Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến lao động trẻ em, nhưng một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do công tác quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em cò
Trang 11
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 9
6 Những đóng góp mới của luận án 9
7 Ý nghĩa của luận án 10
8 Kết cấu của luận án 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 12
1.1 Các công trình nghiên cứu về lao động trẻ em 12
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 12
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 14
1.2 Các công trình nghiên cứu về phòng ngừa lao động trẻ em 21
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới 21
1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 25
1.3 Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 30
1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới 30
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 31
1.4 Nhận xét về kết quả nghiên cứu tổng quan và vấn đề đặt ra cho đề tài luận án 35
1.4.1 Những nội dung liên quan đến luận án 35
1.4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 36
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA LAO ĐỘNG TRẺ EM 40
2.1 Những khái niệm và lý thuyết liên quan đến đề tài luận án 40
2.1.1 Trẻ em và quyền trẻ em 40
2.1.2 Lao động trẻ em và trẻ em tham gia lao động 45
Trang 22
2.1.3 Phòng ngừa lao động trẻ em 52
2.1.4 Quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 54
2.1.5 Lý thuyết về quyền con người, quyền trẻ em và sàn an sinh xã hội 56
2.2 Nội dung quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 60
2.2.1 Xây dựng và hoàn thiện thể chế về phòng ngừa lao động trẻ em 60
2.2.2 Xây dựng và thực hiện chính sách phòng ngừa lao động trẻ em 61
2.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ công chức, viên chức quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 62
2.2.4 Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất để phòng ngừa lao động trẻ em 64
2.2.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về phòng ngừa lao động trẻ em 65
2.2.6 Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về trẻ em 66
2.2.7 Hợp tác quốc tế về phòng ngừa lao động trẻ em 67
2.3 Vai trò và các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 68
2.3.1 Vai trò của quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 68
2.3.2 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 73
2.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em của một số quốc gia và giá trị tham khảo cho Việt Nam 81
2.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 81
2.4.2 Giá trị tham khảo cho Việt Nam 86
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM 90
3.1 Thực trạng lao động trẻ em ở Việt Nam 90
3.1.1 Quy mô lao động trẻ em 90
3.1.2 Cơ cấu lao động trẻ em 91
3.1.3 Thực trạng lao động trẻ em trong một số khu vực kinh tế 95
3.1.4 Mức độ lao động trẻ em 100
3.1.5 Nguyên nhân của thực trạng lao động trẻ em 104
3.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam 108
Trang 33
3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện thể chế về phòng ngừa lao động trẻ em 108 3.2.2 Xây dựng và thực hiện chính sách phòng ngừa lao động trẻ em 111 3.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ công chức, viên chức quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 115 3.2.4 Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất để phòng ngừa lao động trẻ em 118 3.2.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về phòng ngừa lao động trẻ em 119 3.2.6 Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về phòng ngừa lao động trẻ em 121 3.2.7 Hợp tác quốc tế về phòng ngừa lao động trẻ em 123
3.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam 127
3.3.1 Kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
ở Việt Nam 127 3.3.2 Hạn chế trong quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam 130 3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 134
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM 141 4.1 Quan điểm và định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam 141
4.1.1 Quan điểm của Đảng về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa lao động trẻ
em 141 4.1.2 Định hướng quản lý nhà nước về bảo vệ trẻ em, phòng ngừa lao động trẻ
em 146 4.1.3 Quan điểm của luận án đối với quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay 148
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
ở Việt Nam 150
4.2.1 Sửa đổi, bổ sung và triển khai thực hiện kịp thời hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa lao động trẻ em 150 4.2.2 Bổ sung, cụ thể hóa và thúc đẩy việc triển khai các chính sách phòng ngừa lao động trẻ em 155 4.2.3 Xây dựng và phát triển đội ngũ công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu quản lý và thực hiện phòng ngừa lao động trẻ em 160
Trang 44
4.2.4 Tăng mức hỗ trợ, phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính
cho hoạt động phòng ngừa lao động trẻ em 162
4.2.5 Tiến hành thường xuyên hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về phòng ngừa lao động trẻ em 163
4.2.6 Hỗ trợ việc triển khai hệ thống quản lý thông tin và cơ sở dữ liệu về phòng ngừa lao động trẻ em 164
4.2.7 Sửa đổi và bổ sung quy chế phối hợp liên ngành quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 166
4.3 Một số khuyến nghị đối với cơ quan trung ương và chính quyền địa phương 170
4.3.1 Đối với cơ quan trung ương 170
4.3.2 Đối với chính quyền địa phương 172
KẾT LUẬN 176
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 179
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 180
PHỤ LỤC 190
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước
Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương, được tiếp cận với một nền giáo dục thân thiện và có chất lượng Trẻ em luôn nhận được sự quan tâm, chăm sóc của gia đình và xã hội không bị bạo hành, lạm dụng và bóc lột sức lao động chính là thông điệp mà chúng ta gửi tới tương lai Mặt khác, trẻ em là nguồn nhân lực của quốc gia Một quốc gia muốn phát triển bền vững và cường thịnh đòi hỏi phải có nguồn nhân lực dồi dào, mạnh mẽ về thể chất, tâm lý và phải có trí tuệ cao, bởi vậy quốc gia đó phải có trách nhiệm
và quan tâm đến sự phát triển bình thường và toàn diện của trẻ em, nhất là đối tượng trẻ em trong độ tuổi dễ bị lạm dụng Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi bảo vệ trẻ em, phòng ngừa lao động trẻ em là một nhiệm vụ trọng tâm của đất nước, là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển con người, góp phần tạo ra nguồn nhân lực cho quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ Chú trọng bảo vệ và chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em gia đình nghèo, trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng
có nhiều khó khăn, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em” [39]
Vấn đề lao động trẻ em đã và đang là mối quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới Với rất nhiều những nỗ lực được thực hiện bởi các quốc gia, các tổ chức quốc tế, rất nhiều các công ước quốc tế đã ra đời thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ trẻ em, phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em Đó là Công ước số 138 năm 1973 của Tổ chức Lao động quốc tế về “Tuổi tối thiểu được đi làm việc”, với mục đích là xóa bỏ hiệu quả lao động trẻ em - là những công việc gây nguy hiểm cho sức khỏe, an toàn hoặc đạo đức của trẻ, ảnh hưởng đến giáo dục bắt buộc của trẻ hoặc đơn giản những
Trang 6Là quốc gia đầu tiên trong khu vực châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ nhanh chóng về mặt phát triển con người và tăng trưởng kinh tế trong suốt những năm vừa qua Để đảm bảo trẻ em không bị bóc lột sức lao động, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước 138, Công ước 182 và cam kết thực hiện các biện pháp giải quyết tình trạng lao động trẻ em thông qua việc xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, thiết lập một khuôn khổ pháp lý mạnh
mẽ, phù hợp với bối cảnh quốc gia và hài hòa với luật pháp quốc tế Các chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, chương trình bảo vệ trẻ em, chương trình phòng ngừa lao động trẻ em đã được ra đời, với sự vào cuộc của các cơ quan,
tổ chức và cá nhân Vì vậy, lao động trẻ em ở Việt Nam năm 2018 đã giảm xuống chỉ còn 1.031.944 trẻ em [21, tr 9] trong khi năm 2012 là 1.754.000 trẻ
em lao động [16, tr13]
Tuy nhiên, cũng theo Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2012, trong số lao động trẻ em có 1.315.000 (chiếm 75% tổng số lao động trẻ em) đang làm các công việc mà công việc đó có những công đoạn điều kiện làm việc thuộc danh mục cấm sử dụng lao động trẻ em hoặc môi trường làm việc
có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ [16, tr13] Con số này tại Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2018 [21] là 519.805 em (chiếm gần 50,4% tổng số lao động trẻ em) Lao động trẻ em tồn tại dưới nhiều hình thức, diễn ra
ở nhiều vùng nhất là những vùng miền có khó khăn về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và khó bị phát hiện, kiểm soát, quản lý [21, tr 4] Lao động trẻ
Trang 73
em ở Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều thách thức, dễ bị lạm dụng, xâm hại, bạo lực, dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, dịch bệnh, đô thị hóa, đói nghèo, tệ nạn xã hội Lao động trẻ em phải đối mặt với nhiều rủi ro,
dễ bị lạm dụng, kéo dài thời gian làm việc, tiền công thấp, dễ bị cưỡng bức và
dụ dỗ vào con đường phạm tội hoặc tệ nạn xã hội Phải tham gia lao động sớm
và làm những công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm để lại những hậu quả nặng nề ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển bình thường về thể chất
