1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của Việt Nam

32 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 616 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của Việt Nam Nghiên cứu về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của Việt Nam Nghiên cứu về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của Việt Nam Nghiên cứu về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của Việt Nam Nghiên cứu về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của Việt Nam Nghiên cứu về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của Việt Nam Nghiên cứu về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của Việt Nam

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

I TỔNG QUAN VỀ ODA NHẬT BẢN 1

1.1 Lịch sử hình thành ODA 1

1.2 Chính sách ODA Nhật Bản 2

1.3 Đặc điểm của ODA Nhật Bản 6

1.3.1 Tính ưu đãi 6

1.3.2 Tính ràng buộc 6

1.3.3 Lợi ích của nước viện trợ và nhận viện trợ 7

1.3.4 Khả năng gây nợ thấp 8

II TÁC ĐỘNG CỦA ODA NHẬT BẢN TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIÊT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 8

2.1 Thực trạng của ODA Nhật Bản tại Việt Nam 8

2.1.1 Vị trí của ODA Nhật Bản trong tổng thể nguồn viện trợ ODA tại Việt Nam 8

2.2 Tác động tích cực của ODA Nhật Bản tới kinh tế- xã hội Việt Nam 15

2.2.1 Thúc đẩy tăng trưởng 15

2.2.2 Cải thiện môi trường sinh hoạt và xã hội 16

2.2.3 Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực 19

2.2.4 Chuyển giao cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 20

2.2.5 Thu hút FDI và mở rộng đầu tư 23

2.3 Tác động tiêu cực của ODA Nhật Bản với kinh tế - xã hội Việt Nam 24

KẾT LUẬN 30

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

ODA là một kênh vốn đầu tưu phát triển quan trọng đối với tất cả các quốc giađang phát triển Nói đến ODA tại Việt Nam, cần nhấn mạnh đến vai trò chủ chốt củaNhật Bản Nhật Bản là nhà tài trợ số một thế giới về ODA với phần lớn số tài trợ dànhcho các nước Châu Á Vai trò quan trọng ODA của Nhật Bản trong việc phát triển củacác nước đang phát triển ở Châu Á có thể thấy rõ qua việc ODA Nhật Bản thúc đẩy được

cơ sở hạ tầng kinh tế, và khu vực sản xuất của các nước nhận viện trợ

Trong quá trình hội nhập nền kinh tế với khu vực thế giới, để tạo được một nềnmóng vững chắc, thực hiện được chiến lược lâu dài của Việt Nam đến 2020 cơ bản trởthành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì việc huy động vốn đầu tư nước ngoàiluôn là một trong những vấn đề cốt yếu có tính chất quan trọng

Trong hơn 10 năm qua, Nhật Bản là nhà cung cấp lớp nhất ODA cho Việt Namtrong hơn 20 nước và tổ chức cung cấp ODA cho Việt Nam Nguồn vốn ODA từ NhậtBản nói riêng đã đóng vai trò quan trọng, góp phần giúp Việt Nam tăng trưởng kinh tế,xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân ODA cũng là một “vũ khí” của NhậtBản nhằm tăng ảnh hưởng chính trị và làm tiền đề cho FDI Nhật Bản theo sau Nghiêncứu về ODA Nhật Bản cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế cung cấp nguồn vốnnày Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm 3 chúng em quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu

về ODA Nhật Bản và vai trò của các dòng vốn đó đối với quá trình phát triển của ViệtNam”

Trang 3

I TỔNG QUAN VỀ ODA NHẬT BẢN

1.1 Lịch sử hình thành ODA

 Quá trình hình thành và phát triển ODA trên thế giới

Thuật ngữ “Hỗ trợ chính thức” xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, gắnliền với yếu tố chính trị Lúc đó cả châu Âu và châu Á đều trong cảnh hoang tàn riêng cóchâu Mĩ là không bị ảnh hưởng của chiến tranh mà trở nên giàu có sau chiến tranh Khi

đó mĩ đã viện trợ ồ ạt cho các nước Đồng minh Tấy Âu nhằm ngăn chặn sự ảnh hưởngcủa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Mĩ đã triển khai kế hoạch Marshall thông quangân hàng thế giới mà chủ yếu là IRBD thực hiện viện trợ ồ ạt cho Tây Âu với tên gọi là

“ Hỗ trợ phát triển chính thức” được ví là trận mua Đôla khổng lồ cho châu Âu Tiếp đómột số nước công nghiệp đã thỏa thuận về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại,hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển Ngày 14/2/1960 tại Pari

đã kí kết thỏa thuận thành lập Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (Organization forEconomic Cooporation anh Development- OECD) OECD gồm 20 nước thành viên, banđầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp ODA song phương và đaphương Trong khuôn khổ hợp tác kinh tế phát triển, OECD đã lập ra những Ủy banchuyên môn, trong đó DAC phụ trách các nước đang phát triển nâng cao hiệu quả đầu tư

DAC khi sáng lập gồm 18 nước Thường kì, các thành viên thông báo các khoảnđóng góp cho chương trình viện trợ phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quantới chính sách viện trợ phát triển Từ 1996 DAC chú trọng vào viện trợ cho các nướcnhạn hỗ trợ có thể chế và những chính sách phù hợp chứ không phải chỉ cấp vốn Thànhviên của DAC hiện nay gồm: Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Italia, HàLan, Nauy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Anh, Mĩ, Australia, Newzeland, NhậtBản, Phần Lan, Luxembourg, Tây Ban Nha và Ủy ban Cộng đồng Châu Âu

