1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu trò chơi dân gian của trẻ em đô thị (nghiên cứu trường hợp trường tiểu học tân phú quận 9 tp hồ chí minh) công trình dự thi giải thưởng khoa học sinh viên euréka lần thứ 9 năm 2007

221 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 9,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả cho rằng có rất nhiều trò chơi thuần tuý chứa đựng yếu tố tín ngưỡng và phần nào đó ma thuật như trong trò múa mo ở Sơn Đồng Hoài Đức, Hà Tây, trò cướp kén ở Dị Nậu Tam Nông, Phú

Trang 2

Trường Tiểu học Tân Phú – quận 9 – thành phố Hồ Chí Minh

(Ảnh: Trần Văn Bình)

Trang 3

MỤC LỤC Trang DẪN LUẬN 1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Cơ sở lí luận 8

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 12

6 Đóng góp mới của đề tài 13

7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 13

8 Nội dung của đề tài 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN PHÚ QUẬN 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.1 Giới thiệu sơ lược về phường Tân Phú - quận 9 - Thành phố Hồ Chí Minh 15

1.1.1 Địa giới 16

1.1.2 Dân cư 16

1.1.3 Về cơ sở vật chất 17

1.1.4 Về kinh tế 17

1.1.5 Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội 17

1.2 Giới thiệu sơ lược về trường Tiểu học Tân Phú 18

1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển 18

1.2.2 Cơ sở vật chất 19

Trang 4

1.2.3 Về giáo viên, công nhân viên của nhà trường 20

1.2.4 Về học sinh 20

1.2.5 Chương trình giảng dạy của nhà trường 21

1.2.6 Chương trình hoạt động của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các hoạt động ngoại khóa 22

CHƯƠNG 2 TÌM HIỂU THỰC TRẠNG TRÒ CHƠI DÂN GIAN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN PHÚ 2.1 Thực trạng các hoạt động vui chơi của học sinh trường Tiểu học 25

2.2 Những trò chơi dân gian được học sinh trường Tiểu học Tân Phú chơi35 2.2.1 Phân loại 35

2.2.2 Các trò chơi dân gian được sưu tầm ở trường Tiểu học Tân Phú 37

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA TRÒ CHƠI DÂN GIAN TRẺ EM 3.1 Những đặc điểm của trò chơi dân gian trẻ em 64

3.2 Những đặc điểm của trò chơi dân gian của trẻ em đô thị 66

3.3 Vai trò của trò chơi dân gian trong việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em 74

3.4 Những hạn chế của trò chơi dân gian của trẻ em đô thị 80

CHƯƠNG 4 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TOÀN DIỆN NHÂN CÁCH TRẺ EM BẰNG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG 81

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 5

PHỤ LỤC * Phụ lục ảnh 91

* Phụ lục Bảng thăm dò ý kiến 102

* Phụ lục Bảng sưu tầm trò chơi dân gian 106

* Phụ lục Bản báo cáo tư liệu 179

Trang 6

DẪN LUẬN

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Từ xa xưa, cha ông ta đã có những hình thức giáo dục trẻ nhỏ đơn giản mà hiệu quả Một trong nhừng hình thức đó là sự giáo dục thông qua các trò chơi dân gian Ngay từ khi bé, trẻ em ở các vùng nông thôn đều có dịp chơi các trò chơi như: tập tầm vông, lộn cầu vồng, nu na nu nống, rồng rắn lên mây, thả đỉa ba ba… cùng với anh chị em, bạn bè đồng trang lứa tại những khu vực đất trống của làng, xóm Những trò chơi này không những giúp trẻ giải trí mà còn tăng cường thể chất, nhưng quan trọng hơn hết là góp phần phát triển nhân cách trẻ em một cách toàn diện, mang bản sắc dân tộc ngay từ khi còn nhỏ

Các trò chơi dân gian xa xưa thường được thể hiện qua các hành vi bắt chước của trẻ nhỏ từ các hoạt động của người lớn hay là sự truyền dạy của người lớn cho trẻ con Cứ thế, các trò chơi dân gian được lưu truyền tư thế hệ này qua thế hệ khác như là một di sản văn hóa dân tộc Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội hiện đại, nhất là tại các trung tâm đô thị, các bậc cha mẹ luôn bận rộn với công việc nên ít

có thời gian để giải thích ý nghĩa và dạy cho trẻ con các trò chơi dân gian Bên cạnh đó, chương trình giáo dục của nhà trường quá nặng cũng không còn thời gian

để các em vui chơi, giải trí với những trò chơi này Đặc biệt, tác động của đô thị hóa đã thu hẹp các sân chơi và những loại hình vui chơi giải trí truyền thống của trẻ em mà thay vào đó là các loại hình trò chơi như internet, game online, sách báo, băng đĩa, truyện tranh,… mà trong một chừng mực nhất định đang tác động tiêu cực đến quá trình học tập và hình thành nhân cách trẻ Tuy vậy, trò chơi dân gian nói riêng và văn hóa dân gian nói chung vẫn có sức sống mãnh liệt Trong môi trường đô thị hóa với những bận rộn, hối hả, trò chơi dân gian vẫn luôn chiếm được một vị trí nhất định trong đời sống của trẻ em, dưới những dạng biến thể mới phù hợp với đời sống xã hội hiện đại Điều này được thể hiện ở các chương trình dành cho thiếu nhi như: “Vườn cổ tích” của Đài truyền hình Việt Nam, việc tổ chức các ngày hội cho thiếu nhi (Tết Trung Thu, ngày 1/6…)

Vài năm trở lại nay, dư luận rất chú ý đến việc học tập và vui chơi của trẻ em Phần lớn dư luận cho rằng thời gian học tập của học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng là quá nhiều khiến các em rất căng thẳng Ngược lại, thời gian

Trang 7

vui chơi giải trí của các em lại rất ít Có nhiều ý kiến cho rằng nên giảm bớt thời gian học xuống và tăng thời gian ngoại khóa, vui chơi cho học sinh Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là trong thời gian được nghỉ ngơi ấy, các em học sinh sẽ chơi gì, giải trí như thế nào… Vấn đề trên đã thúc nay chúng tôi thực hiện đề tài nhằm xây dựng nên nội dung chương trình sinh hoạt ngoại khóa cho các em vào thời gian nghỉ

Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu thực trạng sân chơi trẻ em ở đô thị; sưu tầm những biến thể trò chơi dân gian mới của trẻ em đô thị cũng như những đặc điểm mới của chúng Từ đó chúng tôi sẽ đưa ra cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về hiện trạng của trò chơi dân gian từ trước đến nay, đồng thời nêu ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này; trên cơ sở đó đưa ra giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc xây dựng nên chương trình giáo dục nhân cách trẻ em thông qua trò chơi dân gian nói riêng và văn hóa dân gian nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Năm 1864, trên tạp chí “The Athenum” (Luân Đôn, Anh) William J.Thoms

đưa ra thuật ngữ “folklore” (Văn hoá dân gian) Đây được coi là năm ra đời của ngành folklore học – khoa học nghiên cứu văn hoá dân gian

Từ đó đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm về văn hoá dân gian Ở Việt Nam, phải kể đến những nhà nghiên cứu Nguyễn Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đổng Chi, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Văn Huyên… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, sưu tầm này thường tập trung vào các loại hình văn học, âm nhạc, sân khấu, múa, phong tục tập quán, lễ hội… dân gian mà ít có công trình nào nghiên cứu trọng tâm về trò chơi dân gian

Theo tìm hiểu của chúng tôi, ở nước ta hiện nay có một số cuốn sách nói về

trò chơi dân gian như: “Đồng dao và trò chơi của trẻ em người Việt” của Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang…, “Những trò chơi dân gian ở đồng bằng Bắc Bộ

trước năm1954” của Nguyễn Quang Khải (NXB Văn hóa Dân tộc, 1999),

“Những trò chơi dân gian ở nông thôn” của Nguyễn Anh Động (NXB Trẻ, 2004),

“Tết cổ truyền của người Việt” của Lê Trung Vũ (NXB Văn hoá Thông tin, HN,

Trang 8

2002), “Văn hóa dân gian Những thành tố” của Lê Ngọc Canh (NXB Văn hóa

Thông tin, Trường Cao đẳng văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, 1999) Bên cạnh

đó, các trang web: http://e-cadao.com, http://ninh-hoa.com, http://tretho.com,

http://webtretho.com, http://mamnon.com, cũng đăng tải cách thức chơi một số

trò chơi dân gian như: rồng rắn lên mây, đánh chuyền, nhảy dây, mèo đuổi chuột,

nhảy cò bẹp, nhảy bao bố… Tuy nhiên, những cuốn sách, bài viết này chỉ mang tính chất sưu tầm, mô tả rồi giới thiệu lại mà chưa đi sâu vào nghiên cứu trò chơi, tác dụng của trò chơi dân gian, có chăng là những bài báo trên báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Vietnamnet, website http://hanoi.vnn.vn… với nội dung đánh giá, nhận xét sơ lược về giá trị của trò chơi dân gian trong việc giáo dục trẻ Thêm vào nữa, những sưu tầm, nghiên cứu này mới chỉ thực hiện ở vùng nông thôn – nơi mà những yếu tố văn hoá dân gian nói chung và trò chơi dân gian nói riêng còn tồn tại lâu bền và rất phổ biến ma chưa tìm hiểu trò chơi dân gian ở đô thị