và tâm sinh lý của trẻ, hạn chế cơ hội tiếp cận với giáo dục của trẻ em và ảnh hưởng đến cơ hội việc làm bền vững của trẻ em trong tương lai Đồng thời, lao động trẻ em cũng tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến lao động trẻ em, nhưng một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do công tác quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em còn hạn chế, pháp luật chưa có sự đồng bộ, nhận thức của xã hội về lao động trẻ em chưa toàn diện nên việc phòng ngừa, giảm thiểu tiến tới xóa bỏ lao động trẻ em dưới mọi hình thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế vẫn là thách thức lớn đối với Việt Nam Chính vì vậy,
nghiên cứu sinh chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ, nhằm góp phần hoàn thiện quản lý nhà
nước về phòng ngừa lao động trẻ em, thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững số 8.7 của Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc “cấm và xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, bao gồm tuyển dụng và sử dụng binh lính trẻ em, và đến năm 2025 chấm dứt lao động trẻ em dưới mọi hình thức” [65]
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em, luận án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
Trang 84
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
- Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quản
lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
- Phân tích, đánh giá thực trạng phòng ngừa lao động trẻ em và quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam
- Nghiên cứu, tổng hợp các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em: xây dựng và hoàn thiện thể chế về phòng ngừa lao động trẻ em; xây dựng và thực hiện chính sách phòng ngừa lao động trẻ em; kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước
về phòng ngừa lao động trẻ em; hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính và cơ
sở vật chất để phòng ngừa lao động trẻ em; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
về phòng ngừa lao động trẻ em; xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về phòng ngừa lao động trẻ em, hợp tác quốc tế về phòng ngừa lao động trẻ em
Trang 9em, nghiên cứu sinh luận giải, xem xét, đánh giá và định hướng các nội dung nghiên cứu của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Luận án kế thừa các tài liệu về thể chế, chính sách pháp luật quốc gia và quốc tế có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các báo cáo, số liệu thống kê, các
lý luận từ các nguồn sau:
+ Các công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận
án trong và ngoài nước
+ Các báo cáo của các cơ quan quản lý, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ về lao động trẻ em trong và ngoài nước
+ Các kết quả điều tra về lao động trẻ em, kết quả khảo sát mức sống dân cư Trong quá trình nghiên cứu, các tài liệu này liên tục được cập nhật, bổ sung và được phân tích một cách chi tiết để tìm ra các nội dung phù hợp, cần thiết cho luận án Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu tại các
Trang 106
chương: chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em; chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em; chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước
về phòng ngừa lao động trẻ em
4.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài các số liệu, thông tin có được
từ nguồn tài liệu thứ cấp, nghiên cứu sinh đã thu thập thông tin sơ cấp thông qua các phương pháp nghiên cứu xã hội học, bao gồm các phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để phục vụ cho việc đánh giá nguyên nhân lao động trẻ em và thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay
- Nghiên cứu định tính: Được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp và gián tiếp Để tìm hiểu quan điểm của các cán bộ lãnh đạo quản lý trong việc triển khai các hoạt động quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em Việt Nam hiện nay đã thực sự hiệu quả hay chưa, những khó khăn trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ
em cũng như đề xuất những giải pháp trong thời gian tới, tác giả đã tiến hành phỏng vấn các nhà lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan của Đảng, Quốc Hội, Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ, với tổng số 10 cuộc phỏng vấn, thời gian 15 – 20 phút phỏng vấn qua điện thoại trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2020 (do giãn cách xã hội vì dịch Covid -19)
Để xác định nguyên nhân của tình trạng lao động trẻ em cũng như mức
độ, thời gian, điều kiện làm việc của các em, tác giả trực tiếp phỏng vấn các em đánh giày, phục vụ trong các nhà hàng, bán hàng rong ở một số tỉnh, thành như
Hà Nội, Nha Trang, Lạng Sơn, Hải Phòng, với tổng số 12 cuộc, mỗi cuộc từ 5 – 10 phút, vào tháng 8, 9, 10 năm 2019
- Nghiên cứu định lượng: Được tiến hành thông qua điều tra nhằm thu thập thông tin, số liệu về lao động trẻ em, đánh giá về thực trạng lao động trẻ
em, xác định những biện pháp phòng ngừa lao động trẻ em có hiệu quả, xác định trách nhiệm trong phòng ngừa lao động trẻ em của các cơ quan quản lý
Trang 117
nhà nước ở địa phương và trung ương Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án, trên cơ sở điều kiện thời gian và kinh phí, nghiên cứu sinh đã lựa chọn phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên, có chủ đích để tiến hành điều tra xã hội học
Nghiên cứu sinh đã xây dựng 01 mẫu phiếu khảo sát cho 02 nhóm đối tượng cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý của trung ương và địa phương thông qua đó tìm ra những khác biệt hoặc tương đồng của nhóm cán bộ lãnh đạo quản
lý các cấp khi nhìn nhận về vấn đề lao động trẻ em Trên cơ sở đó sẽ đưa ra những giải pháp phòng ngừa lao động trẻ em cho phù hợp với thực tiễn Đối tượng khảo sát ở cấp trung ương là cán bộ, công chức lãnh đạo cơ quan Đảng, Quốc hội, các bộ, học viện, tổ chức chính trị - xã hội Ở địa phương là cán bộ, công chức làm công tác trẻ em hoặc làm việc tại UBND các cấp, các tổ chức chính trị xã hội
+ Các mẫu phiếu được thiết kế trên ứng dụng Google Biểu mẫu của Drive, gồm 3 phần: Phần 1 giới thiệu về mục đích khảo sát; Phần 2 nội dung khảo sát; Phần 3 thông tin cá nhân Các câu hỏi được thiết kế dưới dạng nhiều lựa chọn trả lời và bắt buộc, riêng câu hỏi ở phần 3 không bắt buộc đối với thông tin về họ tên, người trả lời phiếu khảo sát có thể để trống ở câu hỏi này Phiếu này được trực tiếp gửi qua email, zalo bằng việc chia sẻ đường link, người tham gia khảo sát trả lời trực tiếp qua email, zalo và gửi lại cho người khảo sát Mẫu nghiên cứu được chọn: 250 phiếu dành cho các cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý ở các Bộ, ngành trung ương và 450 phiếu dành cho cán
bộ, công chức lãnh đạo quản lý ở chính quyền địa phương Thời gian khảo sát
từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2020
Với phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên, có chủ đích, đối với cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý ở Trung ương, nghiên cứu sinh lựa chọn và tiến hành in, phát phiếu điều tra trực tiếp với các cán bộ, công chức quản lý lãnh đạo cấp Vụ, chuyên viên cao cấp các Bộ ngành đang theo học tại các lớp bồi dưỡng chuyên viên cao cấp, lớp bồi dưỡng lãnh đạo quản lý cấp Vụ được tổ chức tại Học viện Hành chính Quốc gia, các bộ và 1 số tỉnh thuộc 03 miền: miền Bắc (gồm Hà Nội, Lạng Sơn, Hòa Bình), miền Trung (Thừa Thiên Huế,
Trang 128
Đắc Lắc), miền Nam (Sóc Trăng, An Giang, Đồng Tháp); lớp bồi dưỡng của Hội liên hiệp Phụ nữ tổ chức tại Trường Cán bộ Lê Hồng Phong Mẫu nghiên cứu được chọn chủ đích với số lượng 250 phiếu dành cho cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý ở các Bộ, ngành Với cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý ở chính quyền địa phương, nghiên cứu sinh phát phiếu tại các lớp cử nhân hành chính (học viên chủ yếu là cán bộ, công chức cấp xã) hoặc gửi phiếu điều tra qua email, zalo về các địa phương thông qua Văn phòng Đoàn đại biểu quốc hội, Sở Lao động Thương binh và Xã hội các tỉnh hoặc UBND các huyện, xã
+ Kết quả thu về 192 phiếu dành cho các cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý ở các bộ, ngành trung ương và 408 phiếu dành cho cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý ở chính quyền địa phương
4.2.3 Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp
Phương pháp này nghiên cứu sinh sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu của luận án Thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, nghiên cứu sinh
sử dụng phương pháp này để hệ thống hóa, làm cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối với việc phòng ngừa lao động trẻ em Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với việc phòng ngừa lao động trẻ
em ở Việt Nam
4.2.4 Phương pháp so sánh
Để có những nhận định khách quan, trong quá trình phân tích, tác giả tiến hành phương pháp so sánh khi phân tích, đánh giá lao động trẻ em và phòng ngừa lao động trẻ em ở một số quốc gia trên thế giới, các khuyến nghị của công ước quốc tế và các tổ chức quốc tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
4.2.5 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã trực tiếp tham khảo ý kiến các nhà quản lý thuộc lĩnh vực nghiên cứu, các nhà khoa học, các giảng viên, những người có kinh nghiệm liên quan đến đề tài luận án Việc lấy ý kiến chuyên gia giúp cho tác giả có được cách tiếp cận đa chiều khi nhìn nhận vấn đề lao động trẻ em, quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em cũng như trong việc
Trang 139
luận giải các giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em một cách khoa học và gắn với thực tiễn, hướng tới xóa bỏ tình trạng lao động trẻ
em, phù hợp với mục tiêu chung của Liên hợp quốc
4.2.6 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu
Để xử lý số liệu thu được qua các phiếu khảo sát đã thực hiện trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng công cụ Google Biểu mẫu và Google Trang tính của Drive
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đã có những công trình nghiên cứu nào về quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em?
- Quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em được dựa trên cơ sở khoa học nào?
- Thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Để hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em cần có những giải pháp nào?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong những năm qua nhưng lao động trẻ em ở Việt Nam vẫn đang là một vấn đề nan giải Việc ban hành và triển khai các văn bản pháp luật, chính sách phòng ngừa lao động trẻ em, tham gia các công ước quốc tế về lao động trẻ em đã cho thấy Việt Nam đã rất nỗ lực để giảm thiểu lao động trẻ em và cũng đã đạt được một số kết quả nhất định Nếu hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em, cùng với sự quyết tâm của toàn xã hội, Việt Nam sẽ giảm thiểu và tiến tới xóa
bỏ lao động trẻ em trong thời gian tới
6 Những đóng góp mới của luận án
Một là, luận án nghiên cứu, tổng quan được một số nội dung có liên quan đến luận án từ một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trang 147 Ý nghĩa của luận án
Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
Thứ hai, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng lao động trẻ em và thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam thông qua các số liệu, báo cáo từ các công trình đã công bố và khảo sát của nghiên cứu sinh, luận án đưa ra những nhận định khách quan, đánh giá những mặt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam
Thứ ba, luận án đã làm rõ vai trò của chính sách, pháp luật, của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong phòng ngừa lao động trẻ em, sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý nhà nước và đề xuất một số giải pháp cơ bản phòng ngừa lao động trẻ em, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn lao động trẻ em ở Việt Nam
Thứ tư, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị cho các
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc trẻ em, cơ quan quản lý nhà nước
về lao động, việc làm, giáo dục đào tạo, y tế trong hoạt động quản lý nhà nước, trong hoạch địch chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em và có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, phòng
Trang 1511
ngừa lao động trẻ em và xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật có liên quan
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án được kết cấu 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
ở Việt Nam
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam
Trang 1612
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình nghiên cứu về lao động trẻ em
Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của lao động trẻ em (LĐTE), những công việc mà trẻ em đang phải thực hiện, những nguy hiểm lao động trẻ em phải đối mặt và những yếu tố tác động đến LĐTE
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Với sứ mệnh đấu tranh cho công bằng xã hội, Liên Hợp Quốc và Tổ chức
Lao động quốc tế (ILO) đã phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em năm 1989, Công ước 138 của ILO về “Tuổi tối thiểu được đi làm việc”, Công ước 182 của ILO về “Nghiêm cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất” Các Công ước trên là kết quả của công trình nghiên cứu của
các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc và ILO, cùng với sự tham vấn của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế khác đã đề cập khá toàn diện đến quyền trẻ em, xác định vai trò, vị trí của trẻ em đối với tương lai của nhân loại, của thế giới Hướng tới mục đích là xóa bỏ tình trạng LĐTE – là những công việc gây nguy hiểm cho sức khỏe, an toàn hoặc đạo đức của trẻ, ảnh hưởng đến giáo dục bắt buộc của trẻ hoặc đơn giản những công việc mà trẻ còn quá nhỏ để làm,
độ tuổi tối thiểu được đưa ra là 15 tuổi [96] và đưa ra những hành động tức thời cần phải loại bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất Cụ thể: (i) các hình thức nô
lệ và tương tự, lao động cưỡng bức, (ii) sử dụng và lôi kéo trẻ em vào hoạt động mại dâm, (iii) các hoạt động bất hợp pháp, các hoạt động sản xuất và vận chuyển
ma túy, (iv) những công việc mà tính chất và điều kiện của nó có thể xâm hại đến sức khỏe, an toàn và đạo đức cho trẻ em [98]
Thông qua Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 1987, Children at work: special health risks (Trẻ em tại nơi làm việc: rủi ro sức khỏe đặc biệt)
[103], nhóm nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới đã tổng hợp, phân tích, đánh giá và đề xuất những khuyến nghị cần phải thực hiện tại các cộng đồng, cấp
Trang 1713
quốc gia và cấp quốc tế Ở cấp độ cộng đồng, nhóm nghiên cứu đề nghị chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em tại nơi làm việc; lập danh sách các bé gái không nên làm việc Ngoài ra, các quốc gia cần đảm bảo để trẻ em tại nơi làm việc được nhận một nền giáo dục đầy đủ; tuyên truyền để cả nhà tuyển dụng và cha mẹ trẻ em đều hiểu đầy đủ những rủi ro của vấn đề trẻ em tại nơi làm việc Kết quả nghiên cứu có giá trị cho luận án khi đánh giá hậu quả của LĐTE
Trong cuốn An Overview of Child Domestic Workers in Asia (Tổng quan
về lao động trẻ em giúp việc gia đình ở châu Á) [115] năm 2002 của Bharati
Plug, tác giả đã xác định nguyên nhân, hậu quả, những mặt tiêu cực của trẻ em lao động giúp việc gia đình, đồng thời đề xuất những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về LĐTE giúp việc gia đình ở 3 quốc gia: Indonesia, Nepal, Thái Lan Mặc dù nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi lao động giúp việc gia đình nhưng kết quả nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia trong khu vực,
có những sự tương đồng với Việt Nam Tài liệu có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu của luận án
Năm 2002, trong một báo cáo cáo tổng quan A Future without child labour (Một tương lai không có lao động trẻ em)[122], ILO đã đưa ra tuyên bố
đối với các nguyên tắc về quyền cơ bản trong lao động và một tương lai không
có LĐTE Nội dung của báo cáo có liên quan đến cơ sở lý luận và có thể tham khảo để giải quyết các nội dung hoàn thiện chính sách, pháp luật của Việt Nam
về phòng ngừa LĐTE
Những kết quả được ILO công bố năm 2014 thông qua bản báo cáo,
Questions and answers on forced labour (Những câu hỏi và lời đáp cho vấn đề lao động cưỡng bức) [126] cho thấy: hơn một nửa trên tổng số lao động cưỡng
bức toàn cầu là phụ nữ và bé gái, chủ yếu trong hoạt động bóc lột tình dục với mục đích thương mại và giúp việc gia đình, trong khi nam giới và bé trai thường
bị bóc lột lao động về kinh tế trong nông nghiệp, xây dựng và khai thác mỏ Báo cáo của ILO chỉ ra những hình thức cơ bản của LĐTE bị bóc lột, qua đó cảnh báo và khuyến cáo các quốc gia phải có những biện pháp phòng ngừa LĐTE
Trang 1814
Tác giả Wendy Herumin trong cuốn Child labour today: a human rights issue (Lao động trẻ em ngày nay: vấn đề nhân quyền) [138] xuất bản năm 2012
đã trình bày khái quát về LĐTE, tình hình trẻ em lao động trên toàn thế giới,
mô tả các công việc trẻ em đang bị bắt buộc phải làm và chỉ ra hậu quả mà trẻ
em đang phải gánh chịu Tài liệu đã khái quát về LĐTE trên toàn thế giới, là một phần đối tượng nghiên cứu của luận án Những mô tả công việc mà trẻ em đang bị bắt buộc phải làm việc cũng như hệ lụy của nó có giá trị tham khảo trong giải quyết vấn đề của luận án
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Cuốn sách Vấn đề lao động trẻ em năm 1998 của tác giả Vũ Ngọc Bình
[23] là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về một vấn đề rộng lớn và phức tạp
là LĐTE trên thế giới và ở Việt Nam một cách khái quát với nhiều thông tin phong phú, hữu ích từ nhiều góc độ khác nhau và những kinh nghiệm, giải pháp thiết thực
Tác giả cuốn sách đã khái quát, hệ thống hóa và nêu ra một số khía cạnh
cơ bản nhất của vấn đề LĐTE Cuốn sách chia làm ba phần: phần I và II tập trung nêu vấn đề LĐTE trên toàn cầu và vấn đề LĐTE ở Việt Nam giai đoạn 1995-1997 như thế nào, các giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề LĐTE Việt Nam trong nền kinh tế thị trường Phần III và phần Phụ lục, với Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế Ôxlô về LĐTE và Danh mục các công việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên
Một phần thời lượng quan trọng cuốn sách phân tích vấn đề LĐTE ở Việt Nam Tác giả đánh giá: tăng trưởng kinh tế và nghèo đói là hai yếu tố ảnh hưởng, liên quan và tác động quan trọng đến LĐTE trong nền kinh tế thị trường
Có nhiều trẻ em ở nông thôn ra các vùng đô thị kiếm sống bằng các nghề khác nhau mà chủ yếu là ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Hầu hết các em lang thang kiếm sống với nhiều cách: đi làm thuê như thợ nề, đóng gạch, khuân vác, bán vé số, bán hàng rong, bán báo, bán nước chè, đánh giầy, lượm nhặt đồ phế thải Trong đói nghèo lại thiếu vốn sống, các em dễ gặp trắc trở, rủi ro và dễ bị lạm dụng, bóc lột về thể xác, kinh tế và tinh thần
Trang 1915
Trước thực trạng đó, cuốn sách đề xuất 7 nhóm biện pháp cần áp dụng, tiến hành để giải quyết vấn đề LĐTE ở Việt Nam: i) Thu thập và phân tích những thông tin, số liệu về LĐTE, xác định những khu vực có lao động độc hại
và bóc lột trẻ em để nhanh chóng cứu giúp, phục hồi và giúp đỡ; ii) Phổ biến thông tin và nâng cao nhận thức đúng đắn về LĐTE; iii) Sửa đổi, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến LĐTE và thực hiện đầy đủ các văn bản này; iv) Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và đổi mới các chương trình giáo dục cho trẻ em; v) Đào tạo, tập huấn và nâng cao năng lực cho những người trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh chống lại sự bóc lột LĐTE; vi) Nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng; vii) Tăng cường hợp tác quốc tế