Để hỗ trợ phát triển kinh tế và xã hội cho các nước đang phát triển, Chính phủ cácnước phát triển, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO), doanh nghiệp tưnhân, đang tiến hành các chương trình viện trợ Trong chương trình này, hỗ trựo côngcủa Chính phủ dành cho các nước đang phát triển được gọi là Hỗ trợ Phát triển Chínhthức (official Development Assistance)

 Quá trình hình thành và phát triển ODA ở Việt Nam

Quan hệ viện trợ cho Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ những năm 1950 Trong giaiđoạn từ 1950 đến cuối thập kỉ 1980, nguồn viện trợ chủ yếu đến từ Liên Xô cũ và cácnước Đông Âu

Trang 4

Sau khi miền Nam được giải phóng năm 1975, nhiều nhà tài trợ phương Tây đãviện trợ cho Việt Nam Năm 1979 có khoảng 70 tổ chúc hoạt động thuộc khu vực Châu

Âu, Bắc Mĩ viện trợ cho Việt Nam với số vốn khảng 30 triệu USD Trong giai đoạn1979-1988, MĨ cấm vận làm một số tổ chức ngưng hoạt động viện trợ cho Việt Nam, một

số tổ chúc khác hoạt đọng cầm chừng Viện trợ đã giảm xuống còn khoảng 8-10 triệuUSD/năm và khoảng 70% khoản viện trợ dùng cho các hoạt động khẩn cấp Trong hainăm 1991 và 1992, OECD đã nối lại viện trợ, nguồn vốn ODA tăng từ 70 triệu USD giaiđoạn 1989-1990 lên 350 triệu USD năm 1992

Sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, Hội nghị tư vấn các nhà tàitrợ quốc tế tổ chức vào tháng 11/1993 đã đánh dấu cột mốc quan hệ mới ODA với sựtham gia của rất nhiều tổ chức đa phương và các nước thành viên của Ủy ban phát triển.Cũng trong giai đoạn này Việt Nam đã tiến hành đàm phán và kí kết các nghị định thư,bản ghi nhớ, văn kiện dự án, điều ước quốc tế về ODA Tổng giá trị điều ước quốc tế vềODA khỏng 19,5 tỉ USD Trong số các nhà tài trợ, Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất(chiếm khoảng 40% tổng giá trị vốn ODA kí kết giai đoạn 1993-1999), tiếp đến là WB,ADB, Hàn Quốc, Pháp, Đức, Đan Mạch, Thụy Điển Trong suốt hơn 15 năm Nhật Bnarluôn là nước cung cấp viện trợ nhiều nhất cho Việt Nam và Việt Nam cũng là một trongnhững nước quan trọng mà Nhật Bản hỗ trợ ODA

Từ tháng 10 năm 2008, theo chương trình cải cách thể chế thực hiện ODA củaChính phủ Nhật Bản, một trong những cơ quan thực hiện viện trợ ODA của chính phủNhật Bản trước đó chỉ phụ trách thực hiện hợp tác kĩ thuật – Cơ quan Hợp tác Quốc tếNhật Bản (JICA) đã đổi mới, thực hiện cả phần vốn vay ODA của Ngân hàng Hợp tácQuốc tế Nhật Bản (JBIC), và trở thành cơ quan duy nhất thực hiện viện trợ ODA Cơquan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) thông qua ba hình thức hợp tác: hợp tác kĩ thuật,hợp tác vay vốn và Viện trợ không hoàn lại

1.2 Chính sách ODA Nhật Bản

 Sức khỏe

Nhật Bản là nước luôn dẫn đầu trong khu vực về vấn đề sức khỏe con người, Nhật Bản đã chứng kiến nhiều thách thức nảy sinh từ những căn bệnh truyền nhiễm chính vì vậy năm 2000 Hội nghị Thượng đỉnh G8 Kyushu-Okinawa được tổ chức dưới Tổng thống Nhật Bản, lần đầu tiên xác định bệnh truyền nhiễm

là một trong những nội dung chính của chương trình nghị sự của Hội nghị Thượng đỉnh G8 và công bố Okinawa là người phát hiện bệnh truyền nhiễm Điều này đã

Trang 5

mở đường cho việc thành lập Quỹ toàn cầu chống lại bệnh AIDS, Lao và Sốt rét (Quỹ Toàn cầu) năm 2002 Nhật Bản không chỉ đóng một vai trò hàng đầu trong việc thành lập Quỹ toàn cầu, mà còn đóng vai trò trung tâm tích cực trong hoạt động và quản lý của Quỹ với tư cách là thành viên của Hội đồng quản trị Đến năm

2008 Hội nghị thượng đỉnh Hokkaido Toyako G8 đã đánh dấu một nửa thời hạn để đạt được MDGs ( mục tiêu phát triển thiên niên kỉ) Đến năm 2015, thảo luận về tầm quan trọng của hợp tác mới tập trung vào sức khỏe, Hội nghị thượng đỉnh đã biên soạn Khung Toyako cho Hành động vì Sức khỏe Toàn cầu, trong đó nêu ra các nguyên tắc cho hành động liên quan đến sức khỏe Các thành viên đã nhất trí

về các hành động cần thiết đối với củng cố hệ thống y tế bao gồm: phòng chống bệnh truyền nhiễm, chương trình sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát triển lực lượng lao động y tế Vào tháng 5 năm 2013, Nhật Bản đưa ra Chiến lược của Nhật Bản

về Ngoại giao Y tế Toàn cầu Trong Chiến lược, Nhật Bản ưu tiên sức khỏe toàn cầu ở nước ngoài, thực hiện chính sách và thúc đẩy bao phủ sức khỏe toàn dân (UHC), cho phép tất cả mọi người được tiếp cận với các dịch vụ sức khỏe họ cần

mà không gặp khó khăn về tài chính.

