1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu phong trào đông du ở việt nam và trung quốc công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần thứ 11 năm 2009

54 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ có Nhật Bản thành công trong cuộc cải cách Minh Trị, vươn lên thành một cường quốc bá chủ phương Đông và trở thành tấm gương sáng để các dân tộc thuộc địa ở châu Á ngưỡng vọng và noi

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”

LẦN THỨ 11 NĂM 2009

TÊN CÔNG TRÌNH:

TÌM HIỂU PHONG TRÀO ĐÔNG DU

Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI

Mã số công trình:

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CÔNG TRÌNH DỰ THI GiẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC –

EURÉKA LẦN THỨ 11 NĂM 2009

TÊN CÔNG TRÌNH:

TÌM HIỂU PHONG TRÀO ĐÔNG DU

Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Nhóm thực hiện:

Trần Thị Phương Thảo

Đỗ Thị Tú Trinh Nguyễn Thị Quỳnh Chi Nguyễn Thị Mỹ Phú

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

DẪN LUẬN 3

CHƯƠNG I: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO ĐÔNG DU (CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX) 9

1 Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 9

2 Hiện tượng Đông Du ở khu vực Đông Á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 15 CHƯƠNG II: PHONG TRÀO ĐÔNG DU CỦA TRUNG QUỐC 26

1 Bối cảnh xã hội Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 26

2 Con đường Đông Du của Trung Quốc 28

3 Kết quả phong trào Đông Du của Trung Quốc 31

4 Nguyên nhân kết thúc phong trào Đông Du của Trung Quốc 32

5 Những đóng góp của quá trình Đông Du đối với Trung Quốc 33

CHƯƠNG III : PHONG TRÀO ĐÔNG DU CỦA VIỆT NAM 35

1 Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 35

2 Con đường Đông Du của Việt Nam 36

3 Kết quả phong trào Đông Du của Việt Nam 41

4 Nguyên nhân thất bại của phong trào Đông Du Việt Nam 42

5 Những đóng góp của phong trào Đông Du Việt Nam 44

KẾT LUẬN 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 4

1

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sự phát triển mạnh của khoa học kĩ thuật

đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong nền sản xuất của các nước phương Tây Năng suất lao động tăng, khối lượng sản phẩm làm ra có bước nhảy vọt về

số lượng và chất lượng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa đã đòi hỏi các đế quốc phương Tây tích cực tìm kiếm thị trường Hành trình hướng tới các nước phương Đông để tìm kiếm thuộc địa đã bắt đầu từ nguyên nhân đó

Trong khi phương Tây phát triển nhảy vọt thì phương Đông đang nằm trong vòng lạc hậu Kết quả là các quốc gia phong kiến này lần lượt trở thành thuộc địa của các đế quốc Đến cả Trung Quốc cũng bị chia năm xẻ bảy Chỉ có Nhật Bản thành công trong cuộc cải cách Minh Trị, vươn lên thành một cường quốc bá chủ phương Đông và trở thành tấm gương sáng để các dân tộc thuộc địa ở châu Á ngưỡng vọng và noi theo, mong tìm ra con đường độc lập tự cường cho đất nước mình

Phong trào Đông Du của Trung Quốc và Việt Nam đã ra đời trong bối cảnh lịch sử quốc tế và khu vực như thế Trung Quốc sau thất bại trước Nhật trong chiến tranh Trung - Nhật (1894 – 1895) đã bắt đầu có ý thức học tập Nhật Bản để canh tân Việt Nam sau khi tiếng súng của phong trào Cần Vương dần

im ắng thì một trào lưu cách mạng mới mang khuynh hướng dân chủ tư sản nổi lên, tiêu biểu là chuyến Đông Du của Phan Bội Châu và cao trào đưa 200 thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học tập Đông Du nổi lên như một hiện tượng lịch sử ở Đông Á thời cận đại

Đông Du của Trung Quốc được xem là có bốn con đường chính: con đường lánh nạn, con đường giao lưu kinh tế chính trị, con đường cách mạng và con đường lưu học của các lưu học sinh Trong đó con đường thứ tư được xem

là chủ yếu và nổi bật Trên cơ sở ký kết hiệp ước giữa chính phủ Thanh quốc

Trang 5

2

với chính phủ Nhật Bản, các lưu học sinh Trung Quốc được nhận những học bổng đặc biệt từ chính phủ Nhật, có những trường học và có những chương trình huấn luyện riêng Họ ra sức tham gia cách mạng, đồng thời giúp đỡ cho cách mạng Tân Hợi trong nước Cách mạng Tân Hợi cũng đánh dấu sự kết thức giai đoạn lịch sử cận đại Trung Quốc, cũng như phong trào Đông Du của Trung Quốc

Đông Du của Việt Nam phát sinh từ sự thay đổi tư tưởng từ “cầu viện” sang “cầu học” của Phan Bội Châu Sau khi nhận thấy vấn đề xin viện trợ vũ khí từ Nhật không thành công, đồng thời có tầm nhìn xa hơn về bối cảnh quốc

tế và khu vực, Phan Bội Châu quay về nước vận động thanh niên lên đường sang Nhật du học Hơn 200 thanh niên từ ba miền đất nước dưới sự giúp đỡ của Phan Bội Châu và các nhà yêu nước đã lên đường Đông Du Cải trang thành các học sinh Thanh quốc, các lưu học sinh Việt Nam được nhận vào các trường học ở Nhật Bản và thành tích học tập thì luôn được đánh giá rất tốt Đồng thời các lưu học sinh Việt Nam còn được tuyên truyền và tham gia vào một số hoạt động tuyên truyền cách mạng Sau khi thực dân Pháp phát hiện đã câu kết với chính phủ Nhật Bản trục xuất các lưu học sinh Việt Nam về nước Phong trào Đông Du của Việt Nam kéo dài bốn năm đã thất bại

Tuy thế, phong trào có ý nghĩa lịch sử rất to lớn đối với hai nước và cả thế giới Nó có tác động cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng hai nước, tạo nền tảng cho phong trào cách mạng sau này Đồng thời thể hiện sự giao lưu văn hóa giữa các nước trong khu vực thời cận đại

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc tiếp xúc và giao lưu văn hóa là rất quan trọng Phong trào Đông Du như là một trong những nền tảng cho mối quan hệ tốt đẹp về giáo dục, văn hóa giữa các nước Đông Á, khi mà cộng đồng Đông Á sắp được thành lập trong tương lai

Trang 6

3

DẪN LUẬN

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cục diện thế giới với nhiều diễn biến phức tạp Ở phương Tây Nhờ sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật, nền kinh tế có những bước phát triển nhanh chóng, các đế quốc siêu cường như Anh, Pháp mất dần vị trí bá chủ của mình, vì thế những quốc gia này phải thúc đẩy việc xâm lược thuộc địa nhằm mở rộng thị trường, các quốc gia phương Đông trở thành mục tiêu hàng đầu, trong đó Trung Quốc và Việt Nam Các nhà tri thức Việt Nam cũng như Trung Quốc đều quan tâm đến việc tìm ra con đường nhằm đưa đất nước thoát khỏi sự thống trị thực dân Trong hoàn cảnh đó, Nhật Bản, một quốc gia thuộc phương Đông đã thực hiện thành công công cuộc duy tân của mình, trở thành một nước “phú quốc cường binh” và là quốc gia phương Đông duy nhất tránh được khỏi sự thống trị của phương Tây Vì thế, có thể nói, Nhật Bản trở thành mục tiêu “Đông Du” số một của các trí thức kể trên Như vậy, từ cuối thế kỷ XIX đầu XX, ở Đông Á xuất hiện phong trào Đông Du tương đối rầm rộ ở các nước, nhất là ở Trung Quốc và Việt Nam, tạo nên một hiện tượng lịch sử ở khu vực Đông Á thời cận đại Tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, song phong trào có ảnh hưởng to lớn đến lịch sử cận hiện đại của Việt Nam và Trung Quốc, ảnh hưởng đến phong trào cách mạng của cả hai nước Quá trình Đông Du của hai nước có những nét tương đồng do ảnh hưởng của bối cảnh thời đại, song cũng có những điểm khác biệt do đặc điểm riêng vốn có của mỗi nước