Tác giả Nguyễn Trọng An với bài viết Vấn đề lao động trẻ em – Thực trạng và giải pháp [1] (2008) đã nêu vấn đề thực trạng LĐTE ở Việt Nam, xác
định nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn việc lạm dụng LĐTE Tác giả nhận định có hiện tượng gia tăng trẻ em lao động trước
độ tuổi tối thiểu, tình trạng bóc lột, lạm dụng trẻ em làm thuê giúp việc gia đình,
bị lôi kéo vào sử dụng vận chuyển, buôn bán trái phép chất ma túy Nguyên nhân chủ yếu do đói nghèo và do nhận thức không đúng đắn về tác hại của LĐTE, sự kém hiệu quả hoặc thiếu sự hiện diện của tổ chức công đoàn ở khu vực kinh tế tư nhân, thiếu hệ thống thu thập và quản lý thông tin về LĐTE, những hạn chế của cơ sở vật chất và chất lượng giáo dục
Bài viết Trẻ em lao động sớm – nguyên nhân và hậu quả [48] của tác giả
Trần Ái Hoa (2004) lại đi sâu phân tích tình trạng trẻ em bỏ học sớm để đi làm
ở cấp tiểu học và trung học cơ sở ở Việt Nam; chỉ ra các loại hình lao động khác nhau như: trẻ em lao động trong kinh tế hộ gia đình, trẻ em lao động tự kiếm sống, trẻ em làm thuê trong các thành phần kinh tế khác nhau, trẻ em đi
ở trong các gia đình Qua thực trạng như vậy, bài viết tìm hiểu nguyên nhân chủ yếu của vấn đề là do: nhận thức của các bậc cha mẹ cũng như xã hội chưa thấy được lợi ích và tầm quan trọng của giáo dục; vấn đề trẻ em lao động sớm trong giáo dục Việt Nam chưa được chú ý; chương trình học chưa đa dạng; nhà nước chưa có chính sách cụ thể cho nhóm đối tượng là trẻ em lao động sớm
Trang 2016
Bài viết Phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em – Pháp luật
và thực tiễn [22] của Đỗ Ngân Bình năm 2009 tập trung phân tích nguyên nhân
trẻ em bị bóc lột về sức lao động, bị đánh đập, chà đạp về nhân phẩm, danh dự chủ yếu là do hạn chế về nhận thức, do tuổi tác và thiếu sự quan tâm của gia đình Tác giả khuyến nghị: Nhà nước và toàn xã hội cần quan tâm hơn đến các biện pháp phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và LĐTE, cũng như tổ chức thực hiện tốt các quy định này là một nhân tố quan trọng
Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội ( LĐ - TB - XH), Tổng cục Thống
kê, ILO (2014), Điều tra quốc gia về tình hình lao động trẻ em 2012 – Các kết quả chính [16] Đây là báo cáo đầu tiên của Việt Nam về vấn đề này Báo cáo
đã đưa ra những số liệu cụ thể về số lượng lao động trẻ em, thời gian và công việc mà những trẻ em trong độ tuổi từ 5 -17 tuổi đang phải làm việc, khu vực tập trung lao động trẻ em đang sinh sống cũng như lĩnh vực mà trẻ em tham gia lao động nhiều nhất Kết quả của báo cáo điều tra toàn quốc về LĐTE cung cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về LĐTE, góp phần thực hiện mục tiêu toàn cầu về xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, ILO (2020),
Điều tra quốc gia về tình hình lao động trẻ em 2018 – Các kết quả chính [21]
Báo cáo đã cập nhật thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động trẻ em, diễn biến tình hình lao động trẻ em trong thời gian qua, cung cấp cơ sở khoa học, bằng chứng thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách và thiết kế các chương trình can thiệp lao động trẻ em phù hợp và hiệu quả trong bối cảnh hội nhập quốc tế Báo cáo đã cho thấy quy mô và xu hướng lao động trẻ em ở Việt Nam
đã có những chuyển biến tích cực khi mà có sự giảm mạnh về số lao động trẻ
em, lao động trẻ em trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm Tuy nhiên lao động trẻ em ở Việt Nam vẫn tồn tại và khu trú ở những nơi mà pháp luật khó có thể can thiệp hiệu quả để giải quyết tận gốc vấn đề lao động trẻ em
Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại
học Quốc gia Hà Nội đã thực hiện một nghiên cứu mang tên Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội vào năm 2000 [62] Đây là một trong những nội
Trang 2117
dung cơ bản nhất trong Chương trình nghiên cứu của Khoa Tâm lý, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Tổ chức Cứu trợ trẻ em của Thụy Điển tại Việt Nam (Save the Children Sweden) Mục tiêu nghiên cứu là nhằm phát hiện những nguyên nhân, đặc điểm và ảnh hưởng của LĐTE dưới 18 tuổi đang giúp việc cho các gia đình ở Hà Nội đối với sự phát triển cá nhân của trẻ em Các kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả được sử dụng để: Một là, cung cấp thông tin, làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trong việc hoạch định chương trình hành động, nhằm tiến tới loại bỏ những hình thức và điều kiện lao động gây thiệt hại cho sự phát triển tâm lý – xã hội của trẻ em ở Việt Nam; Hai là, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tình hình LĐTE Đây là công tác truyền thông giúp các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ có khả năng cải thiện tình hình LĐTE vì quyền và lợi ích của trẻ em
Qua chín chương của cuốn sách đã tập trung vào: i) Tìm hiểu các loại hình lao động giúp việc cho gia đình; ii) Mô tả các đặc điểm, tính chất LĐTE giúp việc cho gia đình; iii) Xem xét các yếu tố gia đình, xã hội và quan hệ giữa trẻ em và gia chủ thuê mướn, sử dụng lao động; iv) Phân tích tình hình, chế độ trả công, sinh hoạt; v) Thăm dò ý kiến, thái độ của trẻ em đối với hoàn cảnh sống, lao động và những người xung quanh; vi) Đánh giá sự hiểu biết về quyền trẻ em Thông qua giới thiệu những nguyên nhân, đặc điểm và ảnh hưởng của LĐTE dưới 18 tuổi đang giúp việc cho các gia đình ở Hà Nội đối với sự phát triển cá nhân của trẻ em Cuốn sách cũng đề xuất một số kiến nghị và giải pháp góp phần cải thiện tình hình LĐTE làm thuê cho các gia đình Nội dung của cuốn sách có giá trị nhất định với việc nghiên cứu luận án trên góc độ lý luận
Trang 2218
việc ở Hà Nội, bài viết tập trung phân tích nguyên nhân khiến trẻ đi làm thuê
từ góc độ gia đình và thái độ của cộng đồng Kết quả cho thấy, nếu yếu tố ban đầu khiến trẻ đi làm giúp việc là kinh tế gia đình khó khăn thì nguyên nhân sâu
xa lại không phải như vậy Có những gia đình kinh tế khá cũng có con đi làm thuê giúp việc Các tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến quyết định di cư của các em là nhận thức của cha mẹ cũng như quan niệm của cộng đồng Nhìn chung, việc trẻ đi làm thuê giúp việc chủ yếu nhằm đáp ứng mong muốn của cha mẹ chứ không xuất phát từ bản thân trẻ Tuy nhiên, trẻ ở nhóm tuổi càng lớn thì việc tự quyết định càng cao
Cung cấp thêm một số nguyên nhân dẫn đến LĐTE là giúp việc gia đình
ở các thành phố lớn, tác giả Chu Mạnh Hùng (2005) tập trung vào nhóm đối
tượng trẻ em gái trong bài viết Vấn đề trẻ em gái giúp việc gia đình tại các thành phố lớn [56] đã phân tích sâu sắc nguyên nhân của hiện trạng này, đó là:
kinh tế gia đình khó khăn; tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn; động cơ đi làm giúp việc của trẻ em gái chịu tác động bởi tâm lý lứa tuổi Bài viết đưa ra đánh giá: trẻ em gái giúp việc cho các gia đình là một hình thức lao động có những nét đặc trưng riêng nên dễ bị lạm dụng, phân biệt đối xử làm ảnh hưởng đến phát triển nhân cách Vì vậy, để các em được hưởng các quyền của trẻ em cũng như quyền của phụ nữ thì cần thiết phải được sự quan tâm của toàn xã hội với những giải pháp có hiệu quả
Đối với LĐTE là trẻ em trong các gia đình nông dân, hai tác giả Nguyễn
Đức Chiện, Nguyễn Thị Hồng Thúy (2005) đã có nghiên cứu Trẻ em tham gia lao động ở gia đình nông dân hiện nay - Qua 3 quan điểm nghiên cứu [25]
Dựa trên nguồn tư liệu về LĐTE trong gia đình nông dân được rút ra từ kết quả cuộc khảo sát xã hội học đánh giá nhanh về trẻ em do Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và Bộ Y tế Việt Nam phối hợp thực hiện tháng 11/2003 tại ba cộng đồng thuộc 3 vùng của Việt Nam, bài viết tìm hiểu và phân tích chênh lệch về kinh
tế và khác biệt xã hội dẫn đến khác biệt mức độ tham gia LĐTE giữa các cộng đồng thuộc ba vùng đất nước Bài viết khẳng định: kinh tế là yếu tố mấu chốt liên quan đến sự tham gia các hoạt động kinh tế của trẻ trong các gia đình, cộng
Trang 2319
đồng nông thôn Qua đó, vấn đề đặt ra là cần phải có những giải pháp can thiệp hiệu quả để nhanh chóng phát triển kinh tế ở các gia đình, có như vậy mới giải quyết vấn nạn LĐTE ở các cộng đồng nghèo
Tác giả Nguyễn Đình Hòa (2008) tiếp cận ở ngành nghề mà trẻ em lao
động, đó là Lao động trẻ em trong du lịch tại Việt Nam - Vấn đề cần được quan tâm đúng mức [50] Theo tác giả, ở Việt Nam và một số nước, trẻ em đã và
đang phải tham gia vào lao động trong du lịch, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Điều đó đã có những tác động không nhỏ tới hoạt động du lịch, ảnh hưởng xấu tới các em và ảnh hưởng tới hình ảnh du lịch của địa phương, của quốc gia Chính vì vậy nghiên cứu về LĐTE trong du lịch để có thể giúp các
em là một nhu cầu cấp thiết không chỉ của một ngành, một cấp mà là trách nhiệm của toàn xã hội
Trong bài viết Trẻ em và sự tham gia lao động đóng thu nhập cho gia đình [66] của Trần Quý Long (2009), tác giả tập trung xem xét thực tế mức độ
tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh tạo thu nhập cho gia đình của trẻ em Việt Nam và những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tham gia đó Tác giả đánh giá: trẻ em có thể đóng góp tích cực kinh tế cho gia đình bằng các công việc trong và ngoài gia đình; Không có sự khác biệt giữa trẻ em nam và nữ trong việc tham gia lao động; Học vấn và nghề nghiệp của bố mẹ là những biến giải thích quan trọng; Mức sống của gia đình có ảnh hưởng rõ rệt; Tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội (nơi cư trú, vùng địa lý) cũng có ảnh hưởng đến khả năng tham gia lao động của trẻ em