 Giảm rủi ro do thiên tai

Nhật Bản là quốc gia trải qua nhiều thảm họa thiên nhiên và phải chịu thiệt hại rất lớn nhất là từ động đất và sóng thần , bao gồm trận động đất lớn Hanshin- Awaji năm 1995 và Trận động đất ở Đông Nhật Bản năm 2011, do đó Nhật Bản đã chủ động dẫn đầu nỗ lực giảm nhẹ rủi ro thiên tai trong cộng đồng quốc tế, chia sẻ với thế giới kinh nghiệm về giảm nhẹ rủi ro thiên tai Nhật Bản đã đăng cai tổ chức Hội nghị Thế giới của Liên hợp quốc về Giảm thiểu rủi ro thiên tai kể từ hội nghị đầu tiên vào năm 1994 Tại hội nghị lần thứ hai tổ chức ở Kobe năm 2005, tròn 10 năm hướng dẫn quốc tế về giảm thiểu rủi ro thiên tai, Khung hành động Hyogo đã được thông qua và được coi là hướng dẫn giảm thiểu rủi ro thiên tai cho các nước khác Ngoài ra, để ứng phó với các thảm họa trên khắp thế giới, bao gồm động đất, bão và lũ lụt, chẳng hạn như bão Haiyan đổ bộ vào Philippines năm 2013, Nhật Bản tiến hành các hoạt động cứu trợ thông qua nhân đạo khẩn cấp hỗ trợ và cũng cung cấp phục hồi và tái thiết hỗ trợ Nhật Bản cũng hỗ trợ giảm thiểu rủi ro thiên tai ở các nước đang phát triển.

 Phát triển châu Phi

Trang 6

TICAD ( Tokyo International Conferrence on African Development), Hội nghị quốc tế về Phát triển Châu Phi được tổ chức lần đầu tiên ở Tokyo với mục tiêu tăng hiệu quả phát triển ở Châu Phi TICAD đã từng là một diễn đàn tiên phong để thảo luận về phát triển Châu Phi với các đối tác rộng lớn, bao gồm quốc gia phát triển , tổ chức quốc tế và các tổ chức khu vực tư nhân, và các tổ chức phi chính phủ Từ hội nghị đầu tiên 5 cuộc họp Thượng đỉnh đã được đồng tổ chức tại Nhật Bản 5 năm một lần với LHQ, UNDP, Ngân hàng Thế giới và Ủy ban Liên minh Châu Phi (AUC) 7 dưới sự lãnh đạo của chính phủ Nhật Bản Tại hội nghị lần thứ năm (TICAD V) năm 2013, Nhật Bản đã đóng một vai trò tích cực trong việc thúc đẩy cộng đồng quốc tế về các sáng kiến cho Châu Phi, một lục địa nhằm mục đích vượt qua nhiều vấn đề cấp bách như xung đột chủng tộc và nghèo đói thông qua sự phát triển Ví dụ, Nhật Bản cam kết lên đến khoảng ¥ 3,2 nghìn tỷ, bao gồm khoảng 1,4 nghìn tỷ yên vốn ODA, trong các sáng kiến công-tư Sắp xếp đang được thực hiện để tổ chức TICAD tiếp tục thực hiện ở Châu Phi.

 Hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển ở đảo nhỏ

Các quốc gia đang phát triển ở Đảo nhỏ (SIDS) dễ bị ảnh hưởng bởi những bất lợi xuất phát từ dân số nhỏ lẻ và các hòn đảo nằm rải rác thì rất rễ bị chìm bởi mực nước biển dâng cao do sự nóng lên toàn cầu Các nước đảo và bán đảo này chịu nhiều bão, núi lửa và các thiên tai khác Do các nước nhỏ này chịu thiệt hại rất nhiều nên việc phát triển bền vững còn nhiều thách thức hơn các nước đang phát triển khác Nhật Bản đã đăng cai tổ chức Cuộc họp các nhà lãnh đạo các đảo Thái Bình Dương (PALM) ba năm một lần kể từ năm 1997, với sự tham dự của lãnh đạo và đại diện các quốc đảo Thái Bình Dương, Nhật Bản đưa ra sáng kiến để thúc đẩy cam kết hợp tác liên tục với Các quốc đảo Thái Bình Dương để ứng phó với thiên tai, các biện pháp đối phó với các vấn đề môi trường và thay đổi khí hậu, bảo

vệ môi trường hàng hải, và giải quyết các thách thức về phát triển bền vững Có 6 cuộc họp của các nhà lãnh đạo đã được tổ chức cho đến nay Tháng 7 năm 2014, Nhật Bản cũng đã tổ chức Hội nghị cấp Bộ trưởng Japan CARICOM với các Cộng đồng Caribe (CARICOM) bao gồm nhiều SIDS kể từ hội nghị đầu tiên năm 2000 Những cuộc họp này đã giải quyết các vấn đề phát triển khác nhau đặc biệt đối với

Trang 7

SIDS Vào tháng 9 năm 2014, Hội nghị Quốc tế về SIDS lần thứ 3 đã được tổ chức tại Samoa để thảo luận về các vấn đề các quốc đảo nhỏ đang phỉa đối mặt , Nhật Bản cam kết hỗ trợ cho sự thành công của hội nghị, bao gồm giả định các chi phí

tổ chức hội nghị.

