa dịch vụ có sẵn ở nước đó Ông đã tiếp tục tư tưởnglợi thế tuyệt đối của các nhà kinh tế học trước đó và đưa lý thuyết lợi thế tuyệtđối lên tầm cao mới, làm cơ sở lý luận cho hoạt động thương mại quốc tế D.Ricardo - “buôn bán với nước ngoài là rất có lợi với một nước, bởi vì nó làmtăng thêm số lượng và chủng loại đồ vật mà người ta có thể dùng thương nghiệp

để mua và tung ra dồi dào những hàng hóa rẻ, nó khuyến khích và tạo lợi nhuậncho tích lũy tư bản” - Ông khẳng định ngoại thương sẽ tồn tại trong bất cứ điềukiện nào, do những quy luật kinh tế quyết định

Có thể nói hoạt động buôn bán nói chung và buôn bán quốc tế nói riêng làhoạt động trao đổi hàng hoá, tiền tệ đã có từ lâu đời Thương mại quốc tế có tínhchất sống còn vì một lý do đó là ngoại thương mở rộng khả năng sản xuất vàtiêu dùng của một quốc gia Thương mại quốc tế cho phép một nước tiêu dùngtất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giớicủa khả năng sản xuất trong nước khi thực hiện một nền kinh tế khép kín,TMQT cũng cho phép khai thác các nguồn lực trong nước có hiệu quả, tranh thủkhai thác được mọi tiềm năng và thế mạnh về hàng hoá, công nghệ, vốn củanước ngoài nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước Như vậy con người đãsớm tìm ra lợi ích của TMQT, thế nhưng trong mỗi một hoàn cảnh, điều kiệncủa mỗi quốc gia cũng như từng giai đoạn phát triển của các phương thức sảnxuất thì hoạt động ngoại thương lại có những cách hiểu và vận dụng rất linhhoạt, khác nhau và có cả sự đối lập nhau Chính vì vậy, đã có rất nhiều tư tưởng,

lý thuyết được đưa ra để phân tích, giải thích về hoạt động TMQT Quá trình

Trang 11

nghiên cứu của các học giả cũng như các trường phái kinh tế khác nhau tronglịch sử phát triển tư tưởng về TMQT đã đưa ra những lý thuyết để lý giải vấn đềnày, khẳng định những tác động của TMQT đối với sự tăng trưởng và phát triểntheo trình tự nhận thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ phiến diệnđến toàn diện, từ hiện tượng đến bản chất Để hiểu biết thêm về hoạt độngTMQT, cũng như cách nhìn nhận về nó trong những giai đoạn phát triển cụ thể,chúng ta cũng cần xem xét các nhà kinh tế học, các học giả trong mỗi thời kỳ đã

đề cập và phân tích TMQT để đưa ra những hướng vận dụng các lý luận vềTMQT trong thực tiễn chính sách quốc gia về ngoại thương như thế nào

Trang 12

Chương II Ý NGHĨA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Khái niệm

Hoạt động kinh tế đối ngoại là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thểcác quan hệ kinh tế, kỹ thuật, khoa học, công nghệ của một quốc gia nhất địnhvới các quốc gia khác còn lại hoặc các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thựchiện dưới nhiều hình thức hình thành và phát triền trên cơ sở phát triển của lựclượng sản xuất và phân công lao động quốc tế

2.2 Hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam những năm gần đây

Trong bối cảnh môi trường quốc tế, khu vực có nhiều bất ổn, công tác đốingoại được triển khai chủ động, tích cực, linh hoạt, sáng tạo, góp phần giữ đà vàthúc đẩy quan hệ với các đối tác, nâng cao vị thế của Việt Nam trong tình hìnhmới, đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thành công đường lối đối ngoạicủa Đại hội XII của Đảng và củng cố môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợicho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thứ nhất, quan hệ hợp tác của ta với các nước, nhất là đối với các nước

láng giềng, các đối tác quan trọng tiếp tục được củng cố, thúc đẩy Trước nhữngkhó khăn do đại dịch gây ra, chúng ta vẫn thúc đẩy nhiều trao đổi, hợp tác vớicác nước, nhất là đẩy mạnh trao đổi trực tuyến ở các cấp Trong đó, lãnh đạo cấpcao ta đã tiến hành 34 cuộc điện đàm, trao đổi trực tuyến song phương với lãnhđạo các nước Bên cạnh đó, chúng ta vẫn triển khai an toàn các hoạt động traođổi đoàn quan trọng Lãnh đạo và quan chức cấp cao nhiều nước vẫn chọn ViệtNam đến thăm và thúc đẩy quan hệ Chúng ta cũng tiến hành linh hoạt, sáng tạo,

kể cả thông qua hình thức trực tuyến, nhiều hoạt động kỷ niệm năm tròn, năm lẻ,năm thiết lập quan hệ ngoại giao, duy trì các cuộc họp Ủy ban liên Chính phủ,

ký kết thỏa thuận quốc tế với nhiều đối tác quan trọng Năm qua đã chứng kiếnquan hệ Việt Nam - New Zealand được nâng cấp lên Đối tác Chiến lược, qua đónâng mạng lưới đối tác chiến lược lên 17 quốc gia, cùng với 13 đối tác toàndiện

Ngày đăng: 16/05/2021, 18:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w