Vì thế, với mục tiêu nhằm hiểu rõ hơn hoàn cảnh lịch sử cũng như quá trình Đông Du của Trung Quốc và Việt Nam, những đóng góp của phong trào Đông Du này đối với lịch sử cách mạng của mỗi nước ra sao; quan trọng hơn là

lý giải vì sao trong cùng một thời điểm lịch sử, cùng mục tiêu Đông Du Nhật Bản nhưng phong trào Đông Du của Việt Nam và Trung Quốc đã đưa đến

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu tìm hiểu về phong trào Đông Du ở cả Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trong suốt thời gian qua

đã được nghiên cứu rất nhiều và những nghiên cứu này sẽ có những đóng góp khá lớn trong việc làm rõ những vấn đề trong một giai đoạn lịch sử cận đại

Ở trong nước đã có nhiều nhà sử học quan tâm nghiên cứu vấn đề này và

đã có nhiều bài viết cũng như là những công trình khoa học liên quan đến vấn

đề này Trên tạp chí “Nghiên cứu Trung Quốc” của Viện Nghiên Cứu Trung Quốc có các bài viết của liên quan đến phong trong Đông Du của Trung Quốc

và Việt Nam như PGS Nguyễn Văn Hồng với bài “Đông Du Trung Quốc - Việt Nam” một hiện tượng lịch sử khu vực thời cận đại, trong đó có nói đến hiện tượng Đông Du của Trung Quốc và Việt Nam như một hiện tượng lịch sử, Nguyễn Văn Vượng với “Các ngả đường Đông Du của phong trào Đông Du Trung Quốc thời cận đại” đã trình bày những nguyên nhân cũng như những con đường đi của phong trào Đông Du Trung Quốc Về tư liệu sách, có “Những hoạt động của Phan Bội Châu ở Nhật Bản” của TS Nguyễn Tiến Lực, trong đó

có viết rõ về sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu trươc và sau khi đến Nhật Bản, cuộc sống và học tập của sinh viên Việt Nam ở Nhật Bản…, hay cuốn sách của Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội “Quan hệ văn hóa, giáo dục Việt Nam - Nhật Bản và 100 năm phong trào Đông Du” đã tổng hợp lại những tác phẩm đã đăng trên các báo, tạp chí liên quan đến phong trào Đông Du Việt Nam, trong đó có các phần như phong trào Đông Du, tư tưởng Phan Bội Châu, phong trào Đông Du ở các địa phương Ngoài ra còn có các nhà nghiên cứu Nhật Bản và nước ngoài tìm hiểu về phong trào Đông Du của

Trang 8

5

Việt Nam như “Phong trào Đông Du, Nhật Bản và các mối quan hệ quốc tế ở Viễn Đông” của Petra Karlova hay “Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và châu Á” của Shiraishi Masaya đã đặt phong trào Đông Du vào bối cảnh của các mối quan hệ quốc tế lúc bấy giờ

Về phía Trung Quốc, chắc hẳn cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, song nguồn tài liệu mà chúng tôi tìm thấy rất hạn hẹp Theo PGS Nguyễn Văn Hồng thì có hai học giả Trung Quốc nghiên cứu sâu về vấn đề này, đó là Chu Nhất Lương với”Bàn về lịch sử văn hóa Trung - Nhật”, Vương Hiểu Thu với

“Những ghi chép về quan hệ văn hóa Trung – Nhật thời cận đại” Chúng tôi

có tìm được một phần mục lục của cuốn sách “Lịch sử nữ sinh Trung Quốc lưu học Nhật Bản thời cận đại” của tác giả Chu Nhất Xuyên bản bằng tiếng Trung Quốc, nhưng đáng tiếc là chúng tôi không có được bản toàn văn

Qua các tư liệu mà chúng tôi có được, hầu như các tác giả chưa có sự liên

hệ và so sánh phong trào Đông Du của hai nước, có lẽ vì phần tư liệu về Đông

Du của Trung Quốc còn quá ít và vấn đề này vẫn chưa thật sự được xem trọng Nằm trong trào lưu của khu vực Đông Á thời cận đại, phong trào Đông Du của hai nước có nhiều điểm tương đồng cũng như có nhiều đặc điểm riêng khác biệt Vấn đề này cần phải được nghiên cứu sau hơn nữa, đồng thời, đặt phong trào trong bối cảnh lịch sử và các mối quan hệ quốc tế lúc bấy giờ để lý giải những nguyên nhân, cũng như những nguyên nhân và kết quả của hai phong trào

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Với mục đích tìm hiểu quá trình Đông Du Nhật Bản của Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu XX, trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ hoàn cảnh lịch sử dẫn đến cuộc Đông du ở hai nước, quá trình Đông Du, kết quả của phong trào Đông Du và quan trọng hơn

là chúng tôi cố gắng lý giải những nguyên nhân dẫn đến hai kết quả khác nhau

ấy, đồng thời tìm hiểu những đóng góp của phong trào Đông Du đối với hai nước và quốc tế

Trang 9

 Phương pháp nghiên cứu

Vì đây là một đề tài tương đối rộng, vì thế, trên cơ sở tìm hiểu những tài liệu được các nhà nghiên cứu trong nước trình bày bằng tiếng Việt, chúng tôi sẽ dịch một số tài liệu từ tiếng Hoa có liên quan Đồng thời, chúng tôi cũng thực hiên việc phân tích, so sánh, đối chiếu và tổng hợp các tài liệu này

5 Giới hạn đề tài

Thời gian: giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu XX

Không gian: với bài viết lần này, chúng tôi tập trung nghiên cứu chủ yếu phong trào Đông Du Nhật Bản của Việt Nam và Trung Quốc

6 Đóng góp mới của đề tài

Như đã nói, liên quan đến vấn đề này đã có rất nhiều tác giả quan tâm và

nghiên cứu, nhưng chưa có tác giả nào cũng như chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về vấn đề so sánh phong trào Đông Du của Trung Quốc và Việt Nam Với đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu và so sánh phong trào ở hai nước và lý giải nguyên nhân dẫn đến kết quả khác nhau của hai phong trào

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

 Ý nghĩa lý luận

Đây là một bài nghiên cứu có tầm khái quát hơn trong tìm hiểu những vấn

đề có liên quan về phong trào Đông Du hai nước Đồng thời hi vọng có thể mở

ra những hướng suy nghĩ mới và những vấn đề mới xoay quanh vấn đề này

Trang 10

8 Kết cấu của đề tài

Đề tài chúng tôi ngoài phần dẫn luận, phần kết luận và tài liệu tham khảo

sẽ gồm ba chương chính

Chương I: Hoàn cảnh lịch sử của phong trào Đông Du

Chúng tôi sẽ trình bày về bối cảnh lịch sử thế giới cuối thế kỉ XIX đầu thế

kỉ XX, trong đó nổi bật nhất là sự lớn mạnh của các đế quốc phương Tây và công cuộc tìm kiếm thuộc địa của họ, đối lập với sự bảo thủ và trì trệ của các nước phương Đông lúc bấy giờ, bên cạnh đó là công cuộc duy tân của Nhật Bản và chiến thắng trong hai cuộc chiến Nhật – Trung và Nhật – Nga để dần dần đứng ngang hàng với các cường quốc trên thế giới

