CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý đào tạo DIỄN VIÊN CHÈO ở TRƯỜNG TRUNG cấp văn hóa NGHỆ THUẬT và DU LỊCH TRONG bối CẢNH HIỆN NAY CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý đào tạo DIỄN VIÊN CHÈO ở TRƯỜNG TRUNG cấp văn hóa NGHỆ THUẬT và DU LỊCH TRONG bối CẢNH HIỆN NAY
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO DIỄN VIÊN CHÈO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH
HIỆN NAY
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về hoạt động đào tạo
Hoạt động đào tạo từ lâu đã được đề cập đến thông qua nhiều nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục đào tạo cũng như quản lý giáo dục Những nghiên cứu này đi theo nhiều hướng của hoạt động đào tạo.
Ở nước ngoài, William E.Blank đã công bố cuốn “Sổ tay phát triển chương trình đào tạo dựa trên năng lực thực hiện” (Sách dịch), tác giả Shirley Fletcher đã công bố tài liệu “Thiết kế đào tạo dựa trên năng lực thực hiện”.
Ở trong nước, tác giả Hoàng Ngọc Trí (2005) đã công
bố đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật
ở Thủ đô Hà Nội”, tác giả Nguyễn Thị Hằng (2014) đã
Trang 2nghiên cứu Luận án Tiến sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục
“Quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội”, tác giả Nguyễn văn Quang (2018)
đã nghiên cứu Luận án tiến sỹ với nội dung “Quản lý đào tạo diễn viên múa ở các trường Văn hóa Nghệ thuật theo hướng tiếp cận năng lực” Các công trình nghiên cứu này
đã tiếp cận với hoạt động đào tạo từ nhiều góc độ khác nhau một cách khoa học, hệ thống và chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn Các nhà nghiên cứu đã khái quát, phân tích và đã đặt ra những vấn đề thực tiễn cụ thể trong quá trình phát triển đào tạo.Vấn đề đào tạo và quản lý đào tạo ở các trường nghề đã được đề cập qua một số công trình khoa học nhưng mới chỉ có tính chất gợi mở, lồng ghép khi nghiên cứu tổng quát trong quá trình đào tạo Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập vấn đề đào tạo diễn viên chèo, đào tạo các nghệ sỹ biểu diễn nghệ thuật chèo ở các trường Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch một cách đầy đủ, hệ thống
và theo các quan điểm mới, trong bối cảnh đổi mới hiện nay.
Quan điểm của Đảng ta về chiến lược phát triển giáo dục đào tạo Việt Nam 2011-2020 nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
Trang 3diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giáo dục
và đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động
có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn
đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về giáo dục đào tạo
từ nội dung, phương pháp dạy học đến việc xây dựng những môi trường giáo dục lành mạnh và thuận lợi, giúp người học
có thể chủ động, tích cực, kiến tạo kiến thức, phát triển kỹ năng và vận dụng những điều đã học vào cuộc sống Thông qua các hoạt động giáo dục, các giá trị văn hóa tốt đẹp cần được phát triển ở người học, giúp người học hoàn thiện tố chất cá nhân, phát triển hài hòa các mặt trí, đức, thể, mỹ Nội dung, phương pháp và môi trường giáo dục phải góp phần duy trì, bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam.”
Nghiên cứu về quản lý đào tạo
Đối với hoạt động đào tạo và quản lý đào tạo, mặc dù
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng còn nghiêng nhiều về lý luận dạy học và khoa học giáo dục Hoạt động
Trang 4đào tạo mới chỉ được kiến giải, đánh giá dưới góc nhìn của nhà sư phạm chứ chưa được nghiên cứu dưới góc nhìn của nhà quản lý giáo dục Vì thế, vấn đề quản lý đào tạo chưa được nhiều các công trình khoa học đề cập sâu, các nội dung và giải pháp trong quản lý hoạt động đào tạo chưa được quan tâm thấu đáo và toàn diện Trong khi đó, hiệu quả giáo dục của một nhà trường thể hiện rõ nét nhất bắt
đầu từ việc quản lý và tổ chức hiệu quả các yếu tố như bối cảnh, đầu vào, quá trình và kết quả đầu ra của hoạt động
đào tạo.