Trong số các tác phẩm này, đáng chú ý nhất có bốn cuốn sách là “Những

trò chơi dân gian ở đồng bằng Bắc Bộ trước năm 1954” của Nguyễn Quang

Khải, “Những trò chơi dân gian ở nông thôn” của Nguyễn Anh Động, “Tết cổ

truyền của người Việt” của Lê Trung Vũ, “Văn hóa dân gian Những thành tố”

của Lê Ngọc Canh

Trong cuốn “Những trò chơi của trẻ em nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trước

1954” của Nguyễn Quang Khải, tác giả có đưa ra định nghĩa hoạt động vui

chơi của trẻ em “là những hoạt động trí tuệ hay cơ bắp trên tinh thần tự

nguyện và không vụ lợi của trẻ em nhằm đem lại sự vui vẻ, sảng khoái của tinh thần” 1 Đồng thời, ông so sánh và thấy rằng hoạt động vui chơi của trẻ em có

nhiều điểm khác với trò chơi của người lớn “Nếu ở người lớn phần nhiều các

trò chơi chỉ được tổ chức trong những dịp lễ hội (đu, chọi trâu, chọi gà, đánh vật, leo cầu kiều, bắt vịt, bơi chải…) thì trẻ em nào cũng có thể tổ chức cuộc chơi và có thể chơi vào bất kỳ lúc nào trong ngày (nếu nắng quá hoặc trời mưa không tổ chức cuộc chơi ngoài sân được thì tổ chức những cuộc chơi ở trong nhà; nếu không tổ chức cuộc chơi ban ngày được thì tổ chức những cuộc chơi

1

Nguyễn Quang Khải (1999), Những trò chơi của trẻ em nông thôn đồng bằng Bắc Bộ

trước năm 1954, NXB Văn hóa Dân tộc, HN, tr.10

Trang 9

“nhiều trò chơi, có đi liền với lại đồng dao thì ở những cuộc chơi của người lớn không có chuyện đó”4 Ở người lớn, “hầu hết các trò chơi chỉ đàn ông tham gia, còn trẻ em, đa số các trò chơi trai gái đều cùng nhau chơi được”5 Ở người

lớn”, đồ chơi thường cầu kì, đắt tiền (quân cờ bằng sừng, gỗ…) còn đồ chơi của

trẻ thì rất đơn giản, dễ kiếm”6

Trong cuốn sách này, tác giả còn khái quát nên những điều kiện để có được

một cuộc vui chơi của trẻ em Một là “phải có thủ lĩnh cuộc chơi: thủ lĩnh cuộc

chơi là người khởi xướng ra cuộc chơi Thủ lĩnh cuộc chơi không do bầu, cũng không do cử mà thường người đó tự đứng ra tập hợp bạn bè rồi tổ chức cuộc

chơi Hai là phải có địa điểm chơi: mảng sân (sân gạch hoặc sân đất), vườn cây, bãi đất, bãi cỏ, khúc sông, mặt nước ao hồ, gốc cây cổ thụ, bụi tre… Ba là phải

có thời gian Thời gian này thường là khi đi chăn trâu, những buổi trưa, buổi tối

sáng trăng, những lúc đi mót khoai, mót thóc, trông em, trông nhà, đi tắm, trước

khi đi ngủ… Bốn là, ở nhiều trò chơi cần phải có đồ chơi hoặc những câu hát

đồng dao đi kèm Đồ chơi thường rất dễ kiếm: mảnh ngói vỡ, mảnh bát, hạt

nhãn, đất sét, cành tre, củ khoai, tờ giấy, tàu lá chuối… Năm là phải có người

chơi Người chơi càng đông càng tốt Nếu cuộc chơi bị giới hạn với một số

người nhất định thì những người khác ngồi chần rìa làm nhiệm vụ cổ vũ, động viên những người đang chơi Người tham gia cuộc chơi không phân biệt trai gái, lớn bé (tất nhiên thể lực, tuổi tác không chênh lệch quá)

Trang 10

Khi bàn về trò chơi của trẻ em thì Nguyễn Quang Khải đưa ra định nghĩa

rằng nó “là một loạt hoạt động vui chơi của trẻ em, diễn ra trong một khoảng thời

gian, trên một khoảng không gian nhất định, có luật chơi, có tính chất diễn xướng, sáng tạo và thi tài nhằm mang lại sự sảng khoái về tinh thần” 7 Như vậy là “khái

niệm hoạt động vui chơi có ngoại diên rộng, bao hàm trong đó khái niệm trò

chơi”8 Ông còn chia trò chơi của trẻ em nông thôn đồng bằng Bắc Bộ ra làm hai

loại: “Những trò chơi có diễn xướng đi kèm với hát đồng dao và những trò chơi có

hát đồng dao nhưng không đi kèm với diễn xướng”; và “Những trò chơi có tính chất thi tài”9

Cuốn sách thứ hai là “Tết cổ truyền của người Việt” của tác giả Lê Trung Vũ

Tác phẩm này nghiên cứu vấn đề phong tục tập quán ngày Tết của dân tộc ta từ trước tới nay Tết là một dịp vui chơi hiếm có trong năm nên khi nói về Tết cổ truyền thì sẽ phải nói về những hoạt động vui chơi trong những ngày này Tác phẩm có bốn chương thì riêng chương IV được dành trọn để nói về các trò chơi dân gian trong ngày Tết và các ngày hội xuân của các dân tộc

Trong chương IV này, tác giả đã có những đóng góp quý báu về mặt lí luận

nghiên cứu trò chơi dân gian Ngay đầu chương, tác giả đã khẳng định: “Vui chơi

là một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống con người Bởi vì vui chơi là giải trí, cân bằng lại sức lực và tâm lí sau thời gian làm việc mệt nhọc để sinh tồn”10 Tác giả

cho rằng: “Thủa ban đầu, trò chơi thường là sự mô phỏng lại những hoạt động

hàng ngày của con người như việc đi săn, việc lao động trên đồng ruộng, trên sông nước Ngày nay, nếu tìm hiểu kĩ những trò chơi trẻ em, ta còn có thể thấy được nhiều nét ngây thơ ngộ nghĩnh của ban thân loài người thủa sơ khai Dần dần, trong quá trình sáng tác, những trò ấy được cách điệu lên trở thành những trò chơi đầy hứng thú truyền nối hết thế hệ này sang thế hệ khác”11

Nói về tác dụng của trò chơi dân gian, tác giả nói: “Ngoài nhu cầu giải toả

tâm lí sau thời gian làm việc mệt nhọc, trò chơi còn giúp con người trong cộng đồng hòa nhập với nhau, hiểu biết nhau hơn và tạo nên sự đoàn kết trong mục

Trang 11

đích chung vì sự tồn tại của họ”12 Qua trò chơi, nhất là những trò chơi tập thể thì

con người được “rèn luyện ý thức tổ chức kỉ luật, ý chí thống nhất và tập trung

cao độ về sức mạnh, ví như kéo co, hất phết…Mỗi thành viên tham gia đều ý thức được rằng nếu không chấp hành một cách nghiêm túc kỉ luật, không có sự cố gắng đồng thời và chính xác của cá nhân mình cùng tập thể sẽ không có thắng lợi của

cả đội Từ đó tạo cho cá nhân một ý thức chung với cộng đồng ở bất cứ một công việc nào trong cuộc sống hàng ngày”13 Bên cạnh việc rèn luyện tính cộng đồng,

đoàn kết, kỉ luật của trò chơi tập thể thì trò chơi cá nhân lại “là dịp rèn luyện sự

kiên trì, thông minh khéo léo của người chơi, đồng thời cũng tạo nên tinh thần độc lập trong công việc của mỗi cá nhân, từ đó phát huy được sáng tạo trong công việc”14 Chơi cũng là dịp để con người “hoà đồng với tự nhiên bao quanh mình,

làm cho họ biết trân trọng và yêu mến nó hơn Từ đó giữ gìn và bảo vệ nó để phục

vụ chính cuộc sống của con người”15

Trong chương này, tác giả còn nói về nội dung, ý nghĩa của trò chơi dân gian Tác giả cho rằng có rất nhiều trò chơi thuần tuý chứa đựng yếu tố tín ngưỡng (và phần nào đó ma thuật) như trong trò múa mo ở Sơn Đồng (Hoài Đức, Hà Tây), trò

cướp kén ở Dị Nậu (Tam Nông, Phú Thọ) v.v…“Đó là những trò chơi mang ước

vọng của cư dân nông nghiệp (có nội dung là tín ngưỡng phồn thực) về một cuộc sống sung túc đầy đủ, con đàn cháu đống, lúa đầy bồ, ngô đầy nhà, gia cầm, gia súc đầy sân, đầy chuồng Người ta chơi để cầu nguyện, để khát khao” 16 Qua các

trò chơi này, người nghiên cứu “có thể tìm hiểu được quá trình phát triển văn hoá

của những cộng đồng người đã sống trên mảnh đất này, góp phần tích cực trong việc tìm hiểu nguồn gốc dân tộc, những phong tục tập quán của nhan dân”17 Mặt khác, lại có rất nhiều trò chơi ghi nhận những sự kiện, nhân vật hay một giai đoạn lịch sử hào hùng của tộc người nào đó, như các trò đấu vật ở các lò vật nổi tiếng vùng Trung du và đồng bằng Bắc Bộ của người Việt, những trò gắn liền với anh hùng một thời như Hất Phết Hiền Quan (Tam Nông, Phú Thọ), bơi chải Yết Kiêu