 Hỗ trợ tăng cường kết nối ASEAN

Nhật Bản và ASEAN đã xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn 40 năm thực hiện hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng trong khu vực Nhật Bản hỗ trợ rất nhiều bao gồm hỗ trợ đóng góp vào sự phát triển của làng nông nghiệp và khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách phát triển y tế và giáo dục, phát triển cơ

sở hạ tầng quy mô lớn, phát triển nguồn nhân lực và thể chế phát triển Sự hỗ trợ này tạo nên nền tảng của tăng trưởng năng động hiện nay của các nước ASEAN ASEAN mong muốn thành lập Cộng đồng ASEAN tại 2015 và xác định tăng cường kết nối nội vùng như một ưu tiên tuyệt đối Nhật Bản đã hỗ trợ ASEAN nỗ lực tăng cường kết nối bằng cách phát triển và cải thiện cơ sở hạ tầng môi trường đầu tư, theo quan điểm biến một ASEAN thống nhất và thành một trung tâm hợp tác khu vực là điều cần thiết cho sự ổn định và thịnh vượng của khu vực Các Cuộc họp giữa Lực lượng Đặc nhiệm Nhật Bản về Kết nối và Ủy ban Điều phối Kết nối ASEAN đã đã được đưa ra Nhật Bản cung cấp hỗ trợ cho cả khó khăn và cơ sở hạ tầng mềm góp phần nâng cao khu vực kết nối, đồng thời coi trọng đối thoại với ASEAN Tại Hội nghị Thượng đỉnh kỷ niệm mối quan hệ ASEAN-Nhật Bản vào tháng 12 năm 2013, Nhật Bản cam kết 2000 tỷ yên cho hơn 5 năm cho việc tăng cường kết nối và thu hẹp khoảng cách phát triển khu vực và trong tương lai Nhật Bản vẫn sẽ tiếp tục tăng cường hỗ trợ ASEAN.

 Hòa bình

Nhật Bản cũng đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng hòa bình Nhật Bản đã liên tục hỗ trợ cho Afghanistan để đảm bảo rằng quốc gia này sẽ trở thành một đất nước tự chủ và không trở thành một điểm nóng của khủng bố một lần nữa Nhật Bản đã nỗ lực hỗ trợ Afghanistan để nâng cao khả năng, duy trì an ninh, tái hòa nhập các cựu chiến binh vào xã hội, đạt được phát triển bền vững và tăng trưởng tự lực của Afghanistan Hơn nữa, Nhật Bản đã tích cực tham gia vào tiến

Trang 8

trình hòa bình ở Mindanao, Philippines, nơi đụng độ giữa chính phủ và các nhóm phiến quân Hồi giáo liên tục trong nhiều năm, hỗ trợ cần thiết ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi xung đột và chuyển sang hỗ trợ thông qua ODA trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, và nông nghiệp Kể từ năm 2013, Nhật Bản đã mở rộng hỗ trợ chẳng hạn như hỗ trợ xây dựng thể chế cho chính phủ tự chủ và phát triển nguồn nhân lực hỗ trợ, hướng tới việc thiết lập hòa bình trong Mindanao Những hỗ trợ này đã tạo được danh tiếng cao giữa người dân và chính quyền địa phương Toàn diện hiệp định hòa bình đã được ký kết giữa chính phủ và nhóm Hồi giáo

 Như những ví dụ tiêu biểu này đã chứng minh, trong ngày 21 thế kỷ, Nhật Bản

đã tiếp tục chủ động thực hiện vai trò lãnh đạo với tư cách là một trong những nhà tài trợ lớn trong việc giải quyết các thách thức toàn cầu, ghi lại những trải nghiệm và thông tin chi tiết độc đáo của Nhật Bản

1.3 Đặc điểm của ODA Nhật Bản

1.3.1 Tính ưu đãi.

 Đối với phần vốn vay ưu đãi, các điều kiện cho vay và đấu thầu thường được điềuchỉnh theo thời gian cho phù hợp với thực trạng của các nước nhận viện trợ và điềukiện kinh tế Nhật Bản

 Các điều kiện và điều khoản của vốn vay ODA Nhật Bản là ưu đãi với lãi suất thấp

và thời hạn dài, có khoảng thời gian không trả lãi hoặc nợ, không phải dự án nàocũng áp dụng các điều kiện ràng buộc: ODA Nhật Bản có mức lãi suất dao động từ0.75%- 2.3%/ năm tùy thuộc tính chất từng dự án thời hạn cho vay 30- 40 năm, thờihạn ân hạn 10 năm

Trang 9

 Ngoại trừ viện trợ không hoàn lại (chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số viện trợ phát triểncủa Nhật Bản ), việc đấu thầu cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho phần vốn vay ưuđãi của Nhật Bản được mở ra cho tất cả các công ty trên thế giới Số liệu thống kêcho thấy trong suốt thập kỷ 90, các công ty Nhật Bản chỉ giành được khoảng 1/3 sốhợp đồng cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các chương trình dự án thông qua việntrợ phát triển của Nhật Bản.

1.3.3 Lợi ích của nước viện trợ và nhận viện trợ.

*ODA Nhật Bản chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại song song:

 Sử dụng viện trợ như công cụ phục vụ lợi ích về thương mại và đầu tư của NhậtBản tại các nước nhận viện trợ

 Các dự án viện trợ không hoàn lại được dùng để phát triển nguồn nhân lực vàxây dựng cơ sở hạ tầng Viện trợ phát triển chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng viện trợphát triển của Nhật Bản

 Sử dụng viện trợ như một công cụ phục vụ các chính sách ngoại giao của NhậtBản, thúc đẩy quá trình dân chủ, xây dựng nền kinh tế thị trường và thực hiệncác quyền con người