Quản lý giáo dục nói chung và quản lý đào tạo trung cấp chuyên nghiệp nói riêng luôn là vấn đề được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là vai trò của hệ thống hệ thống đào tạo trung cấp chuyên nghiệp đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Có nhiều công trình nghiên cứu đã đóng góp nhiều giá trị trong thực tiễn quản lý đào tạo, như: “Quản lý quá trình giáo dục - đào tạo” của tác giả Nguyễn Đức Trí;
“Tổ chức quản lý quá trình giáo dục - đào tạo” của tác giả Nguyễn Minh Đường; “Cơ sở của khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo; “Quản lý nhà nước về quản lý giáo dục” của tác giả Phan Văn Kha; “Quản lý,
Trang 5quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc Bảo
Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính phổ quát đó, trong những năm gần đây có nhiều luận văn Thạc
sĩ đã đề cập những vấn đề cụ thể trong công tác quản lý đào tạo ở các trường nghề Các luận văn, như: “Một số giải pháp tăng cường quản lý quá trình dạy - học trong trường Trung học kinh tế kỹ thuật tỉnh Kiên Giang” của tác giả Nguyễn Văn Lâu, TP Hồ Chí Minh - 2000; “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp” của tác giả Đặng Huy Phương, Thành phố Vinh - 2009”…
Ngoài ra, còn có những luận văn nghiên cứu nhiều khía cạnh của quản lý công tác chuyên môn, quản lý đào tạo Hầu hết các tác giả đã đánh giá một cách cụ thể và sâu sắc những thực trạng công tác quản lý chuyên môn của nhà quản lý, của nhà trường, ở từng địa phương, đồng thời đề ra một số giải pháp quản lý hợp lý nhằm giải quyết các vướng mắc ở từng cơ sở giáo dục, đào tạo cụ thể Tuy nhiên, những giải pháp mà các tác giả nêu trong các công trình khoa học đó không hoàn toàn là những giải pháp quản lý
mà trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch có thể
Trang 6áp dụng Đây cũng chính là những luận điểm khoa học sẽ được đề tài luận văn tập trung tìm hiểu và nghiên cứu.
Đặc biệt, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào chuyên sâu luận bàn cụ thể về vấn đề quản lý đào tạo diễn viên chèo Tìm hiểu thực trạng và xây dựng các biện pháp quản lý đào tạo diễn viên chèo trở thành vấn đề cần thiết Trong luận văn này, từ việc tiếp cận CIPO tác giả mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận và thực tiễn quản lý đào tạo diễn viên chèo, đề xuất biện pháp quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực về diễn viên chèo cho ngành Văn hóa Thể thao và Du lịch góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của sân khấu dân gian dân tộc và sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Đào tạo diễn viên chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch
Khái niệm
Đào tạo
- Theo Nguyễn Minh Đường, trong công trình khoa
học “Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới”, thì: "Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích,
Trang 7có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống tri thức, kỹ năng và thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi
cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả" [34, tr 19].
- Theo Từ điển giáo dục học: “Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học để họ sẵn sàng đi vào cuộc sống lao động tự lập, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” [106, tr 76].
Như vậy, tác giả chọn khái niệm: “Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học để họ sẵn sàng đi vào cuộc sống lao động tự lập, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” để nghiên cứu
và vận dụng
Diễn viên chèo.
Trước khi tìm hiểu khái niệm diễn viên chèo, chúng ta hãy tìm hiểu vài nét về nghệ thuật Sân khấu Chèo.
Trang 8Theo nghiên cứu của Giáo sư Trần Bảng và Hội Nghệ
sỹ Sân khấu Việt Nam, thì: Sân khấu Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống cổ truyền Việt Nam.
Kịch bản chèo: được lấy từ những truyện cổ tích,
truyện Nôm; sau đó được nâng lên một mức cao hơn, mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc Chèo thường kể những câu chuyện về đạo lý trong dân gian, ca ngợi tình vợ chồng, tình bạn, ca ngợi phẩm hạnh của phụ nữ, đề cao cái đẹp, cái thiện; đả kích, phản đối kịch liệt mặt trái của xã hội, chê bai cái xấu, cái ác.
