NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TƯ TƯỞNG SINH THÁI TRONG THƠ THƠ VÀ GỬI HƯƠNG CHO GIÓKhi tìm hiểu các tư tưởng sinh thái biểu hiện trênphương diện nội dung của thơ Xuân Diệu, người nghiêncứu cần đi
Trang 1NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TƯ TƯỞNG SINH THÁI TRONG THƠ THƠ VÀ GỬI HƯƠNG CHO GIÓ
Khi tìm hiểu các tư tưởng sinh thái biểu hiện trênphương diện nội dung của thơ Xuân Diệu, người nghiêncứu cần đi qua con đường ngôn từ và khám phá những chitiết, biểu tượng, từ ngữ, giọng điệu, không gian,… Phươngtiện nghệ thuật được lựa chọn chi phối tới chiều sâu của giá
trị sinh thái trong các tác phẩm Ở Thơ thơ và Gửi hương cho gió, người viết chú ý tới ba khía cạnh nghệ thuật tiêu
biểu đã góp phần thể hiện tư tưởng sinh thái trong thơ XuânDiệu: giọng điệu, biểu tượng và không gian nghệ thuật
Giọng điệu như một phương diện bộ lộ tình cảm sinh thái
Giọng điệu đắm say, tha thiết
Tiếp nhận văn học đề cao giọng điệu như một phươngdiện thuộc về chiều sâu của tác phẩm Cùng một nội dungnhưng khi được biểu đạt bằng những giọng điệu khác nhau
có thể làm nên những màu sắc riêng của tác giả Trong thơtrữ tình, giọng điệu có khả năng chi phối các phương diện
Trang 2hình thức, bộc lộ qua những tín hiệu có tính hình thức nhưcách sử dụng hình ảnh, gieo vần, dùng từ, ) Tính dân tộctrong thơ Tố Hữu không chỉ được thể hiện trên phương diện
đề tài, chủ đề, mà còn toát lên qua nhịp điệu của thể thơ lụcbát, với giọng điệu tâm tình Giọng điệu trong Thơ mới nóichung và thơ Xuân Diệu nói riêng đã từng được nhiềungười nghiên cứu, trong đó chỉ ra một số giọng tiêu biểucủa Thơ mới như: nỗi niềm hoài cổ, tiếc thương; nỗi côđơn, li biệt, xa cách; giọng chán chường, Thế nhưng,trong Thơ mới cũng có những “nghịch âm” ở giọng nói yêuđời, tạo nên tính “nhị nguyên” trong giọng điệu của phongtrào thơ ca này
Giọng điệu trong thơ Xuân Diệu được nhìn nhận tươngđối phong phú, lúc trữ tình say đắm, lúc buồn sầu ảo não,lúc sẻ chia tâm tình, Nhìn từ góc độ sinh thái, giọng điệu
là phương diện để bộc lộ cảm xúc, thái độ của con ngườivới tự nhiên Sự nâng niu, ngợi ca và hướng tới cái hài hòachỉ được biểu đạt khi cái tôi tìm được một giọng phù hợp Ở
đây, người viết chủ yếu đi vào hai giọng tiêu biểu của Thơ thơ và Gửi hương cho gió: giọng đắm say, thiết tha và
giọng điệu buồn sầu, âu lo Hai sắc thái tưởng nhu đối lập
đã tổng hòa, góp phần tạo nên đặc trưng trong thơ Xuân
Trang 3Diệu giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám
Trước hết, nổi bật hơn cả trong hai tập thơ là giọng đắmsay, tha thiết Đây được coi như một “nốt chủ” của giọngđiệu trong thơ Xuân Diệu Giọng điệu ấy được thể hiện quacách sử dụng từ ngữ miêu tả tự nhiên, bày tỏ khát khao vàcảm xúc của cái tôi với tự nhiên Khi miêu tả về thiên nhiên
dù ở trong cõi thực hay mộng tưởng, nhà thơ thường sửdụng những từ láy (lung linh, ánh ỏi, run rẩy, long lanh, ).Những tính từ ấy vừa gợi ra sự chuyển động của ánh sáng(sự giao hòa giữa các yếu tố trong tự nhiên), đồng thời tạo
cho câu thơ tính nhạc và sức biểu cảm: “Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao/ Cây vàng rung nắng lá xôn xao/ Gió thơm phơ phất bay vô ý/ Đem đụng cành mai sát nhánh đào” (Nụ
cười xuân) Đồng thời, Xuân Diệu còn kết hợp những động