Trang 12

những thời gian khác không có Trước tiên, người ta chơi là do xuất phát từ nhu

cầu giải trí Xưa kia, điều kiện sống khó khăn cho nên người ta tích tụ cả năm

đe ba ngày Tết được đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần “Nhu cầu giải trí sau

khi được ăn no, ăn ngon khiến người ta muốn được chơi cho xuôi cơm, cho chóng để ăn tiếp cho ngon là một sự thật” 18 Ít ra nếu không chơi thì xem người khác chơi, cổ vũ họ, hồi hộp thay cho họ cũng là một sự hoà đồng đầy hứng thú

Người ta chơi cũng xuất phát từ nhu cầu giao lưu tình cảm giữa bạn bè và

thân bằng cố hữu Ngày Tết, những người đi làm ăn xa về quê gặp gia đình, bạn

bè không chỉ hàn huyên đủ mọi chuyện vui buồn trong suốt một năm bằn bặt tin nhau thì người ta còn gặp nhau nơi xới vật của làng hay bên các bàn cờ tướng hoặc sân chọi gà…

Đôi khi, việc chơi các trò chơi này lại xuất phát từ nhu cầu phô trương của

một cá nhân trước cộng đồng Đặc biệt, với nam thanh nữ tú đây là dịp trổ tài

trước làng xóm, trước những đối tượng của mình, để từ đó cả hai bên ngầm ao ước, kén chọn lan nhau, tìm gặp nhau trong tâm tưởng Có một nhu cầu nữa trong dịp Tết, nhu cầu này có lẽ khiến cho việc tham gia chơi ở thời điểm này

khác với những lúc khác, đó là “chơi lấy may, lấy “khước”19 Các cụ thường

nói vạn sự bắt đầu từ mùa xuân, mùa sinh sôi, nếu sự mở đầu suôn sẻ ắt cả năm

sẽ thuận buồm xuôi gió Chính vì vậy, họ đã tham gia chơi các trò chơi dân gian

Sự thắng hay bại trong các cuộc chơi này thường làm cho người ta liên tưởng đến bước đường sắp tới Nếu thắng nghĩa là đã may mắn và hi vọng vào một năm mới đầy hứa hẹn còn thua thì cũng là để cho người ta cẩn thận hơn Tất nhiên, đó cũng chỉ là vấn đề tâm lí, song đôi khi nó cũng thành động cơ chi phối khá mạnh hoạt động của mọi người Cho nên người ta cố gắng chơi ở nhiều trò

18

Lê Trung Vũ, Sđd, tr.246

19

Lê Trung Vũ, Sđd, tr.248

Trang 13

bi, bịt mắt bắt vịt, bịt mắt bắt dê, bắt vịt dưới ao, chơi đu, đấu vật, leo cột, kéo

co, chọi gà, chơi cờ… của người Việt; chơi giấu tìm, chọi gà, chọi trâu, mã điếng, đánh yên, ném pao, đánh quay của các dân tộc thiểu số

Từ việc nghiên cứu và sưu tầm trò chơi dân gian, Lê Trung Vũ nói rằng

“qua việc nghiên cứu chúng (trò chơi dân gian) có thể tìm hiểu được nhiều mặt như tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tâm lí, lịch sử, văn hóa …”20

Trong tác phẩm “Văn hóa dân gian Những thành tố”, Lê Ngọc Canh cho rằng “Trò chơi là hoạt động của tư duy, hoạt động của sáng tạo nhằm thỏa mãn

nhu cầu giải trí, nhu cầu cân bằng sinh thái của con người Sau những thời gian lao dộng vất vả, con người cần có thời gian nghỉ ngơi thư giãn để tăng thêm sự sảng khoái tinh thần để kích thích cuộc sống, lao động thêm hăng say, yêu đời hơn Chính từ sự đòi hỏi có tính quy luật ấy mà nẩy sinh các loại trò chơi”21

Ông nói thêm “Trò chơi là cụm từ ghép, bởi từ trò và từ chơi Trò tạo ra sự

chơi, trong trò đã hàm chứa ý ngiữa chơi, nội dung chơi Chơi là thực hiện ý nghĩa, nội dung của trò Trò định ra cách chơi, phương pháp chơi, luật lệ chơi Trò là cái có trước, chơi là cái có sau Chơi là hoạt động, cử chỉ, hành động biến trò thành hiện vật Trò chơi cũng có mối quan hệ gần gũi với trò diễn, và trò diễn thì quan trọng là tích diễn, có tích mới dịch lên trò”22

Lê Ngọc Canh cho rằng con người chơi nhằm mục đích: Thư giãn – Cân bằng sinh thái – Chơi thẩm mỹ Từ mục đích này nên đã hình thành các loại trò

chơi sau: “Trò chơi giải trí, trò chơi nghệ thuật (thẩm mĩ), trò chơi hữu hình,

trò chơi vô hình Các trò chơi này kết tụ thành trò chơi nghệ thuật dân gian, là một trong nhưng thành tố của văn hóa dân gian”23

20

Lê Trung Vũ, Sđd, tr.245

21

Lê Ngọc Canh (1999), Văn hóa dân gian Những thành tố, NXB Văn hóa Thông tin,

Trường Cao đẳng văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tr.348

22

Lê Ngọc Canh, Sđd, tr.348

23

Lê Ngọc Canh, Sđd, tr.352-353

Trang 14

Như vậy, đã có một vài tác phẩm viết về trò chơi dân gian nhưng phần nhiều vẫn mang tính chất sưu tầm, giới thiệu những trò chơi dân gian ở nông thôn, vẫn chưa có tác phẩm nào nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu những trò chơi dân gian ở trẻ em đô thị Đây chính là tính mới mẻ của đề tài chúng tôi

3 Cơ sở lí luận

3.1 Thao tác hóa khái niệm

Để thực hiện đề tài nghiên cứu về trò chơi dân gian của trẻ em đô thị này, chúng tôi xác định trong phần cơ sở lí luận phải làm rõ một số thuật ngữ liên quan đến nội dung của đề tài như : trò chơi dân gian là gì? Trong các trò chơi của trẻ em thường gắn với các bài đồng dao, vậy đồng dao là gì? Qua đó, chúng tôi hi vọng sẽ thống nhất một cách hiểu và quan điểm nghiên cứu về đề tài:

- “Hoạt động vui chơi của trẻ em là những hoạt động trí tuệ hay cơ bắp trên

tinh thần tự nguyện và không vụ lợi của trẻ em nhằm đem lại sự vui vẻ, sảng khoái của tinh thần”24

Khi nói hoạt động vui chơi của trẻ em là những hoạt động trí tuệ hay cơ bắp thì được hiểu là hoạt động vui chơi đó sử dụng trí tuệ là chính hay cơ bắp là chính Bởi vì hầu hết các hoạt động vui chơi của trẻ em đều phải sử dụng năng lực hoạt động của cả trí tuệ và cơ bắp Chỉ có điều, ở hoạt động vui chơi này, thì năng lực hoạt động của trí tuệ được huy động nhiều hơn năng lực hoạt động của cơ bắp, còn

ở hoạt động vui chơi khác thì ngược lại

- “Trò chơi dân gian là loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống lâu đời của

nhiều dân tộc Nó là một hình thái sinh hoạt văn hóa ban đầu của trẻ con, sau đó thể hiện thành trò chơi của người lớn, chịu tác động nhất định của ngoại cảnh, và trẻ con bắt chước người lớn, diễn đạt theo tâm lý của trẻ nhỏ

+ Trò chơi dân gian là một bộ phận của văn hoá dân gian, mang tính đặc trưng của các tộc người

+ Khởi đầu của trò chơi dân gian là trò, tức là các hoạt động của con

người có ý thức sau đó kết nối thành trò chơi Như vậy, trò chơi là những hoạt động bày ra để vui chơi giải trí có sự tham gia của nhiều người

24

Nguyễn Quang Khải, Sđd, tr.10

Trang 15

+ Trò chơi dân gian có thể chia làm hai loại: trò chơi dân gian trong không gian lễ hội và trò chơi dân gian dành cho trẻ em Khác với trò chơi dân gian trong không gian lễ hội, trò chơi dân gian dành cho trẻ em được tổ chức thường xuyên hoặc theo mùa; không mang tính tuyển chọn; trẻ em học được bằng cách bắt chước người lớn; chúng mang ý nghĩa giáo dục, vui chơi, giải trí và thường gắn liền với các bài đồng dao”25

