Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên hệ vấn đề này ở Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
Nội Dung Chính 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 3
1.1: Thị Trường 3
1.1.1: Khái niệm thị trường 3
1.1.2: Vai trò của thị trường 3
1.1.3: Cơ chế và nền kinh tế thị trường 4
1.1.4: Một số quy luật thị trường 6
1.2: Vai trò của các chủ thể tham gia thị trường 9
1.2.1: Vai trò của người sản xuất 9
1.2.2: Vai trò của người tiêu dùng 10
1.2.3: Vai trò của trung gian trong thị trường 10
1.2.4: Vai trò của Nhà nước 11
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA VÀO NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 13
2.1: Khái quát nền kinh tế thị trường tại Việt Nam 13
2.2: Vai trò của Người sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: 14
2.3: Vai trò của Người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: 15
2.4: Vai trò của các chủ thể trung gian trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: 16
2.5: Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: 16
PHẦN KẾT THÚC 19
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay, các nền kinh tế nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng phát triển ngày càng nhanh và phức tạp hơn, do đó hệ thống thị trường cũng biến đổi phù hợp với các điều kiện, trình độ phát triển của nền kinh tế Thị trường với tư cách là môi trường cho các quan hệ sản xuất và trao đổi phát huy tác dụng dưới tác động của các quy luật thị trường, có rất nhiều chủ thể khác nhau tham gia thị trường, mỗi chủ thể có những vai trò quan trọng riêng Vì vậy, để tổ chức có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải hiểu rõ về bản chất hệ thống thị trường, những quy luật kinh tế cơ bản của thị trường và các vấn đề liên quan khác Đó là lí do nhóm em quyết định chọn
đề tài thảo luận là “Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; liên
hệ vấn đề này ở Việt Nam”.
Trang 3Nội Dung Chính CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1: Thị Trường
1.1.1: Khái niệm thị trường
Thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tệ trong đó có nhu cầu của các chủ thể được đáp ứng thông qua việc trao đổi mua bán với sự xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ tương ứng với trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội
1.1.2: Vai trò của thị trường
Thị trường là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển
Sản xuất hàng háo càng phát triển, sản xuất ra càng nhiều hàng háo, dịch vụ thì càng đòi hỏi thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn Sự mở rộng thị trường đến lượt nó lại thúc đẩy trở lại sản xuất phát triển Vì vậy, thị trường là môi trường kinh doanh, là điều kiện không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh doanh
Thị trường là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng Thị trường đặt ra các nhu cầu cho sản xuất cũng như nhu cầu tiêu dùng Vì vậy, thị tường có vai trò thông tin, định hướng cho mọi nhu cầu sản xuất kinh doanh
Thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạo ra cách thức phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế
Thị trường thúc đẩy các quan hệ kinh tế không ngừng phát triển Do đó, đòi hỏi các thành viên trong xã hội phải không ngừng nỗ lực, sáng tạo để thích ứng đượcc với
sự phát triển của thị trường Sự sáng tạo được thị trường chấp nhận, chủ thể sáng tạo
sẽ được thụ hưởng lợi ích tương xứng Khi lợi ích được đáp ứng, động lực cho sự sáng tạo được thúc đẩy Cứ như vậy, kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội Thông qua các quy luật thị trường, các nguồn lực cho sản xuất được điều tiết, phân bổ tới các chủ thể sử dụng hiệu quả nhất, thị trường tạo ra cơ chế để lựa chọn các chủ thể có năng lực sử dụng nguồn lực hiệu quả trong nền sản xuất
Thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới
Xét trong phạm vi quốc gí, thị trường làm cho các quan hệ sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng trở thành một thể thống nhất Thị trường gắn kết mọi chủ thể không phụ thuộc vào địa giới hành chính Thị trường gắn kết mọi chủ thể giữa các