từ mạnh để miêu tả thiên nhiên dù trong trạng thái ngập trànsức sống hay lúc úa tàn, biệt ly Bức tranh tự nhiên đượcgắn với các tính từ vốn chỉ gắn với con người (duyên, âuyếm, mỹ miều, đau thương, ) Cách sử dụng từ ngữ miêu
tả khiến thiên nhiên hiện lên như một sinh thể có linh hồn,cảm xúc Đó không phải sáng tạo của riêng Xuân Diệu,nhưng việc vận dụng nhiều, với tần suất cao độ đã phản ánhtâm hồn luôn khao khát, say mê với vẻ đẹp trần thế
Trang 4Thiên nhiên với Xuân Diệu cũng không phải đối tượng
để trông nhìn, ngợi ca như một người chiêm ngưỡng từ xa.Xuân Diệu muốn mở lòng, cảm nhận tất cả những bước đithời gian cũng như vẻ đẹp trong không gian vườn trần.Mong muốn ấy được diễn đạt qua một loạt các động từ: cắn,
riết, thâu, vây, mở, : “Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại/ Cho hương đừng bay đi” (Vội vàng)
Bên cạnh cách lựa chọn, sử dụng từ ngữ, giọng điệu thathiết, say đắm còn biểu hiện qua các kiểu câu định nghĩa(hồn tôi là /tôi là ), kiểu câu cầu khiến và câu mệnh thức.Những câu cảm thán được sử dụng liên tiếp trong hai tậpthơ:
“Ngày trong lắm, lá êm, hoa đẹp quá
Nhan sắc ơi, cây cỏ chói đầy sao”
(Mời yêu)
“Trời xanh thế! Hàng cây thơ biết mấy
Vườn non sao! Đường cỏ mộng bao nhiêu”
(Xuân đầu)
Trang 5Với Xuân Diệu, chưa bao giờ là đủ để nói hết về khátkhao tình yêu và cái đẹp trong cuộc đời Giọng điệu thơ gợi
ra một hồn thơ thường trực với trạng thái ngỡ ngàng, xúcđộng, ngạc nhiên trước vẻ đẹp tự nhiên
Trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió, nhà thơ còn nói
về tự nhiên với sự trân trọng, tự hào: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật/ Này đây hoa của đồng nội xanh rì/ Này đây lá của cành tơ phơ phất/ Của yến anh này đây khúc tình si/ Và này đây ánh sáng chớp hàng mi ” (Vội vàng);
“Đây chùm mong nhớ khóm yêu thương/ Đây nụ mơ mòng gửi ánh sương/ Đây là bâng khuâng run trước gió/ Đây em, cành thẹn lần cảnh thương” (Dâng) Cách nói chủ động
khẳng định “đây/ này đây ” liên tiếp tạo nên nhịp thơnhanh, giọng thơ sôi nổi, nồng nàn
Các kiểu câu cầu khiến, cầu khẩn giục giã góp phầnkhẳng định mong muốn quấn quýt, giao hòa với tự nhiên.Đồng thời, nó cũng gửi gắm quan niệm sống “vội vàng”,tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp tự nhiên, trong những khoảnhkhắc của thực tại
Giọng điệu buồn
Cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu là sự hài hòa của
Trang 6những đối cực Hiếm khi giọng điệu trong thơ Xuân Diệu ởtrạng thái trầm tĩnh, nhẹ nhàng Cùng với giọng thiết tha gửigắm những khát khao mãnh liệt là giọng buồn với nhữngcung bậc khác nhau Giọng điệu buồn được biểu hiện trongnhững từ ngữ miêu tả cảnh thiên nhiên khi hòa điệu với tâmtrạng Nếu như trong giọng đắm say, tha thiết với niềm vuisướng, thiên nhiên hiện lên ấm nóng, tràn đầy sức sống,giàu hương sắc và tính nhạc thì khi tự nhiên hài hòa vớicảm xúc buồn, cô đơn lại lạnh lẽo lại được miêu tả với
những tính từ đối lập: “Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt/ Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu” (Yêu), “Với sương lá rụng trên đầu gần gũi/ Thôi đã hết hờn ghen và giận tủi” (Tương tư chiều), “Hoa thu không nắng cũng phai màu/ Trên mặt người kia in nét đau” (Hoa nở để mà tàn), “Vì vội đến tìm nhau, tôi sẽ/ Chỉ thấy người thương nhưng chẳng thấy tình thương/ Và như màu nắng nhạt, như hương/ Theo gió mất tình người đành tản mát”(Núi xa) Có
