Phương pháp biên soạn Chúng tôi kế thừa những bộ Từ điển về các nền văn học Phương Đông của các soạn giả nước ngoài mà chúng tôi có được, sử dụng kết hợp thông tin bổ sung từ các sách L
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Đề tài nghiên cứu khoa học Cấp ĐHQG-HCM
TỪ ĐIỂN VĂN HỌC PHƯƠNG ĐÔNG (TÁC GIA, TÁC PHẨM, THUẬT NGỮ)
Tập 1 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS PHAN THU HIỀN Các thành viên: GS.TS Nguyễn Đức Ninh
PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hải PGS.TS Đoàn Lê Giang PGS.TS Đỗ Thu Hà
TS Nguyễn Thị Mai Liên
TS Trần Lê Hoa Tranh
TS Nguyễn Đình Phức
Các cộng tác viên: Đào Thị Diễm Trang, Phan Phụng Thị Hiền,
Ái Tiên, An Nhiên, Hoàng Long,Thanh Tâm, Thu Hương
TP HỒ CHÍ MINH, 2007
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
VĂN HỌC TRUNG CẬN ĐÔNG 10
VĂN HỌC ẤN ĐỘ 167
VĂN HỌC ĐÔNG NAM Á 590
DANH MỤC TỪ 952
(XẾP THEO TỪNG KHU VỰC, TỪNG NỀN VĂN HỌC VÀ THEO ALPHABET) 952
VĂN HỌC TRUNG CẬN ĐÔNG 952
VĂN HỌC ẤN ĐỘ 961
VĂN HỌC ĐÔNG NAM Á 970
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU 983
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Năm 2005, Từ điển Văn học Bộ Mới được xuất bản trên cơ sở bổ sung, hoàn thiện bộ Từ điển Văn học trước đây (gồm 2 tập) Do bao trùm cả văn học Việt Nam và văn học thế giới nên trong Từ điển Văn học Bộ Mới
số lượng mục từ dành cho các nền văn học Phương Đông chỉ là 406 mục từ, trong đó phần nhiều nhất thuộc về văn học Trung Quốc: 214 mục từ, còn lại phần cho các nền văn học khác rất ít ỏi: toàn bộ khu vực Trung Cận Đông:
Từ điển văn học Phương Đông phong phú và toàn diện hơn
Chúng tôi biên soạn cuốn Từ điển này nhằm đáp ứng yêu cầu đó:
- Chú ý giới thiệu những nền văn học, những khu vực văn học vốn chưa quen thuộc nhưng do nhiều lý do chính trị, kinh tế, văn hóa hiện nay, Việt Nam ta cần hiểu biết sâu sắc, kỹ lưỡng Thí dụ văn học của một số nước Đông Bắc Á (như Nhật Bản, Korea), Đông Nam Á, Trung Cận Đông…
- Chú ý đầy đủ hơn đến văn học hiện đại, văn học đương đại, bên cạnh việc giới thiệu các thành tựu văn học truyền thống
Trang 4- Chú ý giới thiệu thành tựu lý luận văn học, thi pháp học bên cạnh việc giới
thiệu các sáng tác văn chương (Từ điển Văn học Bộ Mới chỉ có 16 thuật ngữ
lý luận chủ yếu là tên các thể loại liên quan đến các nền văn học Phương Đông) Điều này góp phần mở rộng hiểu biết về lý luận văn học Phương Đông (với những điểm tương đồng và những khác biệt so với lý luận văn học Phương Tây), giúp đánh giá đúng hơn những sáng tác văn chương Phương Đông bằng những quan niệm, tiêu chí của chính chúng
2 Phương pháp biên soạn
Chúng tôi kế thừa những bộ Từ điển về các nền văn học Phương Đông của các soạn giả nước ngoài mà chúng tôi có được, sử dụng kết hợp thông tin bổ sung từ các sách Lịch sử văn học, các sách nghiên cứu, các giáo trình thi pháp học kinh điển, các hợp tuyển văn học… để lựa chọn và biên soạn các mục từ
Trong mục từ về các tác gia, tác phẩm, thuật ngữ quan trọng, chúng tôi cố gắng, trong chừng mực có thể, để cung cấp một số dẫn chứng thơ văn, ý kiến lý luận tiêu biểu nhất, khiến cho phần giới thiệu khái quát trở nên dễ hiểu hơn, cụ thể, thuyết phục hơn
Chúng tôi cũng cố gắng cung cấp tranh ảnh chân dung tác giả, hình minh họa tác phẩm để bộ Từ điển sinh động và giúp ích người tra cứu nhiều hơn
3 Đối tượng, phạm vi của đề tài
Từ điển bao trùm tất cả các nền văn học đáng kể ở Phương Đông, thuộc ba khu vực lớn là:
- Đông Á
- Nam Á và Đông Nam Á
- Tây Á và Bắc Phi
Trang 5Danh mục từ theo từng nền văn học được kê ở Phụ lục
Từ điển gồm 3 loại mục từ:
- mục từ về tác giả
- mục từ về tác phẩm
- mục từ về thuật ngữ lý luận văn học
Mục từ về lý luận văn học gồm các thuật ngữ liên quan đến quan niệm văn học, phong cách, trường phái, thể loại…(không bao gồm tên các tác giả, tên các tác phẩm lý luận phê bình, tên các tổ chức, hiệp hội văn học)
4 Phân công biên soạn
4.1.Văn học Trung Quốc: PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hải (Đại học Huế)
TS Trần Lê Hoa Tranh (Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn TP Hồ Chí Minh)
TS Nguyễn Đình Phức (Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn TP Hồ Chí Minh)
4.2 Văn học Nhật Bản: PGS.TS Đoàn Lê Giang (Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn TP Hồ Chí Minh)
Cộng tác viên: Ái Tiên, An Nhiên, Bửu Châu, Hoàng Long, Thanh Tâm, Thu Hương
4.3 Văn học Korea: PGS.TS Phan Thu Hiền (Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn TP Hồ Chí Minh)
4.4 Văn học Đông Nam Á: GS.TS Nguyễn Đức Ninh (Viện Nghiên cứu
Đông Nam Á, Hà Nội)
TS Nguyễn Thị Mai Liên ( Đại học Sư phạm Hà Nội)
Trang 6Cộng tác viên: Đào Thị Diễm Trang (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
TP Hồ Chí Minh)
4.5 Văn học Ấn Độ: PGS.TS Đỗ Thu Hà (Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn Hà Nội)
4.6 Văn học Trung Cận Đông: PGS.TS Phan Thu Hiền (Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh)
Cộng tác viên: Phan Phụng Thị Hiền
5 Kết quả
Do kinh phí được cấp quá hạn hẹp (tổng cộng 30.000.000 VNĐ, mới nhận tạm ứng 23.000.000 VNĐ) mà khối lượng công việc quá lớn, trong khi phải chi rất nhiều tiền để mua được nhiều tư liệu mới và có uy tín, có giá trị ở nước ngoài (một số chúng tôi đã kê trong THƯ MỤC) đảm bảo cho chất lượng công trình, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn khi mời các tác giả, các cộng tác viên Tất cả các tác giả đã tham gia ở đây đều trên tinh thần cống hiến cho khoa học với mong muốn có một bộ Từ điển Văn học Phương Đông đầy đủ và cập nhật hơn, một số người thậm chí chưa nhận một khoản thù lao nào, những người khác nhận những khoản thù lao nhỏ
bé, “tượng trưng” Tuy nhiên, tất cả chúng tôi đã cố gắng với trách nhiệm cao
Từ điển Văn học Phương Đông của chúng tôi hiện có tổng cộng
1005 mục từ, trong đó có 125 mục từ thuật ngữ lý luận Các mục từ được phân bố như sau:
- Văn học Trung Cận Đông: 193 mục từ
- Văn học Ấn Độ: 194 mục từ
- Văn học Đông Nam Á: 298 mục từ
- Văn học Tây Tạng: 9 mục từ
Trang 7Nghiên cứu sinh cũng như đông đảo bạn đọc yêu mến Văn học Phương Đông, đông đảo các tầng lớp nhân dân hiện đang ngày càng ý thức nhu cầu
“trở về Phương Đông” tìm hiểu văn học – văn hóa của các dân tộc gần gũi với dân tộc mình
- Công trình Từ điển Văn học Phương Đông – Tác gia, tác phẩm, thuật ngữ
thuộc phạm vi nghiên cứu cơ bản, là sách công cụ thiết yếu đối với ngành