- Đồng dao là “những câu hát dân gian có nội dung và hình thức phù hợp

với trẻ em, thường do trẻ em hát lúc vui chơi Đồng dao có thể do người lớn sáng tác, nhưng cũng có nhiều trường hợp do trẻ em tự sáng tác

Xét về phương diện thể loại, đồng dao thuộc lĩnh vực những bài ca dân gian,

có thể xét đặc điểm của đồng dao ở ba mặt: diễn xướng, chức năng sinh hoạt, sự kết hợp với âm nhạc

+ Về phương diện diễn xướng, đồng dao chỉ dành cho trẻ con hát (…)

+Về phương diện sinh hoạt, đồng dao có chức năng gắn với vui chơi và trò chơi (…)

+ Những bài đồng dao có sắc thái âm điệu riêng Đặc điểm của hình thức

âm điệu này là đơn giản, gần với lời nói thường

Nội dung của các bài đồng dao khá phong phú Nó thường cung cấp cho trẻ

em những tri thức thông thường về đời sống (…), có thể mang nội dung phê phán tiêu cực (…), có thể phản ánh niềm mơ ước của con người (…)”26 Chúng ta cũng

“không thể bỏ qua những trường hợp người lớn dựa vào đồng dao để nói về thời cuộc hoặc tuyên truyền cho những vấn đề chính trị Những câu sấm, dự đoán sự thay đổ triều đại, lúc đầu thường lan rộng trong không gian qua lời hát ru của trẻ em”27

25TS.Phan Thị Yến Tuyết, Tập bài giảng Văn hoá dân gian, Lưu hành nội bộ, dùng cho

công tác dạy và học của Bộ môn Nhân học

26 Lê Bá Hân, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Dẫn lại từ bài “Mục từ văn hoá dân gian”, tập bài giảng Văn hoá dâm gian do TS.Phan Thị Yến Tuyết soạn, phục vụ công tác giảng dạy

của Bộ môn Nhân học, lưu hành nội bộ, tr 24-25

27

Lê Bá Hân, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Sđd, tr.25

Trang 16

- “Trò chơi của trẻ em là một loạt hoạt động vui chơi của trẻ em, diễn ra

trong một khoảng thời gian, trên một khoảng không gian nhất định, có luật chơi,

có tính chất diễn xướng, sáng tạo và thi tài nhằm mang lại sảng khoái về tinh thần”28

Như vậy, khái niệm hoạt động vui chơi có ngoại diện rộng, bao hàm trong

đó khái niệm trò chơi

- Khái niệm nhân cách đề cập đến mặt xã hội, giá trị tinh thần của cá nhân

với tư cách là thành viên của một xã hội nhất định, nó nhấn mạnh đến cái chung của con người (tính người) và cái riêng của con người, tức là cá tính

Có thể nêu ra một số khái niệm nhân cách sau:

- Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định” (A.G Kovaliop)29

- Nhân cách là một hệ thống các phẩm chất của cá nhân được quy định bởi

sự gia nhập vào các quan hệ xã hội được định hình trong hoạt động cùng nhau và giao tiếp (A.V.Petropxki và Iarosevski, Từ điển tâm lý học,

1990)30

3.2 Giả thuyết nghiên cứu

Để có thể giải quyết được vấn đề một cách sâu sắc và xác định hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra một số giả thuyết sau:

- Do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh theo bề rộng mà thiếu chiều sâu, sự xâm nhập và lan rộng của các yếu tố mơi mang tính chất hiện đại: internet, game, game online, sách báo, truyện tranh, truyền hình… nên trò chơi dân gian dần dần mất đi chỗ đứng quan trọng của mình trong trẻ em nơi đây

- Tuy nhiên trò chơi dân gian vẫn luôn tồn tại và phát triển trong trẻ em đô thị với điều kiện phải có sự biến đổi để phù hợp hơn với điều kiện, hoàn cảnh mới

28

Nguyễn Quang Khải, Sđd tr.14

29

Dẫn lại từ Khoa Giáo dục học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố

Hồ Chí Minh, Tâm lý học đại cương, Lưu hành nội bộ, tr.134.

30

Dẫn lại từ Bùi Văn Huệ (2005), Tâm lí học tiểu học, Đại học Huế – Trung tâm

Giáo dục từ xa, NXB Giáo dục, HN, tr.41

Trang 17

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu, khảo cứu, sưu tầm trò chơi dân gian trong trẻ em đô thị là một công việc không dễ Do đó, trong đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp của Nhân học nhằm giải quyết vấn đề hiệu quả và tối ưu nhất như sau:

- Phương pháp quan sát tham dự: (Particcipant Observation) yêu cầu người

nghiên cứu phản tham gia vào trong đời sống cộng đồng mà mình nghiên cứu Vì địa bàn nghiên cứu là trường Tiểu học Tân Phú rất gần với nơi nhóm nghiên cứu đang ở và học nên chúng tôi đã thường xuyên đến địa bàn để tham gia vào các buổi sinh hoạt lớp cuối tuần của các lớp 3, 4, 5, quan sát các buổi múa sân trường

và sáng thứ 3 và thứ 5, quan sát các em tự chơi trò chơi dân gian để ghi chép lại; sau đó tham gia chơi cùng và tổ chức cho các em chơi các trò chơi dân gian Trong khi chơi cùng thì chúng tôi luôn chú ý quan sát số lượng, thái độ của các em

- Phương pháp phỏng vấn sâu (In-dept interviewing) (còn gọi là phương pháp

phỏng vấn sâu Dân tộc học): là phương pháp lấy thông tin từ các thành viên trong cộng đồng bằng các cuộc đối thoại có chủ định Trong phương pháp này, chúng tôi

sử dụng các phương pháp nhỏ hơn là chuyện trò không chính thức, phỏng vấn sâu không cơ cấu (không có danh mục câu hỏi soạn sẵn) và phỏng vấn sâu cơ cấu hoá (có danh mục các câu hỏi sẽ hỏi) Tuỳ theo từng vấn đề, từng hoàn cảnh, đối tượng

cụ thể mà nhóm nghiên cứu dùng các phương pháp phỏng vấn sâu thích hợp Để thực hiện phương pháp này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các em học sinh trường Tân Phú Chúng tôi đã phỏng vấn sâu các em học sinh biết nhiều và hay chơi trò chơi dân gian, cũng như các em học sinh biết ít và ít khi tham giam chơi xem có sự khác nhau hay không về nguyên nhân dẫn đến điều đó cũng như thái độ của các em đối với trò chơi dân gian

Trang 18

- Phương pháp sưu tầm, xử lý hiện vật và tư liệu văn hóa dân gian: giúp cho

việc khảo cứu, sưu tầm các trò chơi dân gian ở đô thị thành một hệ thống và khoa học

- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin định lượng: thông qua khảo sát,

thống kê bằng kĩ thuật bảng hỏi Đối tượng khảo sát của đề tài là học sinh lớp 3, 4,

và lớp 5 của trường Tiểu học Tân Phú với tổng số là 409 học sinh Với quyết định ban đầu, chúng tôi tiến hành khảo sát tổng thể nhưng do những khó khăn khách quan và chủ quan, chúng tôi chỉ tiếp cận được 300 em học sinh, bao gồm: lớp 3:

94 em, lớp 4: 78 em, lớp 5: 128 em, với tỉ lệ nam: nữ là 1:1,04 Chính vì vậy, những số liệu khảo sát định lượng chỉ mang tính tương đối Chúng tôi hi vọng trong thời gian sắp tới, chúng tôi cố gắng khảo sát mang tính khoa học cao hơn

- Phương pháp thu thập là xử lý thông tin bằng hình ảnh thông qua các thiết bị

kỹ thuật hỗ trợ Một trong những mục đích mà đề tài hướng đến là sưu tầm các trò chơi dân gian mới cũng như các biến thể của chúng khi phát triển ở thành thị Chính vì vậy, bên cạnh việc mô tả bằng lời nói thì việc ghi lại hình ảnh các em học sinh đang chơi trò chơi dân gian ngay tại trường của các em sẽ là một phần không thể thiếu nhằm tăng thêm tính thuyết phục cũng như sự sinh động của đề tài

Chúng tôi đã cố gắng ghi lại những hình ảnh tiêu biểu của các trò chơi dân gian khi các em học sinh trường Tân Phú chơi

- Phương pháp so sánh đối chiếu: nhằm so sánh trò thời gian chơi, không gian

chơi, dụng cụ chơi, ngôn ngữ trong khi chơi…của trò chơi dân gian ở đô thị với các trò chơi dân gian trong truyền thống cũng như ở nông thôn ngày nay nhằm làm nổi bật lên những đặc điểm riêng của trò chơi dân gian ở đô thị Để có thể thực hiện được tốt phương pháp này, chúng tôi cố gắng tìm đọc các sưu tầm về trò chơi dân gian ở nông thôn trong các tác phẩm của Nguyễn Quang Khải, Nguyễn Anh Đông, Lê Trung Vũ, Lê Ngọc Canh cũng như trên các website: http://ninh-

hoa.com, http://mamnon.com, http://webtretho.com cũng như các nghiên cứu về chúng Sau này, khi có điều kiện, chúng tôi sẽ cố gắng đi khảo sát thực tế trò chơi dân gian ở địa bàn nông thôn, cũng như ở địa bào nội thành để có được sự đối chiếu chi tiết, chính xác hơn