Giáo trình Lý luận về Pháp luật về quyền con người của các tác giả
Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên [35] xuất bản 2009 đề cập đến một số nội dung đến quyền của trẻ em theo pháp luật quốc
tế và Việt Nam Ngoài những nhóm quyền cơ bản của trẻ em, cuốn sách còn đề cập đến quyền của những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có LĐTE phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, trẻ em phải làm việc
xa gia đình Mặt khác trong thực tế, nghiên cứu đã chỉ ra vẫn còn hiện tượng
Trang 242011 Trong chương 4 của luận án này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu tác động của LĐTE đến thành tích học tập của trẻ em ở nông thôn Việt Nam năm 1998 Tác giả mô hình hóa các yếu tố quyết định LĐTE và hiệu quả giáo dục của trẻ
em, trong đó nổi bật là biến được quan sát ở cá nhân, hộ gia đình, trường học, cấp xã và cấp khu vực Kết quả cho thấy LĐTE có tác động tiêu cực đáng kể đến thành tích học tập của học sinh Điều kiện kinh tế hộ gia đình là một trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất của LĐTE và thành tích học tập của trẻ em Tác giả khẳng định có tồn tại phân biệt đối xử về giới tính với trẻ em gái trong gánh nặng của LĐTE, trẻ em dân tộc thiểu số phải làm việc nhiều hơn
Tác giả Đỗ Thị Dung tiếp cận ở một khía cạnh nhức nhối khác, đó là vấn
đề vi phạm pháp luật đối với LĐTE Bài viết Lao động trẻ em và vấn đề vi phạm pháp luật đối với lao động trẻ em (2012) [36] đã phân tích tình trạng
LĐTE đang diễn ra phức tạp, trong đó các hành vi vi phạm pháp luật đối với LĐTE khá phổ biến, nghiêm trọng và đang là vấn đề báo động khẩn cấp đối với các nước trên thế giới và ở Việt Nam Qua đó, tác giả đề xuất các giải pháp phòng chống vi phạm pháp luật đối với LĐTE trên hai khía cạnh: hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện
Như vậy, những nghiên cứu về LĐTE trong và ngoài nước đã xác định
các yếu tố cơ bản dẫn đến LĐTE, hậu quả của LĐTE và các giải pháp cần thiết
để cải thiện tình trạng LĐTE ở Việt Nam cũng như trên thế giới Những nghiên cứu về LĐTE đã đưa ra nhiều góc độ tiếp cận và cách xử lý với các loại hình LĐTE khác nhau, những ngành nghề khác nhau ở các khu vực nông thôn - thành thị giúp cho việc nghiên cứu của luận án đa dạng, đa chiều hơn
Trang 2521
1.2 Các công trình nghiên cứu về phòng ngừa lao động trẻ em
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Viện nghiên cứu lao động
Philippin mang tựa đề, Coprehensive Study on Child Labour in the Philippines (Nghiên cứu tổng hợp về lao động trẻ em ở Philippin) năm 1994 [130], những
nguyên nhân và chính sách, pháp luật để loại bỏ việc tuyển dụng trái phép trẻ
em dưới 15 tuổi hoặc tuyển dụng những người dưới 18 tuổi làm công việc độc hại đã được phân tích một cách khá toàn diện Tuy nhiên, những đề xuất chỉ mang tính định hướng, chưa đưa ra những đề xuất cụ thể về quy định pháp luật
Trong cuốn Trade unions and child labour, a guide to action (Các tổ chức công đoàn và lao động trẻ em, hướng dẫn hành động) [114] được xuất bản bởi ILO năm 1997, tác giả A Fyfe và M Jankanish cho rằng, trẻ em lao động hoàn toàn khác với trẻ em lao động vài giờ để kiếm thêm tiền tiêu vặt Trẻ
em lao động sớm là một trong những nguồn thu nhập chính của gia đình Các
em phải làm việc nhiều giờ trong ngày dưới những điều kiện nguy hiểm, gây tổn hại nghiêm trọng tới sức khỏe, tinh thần và thể chất của chính các em Trẻ lao động sớm luôn phải đối mặt với hàng loạt các nguy cơ, trong đó phải kể đến nguy cơ bị lạm dụng, bị bóc lột cả về thể chất lẫn tinh thần Góp phần giải quyết triệt để vấn đề LĐTE, các tác giả đã đưa ra vai trò của các tổ chức công đoàn, coi đó là cầu nối giữa chính quyền và xã hội nhằm chung tay giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất Thông qua các ví dụ cụ thể về mô hình hoạt động của các công đoàn khác nhau ở một số nước như: Mỹ, Brazil, Bangladesk, Tanzania, các chuyên gia đề xuất một khung lý thuyết mô tả 10 hoạt động trọng tâm cần có của bất cứ một công đoàn nào như: điều tra tình hình, mở rộng các chính sách hỗ trợ, nâng cao nhận thức cho cộng đồng và bản thân trẻ lao động nhằm phát huy vai trò tham gia của công đoàn trong hoạt động ngăn chặn, đẩy lùi hiện tượng LĐTE đang ngày một trở nên nhức nhối
Tác giả Nelien Haspels và Michele Jankanish trong tài liệu Action against child labour (Hành động chống lại lao động trẻ em) năm 2000 [133]
đã đề cập đến các chiến lược, công cụ, phương pháp và thông tin cần thiết để
Trang 2622
lập kế hoạch và thực hiện các hành động chống LĐTE có hiệu quả Các tác giả cũng đề xuất các chiến lược ngăn ngừa và loại bỏ nô lệ trẻ em Các chương trình trong cuốn sách được thiết kế để hỗ trợ các chính phủ, các tổ chức của người sử dụng lao động và lao động, các tổ chức phi chính phủ và tất cả những người muốn đóng góp vào việc loại bỏ LĐTE
Cuốn sách của tác giả Burns H Weston (2005) với tiêu đề Child labour and human rights, making children matter (Lao động trẻ em và nhân quyền, làm cho trẻ em quan trọng hơn) [116] của Nhà xuất bản Lynne Rienner, Luân
Đôn, đã cung cấp một cái nhìn tổng quan, toàn diện về vấn đề LĐTE từ góc độ nhân quyền Tác giả xem xét các mối liên hệ giữa quyền con người và lạm dụng LĐTE; những ưu và nhược điểm của phương pháp tiếp cận thông qua nhân quyền với vấn đề LĐTE Tác giả thông qua đó thể hiện nỗ lực mong muốn xóa
bỏ việc lạm dụng và bóc lột LĐTE
Luận án tiến sĩ triết học của Gitanjali Dutta (2002), Đại học Missouri,
Columbia với chủ đề Child labour in VietNam: the relative importance of poverty Returns to education, labor mobility, and credit constraints (Lao động trẻ em ở Việt Nam: mối liên hệ quan trọng với đói nghèo Trở lại giáo dục, dịch chuyển lao động và hạn chế tín dụng) [117] đã phân tích một số yếu tố quyết định LĐTE bằng cách giải quyết bốn câu hỏi liên quan Một là, tác giả cố gắng tìm một ngưỡng nghèo, nếu có, ảnh hưởng đến quyết định LĐTE của gia đình Kết quả từ các đặc điểm kỹ thuật mô hình khác nhau hỗ trợ ý tưởng rằng trẻ em vui chơi, giải trí (hoặc học tập) là một điều tốt đẹp Hai là, tác giả khám phá mối quan hệ giữa lợi nhuận với giáo dục và LĐTE Các chi tiết kỹ thuật khác nhau của mô hình trong phần này chỉ ra rằng lợi nhuận có thể không quan trọng trong việc xác định giờ làm việc của trẻ em Mô hình thứ ba không thể tìm thấy
sự hỗ trợ cho giả thuyết rằng sự gia tăng lợi nhuận trong giáo dục ở các khu vực đô thị có thể làm giảm LĐTE ở khu vực nông thôn do tính di động lao động Cuối cùng, mô hình thứ tư không thể tìm thấy bất kỳ mối quan hệ nào có thể hỗ trợ cho giả thuyết rằng người nghèo có nhiều tín dụng hơn, khả năng trở lại giáo dục có thể không quan trọng đối với họ trong quyết định LĐTE của họ
Trang 2723
Qua nghiên cứu, tác giả đánh giả: xóa đói giảm nghèo nên là chính sách quan trọng nhất để giảm thiểu LĐTE; trong khi chính sách cải thiện lợi nhuận cho giáo dục có thể không giúp giảm bớt LĐTE ở Việt Nam
Các báo cáo của ILO qua các năm với các nghiên cứu chuyên sâu về từng khía cạnh của LĐTE và phòng ngừa LĐTE trong mối liên hệ với việc hoạch định chính sách của các quốc gia, bao gồm:
Hai bản báo cáo của ILO năm 2010 là Accelerating action against child labour (Tích cực hành động chống lại lao động trẻ em) [121] và Stopping forced labour and slavery – like practices - The ILO Strategy (Chấm dứt lao động cưỡng bức qua một số nghiên cứu thực tế - Chiến lược của Tổ chức lao động quốc tế) năm 2013 [125] đã cập nhật xu hướng toàn cầu và đưa ra tiến độ
trong việc phê chuẩn các tiêu chí của ILO Nội dung quan trọng nhất của báo cáo đó là: xem xét tiến độ thực hiện Kế hoạch hành động toàn cầu về loại bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất vào năm 2016 và đánh giá những thách thức, khoảng trống chính còn lại và cách giải quyết những vấn đề này Bên cạnh đó cũng đã chỉ ra cưỡng bức lao động ảnh hưởng đến những người dễ bị tổn thương nhất và ít bảo vệ Phụ nữ, lao động nhập cư có tay nghề thấp, trẻ em, người dân bản địa và các nhóm khác bị phân biệt đối xử trên cơ sở khác nhau có ảnh hưởng không cân xứng Chiến lược ILO là tìm cách giải quyết nguyên nhân gốc rễ lao động cưỡng bức bằng cách trao quyền cho người lao động dễ bị tổn thương để chống lại áp bức tại nơi làm việc và giải quyết các yếu tố cho phép người sử dụng lao động lợi dụng để khai thác, bóc lột lao động Báo cáo khẳng định loại bỏ lao động cưỡng bức là đóng góp quan trọng để đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Trong đó, mục tiêu tổng thể của chiến lược của ILO là giảm toàn cầu về lao động cưỡng bức
Báo cáo của ILO (2012) Towards the elimination of hazardous child labour: Practices with good potential (Hướng tới loại bỏ lao động trẻ em độc hại - Thực hành với tiềm năng tốt) [124] Báo cáo đã đưa ra những ý tưởng để
phòng ngừa lao động trẻ em độc hại như phòng ngừa thông qua thay đổi quan điểm của công chúng đối với lao động trẻ em; phòng ngừa bằng cách cảm hóa
Trang 2824
trẻ em còn đang đi học; phòng ngừa thông qua cải thiện sinh kế của các gia đình gặp căng thẳng về tài chính
Năm 2018, bản báo cáo của ILO Ending child labour by 2025: A review
of policies and programmes (Chấm dứt lao động trẻ em vào năm 2025 - Bản đánh giá về chính sách và chương trình) [123] đã chỉ ra cách tiếp cận chính