Hát Chèo là một hình thức hát xướng dân gian, được
trình diễn bằng lối hát sân khấu, tức là vừa hát, vừa múa, vừa diễn Hát Chèo được truyền dạy thông qua phương pháp truyền khẩu, hát chèo cần phải hát cho tròn vành rõ chữ, vang, rền, nền và nảy Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm và nghiên cứu được khoảng 300 làn điệu chèo và được chia thành ba hệ thống làn điệu chính: Hát vui, hát buồn và hát trữ tình.
Múa chèo: Sử dụng chủ yếu đôi bàn tay, cánh tay và
cổ tay Có thể nói đôi bàn tay là sự thể hiện ngôn ngữ trong chèo một cách điệu nghệ nhất Múa chèo chia thành 5 nhóm
Trang 9chính, là: Nhóm chạy đàn; Nhóm dâng hoa; Nhóm dâng rượu; Nhóm cướp bông; Nhóm tấu nhạc.
Dàn nhạc chèo: Trước đây, dàn nhạc chèo thường có
khoảng 8 nhạc cụ: Đàn nhị, đàn hồ, đàn nguyệt, đàn tam, đàn thập lục (Đàn 16 dây), đàn bầu, đàn tam thập lục (Đàn
36 dây), trống đế Ngày nay, dàn nhạc chèo thường chỉ có
từ năm đến sáu nhạc công.
Nhân vật trong chèo thường mang tính cách điệu, ước
lệ và khuôn mẫu Khi phân loại các nhân vật trong chèo gồm có đào (đào chín, đào lệch, đào thương), kép (kép nền, kép thư sinh), nam ngang, lão, mụ, hề…
Phong trào hát chèo xưa phân hát chèo thành 4 chiếng: Chiếng chèo Đông, Chiếng chèo Đoài, Chiếng chèo Nam, Chiếng chèo Bắc.
Diễn viên là người biểu diễn hoặc trình bày một vai
diễn nào đó bằng cách sử dụng lời nói, cử chỉ, hành động, thái độ, hình thể và nét mặt của mình theo kịch bản đã được viết sẵn hoặc có thể ứng khẩu vai diễn của mình Diễn viên
có thể biểu diễn tại nhà hát, trong các vở diễn, trong phim, trên tivi, đài phát thanh Diễn viên còn được gọi là Nghệ sĩ.
Trang 10Diễn viên chèo là những diễn viên hoạt động trong lĩnh
vực biểu diễn nghệ thuật chèo: diễn chèo, múa chèo và hát chèo Diễn viên chèo có thể là làm việc trong các Nhà hát Chèo, các Đoàn Nghệ thuật chèo chuyên nghiệp, các Trung tâm tổ chức biểu diễn Nghệ thuật (gọi là diễn viên chuyên nghiệp), các đơn vị đoàn thể, cán bộ tuyên truyền văn hoá cơ
sở, đài truyền hình, hãng phim, các công ty truyền thông, tổ chức sự kiện, lễ hội (gọi là diễn viên không chuyên).
Đào tạo diễn viên chèo.
Là việc truyền dạy kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng về hát chèo, múa chèo và diễn chèo của người dạy đến với người học, làm cho người học lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng về hát chèo, múa chèo và diễn chèo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó trở thành diễn viên chèo Có khả năng làm việc tại các Nhà hát Chèo, các đoàn chèo chuyên nghiệp, các đơn vị đoàn thể, cán bộ tuyên truyền văn hoá cơ sở, đài truyền hình, hãng phim, các công ty truyền thông, tổ chức sự kiện, lễ hội.
Đặc điểm học sinh ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch
Trang 11Theo quy định tại thông tư 05/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 02 tháng 3 năm 2017, của Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội “về quy định quy chế tuyển sinh trình độ trung cấp, cao đẳng” Học sinh trường Trung cấp Văn hóa Nghệ
thuật và Du lịch là người trong tỉnh hoặc các tỉnh lân cận đã tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông, đủ điều kiện về sức khỏe và đáp ứng yêu cầu về chuyên ngành được xét tuyển vào học hệ Trung cấp trong trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch.