Trang 10

1.3.4 Khả năng gây nợ thấp

 Bởi vì phần vốn vay ưu đãi, các điều kiện cho vay và đấu thầu thường được điềuchỉnh theo thời gian cho phù hợp với nước nhận viện trợ và các điều kiện và điềukhoản của vốn vay ODA Nhật Bản là ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn dài, cókhoảng thời gian không trả lãi hoặc nợ dẫn tới khả năng gây nợ của các nước tiếpnhận đầu tư là thấp.Tuy nhiên lãi suất ODA thấp và kỳ hạn trả nợ dài song với sốvay lớn, nếu xuất hiện việc đồng yên tăng giá bất thường cũng khiến doanh nghiệp

có thể phải hứng chịu khoản lỗ tỷ giá hàng nghìn tỷ đồng Tổng công ty CảngHàng không Việt Nam (ACV) là doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn viện trợ pháttriển chính thức (ODA) từ Nhật Đến cuối năm 2015, ACV có khoản vay nợ 70,6

tỷ yên, trong đó có 19 tỷ vay ODA cho dự án xây dựng nhà ga Quốc tế sân bayTân Sơn Nhất với lãi suất 1,6% Ngoài ra, ACV được ưu đãi vay lãi suất dưới0,5% với thời hạn trả 30-40 năm cho dự án Nhà ga quốc tế Nội Bài Ước tính nếuyên Nhật tăng giá 1%, khoản lỗ tỷ giá của ACV là 150 tỷ Như vậy, với mứcchênh lệch khoảng 16% như trên, con số có thể lên hơn 2.100 tỷ đồng (ước tínhtheo tỷ giá Vietcombank)

II TÁC ĐỘNG CỦA ODA NHẬT BẢN TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIÊT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 Thực trạng của ODA Nhật Bản tại Việt Nam

2.1.1 Vị trí của ODA Nhật Bản trong tổng thể nguồn viện trợ ODA tại Việt Nam.

Việt Nam đã trải qua 27 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA kể từ khi chính thức nốilại quan hệ với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế vào tháng 11/1993 Nguồn vốn ODAtrong 27 năm qua đã song hành và đóng góp không nhỏ vào công cuộc phát triển và xóađói giảm nghèo của Việt Nam, hỗ trợ VN thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh

tế - xã hội Từ 1995 đến nay, Nhật Bản luôn là nhà tài trợ ODA lớn nhất trong các nhà tàitrợ song phương cho Việt Nam Tính từ năm 1992 đến năm 2011, tổng vốn viện trợ ODAcủa Nhật Bản cho Việt Nam lên đến hơn 2 nghìn tỷ Yên (Hợp tác kỹ thuật thực hiện theo

số vốn giải ngân, Hỗ trợ kinh phí thực hiện theo số vốn cam kết), chiếm 30% trong tổngvốn viện trợ mà các nhà tài trợ quốc tế dành cho Việt Nam Trên tinh thần tôn trọng sự tựlực của Việt Nam, 78% trên tổng số vốn ODA được Nhật Bản cung cấp dưới hình thứcVốn vay ODA Đến nay, Nhật Bản đã cùng các nhà tài trợ khác triển khai phân ngành để

Trang 11

tiến hành hỗ trợ một cách hiệu quả Nguồn vốn ODA của Nhật Bản đã thực sự đóng góphiệu quả vào sự phát triển cơ sở hạ tầng, các ngành công nghiệp chủ chốt của Việt Nam.

Vốn ODA phân theo nhà tài trợ (Giai đoạn 1992 - 2011)

(Nguồn: Theo thống kê của OECD - DAC)

2.1.2 Đặc điểm viện trợ chính thức ODA Nhật Bản cho Việt Nam

Từ khi nối lại hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam vào năm 1992,Nhật Bản đã rót lượng lớn vốn ODA và mang lại hiệu quả lan tỏa đến hầu hết những lĩnhvực trọng yếu bằng nhiều hình thức khác nhau

a Tính ưu đãi

JICA cho biết , các điều khoản và điều kiện của vốn vay ODA Nhật Bản được thiếtlập dựa trên mức thu nhập của các nước tiếp nhận (tổng thu nhập quốc dân (GNI)/đầungười) Hỗ trợ phát triển (mức hỗ trợ, trọng tâm hỗ trợ và điều kiện hỗ trợ ) sẽ biếnchuyển cùng với sự phát triển (mức tăng thu nhập) của nước tiếp nhận Như vậy, mức độ

ưu đãi của các điều khoản và điều kiện của ODA Nhật Bản đã thay đổi khi Việt Namđược xếp vào nhóm các nước có "thu nhập trung bình thấp"

Mặc dù vậy, theo JICA, sự gia tăng của lãi suất là rất nhỏ, từ 1,4% lên 1,5% cho cácđiều khoản không ràng buộc, đồng thời yếu tố không hoàn lại trong vốn vay ODA NhậtBản theo cách tính của Ủy ban Hỗ trợ phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác kinh tế và Pháttriển (OECD-DAC) vẫn còn cao Hơn nữa, mức độ ưu đãi của ODA Nhật Bản có thểđược nhận thấy thông qua so sánh với các nhà tài trợ đa phương và song phương khác.JICA cho biết, kể từ tháng 7/2017, các nhà tài trợ đa phương đã bắt đầu dừng cungcấp các khoản vay ODA cho Việt Nam Cụ thể, Việt Nam đã tốt nghiệp các khoản vay từHiệp hội Phát triển quốc tế (IDA) thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới vào tháng 7/2017 và

sẽ tốt nghiệp các khoản vay hỗn hợp ODA và vay ưu đãi thông thường (OCR) của Ngân

Trang 12

hàng Phát triển châu Á (ADB) vào tháng 1/2019 Ngược lại, JICA, với việc thiết lập cácđiều khoản và điều kiện cho vay của mình dựa trên định nghĩa ODA của OECD-DAC, cóthể tiếp tục cung cấp các khoản vay ODA cho Việt Nam đến khi Việt Nam tốt nghiệphạng mục "thu nhập trên trung bình" (hiện được định nghĩa là có mức GNI/đầu ngườitrên 12.235 USD) Xem xét sự tăng trưởng kinh tế hiện tại của Việt Nam, Việt Nam cóthể tiếp tục sử dụng các khoản vay ODA của Nhật Bản trong nhiều thập kỷ tới.