sách nhằm loại bỏ LĐTE như: thúc đẩy cam kết hợp pháp đối với xóa bỏ LĐTE trẻ em và vai trò trung tâm của đối thoại xã hội; thúc đẩy việc làm tốt cho người lớn và thanh niên trong độ tuổi lao động hợp pháp, đặc biệt là ở khu vực lao động không chính thức; xây dựng và mở rộng hệ thống bảo trợ xã hội, bao gồm các tầng, để giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của các hộ gia đình về kinh tế; mở rộng khả năng tiếp cận với nền giáo dục công chất lượng, miễn phí như một giải pháp thay thế hợp lý cho LĐTE; giải quyết vấn đề LĐTE trong chuỗi cung ứng; bảo vệ trẻ em trong các tình huống mong manh và khủng hoảng
Chuỗi cung ứng toàn cầu có tiềm năng tạo ra tăng trưởng, việc làm, phát triển kỹ năng và công nghệ chuyển giao logic nhưng việc giảm sút công việc,
vi phạm nhân quyền, bao gồm cả lao động trẻ em, lao động cưỡng bức và buôn người đều có liên quan vào chuỗi cung ứng toàn cầu là khẳng định của ILO
(2019) trong bản báo cáo Ending child labour, fource labour and human traficking in global supply chains (Chấm dứt lao động trẻ em, lao động cưỡng bức và buôn người trong chuỗi cung ứng toàn cầu) [129] Phần một của báo
cáo nêu những hiểu biết về LĐTE, lao động cưỡng bức và buôn người trong chuỗi cung ứng toàn cầu và phân tích các nguy cơ của nó Phần hai đưa ra những quan điểm về ứng phó với LĐTE, cưỡng bức lao động và buôn người trong chuỗi cung ứng toàn Hai quan điểm chính sách bao gồm: thứ nhất, khẳng định Nhà nước có nhiệm vụ quy định và thực hiện khung pháp lý- hoạt động
để bảo vệ trẻ em, người lao động và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương thông qua các công cụ chính sách; thứ hai, đưa ra những chính sách thông minh cần thiết
để tạo điều kiện và khuyến khích hành vi kinh doanh có trách nhiệm của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng trên toàn cầu Thông qua bản báo cáo, ILO mong muốn thông báo cho công chúng và doanh nghiệp các chính sách và cách
Trang 2925
thức thực hành nhằm ngăn ngừa LĐTE, lao động cưỡng bức và buôn người trong chuỗi cung ứng toàn cầu
1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Trong cuốn sách Các văn bản quốc tế về bảo vệ trẻ em [24] năm 1998
của Vũ Ngọc Bình tuyển chọn đã giới thiệu những văn bản cơ bản nhất của Liên Hợp quốc liên quan đến việc bảo vệ trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập và một số những văn kiện khác được thông qua tại các hội nghị quốc
tế mà Việt Nam đã cam kết thực hiện, hoặc có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác bảo vệ trẻ em ở nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong những thập
kỷ tới Những văn bản này đã và đang được đông đảo các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam hưởng ứng, nghiên cứu và áp dụng vào pháp luật và chính sách quốc gia về bảo vệ trẻ em
Trong hệ thống văn bản quốc tế về bảo vệ trẻ em hiện nay có những văn bản có hiệu lực và ràng buộc về mặt pháp lý với các quốc gia thành viên sau khi đã phê chuẩn hay gia nhập Đó là những “công ước” và “nghị định thư” của Liên hợp quốc hay của các tổ chức, cơ quan của Liên hợp quốc như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc, ILO, các công ước La Hay, các công ước Chữ thập đỏ Giơnevơ Ngoài ra còn có những văn bản khác như
“tuyên ngôn”, “tuyên bố” “kế hoạch hành động”, “qui tắc” “hướng dẫn”,
“nguyên tắc”, “qui ước”, “tiêu chuẩn”, “khuyến nghị”, “nghị quyết” Tuy không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý và không qui định những nghĩa vụ
cụ thể nào đối với các quốc gia thành viên, song các văn bản này vẫn có giá trị đạo đức và chính trị Đó là các văn bản của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc
tế khác hoặc các tuyên bố được thông qua tại các hội nghị quốc tế, thể hiện sự nhất trí cao về những vấn đề nhất định để định hướng và có giá trị chỉ đạo chung Bên cạnh đó, trong cuốn sách này còn tuyển chọn một số văn bản được thông qua tại các hội nghị khu vực có giá trị tham khảo thiết thực về một số vấn
đề có liên quan
Tinh thần cao cả xuyên suốt những văn bản được tập hợp trong cuốn sách này là tất cả người lớn hãy làm hết sức mình để bảo vệ trẻ em
Trang 3026
Cuốn sách Nghiên cứu về lao động trẻ em ở Việt Nam 1992 – 1998 [106]
là kết quả tổng kết của dự án Tăng cường năng lực đánh giá và hưởng ứng chính sách về LĐTE ở Việt Nam do Viện Khoa học Lao động và các vấn đề Xã hội phối hợp với Trường Tổng hợp Wollongong thực hiện với sự hỗ trợ về tài chính của Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan Các nghiên cứu này đã đóng góp bước đầu nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng đề án về phòng ngừa và khắc phục LĐTE ở Việt Nam trong giai đoạn 1992-1998
Những nội dung quan trọng của cuốn sách: 1) LĐTE ở Việt Nam đã giảm một cách đáng kể những vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc tiếp tục phải giải quyết, nhất là ở vùng nông thôn; 2) Có những sự khác biệt giữa các vùng khác nhau
về LĐTE Ở vùng nông thôn vấn đề LĐTE đối với các trẻ em gái cần chú ý hơn đối với trẻ em trai; 3) Nhóm trẻ em ở độ tuổi 11-14 cần có sự giám sát và quản
lý chặt chẽ của Chính phủ; 4) Nhóm trẻ em làm việc ở độ tuổi 15-17 có sự gia tăng lớn nhất; 5) Việt Nam luôn có tỷ lệ số học sinh đi học ở cấp tiểu học cao; 6) LĐTE chủ yếu thường thấy ở các doanh nghiệp hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn; 7) Số lượng trẻ em làm thuê trong các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ không lớn Không có bằng chứng nào về LĐTE trong các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu; 8) LĐTE thường hay tập trung nhiều nhất ở những hộ nghèo; 9) Chiến lược quốc gia về xóa đói giảm nghèo cần tập trung chú ý đến vấn đề LĐTE và việc học hành của trẻ em; 10) LĐTE đang giảm một cách nhanh chóng trong số trẻ em nam, trong khi mức giảm ở trẻ em nữ là thấp hơn; 11) Luật pháp của Việt Nam có liên quan tới LĐTE là phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và đã đưa ra được một khuôn khổ pháp lý toàn diện cho việc quản lý vấn đề LĐTE
Các khuyến nghị chính của cuốn sách bao gồm: i) Cần tiếp tục theo dõi vấn đề LĐTE; ii) Tiếp tục chiến lược xóa đói giảm nghèo; iii) Các nỗ lực đặc biệt cần được dành cho những địa phương có tỷ lệ tăng dân số ở mức cao; iv) Cần theo dõi tỷ lệ học sinh đi học để giảm số trẻ em thuộc diện “không ở đâu”; v) Tập trung giúp đỡ đối tượng trẻ em thuộc nhóm dễ bị tổn thương; vi) Có chiến lược giáo dục dành cho trẻ em nữ trên cấp tiểu học; vii) Cần tăng thêm
Trang 3127
giờ học tại trường ở nông thôn nhằm giảm số trẻ em làm việc biên; viii) Cần thực thi luật pháp tốt hơn về LĐTE để giảm các vấn đề liên quan tới LĐTE bất hợp pháp; ix) Cần có thêm các nghiên cứu về các nguyên nhân của LĐTE ở các vùng nông thôn và thành thị
Song song với việc chỉ ra những nguyên nhân của LĐTE như: do sự nghèo đói; cơ hội và khả năng tiếp cận của trẻ em đối với hệ thống giáo dục và dạy nghề hạn chế; vấn đề LĐTE chưa được lồng ghép trong hệ thống giáo dục Việt Nam, nhận thức của các bậc cha mẹ cũng như xã hội chưa thấy được lợi ích và tầm quan trọng của giáo dục; các tác giả Trần Ái Hoa với bài viết Trẻ
em lao động sớm – nguyên nhân và hậu quả [48] (2004), Nguyễn Hải Hữu với
Giải pháp cơ bản nhằm giảm thiểu tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay [59] (2009), Phan Thị Lan Phương với Phòng, chống lạm dụng lao động trẻ em góp phần thúc đẩy việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam [70] (2014)
đã đề xuất các giải pháp để giảm thiểu LĐTE Theo đó, để ngăn ngừa và giải quyết tình trạng LĐTE, giáo dục và dạy nghề là một trong số các giải pháp quan trọng và chủ yếu
Qua bài viết, Lao động trẻ em - Thực trạng và kiến nghị [47; tr 2-7] tác
giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) đánh giá: LĐTE không chỉ giới hạn trong phạm vi các vấn đề đạo đức, xã hội, pháp lý ở mỗi quốc gia mà đã trở thành một yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế Tác giả bài viết đưa ra 7 nhóm khuyến nghị nhằm giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ tình trạng LĐTE Cũng theo tác giả, Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định quốc tế vào pháp luật và chính sách của Việt Nam, nhiều chương trình quốc gia liên quan đến xóa bỏ LĐTE được thực hiện như: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam (2001-2010); Chương trình quốc gia ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ
em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm (2004 - 2010) Bên cạnh đó, cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong hoạt động này, đồng thời đề xuất kiến nghị và 8 nhóm giải pháp cụ thể
Trang 3228
Để những giải pháp phòng ngừa LĐTE thực sự hiệu quả và khả thi thì quan trọng chúng ta phải nhận diện được LĐTE, phân biệt LĐTE với trẻ em tham gia lao động để phát triển thể chất cũng như ý thức được vai trò của lao động trong cuộc sống Tám tiêu chí nhận diện LĐTE ở Việt Nam để giúp cho việc thống kê LĐTE thuận lợi và chính xác, từ đó giúp các nhà quản lý có được những biện pháp phòng ngừa và tiến tới xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất
nói riêng và xóa bỏ LĐTE nói chung được thể hiện trong Một số đề xuất các tiêu chí để nhận diện lao động trẻ em ở Việt Nam [61], Tạp chí Lao động và Xã
hội năm 2012 của tác giả Nguyễn Hải Hữu
Phòng ngừa LĐTE dưới cách tiếp cận của tác giả Lê Thanh Hà (2009)
thông qua bài viết Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với vấn đề lao động trẻ em và lao động chưa thành niên [46] gắn LĐTE với trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp Tác giả đánh giá thực trạng việc thực hiện các quy định