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng trình bày đến bối cảnh khu vực Đông Á cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khi mà phong trào Đông Du lúc đó trở thành một trào lưu ở khu vực Đông Á, tại sao các nước lại chọn Nhật Bản làm nơi đến cho mong muốn cải cách của mình

Chương II: Phong trào Đông Du của Trung Quốc

Chúng tôi sẽ trình bày về hoàn cảnh lịch sử trong nước, con đường Đông

Du, kết quả của phong trào, nguyên nhân của kết quả ấy và những đóng góp của phong trào đối với Trung Quốc

Chương III: Phong trào Đông Du của Việt Nam

Chúng tôi cũng sẽ trình bày về hoàn cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, con đường Đông Du và những hoạt động của phong trào Đông Du tại Nhật, kết quả của phong trào, lý giải nguyên nhân thất bại và

Trang 11

8

những đóng góp của phong trào đối với Việt Nam

Riêng trong phần kết luận chúng tôi sẽ có sự so sánh những điểm tương đồng và khác biệt của phong trào Đông Du hai nước và đưa ra những kiến giải, đồng thời có sự mở rộng và nâng cao cho đề tài

Trang 12

9

NỘI DUNG CHƯƠNG I: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO ĐÔNG DU

(CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX)

1 Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.1 Bối cảnh thế giới

Trong ba mươi năm cuối thế kỷ XIX, khoa học kĩ thuật phát triển mạnh ở các nước phương Tây Các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, khai thác năng lượng có những bước tiến vượt bậc Sự tiến bộ về khoa học kĩ thuật đã thúc đẩy nền sản xuất phát triển nhanh chóng, làm thay đổi vai trò và tỉ trọng sản phẩm của mỗi nước trong nền kinh tế thế giới Anh, Pháp mất dần địa vị độc quyền về công nghiệp, trong khi đó những đế quốc trẻ như Mỹ, Đức vươn lên hàng thứ nhất và thứ hai Sự thống trị của các tổ chức lũng đoạn ở các nước này đã thúc đẩy việc xâm chiếm thuộc địa để tìm kiếm thị trường Các nước đế

quốc ráo riết đi tìm những vùng đất còn bỏ trống Các đế quốc “già” muốn duy trì thuộc địa cũ, đồng thời mở rộng thêm đất đai Các đế quốc trẻ đòi hỏi “một

chỗ đứng dưới ánh mặt trời”, lăm le giành giật thuộc địa của các nước khác

Đến đầu thế kỷ XX, việc phân chia thị trường thế giới gần như đã hoàn thành

Anh được xem là nước có nhiều thuộc địa nhất khi mà “mặt trời không bao giờ

lặn trên đất nước Anh”, Pháp, Tây Ban Nha cũng có thuộc địa rộng lớn Thuộc

địa của các nước đế quốc trẻ như Mỹ, Đức, Nhật chưa thỏa mãn và tương xứng với vị trí của họ Thế giới tiềm ẩn những nguy cơ của một cuộc chiến tranh mang tầm cỡ thế giới để chia lại thuộc địa

Trong quá trình đi tìm thuộc địa của mình, các đế quốc phương Tây đã nhắm đến các quốc gia phương Đông huyền bí Giữa thế kỷ XIX, hầu như các nước phương Đông còn ở trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Kinh tế kém phát triển, năng suất không cao, tụt hậu về khoa học kĩ thuật Chế độ phong kiến tồn tại quá lâu đời đã kìm hãm sự phát triển của các xã hội phương Đông Ở Nhật, chế độ phong kiến Tokugawa sau mấy thế kỷ thống trị đã rơi vào bế tắc và suy

Trang 13

10

thoái, không đáp ứng được sự phát triển của xã hội Nền nông nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến, quyền sở hữu đất đai thuộc về nhà nước phong kiến không phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất, thêm vào đó là sự bóc lột nặng nề của địa chủ khiến cho sản xuất nông nghiệp vô cùng trì trệ Ở Trung Quốc cũng thế Cuối thế kỷ XIX, xã hội Trung Quốc đang ở trong giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến Mãn Thanh Nhà Thanh dựa vào tầng lớp quý tộc Mãn và quân đội trong tay để tăng cường bóc lột và đàn áp nhân dân Đồng

thời thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng”, cấm giao thương buôn bán với

nước ngoài Chính những điều này càng khiến xã hội Trung Quốc rơi vào trì trệ

và lạc hậu Các quốc gia nhỏ khác như Việt Nam với chính sách “bế quan tỏa

cảng” của nhà Nguyễn, Inđonêxia bị chia năm xẻ bảy thành các tiểu vương

quốc nhỏ, Mãlai với nền kinh tế tự nhiên lạc hậu và khép kín của công xã nông thôn đều là miếng mồi ngon cho chủ nghĩa thực dân phương Tây Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia phương Đông đều bị các đế quốc phương Tây xâm lược, bị buộc kí những hiệp ước bất bình đẳng và trở thành thuộc địa của chúng Việt Nam, Lào, Campuchia trở thành thuộc địa của Pháp, Philippin chịu ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha, Inđônêxia, Mã Lai dưới

sự tranh giành của Hà Lan và Anh Riêng Trung Quốc như một “chiếc bánh

ngọt” mà các đế quốc tranh nhau xâu xé Các nước thay nhau buộc triều đình

nhà Thanh kí những hiệp ước bất bình đẳng, đẩy Trung Quốc thành quốc gia nửa phong kiến nửa thuộc địa Ở phương Đông duy chỉ có Nhật Bản không bị chìm trong máu lửa và gót giày của quân xâm lược

Việc Nhật Bản duy tân và trở thành đế quốc duy nhất ở phương Đông thoát khỏi sự xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây được xem là một hiện tượng thần kì lúc bấy giờ Cuối thế kỷ XIX, Nhật Bản cũng là một quốc gia phong kiến lạc hậu như các nước phương Đông khác Các Shogun lũng đoạn triều chính, tiếm quyền của Thiên Hoàng Quan hệ sản xuất phong kiến kìm hãm sự phát triển của xã hội, trói buộc công thương nghiệp phát triển Giữa thế kỷ XIX, Mĩ được xem là nước đầu tiên mở cửa Nhật Bản với những hiệp ước bất bình đẳng đòi Nhật phải mở cửa các cảng biển (1854,

Trang 14

11

1858) Tiếp theo đó là các đế quốc Anh, Pháp, Nga cũng nhảy vào Nhật Nước Nhật rơi vào nguy cơ bị thực dân phương Tây xâm chiếm Trước sự can thiệp quá trắng trợn của tư bản phương Tây, phái chống Shogun và ủng hộ Thiên Hoàng đã tổ chức quân đội, trang bị lực lượng, lật đổ Shogun và đưa Minh Trị thiên hoàng lên ngôi