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Vì không thể tiến hành trên một diện

rộng nên chúng tôi chọn trường Tiểu học Tân Phú làm trường hợp tiêu biểu để

Trang 19

nghiên cứu Hi vọng rằng từ những kết quả nghiên cứu, khảo sát ở đây, chúng tôi đưa ra nhận định chung cho toàn thành phố Hồ Chí Minh cũng không quá sai lệch

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chọn và giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài là học sinh lớp 3, 4, 5 trường Tiểu học Tân Phú – quận 9 – Thành phố Hồ Chí Minh Việc lựa chọn đối tượng học sinh tiểu học là chúng tôi xác định lứa tuổi từ 10 – 12 tuổi, lứa tuổi vừa có tâm lý học, vừa

có nhu cầu cần vui chơi giải trí và bước đầu hình thành nhân cách, nhất là tại các vùng quê thì lứa tuổi này rất thích chơi các trò chơi dân gian truyền thống Còn việc xác định địa bàn nghiên cứu là trường Tiểu học Tân Phú – quận 9 – thành phố

Hồ Chí Minh vì hai lí do sau:

- Một là: quận 9 là quận đang diễn ra quá trình đô thị hóa, không gian xã hội

đô thị vẫn còn đặc điểm nửa nông thôn, nửa thành thị Vì vậy, cho đến hiện nay, Quận 9 vẫn được xem là quận ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh

- Hai là: Tập thể nhóm nghiên cứu là sinh viên năm thứ II, đang học tập tại cơ

sở Linh Trung - Thủ Đức nên việc chọn địa điểm nghiên cứu tại quận 9 là phù hợp với điều kiện học tập và nghiên cứu của nhóm tác giả

6 Đóng góp mới của đề tài

Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã đưa ra được một số đóng góp mới Một trong số những đóng góp quan trọng nhất của đề tài chính là đã sưu tầm được nhiều trò chơi dân gian mới của trẻ em ở đô thị và những biến thể của chúng khi những trò chơi này tồn tại ở môi trường này, cũng như đã phân tích được những đặc trưng của chúng Bên cạnh đó, chúng tôi đã chỉ ra được thực trạng hoạt động vui chơi của học sinh tiểu học hiện nay Trên cơ sở của thực trạng và những trò chơi dân gian sưu tầm được, đề tài đã lập ra được một giải pháp để bảo tồn trò chơi dân gian nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung

7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

Về ý nghĩa lí luận, đề tài của chúng tôi là một nguồn tư liệu của việc nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian; góp phần tìm hiểu những biến đổi của văn hóa dân

Trang 20

em tình yêu, lòng tự hào, tinh thần trách nhiệm đối với quên hương, đất nước Đề tài này vạch ra một cái nhìn đúng đắn cho gia đình và nhà trường, xã hội về tác dụng giáo dục của trò chơi dân gian trong việc tăng cường thể chất và phát triển toàn diện nhân cách mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc cho trẻ em Không những vậy, nó sẽ là cơ sở giúp các cơ quan giáo dục, cơ quan văn hóa có những chính sách đúng đắn để bảo tồn, phát triển các trò chơi dân gian này và có biện pháp giáo dục nhân cách một cách toàn diện bằng văn hóa truyền thống cho các em

8 Nội dung của đề tài

Đề tài được chia làm bốn chương với các nội dung đi từ tổng quan về phường Tân Phú, về trường Tiểu học Tân Phú đến việc đi vào nghiên cứu trò chơi dân gian

ở đô thị cũng những các hoạt động vui chơi, giải trí của học sinh ở đô thị; và cuối cùng là những kiến nghị của chúng tôi Bao gồm:

Chương 1: Tổng quan về trường Tiểu học Tân Phú, quận 9, thành phố Hồ

Chí Minh Trong chương này, trước tiên chúng tôi giới thiệu sơ lược về địa giới, dân cư, cơ sở hạ tầng, kinh tế, đời sống văn hoá của địa phường Tân Phú để chỉ ra rằng đây là một phường đang trong quá trình đô thị hoá rất mạnh Tiếp theo,

Chúng tôi khát quát về trường Tiểu học Tân Phú, cụ thể là quá trình lịch sử hình thành và phát triển, về cơ sở vật chất của nhà trường, về đội ngũ giáo viên, công nhân viên cũng như học sinh của nhà trường; chương trình giảng dạy cũng như các chương trình hoạt động của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các chương trìn ngoại khóa

Chương 2: Tìm hiểu thực trạng trò chơi dân gian của học sinh trường Tiểu

học Tân Phú Trong chương này, chúng tôi mô tả lại hiện trạng các hoạt động vui chơi của học sinh trường Tiểu học Tân Phú hiện nay Qua việc tìm hiểu các hoạt động vui chơi của học sinh cũng như cũng như bằng công tác sưu tầm, cuối cùng,

Trang 21

chúng tôi trình bày chi tiết không gian, thời gian, số lượng, dụng cụ và cách chơi của các trò chơi dân gian mà chúng tôi sưu tầm được ở trường Tân Phú, kết hợp với việc phân loại chúng

Chương 3: Đặc điểm và vai trò của trò chơi dân gian trẻ em Trước tiên,

chúng tôi xác định các đặc điểm của trò chơi dân gian của trẻ em nói chung Trên

cơ sở đặc điểm chung đó, kết hợp với sự so sánh, đối chiếu với trò chơi dân gian trong truyền thống và ở nông thôn ngày nay, chúng tôi phân tích các đặc điểm riêng của trò chơi dân gian của trẻ em đô thị Tiếp theo, chúng tôi tìm hiểu vai trò của trò chơi dân gian đối với việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em

Chương IV: Chương trình giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em bằng văn hóa

truyền thống Chương này chính là phần chúng tôi đưa ra kiến nghị để tham mưu cho các cơ quan văn hoá, cơ quan giáo dục để từ đó có biện pháp giáo dục toàn diện nhân cách của trẻ em Đó chính là việc chúng tôi phác thảo nên “Chương

trình giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em bằng văn hóa truyền thống”

Trang 22

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN PHÚ - QUẬN 9 -

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.1 Giới thiệu sơ lược về phường Tân Phú - quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh

1.1.1 Địa giới

Ngày 1- 4-1997, cùng với việc tách huyện Thủ Đức ra làm ba quận thì xã Tân Phú cũng được tách ra làm hai phần: một là phường Linh Trung - quận Thủ Đức, hai là phường Tân Phú thuộc quận 9 ngày nay

Vị trí địa lý của phường như sau:

- Phía Tây Bắc được bao bọc bởi xa lộ Hà Nội, phía bên kia xa lộ là

phường Linh Trung – Thủ Đức

- Phía Bắc giáp phường Long Thạnh Mỹ, ngăn cách bởi đường Hoàng Hữu Nam

- Phía Nam giáp phường Long Thạnh Mỹ, ngăn cách bởi đường Lê Văn Việt

- Phía Nam và phía Tây Nam giáp phường Tăng Nhơn Phú, phường Hiệp Phú - quận 9

Trang 23

Bản đồ hiện trạng phường Tân Phú

Ghi chú: Phần đất trong vạch đỏ là khu du lịch Suối Tiên hiện tại và trong quy

hoạch mở rộng

Phường có diện tích tự nhiên là 445,11 ha, bao gồm 4 ấp: ấp Tân Nhơn: 71

ha, ấp Cây Dầu:140 ha, ấp Cầu Xây: 161 ha và ấp Gò Cát: 73 ha - hiện nay đã được giải tỏa hoàn toàn để xây dựng Khu Công nghệ cao; và khu du lịch Suối Tiên

Hiện tại, ở phường Tân Phú có 4 dự án xây dựng cần giải phóng mặt bằng

để lấy đất là Dự án vòng xoay xuyên A, đường vành đai dọc theo Khu Công nghệ cao và Suối Tiên mở rộng, chiếm gần 50% diện tích của phường, dự án mở rộng trường Trung học kĩ thuật Nông nghiệp Chính vì vậy, các khu dân cư

trong phường bị chia tách và ngày càng bị thu hẹp lại

1.1.2 Dân cư

Tính đến cuối năm 2006 thì phường có 17.372 nhân khẩu (2.886 hộ)

Trong đó nhân khẩu thường trú KT1 là 8.296 người; tạm trú có hộ khẩu thành

Trang 24

phố KT2: 705 người tạm trú có hộ khẩu ở địa phương khác KT3: 3.565 người; người ở trọ, ở trong thời gian ngắn KT4 là 5.171 người Địa bàn phường được chia ra làm 3 khu dân cư tương ứng với 3 ấp với 45 tổ nhân dân

Như vậy số lượng người tạm trú mà đặc biệt là từ địa phương khác đến chiếm quá nửa dân cư hiện nay của phường ( 53%) Trong những người nhập cư này thì có đến 60% là người miền Tây, còn lại là người miền Bắc, miền Trung