về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong vấn đề LĐTE và lao động chưa thành niên thông qua số liệu cuộc điều tra xã hội học đối với 75 doanh nghiệp thuộc 5 ngành, gồm da giầy – dệt may, khai thác mỏ, thủy sản, xây dựng và dịch vụ - thương mại trên địa bàn Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng
và Quảng Ninh Qua đó tác giả bài viết đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể để các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, tuân thủ các quy định pháp luật về LĐTE
Cùng với đó, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối
hợp với ILO đã ban hành Quy tắc ứng xử của chủ sử dụng lao động về phòng ngừa và xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất trong các lĩnh vực da giầy và may mặc; chế biến thủy hải sản; chế tác đá và gỗ; và thủ công mỹ nghệ (mây tre đan, chiếu cói, thêu ren) [68] năm 2013; Hướng dẫn phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em dành cho doanh nghiệp [69] năm 2019 Quy tắc ứng xử
này được xây dựng trên cơ sở các ý kiến đóng góp xây dựng và cùng thống nhất thông qua của một số các chủ sử dụng lao động trên địa bàn 07 huyện tại 04 tỉnh, thành phố và ngành LĐ - TB – XH (Đồng Nai, Quảng Nam, Ninh Bình
và Hà Nội) với sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO và VCCI trong khuôn khổ hợp tác
Trang 3329
giữa ILO và VCCI Quy tắc ứng xử này khuyến khích các chủ sử dụng lao động trong 04 lĩnh vực ngành nghề (da giầy và may mặc; chế biến thủy hải sản; chế tác đá – gỗ và thủ công mỹ nghệ: mây tre đan, chiếu cói, thêu ren), các địa phương tán thành và triển khai thực hiện, không mang tính pháp lý, không áp đặt bắt buộc đối với các doanh nghiệp Tài liệu giúp doanh nghiệp có góc nhìn tổng quan lợi ích của việc phòng ngừa và giảm thiểu LĐTE trong kinh doanh Đồng thời, tài liệu cung cấp những kiến thức cơ bản để nhận biết thế nào là LĐTE, gợi ý những hành động thiết thực của doanh nghiệp để loại trừ những nguy cơ và hậu quả khi sử dụng LĐTE
Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội và ILO (2011) ban hành Tài liệu tập huấn về phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em [9] Bộ tài liệu góp phần
nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác liên quan đến phòng ngừa
và xóa bỏ LĐTE thông qua việc đưa ra các bài học với các chủ đề: (i) Khái niệm và cách xác định lao động trẻ em, (ii) Thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của lao động trẻ em, (iii) Pháp luật quốc tế về phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em, (iv) Chính sách, pháp luật Việt Nam về phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em, (v) Khảo sát, lập kế hoạch hành động phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em, (vi) Phối hợp, lồng ghép hành động phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em, (vii) Can thiệp, trợ giúp lao động trẻ em, (viii) Giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về lao động trẻ em
Bài viết “Phòng ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” [44] của tác giả Vũ Công Giao, Nguyễn Hoàng Hà đã
phân tích, đánh giá tính tương thích giữa các quy định trong pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động trẻ em cũng như đòi hỏi thực tiễn của công tác phòng ngừa và xoá bỏ lao động trẻ em ở Việt Nam Theo các tác giả, tuy đã tương thích với những quy định cơ bản của luật quốc tế, hệ thống pháp luật Việt Nam về lao động trẻ em hiện còn một số hạn chế, bất cập, đặc biệt là thiếu các quy định về khung pháp lí đối với người sử dụng lao động và người lao động là trẻ em ở các khu vực phi kết cấu, kinh tế hộ gia đình và ở
Trang 3430
nông thôn Trong bài viết, các tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật phòng ngừa và xoá bỏ LĐTE ở Việt Nam trong những năm tới đây
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về phòng ngừa LĐTE của các tổ chức
quốc tế, các tác giả trong và ngoài nước nêu trên tiếp cận vấn đề LĐTE ở các góc độ xác định nguyên nhân, tác động của chính sách, pháp luật đến LĐTE, qua đó đưa ra các khuyến nghị mang tính chất định hướng để phòng ngừa, xóa
bỏ LĐTE Nhiều giải pháp đã được đề xuất dưới các góc độ nghiên cứu, trong
đó đặc biệt là những giải pháp về đảm bảo cơ sở vật chất và chất lượng giáo dục Các nghiên cứu cũng đề cập đến vai trò của của các tổ chức, cá nhân có thể tác động đến phòng ngừa LĐTE hiệu quả hơn Đây là những gợi ý có giá trị tham khảo cho việc thực hiện nghiên cứu của luận án
1.3 Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em
1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới
Với bản báo cáo The end of child labour (Hồi kết lao động trẻ em: mục tiêu trong tầm tay) [100] vào năm 2006 ILO đã đưa ra một bức tranh tổng thể
về tình hình LĐTE ở nhiều khu vực trên thế giới cũng như chỉ ra những nỗ lực của nhiều quốc gia trong việc ngăn chặn và loại bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ Báo cáo cũng kiến nghị các quốc gia thực hiện các chính sách kinh tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo cần thiết nhằm loại bỏ LĐTE Tuy nhiên, báo cáo chủ yếu mang tính kinh tế, xã hội và mới chỉ dừng lại ở việc khuyến nghị xây dựng các chương trình hành động chung ở cấp quốc gia, chưa đi sâu vào khía cạnh quản
lý nhằm loại bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ
Ấn phẩm Ending child labour by 2025: A review of policies and programmes (Chấm dứt lao động trẻ em vào năm 2025 – Đánh giá các chính sách và chương trình) [123] của ILO năm 2018 đã khẳng định việc chấm dứt
LĐTE vào năm 2025 phụ thuộc chủ yếu vào chính sách tích cực của Chính phủ mỗi quốc gia, được hỗ trợ bởi người lao động và người sử dụng lao động, các
tổ chức quốc tế và rộng lớn hơn là cả cộng đồng cùng giải quyết các nguyên nhân của LĐTE
Trang 3531
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Tác giả Phạm Thúy Hương với cuốn sách, Lao động trẻ em khu vực nông thôn [57] năm 2009 đã đưa ra bức tranh tổng thể về LĐTE nông thôn giai đoạn
1993-2006 Tác giả tổng kết: trẻ em nông thôn luôn chiếm khoảng 80% tổng
số trẻ em của cả nước Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế là hiện tượng khá phổ biến, khoảng 28% Ba vùng có tỷ lệ trẻ em tham gia hoạt động kinh tế cao nhất là Tây Bắc (43,9%), Đông Bắc (35,2%) và Tây Nguyên (30,7%) Cuốn sách phân tích rõ một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng LĐTE nông thôn như:
bỏ học sớm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu nơi vui chơi giải trí/hoạt động tập thể cần thiết cho trẻ, bạn bè lôi kéo, cần có tiền tiêu riêng Trên cơ sở đó, tác giả cuốn sách đưa ra 3 quan điểm và đề xuất 8 biện pháp nhằm ngăn ngừa
và hạn chế LĐTE khu vực nông thôn:
Quan điểm 1: cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan ban ngành, chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư ở địa phương, người sử dụng lao động, đặc biệt là gia đình và bản thân trẻ em Quan điểm 2: LĐTE phải được giải quyết dần từng bước, tập trung ưu tiên cho những vùng có tỷ lệ LĐTE còn cao và nhóm tuổi 10-14 tuổi Quan điểm 3: LĐTE cần có sự hỗ trợ mang tính chất lâu dài và kết hợp các biện pháp động viên, giáo dục
Các giải pháp chính cần thực hiện là: 1) Hoàn thiện hệ thống pháp luật
về LĐTE và tăng cường hiệu quả của hệ thống này ở khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình; 2) Tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo và nâng cao mức sống cho các hộ gia đình nông thôn, đặc biệt là ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên; 3) Phân bổ nguồn lực ưu tiên theo vùng, nhóm tuổi; 4) Phát triển hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề tại chỗ; 5) Tiếp tục thực hiện chính sách giảm sinh một cách bền vừng ở khu vực nông thôn; 6) Nâng cao nhận thức và gắn trách nhiệm về vấn đề LĐTE cho cán bộ các ngành chức năng
có liên quan, cán bộ chính quyền địa phương, người sử dụng lao động, gia đình
và chính các em; 7) Tiến hành điều tra, nghiên cứu về LĐTE một cách toàn diện; 8) Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ nguồn lực, kỹ thuật
và kinh nghiệm giải quyết vấn đề LĐTE ở những vùng có nguy cơ cao
Trang 3632
Trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác Việt Nam – Tây Ban Nha trong lĩnh
vực lao động và xã hội giai đoạn 2008 - 2009, dự án: Dịch vụ xã hội đối với nhóm yếu thế và người lao động góp phần hoàn thiện khung chính sách về lao động – xã hội [33] đánh giá: ở Việt Nam nhóm yếu thế bao gồm: người cao
tuổi, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Mục tiêu của dự án nhằm đánh giá thực trạng xã hội đối với người lao động và nhóm yếu thể trong khung chính sách về an sinh xã hội; hỗ trợ hoàn thiện chính sách về đào tạo nghề và bảo hiểm xã hội, thúc đẩy các dịch vụ về dạy nghề và bảo hiểm xã hội cho những đối tượng này; từ đó xây dựng mô hình phù hợp với tình hình thực tiễn trong nước và tiếp cận được xu thế phát triển của quốc tế
Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phòng ngừa
LĐTE, các bài viết Giải quyết vấn đề lao động trẻ em và trẻ em lang thang trong chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em [71] của tác giả Quách Thị Quế năm 2013; Hiện trạng lao động trẻ em ở Việt Nam [87] năm 2001 của tác giả Nguyễn Thị Thiềng; Khó khăn trong quản lý, phòng ngừa lao động trẻ
em – các giải pháp đề ra [34] (2009) của tác giả Đăng Doanh đã khẳng định