Cuộc đấu tranh chuyển giao quyền lực từ Shogun sang Thiên Hoàng Minh Trị đánh dấu một bước đi lên, một sự đổi mới có ý nghĩa cách mạng Sau khi lên ngôi, Thiên hoàng Minh Trị đã tiến hành một loạt những cải cách táo bạo nhằm duy tân và đổi mới đất nước, mà trước hết là lập nghị viện và cải cách hành chính, chế độ thu tô lãnh địa được thay thế bằng chế độ lương bổng Thiên Hoàng cho phép ruộng đất trở thành hàng hoá và được tự do buôn bán, điều này giúp giải phóng sức lao động khỏi ruộng đất và bổ sung nguồn lao động cho thành thị Đồng thời khuyến khích công thương nghiệp phát triển, thống nhất tiền tệ, quan thuế, đo lường, du nhập khoa học kĩ thuật của nước ngoài, coi trọng công nghiệp quân sự Có thể nói, Duy tân Minh Trị là một cuộc biến đổi xã hội khá toàn diện về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục , đã đưa Nhật Bản từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước có nền công nghiệp phát triển và hiện đại

Năm 1984 – 1985, chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ Đây được xem là cuộc chiến tranh đầu tiên giúp Nhật khẳng định vị trí của mình ở châu Á, đồng thời đánh dấu một sự đổi ngôi trong quan hệ quốc tế ở Đông Á, có tác động vô cùng to lớn đối với Trung Quốc, Nhật Bản và cả châu Á Ngày 1-8-1894, vua Quang Tự tuyên chiến với Nhật, với lí do Nhật xâm lược Triều Tiên vốn là nước phụ thuộc của Trung Quốc Song quân Thanh lần lượt thất bại trong các chiến dịch, ý chí chiến đấu nguội lạnh dần Thất bại bất ngờ của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh đã bộc lộ những yếu kém của đế chế Trung Hoa Từ Hi Thái Hậu mời Anh, Pháp làm trung gian giảng hòa với Nhật Kết quả Trung Quốc phải kí với Nhật Điều Ước Mã Quan (17-4-1895), ngoài việc thừa nhận quyền thống trị của Nhật Bản đối với Triều Tiên, phải mở cửa cảng biển, bồi thường chiến phí 200 triệu lạng bạc, Trung Quốc còn phải cắt bán đảo Liêu

Trang 15

12

Đông, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ cho Nhật Đến lúc này đã có một sự đổi ngôi minh chủ ở châu Á Đế chế phong kiến Trung Hoa hùng mạnh đã phải ngậm ngùi cúi đầu trước đế quốc Nhật mới cải cách nổi lên Nhật Bản đã từng bước trở thành một đối thủ đáng gờm ở châu Á, không những không bị các đế quốc phương Tây xâm lược, mà bản thân Nhật Bản còn đi xâm lược nước khác

và giành được thắng lợi

Năm 1902, trước sự kinh ngạc của thế giới, đế quốc Anh – “ông chủ

đương nhiên ở khu vực Đông Á” với “địa vị tối cao ở khu vực Thái Bình Dương đã được thừa nhận và không bị thách thức” - đã kí hiệp ước liên minh

với Nhật – một đế quốc non trẻ mới nổi - với mục đích chia sẻ quyền lợi ở châu

Á và ngăn chặn sự bành trướng của Nga Điều này đã giúp khẳng định vị trí của Nhật ngang hàng với các đế quốc phương Tây, đồng thời tạo ra một thế đối lập giữa các đế quốc khi Liên minh Nhật – Anh đối lập thù địch với liên minh Nga - Pháp và tiềm ẩn một nguy cơ chiến tranh ở Đông Á để tranh giành quyền lợi

Nếu cuộc chiến tranh Trung - Nhật khiến giai cấp thống trị Trung Quốc nhận ra Nhật Bản là một minh chủ mới nổi thì chính chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) mới giúp Trung Quốc thật sự bái phục Nhật Bản và mong muốn học tập và canh tân như nước Nhật Chiến tranh Nga – Nhật với chiến thắng cuối cùng thuộc về Nhật Bản như là một đòn cay đắng đối với đế chế của Nga Hoàng, đồng thời cũng gây nhiều choáng váng cho chủ nghĩa đế quốc phương Tây, buộc họ phải dè chừng Nhật Bản, đồng thời công nhận Nhật Bản là một đế quốc ngang hàng với phương Tây Nhật Bản không những trở nên giàu mạnh,

là minh chủ châu Á mà còn có vị trí trên trường thế giới Đây là điều mà lúc bấy giờ không một quốc gia phương Đông nào làm được

1.2 Bối cảnh khu vực

Trang 16

13

Trước sự tấn công ồ ạt của chủ nghĩa thực dân phương Tây, các quốc gia phương Đông tìm mọi cách để tự bảo vệ mình, nhưng dường như bất lực

Chính sách “bế quan tỏa cảng”, đóng cửa tuyệt giao để tự vệ mà nhiều quốc

gia lựa chọn dường như không đem lại kết quả khả quan Đó chỉ là biện pháp tự

vệ thụ động mang tính chất lạc hậu, không tạo được thực lực để chống xâm lược Kết quả là các nước lần lượt bị giày xéo dưới gót giày của chủ nghĩa đế quốc Các nước vốn tự hào với nền văn minh rực rỡ lâu đời của mình cũng không thoát khỏi sự đàn áp và bóc lột dã man Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Inđônêxia, Mãlai đều lần lượt trở thành các quốc gia nửa phong kiến nửa thuộc địa Chỉ có những nước lựa chọn con đường cải cách mới phần nào vươn lên được Tiêu biểu nhất là Nhật Bản, sau cải cách Nhật đã vươn lên thành một cường quốc trên thế giới, trở thành minh chủ châu Á Ở trên một mức độ nào

đó, Vương Quốc Xiêm (Thái Lan) cũng đã tiến hành những biện pháp cải cách thành công với những chính sách đối nội và đối ngoại khôn khéo của Rama V

đã giúp Xiêm duy trì được nền độc lập không rơi vào vòng thuộc địa như các nước láng giềng, tuy nền độc lập ấy không trọn vẹn

Sau khi cuộc tìm kiếm và bình định thuộc địa đã ổn định, các đế quốc tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa với quy mô lớn Thực dân Hà Lan tại

Inđônêxia đã bóc lột người nông dân nặng nề qua chính sách “cưỡng bức trồng

trọt”, nghĩa là nhổ lúa phá màu ép nông dân trồng những cây công nghiệp và

đặc sản như cà phê Ấn, chàm Ấn, mía, thuốc lá để xuất khẩu Hậu quả là nông dân lao động cực khổ nhưng không có đất trồng lúa, không có lương thực

để ăn Chúng cướp đất của nông dân rồi đem bán hoặc cho người châu Âu thuê, đồng thời bóc lột tô thuế vô cùng nặng nề Nhân dân Inđônêxia rên xiết dưới ách thống trị tàn bạo của chúng Tại Ấn Độ, dưới sự thống trị của thực dân Anh, toàn bộ ruộng đất bị tịch thu và Ấn Độ trở thành những cánh đồng thuốc phiện, chàm, cà phê, thuốc lá, là nơi cung cấp thuốc phiện để Anh đem bán vào thị trường Trung Quốc trước khi diễn ra cuộc chiến tranh Thuốc phiện năm 1840 Anh xây dựng các hải cảng, đường sắt để chuyên chở những hàng hóa và của cải vơ vét được về Anh Các nước thuộc địa khác như Việt Nam, Lào,