thể dễ nhận thấy, cảm xúc buồn sầu, lo âu thường thườngđược thể hiện trong những từ ngữ tả thiên nhiên với sắc tháilạnh, tàn phai: rơi, tàn, úa, rụng, phai màu,
Bên cạnh những giọng tự hào, ngỡ ngàng, đắm saytrước vẻ đẹp thiên nhiên và khát khao tình yêu tràn đầy
Trang 7hạnh phúc, là giọng buồn ảo não, hòa hợp với cảnh vật.Cảm thức về thời gian tuyến tính, một đi không trở lại
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già” (Vội vàng) đem đến cho nhà thơ góc
nhìn cảnh vật ở những chiều đối lập Lúc này đây có thểthấy sự sống căng đầy, màu sắc rực rỡ hòa cùng cảm xúc ái
ân, sau có thể đổi thay, phai nhạt hương sắc:
“Có chút hồ buồn trong lá rụng
Bị nhàu ai tưởng dưới trăm chân
Bông hoa bứt cánh, rơi không tiếng
Chẳng hái mà hoa cũng hết dần”
(Ý thu)
Cảnh vật có thể mang màu sắc của một “hoang mạc côliêu”, mất đi sự sống, rơi rụng nét thanh tân Ám ảnh về sựngắn ngủi của đời người luôn song hành với nhận thức về
sự ngắn ngủi của tự nhiên Ý thức ấy khiến khát khao khôngthành trong tình yêu, khát vọng bất khả khi níu giữ vẻ đẹpthiên nhiên càng “nhuộm” nỗi buồn Nếu như sự say đắm,nồng nàn là “nốt chủ” trong giọng điệu thơ Xuân Diệu, thìgiọng điệu buồn sầu, ảo não là những nốt trầm tôn lên sự
Trang 8trân trọng, nâng niu tự nhiên và sự sống thực tại
Giọng điệu buồn, lo âu trong thơ Xuân Diệu cũng cólúc được biểu đạt qua cách nói cảm thán Xuân Diệu đẩy
đến cao độ cả niềm vui và nỗi cô đơn trong lòng mình: “Có nhiều lúc tiếng gió thê thiết quá/ Như gió đau một nỗi khổ
vô hình/ Như bao điều ảo não của nhân sinh/ Đã in vết nơi hồn của gió” (Tiếng gió) Khi diễn đạt nỗi buồn, giọng điệu
thơ Xuân Diệu thường có nhịp chậm rãi, sử dụng nhiềuthanh bằng, đồng thời thường sử dụng những câu hỏi cùng
giọng sẻ chia, tâm tình: “Ngày muốn hết buồn như đời muốn hết/ Chiều bị thương ráng sức kéo mình đi/ Lũ mây già, nghìn vạn khối lâm ly/ Đứng giữa lưới bủa vây trời nhỏ hẹp” (Sắt); “Thong thả, chiều vàng thong thả lại…/Rồi đi… Đêm xám tới dần dần…/Cứ thế mà bay cho đến hết/ Những ngày, những tháng, những mùa xuân” (Giờ tàn)
Giọng điệu buồn thương, âu lo trong thơ Xuân Diệukhác với giọng trong thơ của Chế Lan Viên – một trong
những nhà Thơ mới với khuynh hướng siêu thực:“Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết/ Những sắc màu hình ảnh của Trần Gian!/Thịt bại rồi, nhãn quan đà lả mệt/ Thú điên cuồng ao ước vẫn khôn ngăn” (Tạo lập) Trong “Điêu tàn”,
giọng buồn của nhà thơ gửi gắm qua những câu hỏi cho
Trang 9“hồn ma”, “bóng quỷ” trong ảo mộng, chới với, tuyệt vọngtìm mình trong cảnh của quá khứ đã không còn ? Cũng làsắc điệu của sự tàn phai, rơi rụng nhưng gắn với “hồn ta”,
cô đơn, chối bỏ cuộc sống trần thế Nếu như giọng buồn đausầu não của Chế Lan Viên tìm về đất nước Chiêm Thành đãmất, mang tính chất gay gắt, quyết liệt xa rời thực tại thìgiọng buồn trong thơ Xuân Diệu vẫn gắn liền với hình ảnhtrần gian, không xa rời sự sống thực tại dẫu cho nó có đangrụng rơi, đang tan rã Đặt trong tương quan đối sánh vớigiọng buồn trong thơ “Nguyễn Bính” – một trong nhữngnhà Thơ mới tiêu biểu, được ngợi ca là “nhà thơ chân quê”,
ta có thể thấy giọng điệu ảo não gắn với nỗi buồn sầu cho