đây là một công việc đòi hỏi kết hợp sự nỗ lực của gia đình, nhà trường và xã hội Nhà nước cần đẩy mạnh chính sách trợ giúp xã hội đối với trẻ em, chính sách an sinh xã hội, tăng cường hoạt động truyền thông, tổ chức và quản lý tốt công tác dạy nghề, gắn trách nhiệm gia đình và xã hội trong việc giải quyết vấn
đề LĐTE Cùng với đó là đề xuất 6 nhóm giải pháp tăng cường công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em: hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách, quy định về trẻ
em và LĐTE; Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác này từ trung ương đến cơ sở; Xây dựng mạng lưới bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng; Tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về LĐTE; Tăng ngân sách cho các hoạt động ngăn chặn, giải quyết LĐTE; Có chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động bị mất đất ở các vùng ven đô nhằm hạn chế lao động di cư ra các thành phố lớn
Đề tài nghiên cứu Một số giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện các cam kết quốc tế về lao động [18] của Bộ LĐ – TB - XH (2015) đã đi sâu nghiên cứu
Trang 3733
các vấn đề liên quan tới LĐTE trong Công ước Quyền trẻ em cũng như các Công ước của ILO, đặc biệt là Công ước số 29 về Lao động cưỡng bức; Công ước số 138 về Tuổi tối thiểu được đi làm việc; Công ước số 182 về Các hình thức LĐTE tồi tệ nhất Mặt khác, đề tài cũng tìm hiểu các nội dung trọng tâm liên quan tới tiêu chuẩn lao động và LĐTE trong các hiệp định Thương mại tự
do (FTA), nhất là trong Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đề tài cũng tìm tòi, nghiên cứu về bối cảnh, qui trình xây dựng, các nguy cơ tiềm ẩn trong các Danh sách LĐTE và lao động cưỡng bức (TVPRA
và EO 13126) của Bộ Lao động Hoa Kỳ từ khi bắt đầu có danh sách này vào năm 2009 cho tới năm 2012 khi Việt Nam có 02 hàng hóa bị tđưa vào danh sách này, cũng như cập nhật tình hình chko tới 2015 Bên cạnh đó, đề tài đã đi sâu rà soát, phân tích thực trạng của việc thực hiện các cam kết quốc tế và yêu cầu của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện các cam kết liên quan tới phòng ngừa và giảm thiểu LĐTE nói chung, trong đó có việc xây dựng một số nội dung chính trong quy trình để có thể đưa các mặt hàng của Việt Nam ra khỏi danh sách LĐTE của Bộ Lao động Hoa Kỳ và hạn chế các mặt hàng khác không bị đưa vào các danh sách này
Luận án tiến sĩ Luật học Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế [67] của tác giả Trần Thắng Lợi năm
2012 là công trình chuyên khảo cấp tiến sĩ nghiên cứu pháp luật về người lao động chưa thành niên Đóng góp của Luận án bao gồm: (1) Góp phần luận giải
hệ thống lý luận về lao động chưa thành niên và pháp luật điều chỉnh đối tượng này trong bối cảnh hội nhập quốc tế Cụ thể: chỉ rõ cơ sở để xác định khái niệm người lao động chưa thành niên, xác định các đặc điểm riêng của đối tượng này
để phân biệt với các loại lao động khác, đồng thời làm căn cứ cho việc hoàn thiện các quy định riêng đối với họ; Chỉ rõ mục đích, ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên; Nêu ra những nguyên tắc điều chỉnh pháp luật riêng đối với người lao động chưa thành niên; Xác định các tác động chủ yếu của quá trình hội nhập quốc tế đối với pháp luật về người
Trang 3834
lao động chưa thành niên (2) Phân tích, chỉ ra những kinh nghiệm của một số nước khi điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên Đây là một trong những cơ sở tham khảo quan trọng nhằm so sánh và hoàn thiện pháp luật về người lao động chưa thành niên ở nước ta (3) Đánh giá toàn diện về thực trạng pháp luật đối với người lao động chưa thành niên ở Việt Nam và chỉ
ra những vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung trong hệ thống pháp luật (4) Xác định những yêu cầu cần thiết của việc hoàn thiện các quy định hiện hành về người lao động chưa thành niên, đề xuất thêm một số giải pháp kèm theo luận giải cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về người lao động chưa thành niên
Luận án tiến sĩ Luật học Pháp luật về chống lao động cưỡng bức nhìn từ góc độ phát triển toàn diện [81] của tác giả Phan Thị Nhật Tài (2016) giúp cho
người lao động, chủ thể có liên quan nâng cao nhận thức về lao động cưỡng bức để chống nguy cơ bị cưỡng bức lao động Luận án bổ sung và đưa ra những kiến nghị, cũng như một vài giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật chống lao động cưỡng bức đối với một số quy định pháp luật lao động trên cơ sở phù hợp luật pháp quốc tế, chiến lược phát triển kinh tế đất nước giai đoạn 2011-2020
Luận án tiến sĩ Luật học Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay [88] của tác giả Tăng Thị Thu Trang (2016) đã phân tích một cách có
hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, làm rõ nội dung của các quyền và trách nhiệm của các chủ thể khác nhau trong việc bảo đảm quyền của các em Luận án phân tích và làm sáng tỏ các khái niệm công cụ và phân loại các nhóm quyền trẻ em theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, từ đó thấy rằng quyền trẻ em ở Việt Nam đã hầu hết được phủ kín trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngoài ra, tác giả còn chỉ ra các yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các quan điểm, giải pháp về bảo đảm quyền cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay Đề xuất đổi mới về nhận thức, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể khác nhau trong xã hội và sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các chủ thể trong việc bảo đảm các quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 3935
Ngoài ra, đã có nhiều bài báo, bài viết chuyên đề trên các báo, tạp chí và các cổng thông tin điện tử của các địa phương, các cơ quan, tổ chức nhà nước cũng như tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam từ các góc độ, phương diện khác nhau, tạo nên một cái nhìn đa chiều, toàn diện về vấn đề phòng ngừa LĐTE
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về phòng ngừa LĐTE đã khẳng định được vai trò của nhà nước trong phòng ngừa LĐTE nhưng mới chỉ đề cập đến từng công cụ quản lý riêng lẻ (như chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy) hoặc nhóm những công cụ quản lý nhưng lại ở một khu vực hay phạm vi hẹp Tuy nhiên đó cũng là những tiền đề để nghiên cứu của luận án dựa vào và làm sáng tỏ hơn
1.4 Nhận xét về kết quả nghiên cứu tổng quan và vấn đề đặt ra cho đề tài luận án
1.4.1 Những nội dung liên quan đến luận án
Các công trình nghiên cứu đã giải quyết được những điểm sau:
Thứ nhất, về lý luận, các công trình nghiên cứu đã đưa ra khái niệm,
những dấu hiệu nhận biết về LĐTE dựa theo các tiêu chí về độ tuổi, loại hình công việc và thời gian mà trẻ em phải lao động gây tổn hại nghiêm trọng đến
sự phát triển về mặt thể chất, tinh thần và các cơ hội học tập của trẻ em
Các nghiên cứu cũng đã đánh giá được các nguy hại của LĐTE và đưa
ra những hành động tức thời để xóa bỏ LĐTE; cung cấp những cơ sở nền tảng, quy tắc và tiêu chuẩn có tính quốc tế mang tính tham chiếu đối với hành động của các quốc gia trên thế giới về xóa bỏ LĐTE
Thứ hai, các nghiên đã đưa ra thực trạng LĐTE trên thế giới cũng như ở
Việt Nam ở một số mốc thời gian Rất nhiều nguyên nhân dẫn đến LĐTE được
đề cập đến nhưng trong đó nổi bật là do nghèo đói, do nhận thức Cùng với việc chỉ ra những hậu quả, những mặt tiêu cực của LĐTE, các nghiên cứu đã khẳng định tính tất yếu khách quan của việc ngăn ngừa, giảm thiểu và chấm dứt LĐTE Bên cạnh đó, cần có sự nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội trong việc phòng ngừa sử dụng LĐTE, hướng tới đảm bảo quyền trẻ em
Trang 4036
- Thứ ba, các nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp, khuyến nghị thiết thực
để hiện thực hóa những mục tiêu chăm sóc và bảo vệ trẻ em, đảm bảo quyền trẻ em
Qua các nghiên cứu và phân tích đánh giá một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về QLNN về phòng ngừa LĐTE ở Việt Nam ở cấp độ tiến sĩ quản lý công Các công trình nghiên cứu đã công bố tùy theo khía cạnh tiếp cận
về LĐTE mà đưa ra các biện pháp chung hoặc ở góc độ pháp luật, hay giải quyết các hiện tượng cụ thể trong từng lĩnh vực chứ chưa đưa ra một hệ thống giải pháp có tính đồng bộ, vĩ mô, bền vững nhằm chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng LĐTE
Những nghiên cứu này chưa dựa trên hệ thống lý thuyết của quản lý công
để phân tích thực trạng QLNN về phòng ngừa LĐTE Vì vậy, những vấn đề cốt yếu như: vai trò của QLNN trong ban hành chính sách, pháp luật; tổ chức thực hiện; giám sát thực hiện đối với phòng ngừa LĐTE ở các cấp, ngành, địa phương cũng chưa được các nghiên cứu đánh giá để rút ra những nhận định về kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nói trên rất có ý nghĩa cả về lý luận
và thực tiễn, gợi mở hướng nghiên cứu và rất hữu ích cho nghiên cứu sinh tham khảo, xây dựng và hoàn thiện luận án của mình
1.4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt những kết quả đáng ghi nhận trong nỗ lực phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE Tuy nhiên, dưới tác động của kinh
tế thị trường và tác động trái chiều của tiến trình hội nhập, LĐTE vẫn tồn tại dưới các hình thức ngày càng tinh vi, đòi hỏi cần phải tăng cường công tác QLNN đối với lĩnh vực này Như vậy, việc nghiên cứu một cách cụ thể, chuyên sâu và bám sát vấn đề QLNN về phòng ngừa LĐTE là công việc còn để ngỏ và đặt ra nhiều thách thức cho các nhà nghiên cứu, các nhà chuyên môn Chính vì vậy, việc nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về LĐTE