Trang 17

14

Campuchia cũng có số phận tương tự Những cuộc khai thác thuộc địa đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt các thuộc địa Cuộc sống nhân dân bị bóc lột đến cùng cực, đói khổ, đất nước bị khánh kiệt, đồng thời đó là sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và nền kinh tế hàng hóa mà bản thân cơ

sở hạ tầng lạc hậu ở các nước này không thể thích ứng nổi, dẫn đến những biến đổi lớn lao trong đời sống xã hội của các nước thuộc địa

Đồng thời với những biến đổi lớn lao về mặt kinh tế thì các nước phương Đông cũng du nhập theo đó những luồng tư tưởng văn hóa phương Tây với những quan niệm còn hết sức mới mẻ Những khái niệm mới như dân chủ, tự

do, bình đẳng, bác ái còn quá xa lạ với những nước mà nền phong kiến thống trị hàng ngàn năm nay Những luồng tư tưởng tiến bộ như phong trào Ánh sáng

ở Pháp, tư tưởng Mac – Ăng-ghen, hay các tư tưởng dân tộc dân chủ khác như một luồng gió mới thổi vào các nước thuộc địa, khơi dậy lòng yêu nước, lòng

tự hào dân tộc của các tầng lớp sĩ phu, thanh niên, học sinh sinh viên, thúc đẩy

họ tiếp thu học tập để giải phóng dân tộc và thay đổi đất nước Đồng thời ánh sáng văn minh phương Tây cũng thu hút bộ phận trí thức sang đấy học hỏi với mong muốn cách tân đất nước Nguyễn Trường Tộ sau khi sang Pháp đã có một

số cải cách dâng lên vua Nguyễn, chỉ tiếc là bị bác bỏ Hôxê Ridan, người trí thức Philippin sau nhiều năm học tập ở Madrit đã đưa ra những chính sách cải cách thức tỉnh dân tộc, chống lại chủ nghĩa thực dân Tây Ban Nha Khang Hữu

Vi, Lương Khải Siêu và những tầng lớp trí thức Trung Quốc sang Nhật Bản du học Có thể nói những luồng tư tưởng văn hóa và văn minh phương Tây có tác động lớn đối với xã hội và nhất là hệ tư tưởng của các tầng lớp yêu nước tiến

bộ ở các nước thuộc địa

Bên cạnh sự du nhập của tư tưởng văn hóa thông qua sách báo thì các tin tức về phong trào cách mạng thế giới cũng theo đó đến tai các nước thuộc địa Cuộc cách mạng dân chủ Nga 1905 – 1907, cuộc cách mạng đánh vào chế độ phong kiến Nga hoàng đang thối nát đã làm rung động thế giới và làm dấy lên

ở các nước một trào lưu chống đế quốc phong kiến Cách mạng Ba Tư (1905 – 1911), phong trào “Thổ Nhĩ Kì trẻ” với những tư tưởng chống phong kiến đã

Trang 18

15

đem đến một ngọn lửa đấu tranh sôi sục trong tầng lớp trí thức tiến bộ ở các nước thuộc địa, thôi thúc họ tìm đường giải phóng dân tộc và đổi mới đất nước mình

Như đã nói, cuộc cải cách Minh Trị và sự lớn mạnh của Nhật đã có một ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tư tưởng cũng như suy nghĩ của các nước thuộc địa phương Đông Sau hai chiến thắng vang dội trước Trung Quốc và Nga, Nhật Bản trở thành một tấm gương sáng cho các nước ngưỡng mộ, con đường cách tân của Nhật Bản trở thành con đường nhiều nước mong muốn lựa chọn

và hướng theo Sau cuộc đổi ngôi minh chủ ở châu Á hết sức ngoạn mục, Nhật Bản trở thành nơi đến của những tầng lớp tiến bộ ở các nước thuộc địa, mong muốn học tập và cải cách như Nhật Điều này dấy lên một trào lưu mới đồng thời thổi một luồng gió canh tân mới vào đời sống tinh thần của nhân dân các nước thuộc địa, đặc biệt là tầng lớp trí thức và thanh niên

Như vậy là dưới sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây, các quốc gia phương Đông bị bóc lột tàn bạo và nặng nề Song bên cạnh đó, những trào lưu tư tưởng văn hóa mới du nhập vào cũng như những tác động của phong trào cách mạng và cải cách trên thế giới đã góp phần thức tỉnh các nước châu Á, thôi thúc họ tìm ra con đường giải phóng đất nước và xây dựng đất nước giàu mạnh Đây cũng là những tiền đề cho sự thức tỉnh và trỗi dậy mạnh

mẽ của châu Á

2 Hiện tượng Đông Du ở khu vực Đông Á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

2.1 Đông Du - một trào lưu ở Đông Á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Ở Việt Nam, Đông Du là một khái niệm xuất hiện lần đầu tiên trong tập hồi kí của Phan Bội Châu viết tại Huế trong thời gian ông bị thực dân Pháp

giam lỏng “người nước ta Đông Du lần này nhiều nhất, lại đủ cả học sinh Tam

Kỳ, trong một chiếc tàu, thực là một việc lạ mà tiền sử chưa có bao giờ” 1 Còn

theo Phan Bội Châu niên biểu thì khái niệm Đông Du được dùng khi ông cùng

1

Phan Bội Châu toàn tập, sđd, tr 176

Trang 19

16

các lưu học sinh đến Nhật Bản lần thứ hai Theo Đại từ điển tiếng việt, Đông

Du nghĩa là du học các nước phía Đông Có thể hiểu, Đông Du là một trào lưu xuất hiện ở Trung Quốc và Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Ở đây chúng tôi đồng ý với tác giả Nguyễn Văn Vượng (Viện nghiên cứu Trung

Quốc) rằng, hiện tượng Đông Du “không chỉ diễn ra ở Trung Quốc và Việt

Nam mà có ở hầu hết các quốc gia châu Á thời cận đại, tuy nhiên Việt Nam và Trung Quốc là điển hình cho trào lưu này” 1 Nó tạo thành một phong trào thôi

thúc tầng lớp trí thức yêu nước tiến bộ, đặc biệt là thanh niên tìm đường phát triển đất nước thông qua việc học tập những kinh nghiệm cải cách của nước ngoài, cụ thể ở đây là Nhật Bản Đứng trước những kết quả ngoạn mục và tương lai tươi sáng của Nhật Bản, các quốc gia yếu kém, lạc hậu như Trung Quốc, Việt Nam nhận thấy sự cần thiết của việc phải cải cách đất nước, phải học tập những kinh nghiệm cải cách của Nhật để canh tân lại đất nước mình với

mục đích “phú quốc cường binh”

Phong trào Đông Du xuất hiện ở Trung Quốc từ cuối thế kỷ XIX, khi mà Trung Quốc thất bại trước Nhật Bản sau chiến tranh Giáp Ngọ 1894 -1895 Lúc này những tầng lớp tiến bộ đã nhen nhóm những tư tưởng học tập Nhật Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về thời gian bắt đầu và kết thúc của

phong trào Đông Du Trung Quốc Theo Shiraishi Masaya thì “việc lưu học

Nhật Bản của người Trung Quốc bắt đầu từ năm 1896” Nhưng có người cho

rằng sớm hơn, từ trước khi Nhật Bản thắng Trung Quốc trong chiến tranh Giáp Ngọ, thậm chí từ những năm 70 của thế kỷ XIX từ sau khi Nhật Bản Duy Tân