Trang 4khâu, giữa các vùng miền vào một chỉnh thể thống nhất Thị trường phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc để tạo thành hệ thống nhất định trong nền kinh tế Xét trong quan hệ với nền kinh tế thế giới, thị trường làm cho kinh tế trong nước gắn liền với nền kinh tế thế giới Các quan hệ sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng không chỉ bó hẹp trong phạm vi nội bộ quốc gia, mà thông qua thị trường, các quan hệ đó có sự kết nối, liên thông với các quan hệ trên phạm vi thế giới Với vai trò này, thị trường góp phần thúc đẩy sự gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới
1.1.3: Cơ chế và nền kinh tế thị trường
1.1.3.1: Cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường (Market Mechanism) là quá trình tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể (hoạt động) kinh tế trong việc hình thành giá cả, phân phối tài nguyên, xác định khối lượng và cơ cấu sản xuất Sự tương tác của các chủ thể tạo nên những điều kiện nhất định để nhà sản xuất, với hành vi tối đa hóa lợi nhuận, sẽ căn cứ vào giá cả thị trường để quyết định ba vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho
ai Ngược lại, hoạt động của các chủ thể tạo nên sự tương tác nói trên Như vậy, cơ chế thị trường là hình thức tổ chức kinh tế, trong đó các quan hệ kinh tế tác động lên mọi hoạt động của nhà sản xuất và 1 người tiêu dùng trong quá trình trao đổi
Theo lý thuyết của các nhà kinh tế học phúc lợi thì cơ chế thị trường là cách thức
tự động phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế Đó là vì, khi mỗi nhà sản xuất đều căn cứ vào giá cả thị trường để có quyết định về sản xuất, sẽ không có sản xuất thừa, cũng sẽ không có sản xuất thiếu Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa người sản xuất và người tiêu dùng được vận hành do sự điều tiết của quan hệ cung cầu Phúc lợi kinh tế được đảm bảo do không có tổn thất xã hội
Đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường là động lực lợi nhuận, nó chỉ huy hoạt động của các chủ thể Trong kinh tế thị trường, đặc điểm tự do lựa chọn hình thức sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm: 'lãi hưởng lỗ chịu', chấp nhận cạnh tranh, là những điều kiện hoạt động của cơ chế thị trường Sự tuân theo cơ chế thị trường là điều không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiệp, nếu không sẽ bị đào thải
Tuy nhiên, để cơ chế thị trường thực hiện tốt được chức năng của mình, thì các điều kiện sau đây phải được thỏa mãn: thị trường phải có cạnh tranh hoàn hảo, thông
Trang 5tin đối xứng, không có các ảnh hưởng ngoại lai, không có đầu cơ, không có vi phạm đạo đức kinh doanh v.v Tuy nhiên, trong thực tế không có nước nào đáp ứng hoàn hảo các điều kiện này, nên có những trường hợp cơ chế thị trường sẽ không thể phân
bổ tối ưu các nguồn lực kinh tế, thậm chí góp phần gây ra khủng hoảng kinh tế Khi đó
sẽ có thất bại thị trường
1.1.3.2: Nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế Khi các quan hệ kinh
tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua các hang hóa, dịch vụ trên thị trường thì nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền kinh tế - xã hội, trong đó các quan hệ kinh
tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua quan hệ mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên chủ thể kinh tế là định hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao Khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất đều được tiền tệ hóa, các yếu tố của sản xuất như: đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ
và quản lí, các sản phẩm dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tượng mua – bán và hàng hóa
Ưu điểm:
Kinh tế thị trường luôn tạo ra cơ hội cho mọi người sáng tạo, luôn tìm cách để cải tiến lối làm việc và rút ra những bài học kinh nghiệm về thành công hay thất bại để phát triển không ngừng
Kinh tế thị trường tạo ra cơ chế đào tạo, tuyển chọn, sử dụng người quản lí kinh doanh năng động, có hiệu quả và đào thải các nhà quản lí kém hiệu quả
Kinh tế thị trường tạo ra môi trường kinh doanh tự do, dân chủ trong kinh tế bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
Khuyết tật:
Kinh tế thị trường chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán, không chú ý đến những nhu cầu cơ bản của xã hội
Kinh tế thị trường đặt lợi nhuận lên hàng đầu, cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi là “hàng hóa công cộng” (đường xá, các công trình văn hóa, y tế và giáo dục…)
Trang 6Trong nền kinh tế thị trường có sự phân biệt giàu nghèo rõ rệt
1.1.4: Một số quy luật thị trường
1.1.4.1: Quy luật giá trị