Liên quan đến việc hình thành dự án, JICA ban hành “Hướng dẫn chung về thẩmđịnh” vào mỗi năm tài chính Các mục được nêu trong Hướng dẫn chung là các quy tắc

áp dụng mang tính toàn cầu và được thiếp lập cho mục đích ước tính chi phí JICA thảoluận kỹ lưỡng với phía Việt Nam, trong đó có Bộ Tài chính, về các mục trong Hướng dẫnchung trước khi tiến hành thẩm định và hoàn tất dự toán chi phí

Để tránh xảy ra tình trạng thiếu vốn trong quá trình thực hiện dự án, Hướng dẫnchung đưa ra các quy định chung về tỷ giá hối đoái, các định mức chi phí, dự phòng vàtrượt giá nhằm thực hiện ước tính chi phí Dựa trên chi phí ước tính cho dự án, JICA sẽquyết định về khối lượng vốn vay được cung cấp theo nguồn tài chính của JICA Vì vậy,các mục trong Hướng dẫn chung được sử dụng để đánh giá khối lượng tài chính thíchhợp tài trợ cho dự án

Về mức tiền lương cho tư vấn Nhật Bản trong các dự án sử dụng vốn vay ODA,JICA cho biết, mức lương được đề cập trong Hướng dẫn chung dành cho thẩm định đượcxác định dựa trên trình độ chuyên môn và kinh nghiệm toàn cầu, do đó, nó không phải làmột đơn giá cố định Hơn nữa, trong quá trình tham vấn, JICA cũng thảo luận kỹ lưỡngvới phía Việt Nam về tính phù hợp của đơn giá này với các định mức chi phí của ViệtNam Do đó, mức giá được áp dụng đa phần là giống với các dự án tương tự do các nhàtài trợ khác thực hiện tại Việt Nam

Vốn vay ODA và vay ưu đãi giai đoạn 2018 - 2020 từ Nhật Bản:

Điều kiện vay thông thường với các mức lãi suất từ 0,6% đến 1,2%, thời hạn vay từ 15năm đến 30 năm, thời gian ân hạn từ 5 năm đến 10 năm

- Điều kiện vay ưu đãi với các mức lãi suất từ 0,4% đến 1%, thời hạn vay từ 15 đến 30năm, thời gian ân hạn từ 5 năm đến 10 năm

- Điều kiện vay ưu đãi với các dự án kỹ thuật cao với các mức lãi suất từ 0,35% đến0,5%, thời hạn vay từ 15 năm đến 30 năm, thời gian ân hạn từ 5 năm đến 10 năm

- Điều kiện vay đặc biệt dành cho đối tác kinh tế (STEP) có ràng buộc về xuất xứ hànghoá và nhà thầu:

(1) Nhà thầu tham gia đấu thầu thoả mãn một trong các điều kiện: (i) là công ty NhậtBản; (ii) liên doanh do công ty Nhật Bản đứng đầu; (iii) chi nhánh của công ty Nhật Bảntại nước ngoài

Trang 13

(2) Xuất xứ hàng hoá: Đảm bảo tỷ lệ ít nhất 30% giá trị hợp đồng mua sắm hàng hoá vàdịch vụ có xuất xứ từ Nhật Bản.

b Tính ràng buộc

Các khoản vay ràng buộc là thuộc loại “Điều khoản đặc biệt dành cho đối tác kinh tế(STEP)” có mức ưu đãi đặc biệt Hiện lãi suất là 0,1% với thời gian trả nợ là 40 năm STEP chỉ áp dụng cho các dự án mà công nghệ và bí quyết của Nhật Bản được áp dụngmột cách đáng kể Các nước tiếp nhận yêu cầu dự án STEP khi họ muốn sử dụng vàchuyển giao các công nghệ tiên tiến này của các công ty Nhật Bản cho Dự án

Trong tổng số vốn vay từ năm 2010 đến năm 2017, các khoản vay STEP (vay ràng buộc)chỉ chiếm 38% trong khi 62% còn lại (điều kiện không ràng buộc) là các khoản vay đượccung cấp mà không có bất kỳ hạn chế nào về quốc tịch của nhà thầu hoặc nguồn gốc muasắm.Jica Việt Nam tin rằng, việc lựa chọn nhà tư vấn và nhà thầu cho dự án ODA củaNhật Bản phải phù hợp với hướng dẫn về mua sắm của JICA áp dụng cho vốn vay ODANhật Bản

Đối với các dự án xây dựng, nguồn vốn của Dự án là vốn ODA Nhật Bản, phải ápdụng điều kiện STEP (điều kiện vay đặc biệt dành cho các đối tác kinh tế) nên công táclựa chọn nhà thầu bị ràng buộc bởi một số quy định như: đối với gói thầu xây lắp, nhàthầu chính phải là nhà thầu Nhật Bản, thực hiện trên 50% khối lượng hợp đồng; giá trịhàng hoá và dịch vụ Nhật Bản không ít hơn 30% tổng giá trị hợp đồng; giá trị gói thầulớn… dẫn đến hạn chế lớn trong công tác lựa chọn nhà thầu của Dự án

c Lợi ích của nước viện trợ và nước nhận viện trợ

 Đối với Nhật Bản :