Trong cuốn “lịch sử nữ sinh Trung Quốc du học Nhật Bản thời cận đại” (近代

中国女性日本留学史) của Chu Nhất Xuyên có viết về việc nữ sinh Trung Quốc du học Nhật Bản trong giai đoạn 1872 – 1911, trong đó cho thấy rằng từ cuộc vận động của Dương Vụ phái đã có những nữ sinh du học ở Âu - Mỹ, và

từ cuộc vận động Duy Tân đã có những lưu học sinh du học Nhật Bản, tiếp theo đó là chính sách mới của chính phủ Thanh Quốc và cao trào du học Nhật

1

Nguyễn Văn Vượng, Các ngả đường của phong trào Đông Du Trung Quốc thời cận đại, Sđd, tr 71

Trang 20

17

Bản lần thứ nhất Như vậy ta có thể thấy rằng việc lưu học đã sớm bắt nguồn từ

các phong trào cải cách, duy tân cuối thế kỷ XIX Theo bài viết “nhìn lại 100

năm học sinh Trung Quốc sang Nhật du học” của tác giả Hiểu Đông La thì

“năm 1896, có 13 thanh niên Trung Quốc được chính phủ nhà Thanh phái qua Nhật Bản du học, đây chính là thế hệ lưu học sinh đầu tiên của Trung Quốc tại Nhật, đồng thời mở đầu cho quá trình sang Nhật Bản du học Từ đó đến nay, trào lưu người Trung Quốc sang Nhật du học trải qua nhiều thăng trầm, duy trì

cả trăm năm, kéo dài không dứt, không chỉ trở thành một bộ phận trong lịch sử

du học của Trung Quốc mà còn có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử cận hiện đại Trung Quốc và quan hệ Trung – Nhật”.1 Về thời điểm kết thúc thì các nhà nghiên cứu lấy mốc cách mạng Tân Hợi 1911 đánh dấu sự kết thúc của chế độ phong kiến Trung Quốc Phong trào Đông Du có phần do nhà Thanh trợ cấp kinh phí, nhưng sôi động hơn vẫn là đi du học tự túc Đông Du của Trung Quốc

có hàng ngàn người và sau cách mạng Tân Hợi 1911 vẫn còn rất nhiều du học sinh lưu lại, cũng như việc du học còn kéo dài mãi về sau

Phong trào Đông Du bắt đầu được thực hành ở Việt Nam vào năm 1905 khi cụ Phan Bội Châu đưa 200 thanh thiếu niên Việt Nam sang Nhật du học Đây là việc du học tự túc dựa trên sự giúp đỡ của những nhà cách mạng nước ngoài như Lương Khải Siêu, Okuma Shinegobu, Inukai Tsuyoshi , ở trong nước thì có sự giúp đỡ về nhiều mặt, đặc biệt là mặt tài chính của một số người

có con đi du học và những Mạnh Thường Quân yêu nước Tuy nhiên phong trào chỉ kéo dài trong bốn năm thì các du học sinh Việt Nam bị trục xuất về nước và phong trào tan rã Tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng phong trào Đông Du được xem là một hiện tượng lịch sử trong phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX

Có thể nhận thấy rằng, phong trào Đông Du ở Việt Nam diễn ra sau Trung Quốc, cũng như thời gian diễn ra ngắn hơn nhiều Tuy nhiên, Đông Du ở hai nước vẫn có những điểm chung, và phong trào này đã trở thành một hiện tượng

1

Bản tiếng Hoa tại http://www.xici.net/b494908/d38114270.htm

Trang 21

18

nổi bật, một trào lưu ở Đông Á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

2.2 Tại sao các nước lại chọn Nhật Bản làm nơi đến?

Đứng trước sự tấn công ồ ạt của khoa học kĩ thuật tiên tiến, những luồng

tư tưởng văn hóa, văn minh mới mẻ của phương Tây, ngay bản thân nước Nhật

cũng “học phương Tây” để “đuổi kịp phương Tây và vượt phương Tây”,

nhưng cả Trung Quốc và Việt Nam lại chọn Nhật Có thể nói, Việt Nam và Trung Quốc đã không hẹn mà gặp nhau trên đất nước Nhật Bản Điều này dĩ nhiên có rất nhiều nguyên nhân

Nguyên nhân đầu tiên là sự lớn mạnh một cách thần kì của Nhật khi vị thế của nước này được xếp ngang hàng với các nước phương Tây Trong khi Việt Nam, Trung Quốc và các nước trong khu vực chìm trong vòng thuộc địa thì Nhật Bản lẫy lừng trong chiến thắng và trở thành một đế quốc trẻ, một đối thủ đáng gờm trong liên minh quân sự Anh - Nhật Quốc gia mặt trời mọc xưa nay cũng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc của Khổng giáo trong hàng ngàn năm phong kiến Trung Quốc, nay bỗng vươn lên hùng mạnh như thế cũng đáng

để cho Trung Quốc ngạc nhiên và khâm phục, đồng thời cũng khiến Việt Nam phải noi gương khi quốc gia đồng văn đồng chủng với mình đã vươn xa như thế Các nhà yêu nước Trung Quốc và Việt Nam đều đánh giá cao Nhật Bản

Nhật trở thành “biểu tượng cho một mô hình phát triển mới” Do đó Trung

Quốc và Việt Nam và các nước khác như Philippines, Inđônêxia, Mianma, Ấn

Độ, Triều Tiên đều có tư tưởng đến Nhật Bản “cầu học”

Theo nữa, Nhật Bản là một quốc gia nằm ở Đông Bắc Á Về mặt địa lý thì rất gần Trung Quốc và Việt Nam, do đó việc đi du học cũng dễ dàng và thuận lợi hơn, không quá xa và không tốn quá nhiều tiền bạc So với việc du học

phương Tây thì sang Nhật sẽ “gần đường, văn hóa ngôn ngữ gần loại hình,

thời gian học ngắn hiệu quả, chi phí rẻ” Trương Chi Động cũng nhận xét rằng:

“văn hóa Nhật Bản gần gũi với văn hóa Trung Quốc, dễ hiểu Sách Tây rất phức tạp, những gì không thiết thực người Nhật đã bỏ đi rồi” Nhật Bản lại là

dân tộc đồng chủng đồng văn với Trung Quốc và Việt Nam, đều là người da

Trang 22

Đông Du Nhật Bản được xem là “tính tất yếu về sự giao lưu văn hóa,

quan hệ giữa các nền văn minh thể hiện trào lưu của thời đại” (Nguyễn Văn

Vượng) Từ xưa đến nay, các nước láng giềng Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản luôn có sự tiếp xúc và trao đổi văn hóa, nhất là giữa Trung Quốc với các nước xung quanh, bởi văn minh Trung Hoa rực rỡ và có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ Phong trào Đông Du thời cận đại, đối với Việt Nam có thể xem là một sự gợi mở, một cánh cửa hướng ra thế giới, khi mà Việt Nam biết đến những nền văn minh khác ngoài Trung Quốc Đối với Trung Quốc, phong

trào Đông Du được xem là một “hiện tượng lịch sử đảo chiều trong quan hệ

giao lưu văn hóa Trung - Nhật thời kì cận đại” (PGS Nguyễn Văn Hồng) Trên

phương diện giao lưu văn hóa Trung - Nhật hơn 1000 năm cổ đại, hướng chủ yếu là Nhật Bản sang Trung Quốc du học, đã có từng đoàn học sinh Nhật Bản

và tăng lữ cùng với sứ giả đến Trung Quốc lưu học, họ mang về Nhật Bản những yếu tố văn hóa tiên tiến, thúc đẩy sự phát triển xã hội Nhật Bản và thúc đẩy sự giao lưu văn hóa Trung - Nhật Nhưng đến thời cận đại thì xu hướng du học chính lại xảy ra ngược lại Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, xuất hiện rầm rộ phong trào thanh niên Trung Quốc sang Nhật Bản du học Phong trào này cũng thể hiện một xu hướng thời cận đại ở các quốc gia châu Á, coi Nhật Bản là khuôn mẫu, là tiêu biểu cho văn minh của thời đại, thay cho khuôn mẫu của nền văn hóa Khổng giáo trước kia Mô hình tư bản chủ nghĩa mà Nhật Bản