sự lỡ làng, dở dang Nó chi phối tới những hình ảnh quenthuộc như “mưa” và “nước mắt” Nguyễn Bính ít khi mượnhình ảnh thiên nhiên để nói về nỗi buồn, cảnh vật trong thơông đại diện cho thế giới thôn quê trong trẻo, tươi sáng.Điệu buồn của Xuân Diệu mang đậm màu sắc phương Tây,với giọng bộc bạch trực tiếp, táo bạo hơn trong cách sửdụng hình ảnh thơ và ngôn từ về tự nhiên
Sự tổng hòa của hai giọng điệu xuyên suốt những trang
thơ trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió góp phần thể hiện
thái độ của cái tôi trữ tình với thiên nhiên – nơi trú ngụ tinh
Trang 10thần một cách đa chiều Trân trọng, nâng niu tự nhiênkhông phải luôn được thể hiện bằng giọng trữ tình ngợi ca,tha thiết mà còn biểu đạt qua sắc thái sầu não, lo âu Sựphong phú trong giọng điệu thơ cũng tạo nên nét đặc trưngtrong thơ Xuân Diệu: “Thơ Xuân Diệu buồn tịch mịch ngaytrong cả những điều ấm nóng tươi vui”.
Biểu tượng sinh thái
Đặc trưng tính hình tượng trong văn học đã góp phầnxây dựng nên biểu tượng nghệ thuật, có sức nén tình cảm,
tư tưởng của người nghệ sĩ Theo Từ điển thuật ngữ vănhọc: “Trong nghĩa rộng, biểu tượng thể hiện đặc trưng phảnánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật Theonghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển mã củalời nói đặt bên cạnh ẩn dụ, hoán dụ hoặc là một loại hìnhtượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừakhái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừathể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa
về con người và cuộc đời” Xuất phát từ cách định nghĩa cơbản, người viết tìm hiểu những biểu tượng nghệ thuật tiêubiểu trong việc khái quát, thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên và sựhài hòa của con người với tự nhiên – những nền tảng chính
trong việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái của Thơ thơ và
Trang 11Gửi hương cho gió
Những biểu tượng của vẻ đẹp tự nhiên
Thiên nhiên hiện lên trong thơ Xuân Diệu vừa là nơi trúngụ, bao bọc, vừa là nguồn thi cảm của tâm hồn nghệ sĩ.Hình ảnh thiên nhiên đi vào thơ ca đã được soi chiếu, sànglọc qua góc nhìn thẩm mỹ của người cầm bút, thế nhưngtrước hết, nó phải chứa đựng vẻ đẹp sẵn có Thiên nhiêntrong thơ Xuân Diệu không ít lần được tái hiện với vẻ đẹp
tự nhiên, chân thực Vẻ đẹp ấy ít khi gắn liền với một địađiểm cụ thể như không gian làng quê hay thành thị, mà gắnvới những biểu tượng tự nhiên mang tính chất khái quát,quen thuộc
Thiên nhiên của Thơ thơ và Gửi hương cho gió thường
hiện lên với hai đối cực: vẻ đẹp tràn đầy sức sống, niềm vui
và vẻ buồn sầu, ly biệt Khi nói tới vẻ đẹp tươi sáng, trongtrẻo của thiên nhiên, mùa xuân, hoa, bướm, ánh sáng,… lànhững biểu tượng quen thuộc Bức tranh xuân trong “Vộivàng” hội tụ những chi tiết điển hình nhất về mùa xuân
trong thơ Xuân Diệu: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật/ Này đây hoa của đồng nội xanh rì/ Này đây lá của cành tơ phơ phất/ Của yến anh này đây khúc tình si/ Và này
Trang 12đây ánh sáng chớp hàng mi/ Mỗi sáng sớm, thần vui hằng
gõ cửa” Mùa xuân không chỉ đại diện cho một khoảng thời
gian, đi vào thơ Xuân Diệu, nó là biểu tượng của cái đẹp(thiên nhiên và con người), sự sống và tình yêu:
“Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.”