- Về lứa tuổi: từ 15 đến 23 tuổi (từ học sinh tốt nghiệp
trung học cơ sở đến 23 tuổi)
- Về tâm lý: Chưa ổn định và không đồng đều (Do lứa
tuổi)
- Về nhận thức: Không đồng đều, những học sinh đã
tốt nghiệp trung học cơ sở sẽ có nhận thức khác so với học sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông (do tâm lý lứa tuổi)
Mục tiêu đào tạo diễn viên chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch
Mục tiêu chung
Trang 12Theo quy định tại Thông tư 03/2017/BLĐTB-XH, ngày 01 tháng 3 năm 2017, của Bộ lao động Thương binh
và Xã hội“quy định về quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình;tổ chức biên soạn, lựa chọn, thẩm định giáo trình đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng” Đào tạo diễn viên chèo ở trườngTrung cấp Văn hóa
Nghệ thuật và Du lịch có kiến thức và kỹ năng ở trình độ trung cấp, có những phẩm chất cơ bản của người làm việc trong ngành sân khấu, yêu nghề và có ý thức trách nhiệm xã hội.
Có khả năng về chuyên môn để thực hiện những yêu cầu đổi mới mục tiêu, nội dung đáp ứng yêu cầu phát triển nền sân khấu về quy mô trong tỉnh, chất lượng hiệu quả về nghề nghiệp, kỹ năng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong lĩnh vực nghệ thuật.
Có khả năng hoàn thiện trình độ đào tạo ban đầu để vươn lên những nhu cầu mới, có khả năng tiếp tục học chuyên ngành sân khấu ở bậc cao đẳng và đại học.
Mục tiêu cụ thể
- Về kiến thức: Hoàn thành kiến thức từ văn hóa phổ thông; Nắm được hệ thống các kiến thức cơ bản về nghệ
Trang 13thuật biểu diễn chèo Hiểu biết các kiến thức về khoa học sân khấu, yếu tố diễn viên, như: hát chèo, múa chèo, diễn chèo… các kiến thức cơ bản về khoa học xã hội nhân văn, tin học và ngoại ngữ theo quy định của bậc học trung cấp.
- Về kỹ năng: Có khả năng tư duy, phát triển, thể hiện
ý tưởng bằng ngôn ngữ sân khấu; thành thạo các kỹ năng về sân khấu; có kỹ năng thực hành sân khấu chuyên nghiệp và phục vụ các hoạt động lễ hội; có khả năng học tập nâng cao trình độ.
- Về thái độ: Có lập trường tư tưởng vững vàng, nắm vững đường lối và chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước Có đạo đức nghề nghiệp, yêu nghề, có
đủ sức khỏe, tham gia tốt vào sự nghiệp sân khấu nghệ thuật, góp phần xây dựng và phát triển nền sân khấu Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nội dung đào tạo diễn viên chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch
Theo điều 34 Luật Giáo dục, “Đào tạo trung cấp nghề tập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khỏe, rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình
Trang 14độ học vấn theo yêu cầu đào tạo” Theo Thông tư
03/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 01 tháng 3 năm 2017 của Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội “Về chương trình khung đào tạo trình độ trung cấp” Nội dung đào tạo diễn viên
chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch gồm ba khối kiến thức: khối kiến thức các môn chung, khối kiến thức các môn cơ sở ngành và khối kiến thức các môn chuyên ngành.
Các môn chung
Hình thức, phương pháp đào tạo diễn viên chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch
Hình thức đào tạo diễn viên chèo
Theo khoản 1, điều 32 Luật Giáo dục, thì“Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ 3 đến 4 năm học đối với người có bằng trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” Đào tạo
diễn viên chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và
Du lịch hệ trung cấp tập trung, đào tạo trong thời gian: 2 năm.
Đào tạo diễn viên viên chèo được tổ chức dưới nhiều hình thức:
Trang 15- Học trên lớp: Kết hợp lý thuyết và thực hành, qua bài giảng của giáo viên và sự hướng dẫn của giáo viên thông qua bài mẫu.
- Học thông qua các hoạt động thực tập nghề nghiệp, thực tập tốt nghiệp: Thực hiện các công việc biểu diễn tại các cơ sở chuyên môn, các đơn vị hướng dẫn thực tập, thực tế.