Văn học nói riêng, các ngành Khoa học Xã hội nói chung Công trình cần được đầu tư vì Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay còn chưa có nhiều những sách công cụ, những công trình xuất bản lớn, góp phần quảng bá nhãn hiệu nhà trường
- Chúng tôi nghĩ rằng đội ngũ tác giả hiện có đã tập hợp được một số chuyên gia có uy tín trong khắp cả nước về các nền văn học Phương Đông Họ đều còn khá trẻ, có trình độ ngoại ngữ và tin học khá tốt, đều cố gắng hiện đại, cập nhật hóa kiến thức chuyên môn Nhất là các tác giả đã cộng tác khá hiệu quả
Trang 8- Nếu được nâng cấp đề tài, chúng tôi sẽ mời thêm một số tác giả và một đội ngũ cộng tác viên đông đảo hơn Chúng tôi sẽ tăng gấp đôi số mục từ hiện có, nhất là gia tăng các mục từ thuật ngữ lý luận văn học để tăng cường tính học thuật của công trình Chúng tôi cũng có điều kiện để điều chỉnh cân đối hơn giữa các khu vực, các thời kỳ văn học; cân đối giữa các tác giả, tác phẩm; cân đối giữa sự kiện và lý luận văn học…
- Trên cơ sở có nguồn kinh phí, chúng tôi sẽ mời một số giáo sư, nghiên cứu sinh nước ngoài (những giáo sư, nghiên cứu sinh từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, một số nước Đông Nam Á…biết tiếng Việt và vốn có quan hệ cộng tác nghiên cứu với chúng tôi) tham gia biên soạn, hiệu đính, chỉ chính, nâng cao chất lượng công trình
QUI CÁCH
I QUI CÁCH MỤC TỪ
1 TÁC GIẢ:
Thông thường mỗi mục từ về tác giả có những nội dung sau đây :
Nguyên ngữ (chữ Hán,…), cách đọc, năm sinh năm mất – tất cả đều trong
ngoặc đơn
Định danh : nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình, lí luận văn học…TQ, Ấn Độ, Nhật Bản…
Tiểu sử, cá tính (nếu có)
Tác phẩm : Liệt kê tên tác phẩm (chú ý tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt)
Nhận định và đánh giá về tác giả : Những vấn đề về nội dung, Phong cách nghệ thuật, Những đóng góp của tác giả đối với lịch sử văn học
Trích tác phẩm (chủ yếu là thơ và phê bình văn học)
Ảnh tác giả (scan lưu vào đĩa)
Trang 9 Nội dung : Hoàn cảnh sáng tác (nếu cần), Tóm tắt nội dung
Nhận định đánh giá về giá trị của tác phẩm (cả tư tưởng và nghệ huật, đối
với sự nghiệp sáng tác của tác giả, với lịch sử văn học nước đó và với văn học nước ngoài – nếu có)
Trích tác phẩm (chủ yếu là thơ và phê bình văn học)
Cuối bài người biên soạn đưa ra những mục từ có thể xuất hiện để tra theo mục từ này
Nguyên ngữ, cách đọc (Âm Bắc Kinh, Nhật…nếu cần), cách dịch (tiếng
Anh, tiếng Hán - nếu cần)
Nguồn gốc
Quá trình vận động của thuật ngữ
Nội dung, Ví dụ cách dùng trong phê bình văn học
Giá trị, ý nghĩa của thuật ngữ đó
Trang 10 Nếu cần cuối bài chỉ ra các thuật ngữ có liên quan gần để hiểu rõ hơn về
thuật ngữ này
II QUI CÁCH VĂN BẢN
Mục từ tác giả : Dùng tên thường gọi nhất làm mục từ chính Chữ in hoa,
Tên địa danh: tên phiên âm Hán Việt: viết hoa toàn bộ (Ví dụ: Trường An) Ngoài ra xem qui cách viết tên người nước ngoài (Xem III.2 ở dưới)
Tên tác phẩm xuất hiện trong nội bộ mục từ: Viết hoa từ đầu tiên, chữ
thường, nghiêng (Ví dụ: Tùy Viên Lão Nhân thi tập) Tác phẩm đã dịch ra
tiếng Việt : Chữ thường, Nghiêng, Đậm (Ví dụ: Ngàn cánh hạc)
2 TÊN NƯỚC NGOÀI
Ưu tiên dùng nguyên ngữ, nhưng phải phiên âm để cho học sinh trung học cũng có thể đọc được Nguyên tắc phiên âm:
Đọc được
Không xa lắm với hình thức nguyên ngữ
Trang 11 Các âm nối với nhau bằng gạch ngang
Các từ đọc không khó lắm thì không cần phiên âm (Ví dụ : Buson)
Phiên âm một lần trong một mục từ (lần đầu xuất hiện) và để trong ngoặc đơn
III BẢNG KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
* : Có mục từ trong từ điển này Dùng dấu * sau từ nào có mục từ trong từ
điển (Ví dụ : Viên Mai* trong Tùy Viên thi thoại* cho rằng : Tính linh* là
yếu tố quan trọng nhất trong thơ…)
Tr.CN : trước Công nguyên
TT : Triều Tiên / Hàn Quốc
x : xem
xb : xuất bản
Trang 12VĂN HỌC TRUNG CẬN ĐÔNG
Thể loại khiến ông nổi danh trong văn chương Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại
là truyện ngắn Hai tiểu thuyết của ông – Birtakim Insanlar (Vài người ít ỏi, 1944) và Kayip Arantyor (Mất mát được mong ước, 1953) – chuyển từ đặt
trọng tâm trên cốt truyện sang hình thức văn xuôi trữ tình tự do đậm đà cảm thức triết học Ông cũng là nhà thơ, nhà thơ của Istanbul và nhân dân
Istanbul, nhà thơ của biển cả và những ngư dân Trong những sáng tác sau cùng của mình, tâm thức con người và những khía cạnh bí ẩn khuất giấu của nó trở thành đề tài chủ yếu Văn xuôi Abasiyanik rất hiện đại trong phong cách
Những tập truyện ngắn của Abasiyanik bao gồm:
- Semaver (Ấm samovar, 1936)
- Sarnic (1939)
- L’uzumsuz Adam (Người đàn ông vô dụng, 1948)
- Sur Kuslar (Những con chim cuối cùng, 1952)
- Alemdagda Var Bir Yilan (Con rắn trên đời, 1954)
Phan Thu Hiền
Trang 13ABU NUWAS (sinh vào khoảng giữa 747 và 762, mất khoảng giữa 813 và
815), nhà thơ A Rập
Mẹ của Abu Nuwas là người Ba Tư Sau khi học hành ở Barsa và Kufa, ông sống ở Baghdad như một nhà thơ cung đình Những liên hệ của ông với triều đình, đặc biệt với Caliph Harun ar-Rashid trở thành đề tài của
nhiều câu chuyện dân gian, và được kể lại trong Ngàn lẻ một đêm Trong
lối sống hàng ngày, Abu Nuwas giản đơn đến gần như hoang dã, từ chối mọi thú vui trần thế Có người còn nói rằng cuối đời ông tu luyện khổ hạnh nhưng dựa vào những gì thể hiện qua tác phẩm của ông thì dường như không có gì chứng minh cho giả thiết ấy
Những tác phẩm thơ của Abu Niwas thuộc về thi ca hay nhất thời Abbsid Ông là thi nhân vĩ đại nhất trong trường phái cách tân thơ thời này
Abu Nuwas chủ yếu sáng tác tửu thi và tình thi Tình thi của ông mang những xúc động chân thành, tha thiết, ca ngợi những người trẻ tuổi nói chung, đôi khi ngợi ca phụ nữ Trong tửu thi , ông là “người vẽ bức tranh của xã hội quý tộc tận hiến cho lạc thú”, người ca hát niềm yêu và niềm vui đời Ông cũng viết nhiều tụng thi (trong hình thức cổ của thể tài này), thơ đả kích, châm biếm, thơ giáo huấn đạo đức, thơ về đề tài hưởng lạc, khổ hạnh và thơ về đề tài săn bắn Trong thơ săn bắn, Abu Nuwas kế thừa truyền thống nhưng đồng thời tạo dựng một thể tài mới Chịu ảnh hưởng thơ ca dân gian về khổ thơ và từ vựng, nhưng mặt khác, ông đem tới những cống hiến quan trọng làm giàu ngôn ngữ thơ bằng nhiều từ có gốc
Ba Tư với sức thể hiện chân xác, phong phú
Diwans của Abu Nuwas đã được xuất bản
Trích từ hai trong số những bài thơ nổi tiếng của Abu Nuwas :
- Này những cậu trai lịch thiệp, tới đây
Rót ra rượu nho mười năm ngâm ủ
Trang 14Tràn trề trong ly như thể
Sóng sánh những giọt vàng ròng
- Ồ này đây một ly, rót đầy nhé, và bảo tôi: “đấy, rượu!”