 Đó là chính sách ngoại giao kinh tế khôn khéo và hiệu quả, tạo quan hệ hữunghị Việt - Nhật , đồng thời thúc đẩy quá trình dân chủ, xây dựng nền kinh tếthị trường

 Đây như công cụ phục vụ lợi ích về thương mại và đầu tư của Nhật Bản tạiViệt Nam

 Các dự án viện trợ không hoàn lại được dùng để phát triển nguồn nhân lực vàxây dựng cơ sở hạ tầng Chương trình hợp tác kỹ thuật được dùng để tăngcường nguồn nhân lực và xây dựng thể chế thông qua việc chuyển giao kỹthuật và kiến thức Viện trợ phát triển chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng viện trợ pháttriển của Nhật Bản

 Đối với Việt Nam :

 Đi đôi với việc nối lại viện trợ ODA song phương cho Việt Nam, NhậtBản còn đóng vai trò tích cực giúp Việt Nam khai thác nguồn viện trợ từ các

Trang 14

hạn dài, có khoảng thời gian không trả lãi hoặc nợ nên khả năng gây nợ củaViệt Nam là thấp.

2.1.3 Tình hình quản lý và sử dụng ODA Nhật Bản

Trong gần 30 năm huy động nguồn vốn ODA từ Nhật Bản, với tinh thần học tậpNhật Bản, Việt Nam đã tích cực sử dụng nguồn vốn ODA và áp dụng công nghệ củaNhật Bản vào các ngành Để sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA Nhật Bản, cùng với việcquản lý nợ công nói chung, khung pháp lý và phương thức quản lý, sử dụng vốn ODANhật Bản của Việt Nam liên tục được đổi mới, hoàn thiện và ngày càng tiệm cận với cáctiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt từ năm 2009 đến nay Cùng với Luật Quản lý nợ công số29/2009/QH12 ban hành ngày 17.6.2009 và Nghị định 79/2010/NĐ-CP ngày 14.7.2010hướng dẫn nghiệp vụ quản lý nợ công, Nghị định 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụngnguồn vốn ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ đã cụ thể hóa vai trò, chứcnăng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước và cácbộ/ngành, chính quyền địa phương… Các khâu hoạch định chủ trương đến các khâu cụthể của quá trình quản lý, sử dụng, giám sát và báo cáo kết quả thực hiện các chươngtrình, dự án ODA được quy định chặt chẽ đảm bảo hiệu quả cao nhất, hướng dòng vốnđến đúng địa chỉ, các chương trình, các dự án, các địa bàn và góp phần thúc đẩy pháttriển KT-XH của Việt Nam Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam luôn chủ trương sử dụngnguồn ODA hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với Chính phủ Nhật Bản để minh bạch hóa thủtục và kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng, quản lý, kiên quyết không để xảy ra trường hợpđáng tiếc

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, vốn vay ODA cũng được ưu tiên sử dụng đểchuẩn bị và thực hiện chương trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp;chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước có khả năng tạo nguồnthu để phục vụ lợi ích kinh tế-xã hội Vốn vay ưu đãi được ưu tiên sử dụng để thực hiệnchương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn Cụ thể:

 Đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn, Việt Nam đã ưu tiên ODA cho cácchương trình, dự án hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển ngànhnghề để tăng thu nhập cho người nông dân; phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn để

hỗ trợ sản xuất ổn định và cải thiện đời sống nhân dân; tranh thủ nguồn vốn ODA

để trồng mới, chăm sóc và bảo vệ rừng, phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên, gópphần cải thiện môi trường sinh thái và giảm nhẹ hậu quả thiên tai

 Đối với hạ tầng kinh tế, sử dụng ODA Nhật Bản cho giao thông vận tải, cải thiệnđiều kiện cấp và thoát nước và vệ sinh môi trường tại các khu đô thị và khu công

Trang 15

nghiệp, phát triển các hệ thống thủy lợi và hệ thống phân phối điện, nhất là khuvực nông thôn, miền núi

 Trong lĩnh vực năng lượng, vốn ODA sử dụng để hỗ trợ phát triển hệ thống đườngdây, trạm biến thế, lưới điện phân phối, chú trọng lưới điện nông thôn, miền núi,vùng đồng bào dân tộc coi trọng nguồn năng lượng sạch (gió, mặt trời, địa nhiệt)

để hỗ trợ năng lượng cho các vùng sâu, vùng xa, hải đảo

 Đối với hạ tầng xã hội, ngoài việc nguồn vốn ODA Nhật Bản được sử dụng đểtăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở tất cảcác cấp học, nguồn vốn này còn được sử dụng để đầu tư xây dựng hoàn chỉnh vàđồng bộ một số trường đại học trên cả 3 ba; tăng cường trang thiết bị cho các bệnhviện tuyến tỉnh, hỗ trợ thực hiện các chương trình quốc gia Tranh thủ nguồn vốnODA để tăng cường năng lực con người, chú trọng ở cấp cơ sở; tập trung vốnODA để nâng cao năng lực các trường dạy nghề, qua đó cải thiện chất lượng độingũ công nhân kỹ thuật cung cấp cho khu vực kinh tế tư nhân

-Trong vấn đề sử dụng và quản lý ODA Nhật Bản, có thể nhận thấy những thuận lợi

và thành công nhất định:

 Mục tiêu quản lý nợ nước ngoài trong đó có nguồn nợ ODA Nhật Bản đã đượcChính phủ xác định một cách cụ thể và rõ ràng Đó là đáp ứng được các yêu cầu

về huy động vốn với chi phí thấp nhất cho đầu tư phát triển và cơ cấu lại nền kinh

tế theo định hướng, chiến lược phát triển kinh tế xã hội; đảm bảo quản lý phân bổ

và sử dụng vốn có hiệu quả, giảm thiểu rủi ro và áp lực đối với các nguồn lực quốcgia, đảm bảo an toàn nợ và an ninh tài chính quốc gia; tạo điều kiện tăng cườnghội nhập kinh tế quốc tế