đã tìm tòi thử nghiệm thành công, giờ đây các nước “ngưỡng vọng, tin theo và

muốn lựa chọn một con đường đi tương tự như Nhật Bản để chấn hưng đất nước, xây dựng dân tộc tự cường”

Tuy nhiên, đối với Trung Quốc và Việt Nam, việc đến Nhật Bản còn có

Trang 23

20

nhiều nguyên nhân khác

2.2.1 Đối với Trung Quốc

2.2.1.1 Nhu cầu bức bách của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ

Sau cuộc chiến tranh thuốc phiện 1840, Trung Quốc đã từng bước trở thành một quốc gia nửa thuộc địa nửa phong kiến, liên tiếp thất bại trong các cuộc chiến tranh và buộc phải kí các hiệp ước bất bình đẳng với nước ngoài Tiếng súng phương Tây đã thức tỉnh Trung Quốc sau hàng ngàn năm ngủ say trong ánh hào quang của chế độ phong kiến Lúc này, tầng lớp yêu nước tiến bộ Trung Quốc như Dương Vụ phái hay phong trào Duy Tân tư sản có một khát vọng tự cường, đã nhận ra cái nhu cầu bức bách của đất nước Trung Quốc lúc bấy giờ là phải cải cách Họ cũng tìm tòi, học hỏi khoa học kĩ thuật phương Tây, đồng thời tìm ra đường lối cải cách cho đất nước mình Sau thất bại của phong trào Dương Vụ phái học tập phương Tây nhưng vấp phải nhiều trở ngại cũng như những biện pháp áp dụng không phù hợp với điều kiện của xã hội Trung Quốc, giới trí thức Trung Quốc chuyển hướng sang học tập cải cách Minh Trị

của Nhật Bản Khang Hữu Vi đề xuất “học hỏi phương Tây”, chủ trương bắt

chước Nhật Bản, biến pháp duy tân, cứu nguy hiện tại Vì thế đích thân sang Nhật Bản du học, trực tiếp tìm hiểu kinh nghiệm cải cách và giàu mạnh của Nhật Bản, đồng thời hấp thụ văn hóa Phương tây từ Nhật Bản, từ đó sang Nhật

tự nhiên trở thành con đường cho những thanh niên yêu nước Trung Quốc Tuy rằng việc học tập một cách khuôn mẫu, cứng nhắc cũng như bối cảnh lịch sử không thuận lợi đã đem đến thất bại cho phong trào Duy Tân Mậu Tuất, song từ

đó đã đem đến cho người Trung Quốc con đường học tập mới ở Nhật Có thể thấy vào thời điểm này, Trung Quốc có ý thức cũng như nhu cầu rất lớn trong việc phải học hỏi để tự cường Và Nhật Bản là điểm đến trong những lựa chọn

ấy

2.2.1.2 Sự thỏa thuận giữa hai Chính phủ

Trang 24

21

Đồng thời đó, việc Đông Du của Trung Quốc có sự chấp nhận và thoả hiệp giữa chính phủ hai nước Nhà Thanh đề xướng và cổ vũ cho chính sách lưu học Đặc biệt là năm 1905, sau khi ngừng tổ chức khoa cử, thì việc ra nước ngoài du học trở thành con đường chủ yếu của một bộ phận trí thức Thời kì này chính phủ Nhật Bản cũng áp dụng những chính sách chủ động hấp dẫn lưu học sinh Trung Quốc, thậm chí thành lập nên những trường học chuyên tiếp nhận học sinh Trung Quốc Sự hợp tác du học nằm trong chương trình hợp tác giữa hai quốc gia, những lưu học sinh Trung Quốc sang Nhật sẽ được cấp học bổng Theo những tài liệu của Nhật Bản thì trong bản hiệp định giữa chính phủ Nhật Bản và công sứ nhà Thanh 8/1903 về vấn đề lưu học sinh Trung Quốc tại

Nhật có ghi rõ: “tất cả học sinh vào ở kí túc của trường, thời hạn học tập lúc

đầu là một năm ba tháng, nhưng những người vào học từ tháng 10 – 1905 thì thời hạn là một năm sáu tháng Học sinh tốt nghiệp được vào thực tập tại các trung đoàn quân đội các nơi ở Nhật Bản, sau đó được vào học sĩ quan Lục quân” Cũng nhờ sự hợp tác này mà lưu học sinh Trung Quốc không vấp phải

sự cấm đoán của chính phủ hai nước giống như Việt Nam, và sau này các lưu học sinh Trung Quốc theo hình thức tự túc kinh phí cũng sang Nhật ngày càng nhiều, thúc đẩy phong trào Đông Du Trung Quốc phát triển rầm rộ

2.2.2 Đối với Việt Nam

2.2.2.1 Sự tiếp nối tinh thần đấu tranh của phong trào Cần Vương

Cuối thế kỷ XIX, đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược, trong triều đình nhà Nguyễn có sự mâu thuẫn giữa hai phe phái đối lập, một phe chủ chiến và một phe chủ hòa Phe chủ hòa phần lớn là những quan lại bạc nhược,

vô trách nhiệm, cầu an; còn phái chủ chiến tuy có tinh thần song cũng không có cái nhìn chính trị sáng suốt cũng như không tìm được cho đất nước một con

đường cách mạng đúng đắn Vận mệnh nước ta cuối thế kỷ XIX “có thể tóm tắt

là chiến không nổi, thủ không xong, hòa không được, hàng thì mất hết"

Trang 25

4

Phong trào Cần Vương nổ ra với lời kêu gọi nhân dân kháng chiến giúp vua cứu nước của vị vua trẻ Hàm Nghi cũng đã bị thực dân Pháp dập tắt trong biển máu Sau khi tiếng súng chống Pháp của nghĩa quân Phan Đình Phùng đã im hơi lặng tiếng trên núi rừng miền Trung, Hoàng Hoa Thám chỉ còn là “mãnh hổ rừng xanh”, thực dân Pháp đã yên tâm bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Song chính lúc đó đã nhen nhóm lên những hạt nhân mới, những sĩ phu yêu nước cố gắng tìm ra một hướng đi mới để cứu đất nước khỏi tình trạng nguy ngập lúc bấy giờ