1 Quy luật giá trị
a) Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa
Nội dung của quy luật giá trị là: Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được; còn trong trao đổi, hay lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị
b) Tác động của quy luật giá trị
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp hơn đến nơi có giá cả cao hơn, và do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó, có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vậy người sản xuất hàng hóa nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hóa cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn
Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo
Trang 7Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua
lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuê
2 Quy luật cung cầu:
a) Nội dung quy luật
Quy luật cung cầu là quy luật kinh tế điều tiết quan hệ giữa cung (bên bán) và cầu (bên mua) hang hóa trên thị trường Quy luật này đòi hỏi hàng hóa phải có sự thống nhất, nếu không có sự thống nhất giữa chúng thì sẽ có các nhân tố xuất hiện điều chỉnh chúng
Cung và cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường xuyên tác động lẫn nhau
và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thấp hơn giá trị; ngược lại, nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị; nếu cung bằng cầu thì giá
cả bằng với giá trị Đây là sự tác đông phức tạp theo nhiều chiều hướng và nhiều mức
độ khác nhau: Chỉ có những hàng hóa nào dự kiến có cầu thì mới được sản xuất, cung ứng; hàng hóa nào tiêu thụ được nhiều, nhanh nghĩa là có cầu lớn sẽ được cung ứng nhiều và ngược lại Vì vậy, người sản xuất hàng hóa phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu, sở thích của người tiêu dùng, dự đoán sự thay đổi của cầu, phát hiện các nhu cầu mới , để cải tiến chất lượng, hình thức, mẫu mã cho phù hợp; đồng thời phải quảng cáo để kích thích cầu
b) Tác động:
Điều tiết quan hệ giữa sản xuất và lưu thông hang hóa; lam biến đổi cơ cấu và dung lượng thị trường; quyết định giá cả thị trường
Căn cứ và quy luật này có thể dự đoán xu thế biến động của giá cả; khi giá cả thay đổi cần đưa ra các chính sách điều tiết giá cho phù hợp với nhu cầu thị trường Nhà nước có thể vận dụng quay luật cung -cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thya đổi cơ cấu tiêu dung…để tác động vào các hoạt động kinh tế, duy trì những tỷ lệ cân đối cung-cầu một cách lành mạnh và hợp lý
Trang 81.1.4.3: Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiền tệ trong tiếng Anh là The Law of Monetary Circulation Quy luật lưu thông tiền tệ là Quy luật Quy định lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa trong một thời kỳ nhất định Quy luật này được thể hiện như sau: Lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hoá trong một thời kỳ nhất định được xác định bằng tổng giá cả của hàng hóa lưu thông trong thời kỳ đó chia cho tốc độ lưu thông của đồng tiền
Trong đó:
- Tốc độ lưu thông của đồng tiền chính là số vòng quay trung bình của một đơn
vị tiền tệ
- Tổng giá cả của mỗi loại hàng hóa bằng giá cả nhân với khối lượng đưa vào lưu thông của hàng hóa ấy Tổng giá cả của hàng hóa lưu thông bằng tổng giá cả của tất cả các loại hàng hóa lưu thông
Lượng tiền cần thiết cho lưu thông này tính cho một thời kỳ nhất định, cho nên khi ứng dụng công thức này cần lưu ý một số điểm sau
- Trong tính tổng giá cả phải loại bỏ những hàng hóa không được đưa ra lưu thông trong thời kỳ đó như: Hàng hóa dự trữ hay tồn kho không được đem ra bán hoặc
để bán trong thời kỳ sau; hàng hóa bán (mua) chịu đến thời kỳ sau mới cần thanh toán bằng tiền; hàng hóa dùng để trao đổi trực tiếp với hàng hóa khác; hàng hóa được mua (bán) bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như ký sổ, chuyển khoản…
- Phải cộng thêm vào lượng tiền cần thiết cho lưu thông lượng tiền dùng để ứng trước, để đặt hàng trong thời kỳ này nhưng lại chỉ nhận hàng trong thời kỳ sau và lượng tiền mua (bán) hàng hoá chịu đã đến kỳ thanh toán
1.1.4.4: Quy luật cạnh tranh
Quy luật cạnh tranh tạm dịch sang tiếng Anh là Competition law
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình
Trang 9Trong nền sản xuất hàng hóa, sự cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa người sản xuất và người tiêu dùng là một tất yếu khách quan, là yêu cầu thường xuyên đối với những người sản xuất hàng hóa