(Xuân không mùa)
Với Xuân Diệu, mùa xuân là biểu tượng của sự bắt đầu,của “trinh nguyên” Quan niệm thẩm mĩ của nhà thơ khẳngđịnh đó là thời điểm căng đầy của sự sống, vạn vật kết đôi:
“Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch/ Xuân đầu mùa trong
sạch vẻ ban sơ/ Hương mới thấm bền ghi như thiết thạch/ Sương nguyên tiêu, trời đất cũng chung mờ” (Tình thứ
nhất) Mùa xuân vừa gắn liền với không gian nghệ thuật củatác phẩm (không gian mùa), đồng thời nó là một biểu tượngcho vẻ đẹp tự nhiên lí tưởng trong con mắt nhà thơ Nếunhư mùa xuân trong thơ Xuân Diệu gắn với vẻ đẹp ở “vườntrần” để thi sĩ đắm say, tận hưởng thì mùa xuân trong thơ
Trang 13Chế Lan Viên lại đem tới u sầu ngay cả mang chứa những
vẻ đẹp của cảnh sắc: “Tôi có chờ đâu, có đợi đâu/ Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?/ Với tôi tất cả đều vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”(Xuân) Bức tranh mùa xuân
cũng có lúc được tái hiện tràn đầy âm vang, hương hoa và
sắc nắng: “Đây tà áo chuối non bay phấp phới/ Phơi màu xanh lấp loáng dưới sương mai/ Đây, pháo đỏ lập lòe trong nắng chói/ Đây hoa đào mỉm cười đón xuân tươi” nhưng cũng không khiến nhà thơ thôi hoài niệm quá vãng: “Hãy bảo tao: cành hoa đào mơn mởn/ Không phải khối máu của dân Chàm/ Cành cây thắm nghiêng mình trong nắng sớm/ Không phải là hài cốt vạn quân Chiêm” (Xuân về) Mùa
xuân không còn là biểu tượng của niềm vui, khát khao giaohòa, “thiên đường trên mặt đất” như trong thơ Xuân Diệukhi lòng nhà thơ “lạnh lẽo giá băng thôi” Nó trở thành mộtđối ảnh của quá khứ đau thương và xa lạ với tâm hồn thi sĩ Ánh sáng là một biểu tượng thường xuất hiện trongnhững bức tranh về vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ Xuân
Diệu: “Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao/ Cây vàng rung nắng lá xôn xao/ Gió thơm phơ phất bay vô ý/ Đem đụng cành mai sát nhánh đào (Nụ cười xuân) hay: “Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá/ Ánh sáng tuôn đầy các lối đi/ Tôi
Trang 14với người yêu qua nhẹ nhẹ/ Im lìm, không dám nói năng chi” (Trăng) Ánh sáng trong hai tập thơ được gắn với nắng
và trăng – hình ảnh tự nhiên quen thuộc trong thơ XuânDiệu Ánh sáng được thể hiện ở nhiều cấp độ của nắng:
“nắng vàng”, “nắng xôn xao”, “nắng cháy”, “nắng xưa”,
“nắng rọi”… Ánh sáng của trăng thường gắn với khônggian con đường, dòng sông Nếu như mùa xuân là biểutượng cho cái đẹp tươi mới, sức sống thanh tân thì ánh sángtrong thơ Xuân Diệu luôn gắn với những xao động nội tâm
Ở mức độ cụ thể hơn, vẻ đẹp tự nhiên còn được thể hiệnqua những biểu tượng hoa, lá, gió, mây,… Những biểu tượngtrên vừa đại diện cho cái đẹp, vừa thể hiện mối quan hệ hài
hòa giữa con người và tự nhiên: “Lá như con mắt cụm mây nhìn/ Trái tựa hình tim, chim hót xin/ Gió ấy đầu hoa ngang ngửa thắm/ Nhị vàng hoa cạnh liếc hoa bên” (Lưu học sinh);
“Tơ liễu dong gần tơ liễu êm/ Bướm bay lại sánh bướm bay kèm/ Nghìn đôi chim hót, chàng trai ấy/ Không có người yêu
để gọi “em” (Rạo rực) Những biểu tượng ấy góp phần xây
dựng nên không gian nghệ thuật rất riêng của Xuân Diệu vàđại diện cho vẻ đẹp giao hòa, tương ứng giác quan của sự vậttrong góc nhìn nhà thơ
Một biểu tượng xuyên suốt trong hành trình sáng tác