Hai hướng đi mới của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh chính là bước thử nghiệm tiếp theo để cách mạng Việt Nam tìm ra con đường đi đúng đắn cho mình Tuy nhiên, quan niệm cũng như con đường đi của hai ông lại quá khác

nhau Phan Châu Trinh chủ trương “bất bạo động, bạo động tắc tử; bất vọng

ngoại, vọng ngoại giả ngu” (chớ bạo động, bạo động thì chết; chớ vọng ngoại,

vọng ngoại là ngu) Trong khi đó, chủ trương lúc đầu của Phan Bội Châu là sang Nhật nhờ vả về mặt quân sự để chống Pháp, dùng phương pháp bạo lực và đấu

tranh vũ trang Ông cho rằng “dù không cử binh lính thì Nhật Bản sẽ sẵn sàng

giúp ta về việc mua hay mượn vũ khí” Như vậy, phong trào Đông Du đứng ở

một khía cạnh nào đó chính là “sự tiếp tục tinh thần chống Pháp bằng bạo lực,

một sự tiếp nối của phong trào Cần Vương” 5

2.2.2.2 Chuyển từ “cầu viện” sang “cầu học”

Trước khi quyết định sang Nhật cầu viện, Phan Bội Châu đã liên lạc với các nhà hoạt động cũ của phong trào Cần Vương và tìm kiếm sự giúp đỡ của Trung Quốc, nhất là các nhà lãnh đạo ở miền nam Trung Quốc và các đảng cách mạng Phan Bội Châu cho rằng Trung Quốc cũng gặp phải những vấn đề giống như Việt Nam, và Pháp là kẻ thù của cả Trung Quốc và Việt Nam nên Trung Quốc sẽ liên kết với Việt Nam chống Pháp Qua đó ta cũng thấy rằng, như các nhà nho khác,

4

PGS TS Trần Ngọc Vương, Nhân quả Đông Du, trích quan hệ văn hóa, giáo dục Việt Nam - Nhật Bản

và 100 năm phong trào Đông Du, sđd, tr 430

5

PGS TS Trần Ngọc Vương, Nhân quả Đông Du, trích quan hệ văn hóa, giáo dục Việt Nam - Nhật Bản

và 100 năm phong trào Đông Du, sđd, tr 429

Trang 26

Phan Bội Châu vẫn sống trong một thế giới được định ranh giới bởi nền văn minh Trung Hoa, tuy trên thực tế sau chiến tranh Trung – Pháp và Trung – Pháp tân ước (9/6/1885) thì Trung Quốc đã thừa nhận việc Pháp thống trị Việt Nam Phan Bội Châu đã đi theo lối mòn truyền thống khi nhờ Trung Quốc giúp đỡ, điều mà lúc bấy giờ Trung Quốc không còn đủ khả năng để làm nữa Sau này,

trong “Ngục trung thư”, Phan Bội Châu có ghi lại rằng: “vấn đề quân giới nếu

không có nước ngoài giúp cho mình thì không xong Lấy chỗ quan hệ về lịch sử, địa dư, giống nòi mà nói, có thể giúp ta không ai khác hơn là Trung Quốc Nhưng từ trận thua ở Lạng Sơn hồi năm Giáp Thân (1884) trở đi, Trung Quốc

đã phải đem cái chủ quyền phiên thuộc nước Nam mà nhường đứt cho Pháp rồi”6 Trong “Niên biểu” cũng hồi tưởng lại: “tôi tưởng tình thế liệt cường bây

giờ nếu không phải là nước đồng chủng, đồng văn tất không ai chịu giúp ta Nước Tàu đã chịu nhượng Việt Nam cho Pháp, lại thêm hiện nay quốc thế suy hèn, cứu mình không xong mà cứu được ai” 7 Sau khi loại bỏ yếu tố Trung Quốc, Phan Bội Châu nghĩ đến việc tìm kiếm sự ủng hộ ở một nước châu Á khác, một

nước có địa vị không hề thua kém châu Âu, đó là Nhật Bản: “duy nước Nhật Bản

là một nước tiên tiến ở trong nòi giống da vàng, mới đánh thắng Nga, dã tâm đang hăng lắm Qua tới

đó, đem hết lợi hại tỏ với nó tất nó tất nó ứng viện cho ta Dù không cử binh lính thì Nhật Bản sẽ sẵn sàng giúp ta về việc mua hay mượn vũ khí” (Niên biểu) Như vậy là khi quyết định xuất dương, Phan

Bội Châu đã có sự đắn đo, cân nhắc và lựa chọn giữa Trung Quốc và Nhật Bản Tiêu chuẩn chọn lựa lúc này là nước nào có ý chí và năng lực đối kháng với Pháp, và Phan Bội Châu đã chọn Nhật Bản Song nhận thức về tình hình quốc tế của ông đã có

6

Ngục trung thư, tr 30 (bản tiếng Nhật, tr 117; Phan Bội Châu, Toàn tập, t.3, tr 173)

7

Niên biểu, tr.32-33 (NB, tr.44; Phan Bội Châu, Toàn tập, t.6, tr 76-77)

Hình 1: Lương Khải Siêu

Trang 27

rất nhiều thay đổi khi ông đặt chân lên đất Nhật

Như đã nói, để thực hiện mục đích “cầu ngoại viện”

của mình, đầu năm 1905, Phan Bội Châu tìm đến nước

Nhật Đồng hành với Phan Bội Châu là liên lạc viên Đặng

Tử Kính và người đưa đường Tăng Bạt Hổ Cả đoàn cải

trang thành nhà buôn người Trung Quốc Họ tránh đi

đường thẳng mà nhiều lần ngồi tiếp thuyền vào đất Trung

Quốc Tháng 5 – 1905, Phan Bội Châu đến được

Yokohama Ở đây, Phan Bội Châu được tiếp xúc với những

nhà chính trị và hoạt động cách mạng nổi tiếng như Lương Khải Siêu, Okuma Shigenobu, Inukai Tsuyoshi Khi nghe Phan Bội Châu nói rõ về ý định cầu viện

của mình, Lương Khải Siêu đã khuyên rằng: “Mưu ấy sợ không tốt Quân Nhật

đã một lần vào nước, quyết không lý gì đuổi nó ra được” Okuma và Ikunai cũng

nói: “Nhật Bản muốn giúp cho quý quốc thì phải tuyên chiến với Pháp, Nhật –

Pháp tuyên chiến chiến cuộc sẽ cơ động cả toàn cầu Lấy sức Nhật Bản ngày nay

mà tranh đua với châu Âu thiệt chưa đủ sức” Như vậy là mục tiêu cầu viện ban

đầu của Phan Bội Châu đã không thành Tuy nhiên, sang Nhật Bản đã giúp Phan

Bội Châu có cái nhìn mới hơn, hướng ra thế giới hơn, ông cũng thấy rằng Nhật Bản là trung tâm hoạt động của nhiều nhà cách mạng châu Á lúc bấy giờ, ngay cả Trung Quốc cũng sang Nhật để học hỏi duy tân Lúc này, tư duy chính trị của Phan Bội Châu cũng mở rộng hơn, ông nhận thức được rằng vấn đề của Việt Nam không phải là vấn đề của riêng Việt Nam mà nó liên quan đến quyền lợi của các cường quốc ở châu Á, rằng sau chiến tranh Nga - Nhật thì chính phủ Nhật Bản rất thận trọng, họ không muốn đụng chạm đến lợi ích của các cường quốc khác Do đó không thể cầu viện quân sự vào Nhật Đồng thời, muốn tiến hành chiến tranh khôi phục độc lập thì phải có

quá trình chuẩn bị lâu dài Điều này đã nhen nhóm nên một ý định “muốn gây

Hình 2: Inukai Tsuyoshi

Hình 3: Okuma

Shigenobu

Ngày đăng: 16/05/2021, 13:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w