 Về tổng thể đã có sự phân công tương đối rõ ràng giữa các cấp bộ, ngành trongvấn đề quản lý ODA Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối trong việc thuhút, điều phối và quản lý ODA Bộ Tài chính là đại diện chính thức cho “ngườivay” là Nhà nước hoặc Chính phủ đối với các khoản vay nước ngoài nói chung vànguồn vay nợ ODA Nhật Bản nói riêng Bộ Tài chính cũng chính là tổ chức chovay lại, hoặc ký hợp đồng ủy quyền cho vay lại với cơ quan cho vay lại và thu hồiphần vốn cho vay lại của các chương trình, dự án cho vay lại từ ngan sách nhànước, quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án Ngân hàng nhà nước chịutrách nhiệm tiến hành đàm phán và ký các điều ước quốc tế cụ thể về ODA

 Các khoản nợ nước ngoài nói chung và nguồn vay nợ ODA Nhật Bản nói riênghiện tại đảm bảo trong giới hạn an toàn cho phép; có lãi suất, thời hạn và đồng tiềnvay hợp lí

 Nguồn vay nợ nước ngoài trong đó có ODA là nguồn tài chính quan trọng bổ sungcho ngân sách nhà nước, đảm bảo cho đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, đầu tư

cơ sở hạ tầng, giải quyết các vấn đề về an sinh xã hội, đặc biệt là vấn đề xóa đói

Trang 16

giảm nghèo, tăng cường và củng cố thể chế pháp lý, pháp triển quan hệ đối tácchặt chẽ với nước ngoài.

-Tuy nhiên, bên cạnh đó, thực tế sử dụng và quản lý ODA Nhật Bản của Việt Namvẫn còn nhiều điều khó khăn, bất ổn:

 Tỷ lệ giải ngân vốn ODA Nhật Bản còn thấp và chi phí vốn vay thực tế khônghoàn toàn rẻ Tỷ lệ giải ngân vốn ODA Việt Nam thấp hơn mức giải ngân trungbình các nước ASEAN, số vốn tồn đọng cùng với số vốn ký kết mới sẽ tạo áp lựclớn đối với Việt Nam Tình hình thực hiện các dự án (DA) thường bị chậm ở nhiềukhâu: chậm thủ tục, chậm triển khai, giải ngân chậm, tỷ lệ giải ngân thấp Do vậy,thời gian hoàn thành dự án kéo dài làm phát sinh các khó khăn, đặc biệt là vốn đầu

tư thực tế thường tăng hơn so với dự kiến và cam kết; đồng thời cũng làm giảmtính hiệu quả của DA khi đi vào vận hành khai thác

 Công tác theo dõi, đánh giá tình hình đầu tư ODA chưa đầy đủ, còn nhiều hạn chế.Đặc biệt là công tác theo dõi, thống kê, kiểm tra và đánh giá hiệu quả của côngtrình sau đầu tư còn bỏ ngõ, ngoại trừ các DA vay lại và đang trong thời gian trả

nợ Kết quả quản lý thường được đánh giá chỉ bằng công trình (mức độ hoànthành, tiến độ thực hiện) mà chưa xem xét đến hiệu quả sau đầu tư một khi côngtrình được đưa vào vận hành khai thác Quan điểm và cách làm này gây khó khăncho việc đánh giá, định hướng đầu tư từ nguồn ODA tạo nên sự lãng phí và nétránh trách nhiệm của những bộ phận liên quan Vấn đề quản lý nguồn vốn ODAtránh thất thoát và lãng phí cũng là điều phải quan tâm, đặc biệt là dự án Đại lộĐông Tây mà đối tác Nhật Bản khai nhận đã đưa hối lộ để được ưu đãi các hợpđồng tư vấn khiến cho công luận và Quốc hội đặc biệt quan ngại về việc quản lýchặt chẽ đồng vốn ODA và hiệu quả của nguồn tài trợ này, đòi hỏi Chính phủ cầnphải có ngay những giải pháp triệt để

 Khuôn khổ thể chế pháp lý chưa hoàn thiện và đồng bộ Nhìn chung, Chính phủchưa xây dựng được cơ chế thống nhất giữa nợ trong nước và nợ nước ngoài củaquốc gia Các quy định pháp lý quản lý nợ nói chung, nguồn ODA nói riêng chủyếu điều chỉnh và kiểm soát các quan hệ trước và trong quá trình đầu tư Còn giaiđoạn sau đầu tư, các chế định pháp lý hầu như còn rất sơ lược, có thể nói là còn bỏngỏ

 Cơ chế vận động và sử dụng nguồn ODA quá phức tạp liên quan đến nhiều cấp bộngành, địa phương Hơn nữa, điều này còn phụ thuộc vào cách thức của từng nhàtài trợ Do vậy, một dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA không thành công (khôngtìm kiếm và vận động được nhà tài trợ, thủ tục chậm, vốn bị thất thoát, công trìnhvận hành và khai thác không hiệu quả) thường liên quan đến trách nhiệm nhiềucấp, nhiều bộ phận khác nhau

 Nhìn chung, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý ODA là khá yếu kém chưa đápứng được nhu cầu Năng lực của đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực này ở các bộngành còn tương đối khả dĩ do được chuyên môn hóa, được đào tạo bồi dưỡng và

Ngày đăng: 16/05/2021, 17:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w