Quy luật cạnh tranh xuất phát từ bản chất của nền sản xuất hàng hóa, của Quy luật giá trị
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển
Nó buộc người sản xuất phải thường xuyên năng động, nhạy bén, thường xuyên cải tiến kĩ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao tay nghề, hoàn thiện tổ chức quản lí để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
Thực tế cho thấy, ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì trệ, bảo thủ, kém phát triển
Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những mặt tiêu cực, thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật nhằm thu được nhiều lợi ích nhất cho mình, gây tổn hại đến lợi ích của tập thể, xã hội, cộng đồng
Như làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, ăn cắp bản quyền, tung tin phá hoại uy tín đối thủ, hoặc cạnh tranh làm tăng sự phân hóa giàu nghèo hoặc tổn hại đối với môi trường sinh thái vv
1.2: Vai trò của các chủ thể tham gia thị trường
1.2.1: Vai trò của người sản xuất
Người sản xuất hàng hóa là những Người sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ
ra thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Người sản xuất bao gồm các nhà sản xuất, đầu tư, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Họ là những người trực tiếp tạo
ra của cải vật chất, sản phẩm cho xã hội để phục vụ tiêu dùng
Người sản xuất là những người sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh và thu lợi nhuận Nhiệm vụ của họ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của
xã hội, mà còn tạo ra và phục vụ cho những nhu cầu trong tương lai với mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực có hạn Vì vậy, Người sản xuất luôn phải quan tâm đến việc lựa chọn sản xuất hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất với các yếu tố nào cho có lợi nhất
Trang 10Ngoài mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, người sản xuất cần phải có trách nhiệm đối với con người, trách nhiệm cung cấp những hàng hóa dịch vụ không làm tổn hại tới sức khoẻ và lợi ích của con người trong xã hội
1.2.2: Vai trò của người tiêu dùng
Người tiêu dùng là những người mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường để thỏa mãn nhu cầu tiêu dung Sức mua của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự thành bại của người sản xuất Sự phát triển đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là động lực quan trọng của sự phát triển sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất
Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất Do đó, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng ngoài việc thỏa mãn nhu cầu của mình, cần phải có trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của xã hội
Lưu ý, việc phân chia người sản xuất, người tiêu dùng chỉ có tính chất tương đối
để thấy được chức năng chính của các chủ thể này khi tham gia thị trường Trên thực
tế, doanh nghiệp luôn đóng vai trò vừa là người mua cũng vừa là người bán
1.2.3: Vai trò của trung gian trong thị trường
Do sự phát triển của sản xuất và trao đổi dưới tác động của phân công lao động
xã hội, làm cho sự tách biệt tương đối giữa sản xuất và trao đổi ngày càng sâu sắc Cơ
sở đó đã làm xuất hiện những chủ thể trung gian trong thị trường Những chủ thể này
có vai trò ngày càng quan trọng để nối kết, thông tin trong các quan hệ mua, bán Nhờ vai trò của các trung gian này mà nền kinh tế thị trường trở nên sống động, linh hoạt hơn Hoạt động của các trung gian trong thị trường làm tăng cơ hội thực hiện giá trị của hàng hóa cũng như thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Các chủ thể trung gian làm tăng sự kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, làm cho sản xuất và tiêu dùng trở nên ăn khớp hơn
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, các chủ thể trung gian thị trường không phải chỉ có các trung gian thương nhân mà còn rất nhiều chủ thể trung gian phong phú trên tất cả các quan hệ kinh tế như: trung gian mô giới chứng khoán, trung gian mô giới nhà đất, trung gian mô giới khoa học công nghệ Các trung gian trong thị trường không những hoạt động trên phạm vi thị trường trong nước mà còn trên phạm vi quốc tế Bên cạnh đó cũng có rất nhiều loại hình trung gian không phù hợp các chuẩn mực đạo đức (lừa đảo, môi giới bất hợp pháp ) Những trung gian này cần được loại bỏ