1.1.3 Về cơ sở vật chất

Tân Phú là một phường đang trên đường đô thị hóa nhưng cơ sở hạ tầng còn thiếu, hệ thống đường sá vẫn còn là đường sỏi, đất, nắng bụi mưa lầy; mạng lưới điện nước chưa phủ khắp, còn một ấp nghèo Có một số vùng trũng, sâu thường bị ngập úng khi mùa mưa đến Đặc biệt do quy hoạch nên quỹ đất dự trữ địa phương không còn nên gặp nhiều khó khăn cho việc xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng Hiện tại, phường có một trạm Y tế xã; có 6 trường học: Trường Trung học Kinh tế Nông nghiệp, Phân viện Thanh Thiếu niên Miền Nam, Trường Trung học cơ sở Tân Phú, Trường Tiểu học Tân Phú, hai trường mầm non

1.1.4 Về kinh tế

Trước đây, ngành nghề chính của nhân dân trong địa phương là sản xuất nông nghiệp, buôn bán nhỏ Những năm gần đây do địa bàn có quá nhiều dự án quy hoạch nên dịên tích đất nông nghiệp bị thu hẹp lại, đặc biệt là diện tích trồng lúa nước không còn nên các hộ phải chuyển đổi ngành nghề qua buôn bán nhỏ và lao động phổ thông Vì vậy, còn nhiều người vẫn bỡ ngỡ trong bước chuyển hoá này

1.1.5 Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội

Ở phường Tân Phú, nhân dân chủ yếu theo hai tôn giáo lớn là: Thiên Chúa giáo và Phật giáo; một số rất ít theo đạo Tin Lành và Đạo Hồi (dân nhập cư từ miền Tây lên) Giữa hai tôn giáo này thì đa số nhân dân theo đạo Phật, còn đạo Thiên chúa chỉ có dân Bắc nhập cư trước năm 1954 ở giáo xứ Minh Đức - ấp Cây Dầu theo

Hiện tại, ở phường có 6 cơ sở của Phật giáo: chùa Kiều Đàm, chùa Bửu Thần, chùa Tân Hòa, tịnh thất Từ An, tịnh thất Ngọc Thiện, tịnh thất Bửu

Trang 25

Vào ngày này, nhân dân các ấp trong xã (sau này là phường) tề tụ đông đủ ở

đình Tuy nhiên, cách đây vài năm, đình Tân Nhơn bị giải tỏa để xây dựng vành đai khu Công nghệ cao Hiện tại, chính quyền địa phương đã có kế hoạch xây dựng lại đình Tân Nhơn

1.2 Giới thiệu sơ lược về trường Tiểu học Tân Phú

1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển

Trường có từ trước giải phóng (khoảng năm 1972 - 1973), khi đó là một cơ

sở của cô nhi viện Quách Thị Trang, do chùa Kiều Đàm quản lý nên gọi là Trường Kiều Đàm Năm 1975, khi miền Nam giải phóng thì chính quyền cách mạng ở địa phương đã tận dụng cơ sở vật chất này để thành lập nên Trường cấp I Tân Nhơn Ngày 5-9-1975, trường cấp I Tân Nhơn khai giảng chào năm học mới đầu tiên Năm 1977, một phân hiệu khác của trường được thành lập dựa trên cơ sở vật chất mượn được là Trung tâm Thí nghiệm và Thực hành của Trường Đại học Nông Lâm Đến năm 1997, khi huyện Thủ Đức tách ra thành quận 9, quận 2 và quận Thủ Đức thì cơ sở này được giao lại cho Phòng giáo dục và Đào tạo quận Thủ Đức giảng dạy, quản lý

Năm 1990, trường cấp I Tân Nhơn và Trường Trung học cơ sở Tân Phú (cách trường cấp I Tân Nhơn 2km, ở đường Bùng Binh 6 xã, ấp Tân Nhơn, xã Tân Phú) sát nhập lại thành lập nên trường Phổ thông cơ sở Tân Nhơn Lúc này, các lớp tiểu học đều học ở cả hai cơ sở, riêng cơ sở gần chùa Kiều Đàm – ấp Cây Dầu này thì toàn bộ là học sinh tiểu học

Do yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học ngày càng phải phải được nâng cao nên trường Phổ thông cơ sở Tân Phú đã tiến hành xây dựng cơ

sở trường lớp mới tại ấp Tân Nhơn Năm 2002, trường lại được tách ra làm hai trường với hai khối lớp là trường Trung học cơ sở Tân Phú – học ở cơ sở trường

Trang 26

lớp mới xây dựng, và trường Tiểu học Tân Phú học ở cả hai cơ sở trường lớp cũ

Từ đó đến nay, trường mang tên là trường Tiểu học Tân Phú

Năm 2004, cơ sở ở Tân Nhơn bị giải tỏa để làm đường vành đai Khu Công Nghệ cao Các lớp học ở cơ sở này được chuyển đến cơ sở ở ấp Cây Dầu như hiện nay

Cơ sở vật chất của trường lúc này rất kém (lớp học tranh tre nứa lá, học 2 ca/ngày) Chính vì vậy, tháng 4 - 2004, nhà trường bắt đầu xây dựng cơ sở vật chất mới Đến năm 2005 thì những lớp học được bàn giao dần, cho đến năm 2006 thì trường khánh thành với cơ sở vật chất rất khang trang Trong khi xây dựng cơ sở vật chất mới này thì nhà trường phải mượn trường lớp của Trường Mầm non Tân Phu, Trường Trung học cơ sở Tân Phú để giảng dạy

Từ năm 1975 đến nay, trường đã có các vị hiệu trưởng sau đây:

1 Nguyễn Tấn Huyên 1975 - 1979 Trường cấp I Tân Nhơn

2 Đặng Văn Thảo 1979 - 1983 Trường cấp I Tân Nhơn

3 Nguyễn Ngọc Đảnh 1983 - 1985 Trường cấp I Tân Nhơn

4 Mai Văn Quyền 1985 - 1988 Trường cấp I Tân Nhơn

5 Trần Văn Hồng 1988 - 1989 Trường cấp I Tân Nhơn

6 Nguyễn Trường Thọ 1989 - 1990 Trường cấp I Tân Nhơn

7 Nguyễn Văn To 1990 - 1997 Trường Phổ thông cơ sở

Tân Nhơn

8 Nguyễn Văn To 1997 - 1999 Trường Phổ thông cơ sở

Tân Phú

9 Nguyễn Thị Tâm 1990 - 1992 Trường Tiểu học Tân Phú

(Nguồn: Ban giám hiệu trường Tiểu học Tân Phú cung cấp)

1.2.2 Cơ sở vật chất

Do mới được xây dựng nên cơ sở trường lớp của trường Tân Phú rất khang trang Trường có ba tòa nhà, một tòa nhà B ở chính giữa và hai tòa nhà A và C ở

Trang 27

hai bên tạo thành hình chữ U Tòa nhà C phía bên phải với tầng trệt và lầu một được dùng làm nhà hiệu bộ mà theo cách gọi của trường là nhà hành chính chính trị Tầng trệt của tòa nhà này có một nhà Y tế, một phòng nha, một phòng Hiệu trưởng, một phòng hành chính và một thư viện; lầu một là hội trường, phòng truyền thống, phòng Đoàn, Đội và phòng giáo viên Hai tòa nhà còn lại được dùng làm phòng học, riêng tầng trệt nhà chính giữa – B có phòng hội đồng và ba phòng học được dùng là nhà ăn bán trú, và lầu hai có hai phòng máy tính, một phòng thể dục và một nhà kho chứa bàn ghế Những phòng còn lại và toàn bộ nhà A (tầng trệt và một lầu) được dùng làm phòng học Tổng số phòng học có lớp học hiện nay của trường là 22 phòng Như vậy, trường còn dư phòng học Số phòng học này tạm thời được dùng làm nhà ăn và nhà kho Trường đang có kế hoạch xây dựng nhà ăn, nhà kho riêng, và khi đó thì tất cả các phòng học đều được sử dụng vào việc học

Ngoài ra, bàn ghế, bảng đen và đặc biệt là hai phòng máy tính của trường rất mới, hiện đại

Phía sau các dãy nhà đều có đường để chạy; có sân rộng để chơi bóng… Khoảng giữa là sân trường bằng bê tông rất rộng Cơ sở vật chất này rất thuận lợi cho việc sinh hoạt khóa với số lượng đông

1.2.3 Về giáo viên, công nhân viên của nhà trường

Trong biên chế của nhà trường hiện tại có ba cô trong ban Giám hiệu nhà trường (Hiệu trưởng: cô Nguyễn Thị Tâm, hai hiệu phó: cô Phan Thị Lan và cô Lê Thị Phấn), 24 giáo viên đứng lớp và 7 cô bảo mẫu – có một cô kiêm luôn vai trò thủ thư trông coi thư viện, hai bảo vệ trong đó có một thầy giáo và hai bảo vệ nam Ngoài ra, trường còn có 5 giáo viên thỉnh giảng (3 giáo viên Anh văn, 2 giáo viên

Vi tính)

Theo quy định của Phòng Giáo dục và Đào tạo, trong một tuần hiệu trưởng dạy một buổi sáng (4 – 5 tiết), hai cô hiệu phó dạy 1,5 buổi Các giáo viên dạy các môn chính cho học sinh của lớp mình chủ nhiệm

Trang 28

1.2.4 Về học sinh

Số lượng học sinh của trường từ năm 2002 đến nay thay đổi không nhiều Dưới đây là bảng số liệu do Ban giám hiệu nhà trường Tiểu học Tân Phú cung cấp:

Bảng 1: Số lượng học sinh, lớp học của trường Tiểu học Tân Phú

(Nguồn: Ban giám hiệu trường Tiểu học Tân Phú cung cấp)

Các em học sinh của trường đa số đều là dân nhập cư, đến từ nhiều vùng nông thôn của nhiều tỉnh như Bắc Ninh, Nam Định, Hưng Yên…ở phía Bắc; Cần Thơ, Trà Vinh, Tây Ninh mà nhiều nhất là ở Sóc Trăng Học sinh trường không chỉ sống ở phường Tân Phú – quận 9 mà còn ở các nơi lân cận như phường Linh Trung – quận Thủ Đức, xã Đông Hòa - huyện Dĩ An - Bình Dương Cha mẹ của các em phần nhiều là dân làm thuê, lao động chân tay, buôn bán nhỏ nên đời sống còn nhiều khó khăn Họ phải đi làm nhiều giờ trong ngày, công việc nặng nhọc nên không có thời gian nhiều để chăm sóc, dạy dỗ con cái mình Ví dụ như em Đặng Lâm, lớp 5.3 có ba mất từ năm ngoái, mẹ bán hàng suốt ngày, chị gái bị bệnh tim31; em Phùng Văn Đức, lớp 3.3 có “bố là công nhân, thường xuyên phảm

làm việc xa nhà, có khi phải đi từ lúc 5 giờ sáng Còn mẹ em thì đi lượm ve chia, ít

có thời gian ở nhà, có hôm đi tới 11 giờ khuya mới về” 32 Em Đỗ Thị Huyền

Trang, lớp 3.3 thì ba mẹ làm ở Trại chăn nuôi gia súc, gia cầm33; em Bùi Trí

Thường, lớp 5.4 có “bố mẹ em thường xuyên ở nhà nhưng rất bận rộn, không

Trang 29

quan tâm, chăm sóc em được” 34 ; em Nguyễn Thị Ngọc Phấn, lớp 5.4 thì gia đình

“chỉ có mẹ và em Em và mẹ ở trọ (…) Mẹ làm nghề bán vé số rất bận rộn” 35 …

Ngoài ra, nhà trường còn tổ chức các lớp học tình thương dạy cho các em

có hoàn cảnh khó khăn vào buổi chiều tối

1.2.5 Chương trình giảng dạy của nhà trường

Cũng giống như các trường tiểu học khác, nội dung giảng dạy của trường bao gồm hai loại môn học, các môn học bắt buộc (Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên –

Xã hội, Đạo đức, Mỹ thuật, Hát nhạc và Thể dục); các môn tự chọn là Anh văn

và Vi tính Hai môn này danh nghĩa là tự chọn nhưng trên thực tế thì lại là bắt buộc nên em nào cũng học cả hai môn Môn Vi tính có chương trình giảng dạy chưa phù hợp với lứa tuổi các em vì dạy những chương trình xử lí văn bản như

Word, Excel

Trường cũng học hai buổi như các trường tiểu học khác Buổi sáng học 5 tiết (40 phút/tiết), từ 7 giờ15 phút – 11 giờ 15 phút Xen vào giữa ba tiết đầu và hai tiết cuối là giờ ra chơi 20 phút Buổi sáng học các môn bắt buộc do giáo viên chủ nhiệm dạy và các giáo viên dạy nhạc, họa, thể dục Buổi chiều học các môn bắt buộc và các môn tự chọn từ 14 giờ – 16 giờ 25 phút, nghỉ giải lao 15 phút khi học xong hai tiết đầu

Mỗi môn học tự chọn mỗi tuần có hai tiết, dành cho học sinh khối lớp 2 trở lên Riêng khối lớp 1 có một lớp được phòng Giáo dục và Đào tạo chọn làm lớp điểm để dạy Anh văn

1.2.6 Chương trình hoạt động của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các hoạt động ngoại khóa

Do chương trình học tập khá nặng, cộng với một số nguyên nhân chủ quan (như giáo viên sau khi dạy nhiều tiết xong thì muốn nghỉ ngơi, có một số giáo viên chủ nhiệm phải đi học nâng cao…) nên các hoạt động của Đội Thiếu niên Tiền phong cũng như các hoạt động ngoại khóa khác là rất ít và bị hòa tan vào một số hoạt động của trường như chào chơ, sinh hoạt lớp cuối tuần…

Trang 30

Mỗi tuần, trường có hai tiết sinh hoạt ngoại khóa: một tiết sinh hoạt toàn trường vào buổi sáng thứ Hai hàng tuần trong buổi chào cờ và một tiết sinh hoạt cuối tuần vào tiết sinh hoạt lớp hôm thứ 6 Trong tiết sinh hoạt này, nửa thời gian đầu, giáo viên chủ nhiệm dùng để nhận xét tình hình học tập, đạo đức, nề nếp, vê sinh của lớp, phổ biến những nhiệm vụ, mục tiêu, công việc của tuần tới; còn khoảng thời gian sau thì giáo viên tổ chức sinh hoạt ngoại khóa như chơi trò chơi, hát, kể chuyện Bên cạnh đó, vào 7 giờ sáng thứ 3, 5 hàng tuần, nhà trường

có chương trình “Múa sân trường” trong vòng 15’ Tất cả học sinh của trường tập trung, mỗi lớp một khoảng đất cố định để đứng đó múa Một em học sinh lên hát những bài nhạc thiếu nhi cho cả trường múa

Ở trường Tân Phú, vào những tháng đầu năm học (9, 10,11), nhà trường

có lập các kế hoạch giáo dục ngoài giờ cho cả năm học và kế hoạch chi tiết cho từng tháng hoặc hai tháng liền, với đầy đủ nội dung, hình thức, biện pháp thực hiện và trách nhiệm của từng người Dưới đây là bản kế hoạch khái quát chung cho cả năm học:

Bảng 2: Bản kế hoạch giáo dục ngoài giờ khái quát chung cho cả năm học 2006-2007 – Trường Tiểu học Tân Phú

Thời gian Chủ điểm

- Chuẩn bị và tổ chức lễ khai giảng

- Lên kế hoạch múa sân trường

- Giáo dục An toàn giao thông (Sinh hoạt ngoài giờ)

Tháng Nhớ ơn thầy - Hội thi chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam

Trang 31

11-2006 cô * Hát kể chuyện, vẽ tranh

* Viết đẹp (Vở sạch chữ đẹp)

* Rèn luyện thân thể (các hội thao cấp quận)

* Hội thi Múa sân trường

- Giáo dục quyền và bổn phận trẻ em (Giáo viên chủ nhiệm)

- Giáo dục vệ sinh răng miệng (Nha học đường)

Tháng

12-2006

Uống nước nhớ nguồn

- Tìm hiểu về đất nước, con người Việt Nam:

* Sưu tầm tranh ảnh đẹp về đất nước và con người Việt Nam - anh bộ đội cụ Hồ

* Tổ chức viếng Đài tưởng niệm anh hùng liệt sĩ của địa phương

- Giáo dục phòng tránh các bệnh học đường (Y tế)

Tháng

1,2-2007

Giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc

- Tìm hiểu truyền thống văn hóa quê hương (Giáo viên chủ nhiệm)

* Tết cổ truyền Việt Nam

* Thăm viếng, chúc Tết nhau

- Giáo dục vệ sinh răng miệng (Nha học đường)

- Thăm quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sư

Tháng

3-2007

Kính yêu

mẹ và cô giáo

Chào mừng ngày 8-3 và 26-3

* Hội thi làm thiệp tặng cô giáo và mẹ

* Tổ chức cắm trại “Tự hào là Đội viên Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh”

* Tổ chức lễ kết nạp đoàn viên mới

- Giáo dục quyền về bổn phận trẻ em (Giáo viên chủ nhiệm)

Tháng

4-2007

Hòa bình và hữu nghị

- Tìm hiểu về thiếu nhi thế giới:

* Sưu tầm tranh ảnh về các hoạt động

Trang 32

của các thiếu nhi thế giới

* Tổ chức văn nghệ với chủ đề về thiếu nhi

Tìm hiểu về thời niên thiếu của Bác Hồ:

* Thi kể chuyện theo sách

- Tổ chức lễ kỉ niệm ngày sinh Bác Hồ 19-5

- Giáo dục An toàn giao thông (Công an giao thông)

(Nguồn: Trường Tiểu học Tân Phú cung cấp)

Có khá nhiều chương trình với hình thức, biện pháp thực hiện hay như: thi văn nghệ chào mừng ngày 20 - 11, diễn hoạt cảnh hưởng ứng tháng An toàn giao thông vào giờ chào cờ toàn trường, mời báo cáo viên đến nói chuyện về anh bộ đội, viếng bia tưởng niệm các liệt sĩ của phường, sinh hoạt đố vui trong lớp,trong giờ chào cờ, thi cảm nhận về các món ăn dân tộc trong ngày Tết; viết bài về ước mơ của mình khi trưởng thành, sưu tầm và trưng bày những hình ảnh

về Bác Hồ và anh bộ đội… Tuy nhiên, trong thời gian qua, nhà trường mới chỉ thực hiện được một số hoạt động như trang trí lớp học, chương trình thi đua bằng hoa điểm tốt, chương trình làm thiệp tặng mẹ và cô chào mừng ngày 8-3, thi nghi thức đội cấp quận, tham gia “Hội trại môi trường” (nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường) do Phòng Giáo dục và Đào tạo quận 9 tổ chức…

Trang 33

CHƯƠNG 2 TÌM HIỂU THỰC TRẠNG TRÒ CHƠI DÂN GIAN CỦA TRẺ EM

ĐÔ THỊ 2.1 Thực trạng các hoạt động vui chơi của học sinh trường Tiểu học Tân Phú

Các hoạt động vui chơi, giải trí của các em học sinh rất phong phú và đa dạng, với nhiều hình thức, diễn ra trong nhiều thời điểm khác nhau Tuy nhiên,

ở đây, chúng tôi gom lại thành hai nội dung chính là những hoạt động vui chơi ở trường lớp và những hoạt động vui chơi khi về nhà Đây là sự phân loại dựa vào không gian và thời gian diễn ra các hoạt động vui chơi giải trí đó

Khi ở trường, ngoài các giờ học, các em học sinh trường Tân Phú thường chơi các trò chơi dân gian ở trên sân trường, trong lớp học và ở hành lang các dãy nhà Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 300 em học sinh về thái độ đối với các trò chơi dân gian thì có đến 84,3% học sinh cảm thấy các trò chơi dân gian là hấp dẫn

Bảng 3: Thái độ của học sinh về các trò chơi dân gian

là rất hấp dẫn Điều này cho thấy rằng học sinh tiểu học rất yêu thích, hào hứng

Trang 34

với việc chơi các trò chơi dân gian Sức lôi cuốn của các trò chơi dân gian đối với trẻ em vẫn được bảo toàn từ xưa đến nay, từ nông thôn đến thành thị

Đồng thời, các em học sinh cũng biết ý nghĩa, tác dụng của các trò chơi đó:

Bảng 4: Số lượng, phần trăm học sinh biết ý nghĩa, tác dụng của

các trò chơi dân gian

Từ việc yêu thích các trò chơi dân gian nên phần lớn các em học sinh có tìm hiểu về chúng:

Bảng 5: Nhu cầu tìm hiểu các trò chơi dân gian của học sinh

Chiếm phần nhiều trong các trò chơi dân gian phổ biến ở trường Tân Phú

là các trò chơi thiên về thể lực và sự khéo léo Đó là các trò nhảy dây, keo, ấp,

keng, đá cầu, nhảy lò cò, banh đũa, kéo co, keng, bắt dí, cướp cờ, vượt qua khó khăn, tả, tạt lon…; tiếp đó đến các trò chơi thiên về diễn xướng như rồng rắn lên mây, quả địa cầu, thiên đường địa ngục, cá sấu lên bờ, đèn xanh đèn đỏ, chim

Trang 35

tìm tổ; sau cùng là trò chơi trí tuệ: ô ăn quan, carô Thực chất, các trò chơi diễn xướng cũng mang tính chất rèn luyện thể lực và sự khéo léo rất lớn Như vậy, có thể xếp chúng là hai tuyến: trò chơi mang tính chất rèn luyện thể lực và sự khéo léo, với trò chơi rèn luyện trí tuệ Các trò chơi rèn luyện trí tuệ bị yếu thế Khi ở trường, các trò chơi mang tính chất hoạt động cơ bắp, rèn luyện thể lực và sự khéo léo thu hút được rất nhiều học sinh chơi 4 trong 5 trò chơi được chơi nhiều nhất là các trò chơi mang tính chất rèn luyện thể lực và sự khéo léo đậm nét: nhảy dây, ấp, keo và bắt dí Chỉ tính 4 trò chơi này thôi đã có 47,0% sự lựa chọn của học sinh Trong khi đó, lúc về nhà thì các em lại chơi nhiều các trò chơi ít hoạt động hơn như nhảy dây, trốn tìm, ô ăn quan, game 4 trò chơi hoạt động được chơi nhiều nhất ở trường thì khi về nhà chỉ còn 24,9% sự lựa chọn của các em

Trang 37

Bảng 7: Các trò chơi mà học sinh thường chơi khi ở nhà,

phân theo giới tính (đơn vị:%)

Trang 38

Bảng 8: Thứ tự xếp hạng các trò chơi theo mức độ thường chơi

của học sinh khi ở trường và về nhà

11 Tạt hình, ô ăn quan Keo, bịt mắt bắt dê

12 Banh đũa, bịt mắt bắt dê Ấp, banh đũa

Trang 39

Bảng 9: Số lượng, phần trăm học sinh yêu thích giờ ngoại khoá ở trường

động vui chơi của học sinh ở trường đều do các em tự tổ chức Các trò chơi dân gian đã diễn ra ở khắp các lớp, ngoài hành lang, trên sân trường… vào giờ ra chơi hay khi tan học

Khi về nhà, lúc rỗi rãi, học sinh thường xem ti vi, chơi game và đọc truyện tranh Những hoạt động vui chơi hiện đại này chiếm phần lớn thời gian vui chơi, giải trí của các em Tuy nhiên, chúng không đồng đều giữa hai giới

Bảng 10: Mối tương quan giữa giới tính với các

hoạt động vui chơi, giải trí ở nhà (đơn vị: %)

Trang 40

Qua khảo sát, chúng tôi thấy các em nam chơi game nhiều hơn hẳn các em

nữ (31,2% nam học sinh chơi game), trong khi đó chỉ có 11,7% nữ học sinh chơi Các game mà học sinh thường chơi là những game đang thịnh hành hiện nay như Audition, MU, Võ lâm truyền kì, Đế chế, Cảnh sát hoàng gia… Các game này phần nhiều mang tính chất bạo lực, hay như game Audition là thi

nhảy múa theo nền nhạc sôi động của người lớn không phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học Các em nam bản tính hiếu động, bạo dạn, mạnh mẽ nên thích chơi

các game này là chuyện dễ hiểu Có em mải chơi game đến nỗi “bị vào lớp

muộn, bị cô giáo phạt”36 Các em nữ chơi game thì thường chơi Audition -

game nhảy múa, thời trang nhẹ nhàng Ngược lại, các em nữ lại xem ti vi và đọc truyện tranh nhiều hơn các em nam Đây là hai cách giải trí nhẹ nhàng nên được các em nữ yêu thích hơn Các em thường xem các chương trình dành cho thiếu nhi như Chuyện nhỏ, phim hoạt hình…

Cần nói thêm về việc chơi game để thấy rằng đây là một loại hình giải trí độc hại Mặc dù nó cũng có một số tác dụng như giải trí, luyện khả năng quan sát, suy nghĩ của các em học sinh nhưng những tác hại mà nó đem lại thì rất nhiều Những tác hại này đã được báo chí nhắc đến rất nhiều trong thời gian qua Trong game, những cảnh chém giết, đấm đá, bom đạn, phục thù… diễn ra

đầy rẫy “Mục tiêu của những trò chơi mà các game thủ được khuyến khích đạt

được là (…) kết bè, kết đảng, rửa hận thù, xưng bá”37 Trong một cuộc toạ đàm

về game online do Bộ Văn hoá – Thông tin tổ chức tháng 10 – 2006, Thanh tra

Bộ này đã có tham luận “Nhận diện trò chơi trực tuyến (game online) và một số

suy nghĩ về công tác quản lý" Trong bản tham luận này, thanh tra Bộ Văn hóa

– Thông tin đã kết luận rằng "Nội dung các trò chơi trực tuyến xa lạ với truyền

thống và bản sắc văn hóa dân tộc, không phải là tinh hoa văn hóa nhân loại, vô

bổ và không đúng định hướng giáo dục nhân cách cho lứa trẻ” "Cái hại lớn nhất là đứa trẻ nghiền chơi game bỏ cả học hành, bỏ ngoài tai lời khuyên của cha mẹ, tìm mọi cách vượt qua sự kiểm soát của phụ huynh để đốt tiền trong

36

Bảng Báo cáo tự liệu số 5

37

Pham Anh Duong – phamanhduong@yahoo.com, “Game online: lợi ít hại nhiều”, Báo

điện tử VietNamNet,http://vietnamnet.vn/bandocviet/2005/10/497871/, đăng ngày 08 –

10 – 2005, ngày tra cứu: 02 - 05 – 2007

Ngày đăng: 16/05/2021, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w