Tôi chẳng khi nào chịu uống trong tối tăm
nếu có thể nâng ly trong rạng ngời ánh sáng
Mỗi giờ tỉnh táo, tôi thật nghèo nàn, thảm hại và bị rủa nguyền
nhưng khi say, loạng choạng bước đi, tôi vô cùng giàu có
Phan Thu Hiền
adab, thuật ngữ được sử dụng trong văn học A Rập Hiện nay, nó có nghĩa
văn học nói chung, nhưng thời trung đại, nó chỉ văn chương giáo huấn, tất cả những hiểu biết khiến một người trở nên lịch sự, nhã nhặn, cư xử đúng cách
con người đô thị Adab bao gồm thơ ca, nghệ thuật diễn thuyết, những truyền
thống lịch sử, truyền thống bộ tộc, ngữ pháp, từ vựng và nhiều ngành học khác
Trong tiến trình thời gian, adab được mở rộng nền tảng để bên cạnh hạt nhân A Rập gốc có thể ôm trùm kiến thức của các dân tộc khác như
Iran, Hy Lạp, Ấn Độ…Vì vậy, adab bao gồm cả sử thi Ba Tư, những ngụ
ngôn Ấn Độ, triết học, luân lý, kiến thức kinh tế của Hy Lạp…
Tùy loại chủ thể (thư lại hay tể tướng, quan chức, vua…) mà có những hình
thức, khuôn khổ adab khác nhau
Adab đóng một vai trò ngày càng to lớn trong sự phát triển và truyền bá học
vấn Hồi giáo và A Rập trần thế, đồng thời cũng dẫn đến nhiều tranh luận trong tư tưởng A Rập
Phan Thu Hiền
Trang 15aggadah: những câu chuyện tôn giáo, x haggadah
Phan Thu Hiền
AKHNATON: nhà vua Ai Cập của vương triều thứ XVIII (1367-1350
trCN.)
Khi quyết định cải cách nền tôn giáo đa thần của Ai Cập cổ đại sang
sự thờ phụng duy nhầt một thần là thần Aton-đĩa-mặt trời, nhà vua này đã đổi tên hiệu của mình từ Amenhotep thành Akhnaton Ông chuyển triều đình từ Thebes đến một kinh đô mới (gần el-Amarna), nơi ông đặt tên là Akhetaton Akhnaton mất sớm, và sau khi nhà vua băng hà, những thế lực chống đối lại quay trở về tôn giáo đa thần của tât cả các thần linh xưa cũ; Tutankhaton lại đưa cung điện trở về Thebes
Bản chất tôn giáo mới của Akhnaton có thể được thấy phản ánh sáng
chói trong Tụng ca Mặt trời (theo truyền thuyết, chính là sáng tác của nhà
vua) Tụng thi hướng về Mặt trời Aton như đấng sáng tạo duy nhất, đấng ban đời sống cho muôn loài, đấng yêu thuơng và chăm lo cho dân tộc Ai Cập cũng như các xứ sở khác
Phan Thu Hiền
ALI, SABAHATTIN (sinh năm 1906 tại Gumulcine, Komotini, mất năm
1948 tại Kirklareli), nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ
Là con trai của một sĩ quan quân đội, Ali đã trải qua thời thơ ấu và tuổi trẻ ở nhiều thị xã tỉnh lẻ Sau đó, Ali là sinh viên nội trú ở Trường Sư phạm Istanbul Giành được học bổng, Ali đến Đức và ở lại từ 1928 đến
1930 Khi trở về nước, ông trở thành giáo viên tiếng Đức ở các trường học tại Aydin, Konya, Ankara, và sau đó là giáo viên kịch tại Trường Âm nhạc Kịch nghệ Quốc gia, Ankara Vì một bài thơ chống đối chính trị, ông bị giam một năm (1932-1933) Năm 1944, ông bị sa thải khỏi nghề giáo Sau
đó, ông đã thử nhiều loại công việc, trong đó có kinh doanh xuất bản Năm
Trang 161948, người ta thấy tìm ông bị giết gần biên giới Bulgaria Nhiều khả năng ông là nạn nhân của một vụ ám sát có tính chính trị
Những năm tuổi trẻ sống ở Đức đã có ảnh hưởng lâu dài đối với ông Với hiểu biết sâu rộng văn hóa và văn học Phương Tây, ông càng ý thức sâu sắc nỗi cơ cực của nhân dân đất nước ông, nhất là những người ở các vùng quê
Sau giai đoạn đầu sáng tác thơ thể hiện theo phong cách lãng mạn, ông quay qua văn xuôi và tìm thấy ở vùng quê Anatolia nguồn chất liệu dồi
dào cho tiểu thuyết Kuyucaklt Yusuf (1937) và nhiều truyện ngắn thành
công của mình Những trang văn xuôi trong sáng với tài năng phân tích tâm
lý tinh tế, sự vạch trần sắc sảo những tội lỗi xã hội của Ali đã nhanh chóng thu hút độc giả, ông đã mở ra một kỷ nguyên mới trong văn chương Thổ Nhĩ Kỳ
Trong tiểu thuyết xuất sắc – Icimizdeki seytan (Yêu quỷ bên trong,
1940) ông đã đặt vấn đề về vị trí của tinh thần dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ giữa Phương Đông và Phương Tây, cũ và mới Thời kỳ sau Đại chiến Thế giới lần thứ hai đưa người chiên sĩ Sabahattin Ali đi sâu hơn vào những đề tài chính trị Ông lập một tờ báo có tính châm biếm mạnh mẽ và kiên cường đấu tranh với hệ thống kiểm duyệt để giữ gìn sức chiến đấu mạnh mẽ của
nó Nỗi cay đắng và sự phẫn nộ là sắc thái chung trong loạt truyện ngắn cuối cùng của ông Cái chết đã chấm dứt cuộc đời sáng tạo nghệ thuật đang thành công sung mãn của Ali
Những tác phẩm khác của Sabahattin Ali gồm:
Thơ: Daglar ve ruzgar (Núi và Gió, 1934)
Truyện ngắn gồm 5 tập: Degirmen (Thử thách, 1935), Kagni (Cỗ xe, 1936), Ses (Giọng nói, 1937), Yeni Dunya (1943), Sirca Kosk (Đài pha lê, 1947)
Trang 17Tiểu thuyết Kurk Mantolu Madona (Madona trong chiếc áo choàng lông,
Taniashvili chuyển thành thơ Sử thi được tập hợp và ngiên cứu một cách hệ thống từ giữa thế kỷ XIX
Phan Thu Hiền
AMOS (thế kỷ VIII Tr.CN) là một tiên tri của Israel
Ông vốn là người chăn chiên ở Judah Ông rao truyền chống lại việc thờ thần tượng, chống lại những giao ước sai trật với các quốc gia khác và chống lại
sự áp bức
Sách tiên tri của ông thật sinh động vì chúng được xây dựng trên chất liệu là những hình ảnh của thiên nhiên và cuộc sống của những người chăn chiên cũng như của cách viết đầy nhạc tính của ông
Phan Phụng Thị Hiền
ANTARA IBN SHADDAD (thế kỷ VI) là một trong những nhà thơ nổi tiếng
nhất của A Rập Tiền Hồi giáo
Cha Antara là một người A Rập còn mẹ là một nữ nô lệ da đen châu Phi người Abyssinia Chiến binh quả cảm, lừng lẫy chiến công Antara, vì thế, có
Trang 18bịệt danh “Hiệp sĩ Đen” Antara bị cha ruồng bỏ, bị người cậu cấm kết hôn với Abla, con gái của cậu, người mà Antara yêu thương say đắm
Thơ Antara phần lớn viết về chiến trận và về mối tình không thể chia cắt giữa chàng và Abla Thường gặp trong thơ Antara là lời oán trách thái dộ bất công của những người đồng bộ lạc không muốn nhìn nhận con trai một nữ nô da đen dù chính chàng là người anh hùng kiêu hãnh bảo vệ bộ lạc
Diwan của Antara vẫn còn đến ngày nay, Tác phẩm tiêu biểu nhất là bài qasida được người A Rập xếp vào trong Những bài thơ vàng (moallahqat)
Đặc điểm của thơ Antara là phong cách thơ anh hùng giáo huấn
- Hãy đặt gánh chiến tranh lên đôi vai tôi
Ngọn thương đây lại dẫn lối tôi đi
Tôi lên đường cùng con ngựa dũng mãnh, trung thành, nó băng tới, chớp lóe
từ móng guốc
Con ngựa ô, rạch xé đêm đen không một vì sao
Giữa mắt nó rực ánh lửa như vầng trăng khuyết
Ngựa tận tụy vì tôi, tôi hết lòng với nó, suốt những tháng ngày chiến trận gian lao
Trong những cuộc chợ binh đao, sáng rợp giáo gươm tráng khí
Tôi, chỉ một kẻ mạt hèn, nhưng lưỡi gươm của tôi làm thương gia tậu những linh hồn quý giá
Trang 19Từ những rừng hoang dã, những gã trai thô kệch theo tôi, khi chiến tranh bùng lửa
Hãy theo tôi, và anh sẽ thấy máu của những thủ lĩnh đổ tràn như suối giữa những ngọn đồi, những sa mạc cát nung
Hãy theo tôi, và khi trở lại, hãy nhớ cảm ơn tôi, nhớ những chiến công mà anh chứng kiến
- Này em, Alba, người đẹp của lòng ta
Em có thấy ta lao vào chiến trận
Và chỉ quay về khi hả giận Khi đã xé tan lực lượng cừu thù
Ta chẳng khi nào rời yên ngựa Chiến mã của ta hăng máu chồm lên Quân đối phương lớp lớp nối nhau Ngã rạp, mình đầy thương tích Nhà thơ chiến binh Antara trở thành nhân vật của nhiều sử thi, nhiều truyện
kể sau này của A Rập, trong đó, nổi tiếng nhất là Sirat ‘Antar
Phan Thu Hiền antuni, hình thức thơ dân gian Armenia, x Mkrtitch Nagash
Phan Thu Hiền
‘arud (a’ruz trong tiếng Ba Tư), hệ thống khổ thơ A Rập thống lĩnh lý luận
thơ ca của A Rập, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman và Đông Thổ Nhĩ Kỳ),
Pashto, Urdu và nhiều nền văn chương khác
Trang 20Theo các nhà lý luận A Rập, ‘arud là kho học của những quy tắc mà nhờ đó
người ta có thể phân biệt những nhịp đúng và sai trong thơ A Rập
‘Arud dựa trên sự đắp đổi những âm tiết ngắn và dài nhưng cũng
được sử dụng trong khổ thơ Thổ Nhĩ Kỳ, nơi không có sự phân biệt về chiều dài các âm tiết Những âm tiết mở với một nguyên âm ngắn là ngắn (u), những âm tiết dài (-) có thể mở với một nguyên âm dài hoặc đóng với một nguyên âm ngắn Một âm tiết đóng với một nguyên âm dài được xem như một âm tiết rưỡi (- u) Một số âm tiết nhất định có thể hoặc dài hoặc ngắn như được đòi hỏi, chúng xuất hiện chủ yếu trong những từ ngữ pháp
(thí dụ trong tiếng Ba Tư là những từ phủ định ne, ezafe, những quan hệ từ như ke và che…)
Một nhóm các âm tiết tạo thành một chân (rukn) Có 8 chân cơ bản
(môt số người đề cập 10 chân nhưng chỉ 6 chân đầu được sử dụng trong thơ
Ba Tư), chúng được biết bởi những hình thức của động từ A Rập – fa’ala -
cho mục đích ghi nhớ (dễ nhớ)
Những sự kết hợp khác nhau của các chân này tạo nên 19 nhịp
(bahr) cơ bản 7 trong các nhịp đó trong khổ thơ (bayt) sử dụng chỉ một loại chân được gọi là sahin và chỉ được sử dụng trong khổ thơ A Rập 12 nhịp khác sử dụng những chân đa dạng trong bayt
Phan Thu Hiền
AVESTA (trước Công nguyên), tên Ba Tư hiện đại cho kinh điển của
Zoroastrianism (đạo của Zoroastre, hay đạo Parsi, đạo Mazda – Mazdaism)
Avesta chứa Yasna – những lời cầu nguyện, tụng niệm Phần quan trọng nhất của Yasna là các gathas của Zoroastre (Zarathushtra (*) và Hom- yasht, những dấu vết còn lại của một sử thi cổ từ thời xã hội chiến binh- nông dân trước thời Zarathushtra Visprat chứa những tụng niệm hướng tới các thần linh Tiểu Avesta chứa những cầu nguyện ngắn và cũng có yashts
Trang 21(những tụng thi) dài hướng tới những vị thần của tín ngưỡng cổ xưa Trong Tiểu Avesta còn có hai bài cầu nguyện theo lịch (Si rochak – Ba mươi
ngày) Phần cuối cùng của Avesta là Videvdat gồm những quy tắc tôn giáo,
đề cập sự trong sạch thuần khiết mang tính nghi lễ, phần thưởng cho sự thanh tẩy, bổn phận của con người đối với đồng loại cũng như các loài
muông thú…Videvdat trình bày cụ thể những kiểu thức hòa giải để đạt đến
hòa thuận trong quan hệ gia đình, vấn đề trừng phạt và bồi thường, vấn đề
công xá cho việc đồng áng…Ngoài ra, Avesta còn có một số huyền thoại
Theo truyền thống Parthian, Avesta nguyên gốc rất đồ sộ, bản hiện nay chỉ chiếm chừng 1/3 bản gốc đó mà thôi Suốt một thời gian dài,
Avesta được truyền khẩu, rất lâu sau mới được ghi chép lại
Avesta có ý nghĩa quan trọng, giúp nghiên cứu không chỉ triết học, tôn giáo mà cả lịch sử văn minh, văn học dân gian, luật pháp, đạo đức, phong tục tập quán…Avesta cấp nhiều tư liệu về tình trạng của xã hội Iran
cổ, trong mọi lĩnh vực, dù thường chỉ là những gợi ý Giá trị của tác phẩm rất đa dạng, riêng về giá trị văn chương, Avesta nhìn chung không rất xuất sắc, đặc biệt khi so với kinh điển Do Thái và Thiên Chúa giáo
Phan Thu Hiền
Trang 22B
bayt: cặp câu thơ, x masnavi và ‘arud
Phan Thu Hiền bazgasht: phong trào văn học ở Iran, x phong cách Khorasani và Sa’eb,
Phan Phụng Thị Hiền
chistan hoặc chiston: những câu đố văn chương, x Văsefi, Zeynoddin
Phan Thu Hiền
Trang 23D
DANIEL: một sách của Cựu Ước viết vào khoảng năm 166 hay 164 Tr.CN.,
trong suốt giai đoạn có những cuộc chiến của Maccabees
Phần thứ nhất, chủ yếu viết bằng tiếng Aram và dựa trên những bản lưu truyền cổ hơn nói về những người trai trẻ Do Thái có lòng trung thành với tôn giáo của mình đã nhận được thiện cảm và ân huệ của các vua
Babylon cũng như các vua Ba Tư Phần thứ hai, chủ yếu bằng tiếng Hebrew (Hybálai), gồm những lời tiên tri mang tính chất khải thị
Tấm gương trung tín của Daniel và các bạn của ông đã khích lệ những người bị áp bức và giúp họ giữ cuốn sách tiên tri này trong giai đoạn chiến sự rối ren
Trong bản dịch bằng tiếng Hy Lạp, người ta đã thêm vào những câu
chuyện có tính chất khải thị như Chuyện của Susanna, Chuyện của Bel và Con Rồng vào sách này
Phan Phụng Thị Hiền
DAQIQI, ABU MASUR MOHAMMAD B AHMAD (sinh vào khoảng
những năm 30 của thế kỷ X ở Tur hoặc Balkh, mất khoảng năm 977), nhà thơ Trung Á viết trong ngôn ngữ Ba Tư vào triều đại Samanid ở Bukhara
Daqiqi có thể là tín đồ đạo Zoroastre, và theo một số nguồn tư liệu, ông chết thảm, bị chính kẻ nô bộc phản trắc của ông sát hại
Daqiqi là người đầu tiên đã bắt tay vào việc viết lại biên niên sử Ba
Tư suốt từ khởi thủy đến thời ông trong hình thức thơ ca Ông mới chỉ viết được chừng ngàn dòng thì bị giết chết Sau này Ferdousi (*) đã kế tục
Trang 24Daqiqi, hoàn thành Shahname (Sử thi của các đấng quân vương), một tác
phẩm vĩ đại trong văn học Ba Tư
Một số ghazals và thơ ca khác của Daqiqi cũng còn được giữ lại
Phan Thu Hiền
dastan (destan trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, doston trong tiếng Tajik), một hình
thức sử thi-trữ tình (lyric-epic)
Dastan thường là một bài thơ dài miêu tả những sự kiện, những nhân
vật cùng hành động của họ Những đoạn trữ tình được đan dệt vào tăng hiệu quả thể hiện Khung kết cấu vần của dastan thường là aa, bb,
cc…nghĩa là kiểu vần của masnavi (*) Vì vậy, nhiều khi dastan và
masnavi được dùng như hai từ đồng nghĩa
Dastan có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, bắt đầu từ tự sự
dân gian truyền miệng, sau này được hoàn thiện trong văn học viết
Những thí dụ điển hình về thể loại này trong văn học Ba Tư và Tajik cổ điển
như dastan tình yêu Vis o Ramin của Gorgani, dastan anh hùng Shahname (Sử thi của các đấng quân vương) của Ferdousi, Hasani
arobakash của M.Tursunzoda và Taj va beyraq của A.Lahuti
Phan Thu Hiền
DAVID (trị vì trong thời gian 1000-961 Tr.CN) là vua của Israel, người được
xem là tác giả của bài ai điếu vua Saul, của những Thánh Thi; phần lớn
những tác phẩm được tương truyền là những đóng góp của chính ông
Phan Phụng Thị Hiền
DEBORAH (cuối thế kỷ 12 Tr.CN) là một nữ tiên tri của Israel, người đã hát
lên bài ca ca ngợi chiến thắng của quân đội Israel đối với đạo quân Sisera
Bài ca này được chép trong sách Các Quan xét
Phan Phụng Thị Hiền
Trang 25destan, thơ sử thi, x dastan
Phan Thu Hiền
diwăn, divăn, divan, một hợp tuyển đầy đủ hoặc một tuyển tập các tác phẩm
(ngoại trừ dastan – sử thi) của một nhà thơ
Diwăn vì vậy có thể chứa các qasida (*), ghazal (*), roba’i (*), qit’a (*), mokhammase (*) của một nhà thơ Phong tục tuyển chọn những bài thơ vào diwăn đã phổ biến từ thế kỷ X-XI nhưng diwăn có niên đại sớm nhất là thế
kỷ XII và có thể rằng trật tự sắp xếp chính thức về sau lúc ấy chưa định hình Phải đến thế kỷ XII thì những hình thức thơ đa dạng mới được tập hợp cùng nhau, những bài thơ trong mỗi nhóm mới được sắp xếp alphabet theo chữ
cuối cùng của những dòng thơ (bayt) Mỗi phần của diwăn, tức là bahr, được đặt tên theo một chữ, thí dụ bahr alif
Phan Thu Hiền
dobeyti, dubayti : hình thức thơ Ba Tư, x Baba Taher «Oryăn và roba’i»
Phan Thu Hiền
E ENMERKAR nhà vua huyền thoại của Sumer thời những vương quốc cổ
đầu tiên (khoảng thế kỷ XXVIII tr CN), nhân vật trong sử thi Enmerkar và chúa tể Aratta, liên quan chút ít với những sử thi Lugalbanda
Nền tảng lịch sử cho tất cả những sử thi này là giao tranh giữa những thành-bang (city-states) Sumer kình địch với những cư dân miền núi Iran Enmerkar, con trai của thần Mặt Trời Utu, vua của Uruk-Kulaba, muốn buộc dân miền núi Aratta cấp vàng cùng đá quý để xây dựng một ngôi đền thờ Enki trong thành phố Sumer ở Eridu Theo lời khuyên của nữ thần bảo trợ, Inanna, ông phái sứ giả tới miền núi Aratta nhưng nhà vua ở đây coi
Trang 26Inanna không thuộc phe mình nên từ chối cống nạp Lúc đầu vua Aratta định giao tranh nhưng về sau ông yêu cầu Enmerkar phải tặng lại ngũ cốc
để được nhận vàng bạc, đá quý Sứ giả từ Uruk mang đến ngũ cốc thì vua Aratta lại không nhận, thù hận bùng nổ giữa hai bên Lần thứ ba Uruk đòi vàng và đá quý, lần này không phải sứ giả truyền lời mà yêu cầu viết trên phiến đất sét được sứ giả chuyển tới (đây là truyền thuyết Sumer về nguồn gốc chữ viết, truyền thuyết sớm nhất trong lịch sử loài người) Sứ giả mang theo ngũ cốc đi đến Aratta cùng với thần Sấm sét Ishkur trên những đám mây thần Kết thúc tác phẩm, vua Aratta sợ hãi trước đối phương được thần Sấm Sét giúp sức nên đành trao vàng bạc, đá quý Tuy nhiên, những bài thơ Sumser khác thì lại kể Urruk và Aratta không giao tranh với nhau về những
mục tiêu thực tế Bài thơ Enmerkar và Sukheshada’na miêu tả hai bên
giao tranh nhằm giành mối cảm tình của nữ thần Inanna để giành được
« hôn nhân linh thánh » với nữ thần Tình Yêu Hai bên chiến tranh và kết cục được quyết định bởi nữ thần Nisaba và người phụ nữ lớn tuổi Sagburru
đã ám sát tướng của Aratta Sau đó, Sukhesda’ana, vua Aratta, thừa nhận sự thống trị của Uruk
Phan Thu Hiền
ENUMA ELISH : trường ca sáng thế của Babylon (được gọi tên theo những
từ mở đầu tác phẩm – Enuma Elish, nghĩa là « Khi ở trên cao » trong câu thơ đầu tiên « Khi ở trên cao, trời chưa có tên »)
Trường ca được viết trên 7 phiến đất sét, có lẽ có niên đại khoảng từ thế kỷ XI trCN, mỗi phiến khoảng 125 đến 165 dòng Tác phẩm này được tụng kể hàng năm vào những dịp đón mừng Năm mới, chúc tụng thần
Marduk, thủ lĩnh của các thần linh Babylon Trong bản Assyria, thay vào vị trí của Marduk là Assur, thần của dân tộc Assyria
Theo trường ca này, khởi thủy chỉ có biển cả mênh mông trong đó hòa trộn nước của thần Đại Dương Apsu – thần Cha - và nữ thần Hỗn
Trang 27Mang Tiamat – thần Mẹ Họ sinh ra các thế hệ thần linh, trong đó có Ea –
vị thần của thông tuệ và thần chú
Khi ở trên cao, bầu trời chưa có tên
Và phía dưới, mặt đất chưa tên gọi Apsu-thần Đại Dương – là cha Tiamat-thần Hỗn Mang – là mẹ
Họ hòa trộn nước ngọt cùng nước mặn
Và từ nước mênh mông sinh các vị thần
Bị sự ồn ào, huyên náo của các thần trẻ hiếu động quấy rầy, Apsu quyết định tiêu diệt họ nhưng những thần chú của Ea đã chế ngự Apsu, Ea giết chết Apsu Ea cùng vợ của mình sinh ra thần Marduk Được sự trợ giúp của 11 quái vật mà nữ thần tạo ra, Tiamat cùng với người tình mới là Kingu tấn công các thần trẻ, trả thù cho Apsu Duy nhất có thể đương đầu với Tiamat là Marduk, vị thần hội tụ những sức mạnh thần thánh và được trang
bị một ngọn gió độc cùng một mũi tên thiêng Khi Tiamat há mồm định nuốt chàng thì Marduk phóng gió độc vào họng khiến nữ thần không thể ngậm mồm lại được, rồi Marduk phóng mũi tên sắc nhọn vào bụng nữ thần Một nửa thân xác của nữ thần trở thành bầu trời, nửa kia thành mặt đất :
Marduk xẻ dọc thân thần Mẹ Như người ta xẻ đôi con cá Nửa trên dựng lên thành vòm trời Nửa dưới trải xuống dưới chân thành mặt đất
Từ đôi con mắt Tiamat Marduk khơi dòng hai sông chảy song song
Trang 28Trên bộ ngực vĩ đại Dựng thành đồi núi trập trùng Marduk đặt những ngôi sao vào hành trình của chúng và sáng tạo con người
từ đất sét trộn với máu Kingu Con người phải làm việc để thần linh có thể nghỉ ngơi yên bình
Marduk nghe lời thúc giục của các thần Trong tim ngẫm tìm hình dáng Chàng nói với thần Trí tuệ Ea Điều trái tim đã quyết:
“Con sẽ trộn máu thần Kingu cùng đất sét Nặn nên sinh linh tên gọi Con Người
Tạo nên Con Người
Để phục vụ các thần cho họ được nghỉ ngơi Bài thơ kết thúc với lời ngợi ca Marduk
Như vậy, mục đích của trường ca là giải thích việc tôn thờ Marduk,
vị thần bảo hộ của Babylon, như thần cao cả nhất Trường ca cũng thể hiện quan điểm Babylon về sáng tạo Không phải từ hư vô đến hiện hữu, sáng tạo thực sự là quá trình từ cũ đến mới, từ hỗn mang đến trật tự
Phan Thu Hiền
ESTHER: là một sách của Kinh Thánh Do Thái Sách được đặt theo tên của
một nữ anh hùng trẻ tuổi người Do Thái đã trở thành hoàng hậu nước Ba Tư
và cứu những người anh em Do Thái khỏi cơn huỷ diệt Câu chuyện đầy xúc động này, được viết vào thế kỷ III-II Tr.CN, là một sự giải thích về Lễ Purim
Xem thêm trong Năm cuộn sách nghi lễ
Phan Phụng Thị Hiền
Trang 29ETANA: truyền thuyết kể về Etana, nhà vua huyền thoại của thành Kish của
người Sumer
Tác phẩm được lưu giữ trong 3 bản có niên đại khác nhau: một bản
từ nửa đầu thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên ở Babylonia và Elam, một bản từ 1200 năm trước Công nguyên ở Assur, và bản thứ ba từ nửa đầu thế kỷ VII tr CN trong Thư viện Assurbanipal ở Nineveh Mặc dù có một số khác biệt trong chi tiết nhưng cả ba bản giữ cùng một dòng chảy chính của câu chuyện
Etana thờ phụng linh hồn những người chết, thờ phụng và hiến tế các vị thần rất chu đáo nhưng vẫn không có con nối dõi Thần Mặt Trời bảo rằng một con đại bang sẽ giúp Etana tìm thấy cây phồn thực
Câu chuyện về đại bàng được kể đan xen vào truyền thuyết này như một ngụ ngôn Đại bàng và rắn thề nguyền tình bạn keo sơn
Ngày qua ngày chúng giữ trọn lời thề Nếu đại bàng bắt được lừa hoang, dê núi Rắn cùng con cái được no nê Nếu rắn bắt được linh dương, tuần lộc Thì đại bàng và con cái cũng thỏa thuê nhưng một ngày kia khi rắn đi kiếm mồi, đại bàng vi phạm lời thề, ăn những con rắn con Con rắn bất hạnh phàn nàn với Shamash, thần Mặt trời đồng thời cũng là thần Công lý của người Babylon, xin trừng phạt đại bàng Rắn nghe lời thần Shamash, núp vào xác chết một con bò rừng và đợi đại bàng sà xuống ăn thịt bò Khi đó, rắn túm lấy đại bàng, vặt lông cánh, đánh tơi bời rồi vứt xuống hố sâu cho chết vì đói khát Đại bàng hối hận, cầu xin thần Mặt
Trang 30Trời Và Etana được gửi đến để giải thoát cho đại bàng Đại bàng trả ơn bằng cách cõng Etana bay lên trời cao để tìm cây phồn thực
Và Etana ngồi lên mình đại bàng
Bám chặt hai tay vào đôi cánh
Dang rộng tay sang cả hai bên
Thả sức nặng lên mình chim lớn
Cất cánh bay lên cao một dặm
Đại bàng quay lại hỏi Etana:
- “Ngài trông xem, thế giới thế nào?
Hướng Eku hãy nhìn xuống biển!”
- “Mặt đất bằng ngọn đồi, biển bằng như dòng thác!”
Bay lên cao đến dặm thứ hai
Đại bàng quay lại Etana, hỏi:
- “Ngài trông xem thế giới thế nào?”
- “Mặt đất bằng như khoảnh rừng con”
Và lên cao đến dặm thứ ba
Đại bàng với Etana, lại hỏi:
- “Ngài trông xem thế giới thế nào?”
- “Mặt đất bằng mương nhỏ trong vườn ”
Rồi họ bay đến tầng trời Anu
Trước ngai vàng nghiêng mình kính cẩn
Chào thần Anu, thần Enlil, với thần Ea
(Trần Thị Phương Phương dịch)
Trang 31Chuyến bay đầu tiên thất bại, Etana và đại bàng rơi xuống đất, nhưng chuyến thứ hai thì thành công: Etana đoạt được cây phồn thực và cuối cùng vợ ông sinh được một người con trai
Nhà nghiên cứu I.G.Levin, khi đối chiếu truyền thuyết Etana của Babylon với các motif về tình bạn giữa người và đại bàng cũng như chuyến bay của người trên lưng đại bàng trong văn học dân gian nhiều nước trên thế giới, đã cho rằng truyện này là biến thể của một truyện nghi lễ về chuyến phiêu lưu của phù thủy tới thế giới siêu nhiên nhờ sự giúp đỡ của một vị thần trong hình dáng của một con vật
Phan Thu Hiền
EZEKIEL (đầu thế kỷ VI Tr.CN) là một tiên tri của Israel bị Babylon bắt
làm tù binh Ở đây, ông khiển trách những người anh em Do Thái chẳng học được bài học nào từ việc đất nước của họ bị tàn phá và chuyển đổi tư tưởng của họ hướng đến một cuộc sống mới dưới chế độ thần trị Sách tiên tri
Ezekiel viết theo thứ tự thời gian như một cuốn sử ký và kết thúc với khải tượng về Jerusalem Mới Văn phong mang tính hệ thống hơn là tính thơ ca nhưng mô tả chi tiết những khải tượng khiến tác phẩm đạt hiệu quả
Xem các sách Tiên Tri và Kinh Thánh
Phan Phụng Thị Hiền
EZRA (458 hay ?398 Tr.CN) là một thầy tế lễ Do Thái Ông có công tái thiết
lập sự thờ phượng trong Đền Thờ Jerusalem và hướng dẫn việc đọc Luật
Pháp (xem Ngũ Kinh) Tên của ông được đặt cho 1) sách Ezra trong Cựu
Ước, mô tả sự hồi hương của những phu tù Do Thái từ Babylon và cuộc tái
thiết Đền Thờ; sách này trong nguyên bản bao gồm sách Nehemiah; 2) sách Ngoại Kinh Ezra Thứ ba (hay Thứ nhất), được bảo tồn trong tiếng Hy Lạp,
thêm vào một biên niên sử mô tả hư cấu một cuộc thi giữa các em nhỏ ở cung điện Ba Tư (với sự xuất hiện của các motif Ấn Độ) mà tổ chức dân tộc và tôn
Trang 32giáo của người Bohemian chọn làm khẩu hiệu cho mình là Veritas vincit (Lẽ thật sẽ chiến thắng); 3) Sách Ezra Thứ tư, một Nguỵ Kinh được bảo tồn trong
tiếng Latinh, tiếng Syri và các bản khác, được viết ra vào khoảng năm 70 sau khi thành Jerusalem và Đền Thờ bị tàn phá bởi La Mã Dưới dạng khải
tượng, đôi khi viết theo lối thơ ca, nó lưu tâm đến vận mệnh hiện tại và tương lai của Israel và cá nhân con người
gần Tus ở Khorasan, mất năm 1020), nhà thơ Ba Tư
Ferdowsi sinh ra trong một gia đình chủ đất (dehqan) không giàu có
lắm Từ khi còn trẻ, Ferdowsi đã say mê với lịch sử, huyền thoại cũng như văn chương, thơ ca Dù có nhiều huyền thoại về cuộc đời Ferdowsi, người
ta có ít những dữ kiện đáng tin cậy Nguồn thông tin gần như duy nhất là
những chi tiết có tính tự thuật trong sử thi Shahname (Sử thi của các đấng
quân vương) của ông nhưng tính nguyên gốc của thông tin này bị giảm bởi những sự tự ý thêm vào thường xuyên của các thế hệ những người sao chép
và cắt nghĩa tác phẩm Tuy nhiên, có vẻ rõ ràng là Ferdowsi chỉ bắt đầu sử thi khi ông ở tuối chín chắn, trưởng thành Không có bằng chứng cho việc ông đã bắt tay vào công việc do xúc động vì Daqiqi (*), nhà thơ Ba Tư đầu
Trang 33tiên viết sử thi về đề tài lịch sử dân tộc, đã chết thảm khi mới viết được chùng một ngàn dòng Nhưng chính tác phẩm dang dở của Daqiqi đã cấp cho Ferdowsi một kiểu mẫu văn chương hoàn thiện về hình thức (phong cách sử thi, mô hình nhịp và vần…) Một ngàn dòng để lại của Daqiqi (giới thiệu tôn giáo của Zoroastre dưới triều vua Gushtasp) đã được đan kết vào
trong Shahname (Sử thi của các đấng quân vương) của Ferdowsi
Trong thế kỷ IX, truyền thống tiền Hồi giáo về việc sưu tầm, tập
hợp, viết lại lịch sử dân tộc - theo kiểu tác phẩm Khvatay Namak (Cuốn
sách về các đức vua) bằng tiếng Pahlavi cuối triều Sassanian – đã được tái sinh trong văn học Ba Tư Bên cạnh sử thi dang dở của Daqiqi, Ferdowsi
còn có thể kế thừa từ tác phẩm văn xuôi Shahname của Abolmo’ayyad Balkhi, bản Azad Sarv của nhà thơ Marv, và đặc biệt từ bản văn xuôi
Shahname do bốn học giả tín đồ đạo Zoroastre miền Đông Iran biên soạn
năm 957 theo lệnh của Abu Mansur Mohammad b Abdarrazzaq, nhà vua
xứ Tus Ferdowsi cũng dựa vào kho tàng folklore phong phú Và ông đã bắt đầu sử thi của mình khoảng năm 980, khi Iran vẫn còn đang dưới quyền thống trị của triều Samanid (triều này bị lật đổ năm 1005) Dù nhận đựợc sự tài trợ của những chúa tể vùng Khorasan, nhưng khi hoàn thành sử thi vào khoảng năm 1010, Ferdowsi đã đem dâng tác phẩm lên Sultan Mahmud xứ Ghazna (990-1030), vị Sultan đã bằng những chính sách văn hóa khôn khéo giành được danh tiếng là người bảo trợ vĩ đại nhất của văn chương Ba Tư,
vị Sultan mà Ferdowsi xem là người lãnh đạo lý tưởng sẽ hoàn thành thắng lợi công cuộc tái sinh và thống nhất Ba Tư Tuy nhiên, Sultan này đã không mấy chú tâm đến tác phẩm sử thi cả đời của thi sĩ Huyền thoại kể rằng thay
vì thưởng nhà thơ 1 dinar vàng cho mỗi dòng thơ, Sultan Mahmud chỉ trả 1 dirham
Có lẽ ở đây có sự đối kháng về tôn giáo giữa Ferdowsi, theo truyền thống, là một Shiite, và Sultan, lại là một Sunnite nồng nhiệt, tức là kẻ thù
Trang 34của Shi’a Nhiều huyền thoại đã kể về sự bất hòa công khai giữa nhà thơ và Sultan, trong đó có nói về một bài thơ rất nổi tiếng của Ferdowsi đả kích Mahmud Cũng nổi tiếng ngang như vậy là giai thoại xúc động bi thảm kể khi Sultan hối hận, sai người mang quà tặng thưởng nhà vua đúng như đã hứa thì đoàn người của Sultan vào Tus qua một cổng này đúng lúc đám tang đưa linh cữu nhà thơ ra một cổng khác
Trong phần lớn tác phẩm, Shaname (Sử thi của các đấng quân
vương) gồm chừng 50.000 đoạn thơ hai câu (câu thơ đôi) chia thành 50 chương (dăstăn) cò chiều dài khác nhau, theo tửng triều đại Tác phẩm bắt đầu với huyền thoại khởi thủy – quá trình sáng tạo thế giới và Gayomart, con người đầu tiên Sau đó, là triều đại Pishad, triều đại Iran đầu tiên của Kayanids và tiếp tục cho đến Yazdagerd III (mất năm 651) nhà vua của triều Iranian cuối cùng, triều Sassanians, trước khi A Rập xâm lược Iran
Ferdowsi đã trình bày, qua thế giới quan chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Zoroastre, hình ảnh những đức vua huyền thoại đại diện năng lực của cái Thiện chiến đấu chống lại sức mạnh của cái Ác Ferdowsi cũng thể hiện dưới ánh sáng đó cuộc chiến tranh của những người Iran chống lại người Turanian du mục ở Trung Á Thần thoại và lịch sử đan kết trong sử thi trong một tổng thể thơ ca
Việc chia tác phẩm thành các chương theo những vương triều chỉ là một thủ thuật biên niên thuần túy, không ảnh hưởng nhiều đến cấu trúc bên trong của tác phẩm Những vương triều thường chỉ là phụ, câu chuyện chủ yều tập trung vào những anh hùng cá nhân, đặc biệt nhân vật anh hùng của các saga Sistan và Zavolestan, những hiệp sĩ Săm, Zal, và trên tất cả là Rostam, người anh hùng dân tộc của Iran Sử thi, đúng hơn, là một chuỗi những trích đoạn trong trật tự biên niên Sự thống nhất hình thức toàn tác phẩm được đảm bảo do sự sử dụng cùng một nhịp thống nhất (nhịp
motaqareb bốn chân), những cặp câu thơ ăn vần với nhau (masnavi), phong
Trang 35thái từ vựng cổ kính (so với ngôn ngữ trong thơ trữ tình đương thời) và một
nỗ lực kiên trì tạo lập một phong cách riêng được đặc trưng bởi một số những thủ thuật từ ngữ lặp đi lặp lại, những định ngữ bền vững…
Trên bình diện nội dung tư tưởng, Shahname (Sử thi của các đấng
quân vương) phản ánh xung đột thường xuyên giữa Thiện và Ác, với niềm tin vào chiến thắng của cái Thiện Trong khái niệm về một Định mệnh mù lòa, tàn nhẫn, không lay chuyển được, tuy nhiên, cần phải chống trả nó, rõ ràng tác phẩm vừa chịu ảnh hưởng Hồi giáo vừa có tinh thần phản kháng Cũng được tô đậm gần như ngang với đề tài Định mệnh là đề tài trả thù
Câu chuyện lịch sử, câu chuyện anh hùng thường được đan xen những đoạn lãng mạn trữ tình, phân tích nội tâm nhân vật và miêu tả thiên nhiên tăng chất thơ cho tác phẩm, những đoạn này được các nhà phê bình văn học Iran đánh giá rất cao Ferdowsi, vì vậy, được tôn xưng như người sáng lập không chỉ sử thi anh hùng (trong lĩnh vực này, cho đến tận ngày
nay, Shahname vẫn được xem như kiệt tác mẫu mực) mà cả sử thi lãng mạn Trong khi truyền thống Ba Tư luôn đánh giá Shahname như một biên
niên lịch sử dân tộc thì nghiên cứu hiện đại cho rằng giá trị lịch sử của tác phẩm ở trong những thông tin sinh động về điều kiện xã hội và cách sống, cách nghĩ của Ba Tư cổ quan trọng hơn là trong những sự kiện biên niên
Quan trọng hơn cả là tình yêu sâu sắc, nồng nàn mà Ferdowsi dành cho Tổ quốc, chan chứa trong từng trang sử thi khiến ông luôn luôn ngự trị trong lòng độc giả, thính giả Ba Tư như nhà thơ dân tộc bất tử, mặc dầu mọi thay đổi khẩu vị văn chương
Trong bối cảnh văn chương thế giới, Shahname có vị trí xưng đáng bên cạnh
những sử thi vĩ đại của Ấn Độ và Hy Lạp
Phan Thu Hiền
Trang 36FIKRET, TEVFIK (sinh năm 1867 ở Istanbul, mất năm 1915), nhà thơ và
họa sĩ Thổ Nhĩ Kỳ
Sinh ra trong một gia đình công chức, Fikret lớn lên trở thành một nhân viên nhà nước và sau này là thầy dạy tiếng Pháp ở Trường Trung học Istanbul Do rắc rối với triều đình của Sultan, ông bị buộc thay đổi nơi làm việc mấy lần và thường chịu cảnh nghèo túng
Fikret bắt đầu viết và vẽ từ khi còn rất trẻ Ông là một họa sĩ nổi
tiếng Năm 1893, ông trở thành biên tập của tạp chí Sevreti Funun (Kho
báu nghệ thuật), tạp chí đóng vai trò trung tâm của cuộc sống văn chương Thổ Nhĩ Kỳ lúc đó Trong thời gian đầu mới thành lập (1876), những người phụ trách tạp chí nỗ lực thực hiện cuộc Phục hưng văn học Thổ Nhĩ Kỳ, tuy nhiên, dần dà nhiệt tình yêu nước và chủ nghĩa lạc quan trong tác phẩm của
họ đã nhường chỗ cho khuynh hướng thoát ly thực tế nhuốm màu vô vọng
Các nhà văn của Sevreti Funun dụng công trau chuốt hình thức nghệ thuật
và tác phẩm của họ không phải chỉ đơn thuần bắt chước những kiểu mẫu văn học Pháp mà thực sự là những sáng tạo mang bản sắc dân tộc dựa trên những kiểu mẫu đó Họ không nỗ lực giữ gìn ngôn ngữ dân tộc thuần khiết
mà xem sự tiếp biển ngôn ngữ nước ngoài như một nguồn làm giàu ngôn
ngữ dân tộc Tập thơ đầu tiên của Fikret – Rebabi Sikeste (Cây đàn luyt bị
gãy) - được viết trong tinh thần đó
Để dập tắt phong trào Thổ Nhĩ Kỳ Trẻ, chính quyền cấm tạp chí
Sevreti Funun, cuộc sống văn học lúc đó bị ngưng trệ, các nhà văn ngừng
sáng tác Chính trong thời gian này Fikret đã quyết định chỗ đứng kiên quyết chống lại sự cai trị của Sultan Ông bắt đầu viết những bài thơ chống đối, những bài thơ này được sao chép và phân phát truyền bá rộng rãi
Fikret chào mừng Cách mạng Nga 1905 với bài thơ Sabah Olursa
(Khi buổi sớm mai tới) và cũng nồng nhiệt như vậy chào đón cuộc Cách
mạng Thổ Nhĩ Kỳ Trẻ năm 1908 Ông lập ra nhật báo Tanin (Tiếng vang)
Trang 37để giáo dục nhân dân đấu tranh cho tự do Ông đã vỡ mộng trước những kết quả của cuộc Cách mạng, và khi các nhà thơ khác ca ngợi tự do mới và sức mạnh dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ thì Fikret bắt đầu cất giọng thơ phê bình Bị buộc tội vì thiếu tình cảm yêu nước, ông trả lời trong những bài thơ cho trẻ em:
Halukun Defteri (Vở của Haluk, 1912) – trẻ em chính là những người sẽ
thực hiện những ước mơ nhân văn chủ nghĩa của cha ông, tổ tiên Fikret mất khi Sultan kia vẫn ở trên ngai vàng nhưng đến khoảng những năm 1945-1946, tác phẩm của Fikret đã phát động xung đột giữa những lực lượng tiến bộ và phản động
Fikret cũng là một trong những nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ xuất sắc nhất vì những đóng góp hình thức quan trọng, nhất là trong việc sử dụng một cách sáng tạo những nhịp thơ Ba Tư-A Rập cổ điển Ông từ chối những vần có tính ngữ pháp, giới thiệu những vần dựa trên âm thanh của từ ngữ Ông là nhà thơ đầu tiên lựa chọn ngôn từ cho phù hợp với giai điệu của những dòng thơ và cảm thức của toàn bài Ông cũng làm giàu ngôn ngữ với những hình ảnh thơ phong phú
Những tác phẩm khác của Fikret gồm:
- Hasta Cocuk (Đứa bé ốm yếu)
- Sekvayi Firak (Nỗi đau biệt ly)
- Hani yagma (Quy luật của lòng tham)
- Sermin
Phan Thu Hiền
Trang 38G
garip, ca sĩ dân gian Thổ Nhĩ Kỳ, x asik
Phan Thu Hiền
ghazal, một hình thức thơ ca trữ tình độc vận, ngắn hơn hình thức qasida (*),
rất phổ biến trong thơ ca Ba Tư, A Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, được hình thành, phát triển và trở nên quen thuộc trong những thế kỷ quá khứ ở các nền văn học khác của Cận Đông như Pashto, Kurd, Azerbaijan, Uzbek, Urdu…
Nguồn gốc của ghazal là những bài ca dân gian trữ tình từ thế kỷ VII, vốn được hát lên với sự đệm của nhạc cụ dây Ghazal có hình thức xác định từ
khoảng thế kỷ XI-XII
Ghazal nguyên gốc có 4 đến 12 cặp câu thơ (bayt) cùng nhịp và cùng vần (Về sau, ghazal có nhiều cặp câu thơ hơn) Cặp câu thơ thứ nhất, được gọi là matla, có một vần thêm ở nửa dòng (misra) đầu tiên, vì vậy, các nửa dòng trong một ghazal có kiểu thức vần như sau: aa, ba, ca, da…Từ khoảng thế kỷ XII, trong cặp câu thơ cuối cùng, được gọi là maqta, thường có bút danh (takhallus) của nhà thơ Mỗi bayat đôi khi kết bằng điệp khúc (radif) chứa một hoặc nhiều từ Mỗi bayt luôn luôn chứa một tư tưởng trọn vẹn, một
nghĩa đầy đủ
Đề tài lúc đầu của ghazal là tình yêu, về sau các đề tài xã hội, giáo huấn, triết
học, thần bí được thêm vào
Trong sô các nhà thơ ghazal thời cổ điển, điển hình có các nhà thơ Ba Tư
như Hăfez, Nezămi, Rudaki, Sa’di, nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ Baqi… Trong thời hiện đại, nổi tiếng là các nhà thơ Lahuti (Ba Tư-Tajik), Ghafur Ghulom
(Uzbek)…Những nỗ lực để hiện đại hóa ghazal trong văn hoc Urdu gặt hái những thành công trong khi các nền văn học hiện đại khác thì ghazal hầu như
không còn được tiếp tục
Trang 39Đối với Phương Tây, thơ ghazal của Hăfer đã truyền cảm hứng mãnh liệt cho các nhà thơ lãng mạn Đức, như Goethe (trong tác phẩm West-ostlicher
Divan) Platen cũng viết nhiều ghazal Gần đây, có sự tái sinh của hứng thú dịch thơ ghazal với những nỗ lực có ý nghĩa của các nhà thơ Mỹ như
Adrienne Rich và James Harrison
Phan Thu Hiền
GIẢNG SƯ (Ecclessiastes (Qohelet), một sách trong Kinh Thánh Do Thái
chứa đựng những sự suy gẫm (thường có giọng bi quan) về đời sống con người và xã hội loài người Việc gán ghép cho Solomon là tác giả của sách này là không đúng, sách ra đời vào thế kỷ IV-III Tr.CN Xem thêm trong
Năm cuộn sách nghi lễ
Phan Phụng Thị Hiền
GILGAMESH: sử thi Akkad kể về nhân vật Gilgamesh, là thành tựu quan
trọng nhất trong nền văn học Lưỡng Hà viết bằng văn tự hình nêm
Tác phẩm viết trên 12 phiến đất sét, được lưu giữ ở Thư viện Assubanipal
(thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên) dưới nhan đề Người đã nhìn thấy những chiều sâu
Tác phẩm dung nạp những sử thi Sumer cổ xưa hơn về vua Gilgamesh xứ Uruk Những phiến đoạn của tác phẩm Akkad cũng được tái thể hiện trên những phiến đất sét thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên
Phần đầu và phần vĩ thanh kể về việc Gilgamesh xây những tường thành quanh thành bang của ông Những bức tường thành của Uruk bằng gạch có hình thấu kính đặc biệt với một mặt phẳng và một mặt lõm, như khảo cổ đã tiết lộ, được sử dụng chỉ duy nhầt trong một thời kỳ lịch sử, vì vậy có thể xác định triều đại của Gilgamesh vào khoảng 2700 tr CN Theo “Lịch sử thánh đường Tummal”, một văn bản có tính chất lịch sử, nhà vua Gilgamesh là
Trang 40người đồng thời với người sáng lập vương triều đầu tiên của Ur (khoảng
2550 tr CN)
Gilgamseh là một nhân cách lịch sử Điều này được kiểm chứng qua tác
phẩm Gilgamesh và Agga, một sử thi Sumer miêu tả cụộc chiến tranh giữa vua Arga xứ Kish và vua Gigamesh xứ Uruk Bên cạnh Gilgamesh và Agga
còn có 4 sử thi Sumer khác về Gilgamesh, nội dung chủ yếu mang tính huyền
thoại Quan trọng nhất trong số đó là Gilgamesh và Huwawa kể về giao tranh
của Gilgamesh chống lại khổng lồ Huwawa trên dãy núi Lebanon và
Gilgamesh và rừng tuyết tùng thể hiện tư tưởng Sumer về cuộc sống sau khi
chết Cả hai tác phẩm này đều được đan cài vào sử thi Gilgamesh của Akkad
Sự miêu tả Đại Hồng Thủy từ bài thơ Atra-hasis của Babylon cổ, nhiên đại
khoảng thế kỷ XVII tr CN cũng được dệt vào tác phẩm
Bản Gilgamesh trong Thư viện Assurbanipal bắt đầu với đoạn khai đề tóm tắt
câu chuyện Đức vua vĩ đại Gilgamesh ra lệnh cho dân chúng xây những bức tường thành Dân chúng kêu ca về sự độc đoán, bạo quyền của Gilgamesh và các thần linh đã sáng tạo ra Enkidu, một người bán-hoang dã có sức mạnh ngang ngửa Gilgamesh để kiềm chế nhà vua Enkidu lớn lên nơi thảo nguyên giữa những con thú hoang Khi Gilgamesh và Enkidu gặp gỡ, giao tranh, không phân thắng bại, dần dà họ cảm mến nhau và trở thành đôi bạn thân thiết tri kỷ Sát cánh cùng nhau, Gilgamesh và Enkidu đã giết tên khổng lồ tội lỗi Huwawa, kẻ canh gác rừng tuyết tùng trên núi Lebanon, và mang về Uruk nhiều gỗ quý cùng đá quý Nữ thần Tình yêu Ishtar say mê vẻ đẹp kiêu hùng của Gilgamesh, ngỏ lời cầu hôn nhưng bị chàng từ chối với những lời xúc phạm Nữ thần tức giận trừng trị Một trong hai người bạn phải chết và vận xấu rơi vào Enkidu Cái chết của người bạn thân làm Gilgamesh suy sụp, chàng trở nên bị ám ảnh nặng nề tư tưởng về cái chết như định mệnh không tránh khỏi của con người Vì vậy, để lại đằng sau tất cả của cải, uy quyền, lạc thú, Gilgamesh một mình lên đường đi tìm bất tử Sau hành trình dài, nguy