- Học thông qua các hoạt động biểu diễn của khoa, của trường, của ngành và các buổi biểu diễn khác: biểu diễn và tham quan biểu diễn các chương trình do khoa, do nhà trường, do ngành văn hóa hoặc các đơn vị khác trong và ngoài tỉnh tổ chức
Phương pháp đào tạo diễn viên chèo
Theo khoản 2, điều 34 Luật Giáo dục, thì “Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc”.
Phương pháp đào tạo diễn viên chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch được đào tạo theo niên chế, theo từng môn học, kết hợp giữa lý thuyết và thực
Trang 16hành, giữa học tập trên lớp và học tập thực tế theo từng môn học.
Các lực lượng tham gia đào tạo diễn viên chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch
Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch
Tổ chức tuyển sinh và chủ động tổ chức đào tạo, chủ động phối hợp với gia đình, các cơ quan chuyên môn, các
cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị xã hội trong đào tạo diễn viên chèo.
Nhà hát Chèo, Trung tâm Tổ chức biểu diễn Nghệ thuật của tỉnh, các nghệ nhân dân gian
Phối hợp với nhà trường trong công tác giảng dạy các môn thực hành, tiếp nhận và hướng dẫn học sinh thực tập, thực tế, tiếp nhận học sinh về làm diễn viên.
Các Trung tâm Văn hóa thể thao và du lịch cấp huyện.
Phối hợp với nhà trường trong thực tập, thực hành môn học của học sinh và các hoạt động khác trong quá trình đào tạo diễn viên chèo của nhà trường.
Gia đình
Trang 17Gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và các tổ chức xã hội trong giáo dục học sinh, tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh học tập và rèn luyện, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo diễn viên chèo.
Các cơ quan chức năng và các tổ chức chính trị xã hội Các cơ quan chức năng cấp trên: Tạo điều kiện tốt
nhất về kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học để đào tạo diễn viên chèo đạt hiệu quả.
Các tổ chức chính trị xã hội: Hỗ trợ về tài lực, vật lực
giúp nhà trường tổ chức các hoạt động đào tạo, tạo điều kiện cho nhà trường hoàn thành mục tiêu đào tạo.
Các nghệ nhân chèo, các câu lạc bộ chèo trong tỉnh:
Hỗ trợ nhà trường trong việc hướng dẫn thực hành, thực tế các môn học.
Kiểm tra đánh giá đào tạo diễn viên chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch
Kiểm tra, đánh giá đào tạo diễn viên chèo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch được áp dụng theo Thông tư 47/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy
Trang 18định về “Điều lệ trường Trung cấp”; Thông tư số
09/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 13 tháng 3 năm 2017 của Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội “quy định việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô- đun hoặc tín chỉ; quy chế thi, kiểm tra, xét công nhận tốt nghiệp”.
Kiểm tra thường xuyên
Kiểm tra thường xuyên do giáo viên bộ môn trực tiếp thực hiện trong quá trình giảng dạy theo từng môn học, có nhiều hình thức kiểm tra: kiểm tra miệng vào đầu giờ học, vấn đáp trong giờ học hoặc viết bài với thời gian dưới 30 phút, hay kiểm tra một số nội dung thực hành, thực tập, chấm điểm bài tập và các hình thức kiểm tra, đánh giá khác;
Kiểm tra định kỳ
Kiểm tra định kỳ là bài kiểm tra hết chương, hết một phần của nội dung môn học; kiểm tra định kỳ có thể bằng hình thức kiểm tra viết từ 45 đến 60 phút, có thể chấm điểm bài thực hành của môn học;
Kiểm tra học kỳ và kiểm tra kết thúc mônhọc
Trang 19a) Thời điểm: Vào cuối mỗi học kỳ, đây là bài thi kết thúc học kỳ hoặc kết thúc môn học
b) Hình thức: có thể là thi viết, vấn đáp, trắc nghiệm, thực hành;
c) Thời gian làm bài thi kết thúc môn học, thi học kỳ đối với mỗi bài thi viết từ 60 đến 120 phút, đối với các bài thi của môn học có tính đặc thù của ngành, nghề đào tạo do hiệu trưởng quyết định.
Xếp loại kết quả học tập
Sau mỗi kỳ học, năm học, học sinh được xếp loại về học lực, theo điểm trung bình chung của học kỳ, của năm học đó theo thang điểm 10, xếp theo 6 mức sau: