1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát ảnh hưởng của tiếng phú yên trong phát âm tiếng anh của học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu thực nghiệm)

150 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những người Việt học tiếng Anh nói chung và người Phú Yên học tiếng Anh nói riêng, trong phát âm, thường mắc những lỗi tiêu biểu mà nguyên nhân trước tiên là thói quen phát âm đơn âm tiế

Trang 1

-

HỒ THỊ MỸ LINH

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾNG PHÚ YÊN

TRONG PHÁT ÂM TIẾNG ANH CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

HỒ THỊ MỸ LINH

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾNG PHÚ YÊN

TRONG PHÁT ÂM TIẾNG ANH CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN HUỆ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn các Giáo sư và các Giảng viên khoa Văn học và Ngôn ngữ - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP

Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại Khoa

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Huệ, người đã rất tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin được chân thành cảm ơn GS.TS Trần Trí Dõi, PGS.TS Lê Khắc Cường đã giúp tôi trong những ngày đầu hình thành đề tài của luận văn

Cuối cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân yêu trong gia đình, các đồng nghiệp cùng các em học sinh trường trung học phổ thông Trần Quốc Tuấn, những người đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của riêng tôi, các số liệu, kết quả được sử dụng trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 01 năm 2012

Học Viên

Hồ Thị Mỹ Linh

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.3 Phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Những đóng góp của luận văn 6

6 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1: Đối chiếu hệ thống âm vị tiếng Anh và tiếng Phú Yên 7

1.1 Hệ thồng âm vị tiếng Anh 7

1.1.1 Đặc điểm của ngữ âm tiếng Anh 7

1.1.2 Cấu trúc âm tiết tiếng Anh 8

1.1.3 Hệ thống phụ âm tiếng Anh 8

1.1.3.1.Tiêu chí phân loại 8

1.1.3.2.Miêu tả các nét khu biệt của phụ âm tiếng Anh 11

1.1.3.3 Mối tương quan giữa âm và chữ ở các phụ âm 18

1.1.4 Hệ thống nguyên âm tiếng Anh 20

1.1.4.1 Tiêu chí phân loại 20

1.1.4.2 Miêu tả các nét khu biệt của nguyên âm tiếng Anh 21

1.1.4.3 Mối tương quan giữa âm và chữ ở các nguyên âm 24

1.1.5 Trọng âm và ngữ điệu 25

1.2 Âm tiết tiếng Việt và đặc điểm hệ thống ngữ âm tiếng Phú Yên 27

1.2.1 Âm tiết tiếng Việt 27

1.2.1.1 Đặc điểm âm tiết tiếng Việt 27

1.2.1.2 Cấu trúc âm tiết tiếng Việt 28

1.2.1.3 Các loại hình âm tiết tiếng Việt 29

Trang 7

1.2.2.3 Mối quan hệ giữa âm và chữ của hệ thống phụ âm 33

1.2.2.4 Âm đệm 35

1.2.2.5 Hệ thống nguyên âm 36

1.2.2.6 Mối tương quan giữa âm và chữ viết của hệ thống nguyên âm 37 1.2.2.7 Thanh điệu 39

1.3 Những nét tương đồng và khác biệt của hệ thống ngữ âm tiếng Anh và tiếng Phú Yên 39

1.3.1 Sự tương đồng và khác biệt của cấu trúc âm tiết 39

1.3.2 Sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống phụ âm 40

1.3.2.1 Các phụ âm đơn 40

1.3.2.2 Tổ hợp các phụ âm 40

1.3.3 Sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống nguyên âm 40

1.3.3.1 Các nguyên âm đơn 40

1.3.3.2 Các nguyên âm đôi 40

1.3.4 Sự khác biệt trọng âm và ngữ điệu 41

1.3.5 Những điều cần chú ý về sự không tương ứng giữa âm và chữ 41

CHƯƠNG 2: Khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh Phú Yên 44

2.1 Khái niệm giao thoa và lỗi phát âm 44

2.1.1 Khái niệm giao thoa 44

2.1.2 Khái niệm lỗi và nhận dạng lỗi 45

2.2 Phương pháp xác định lỗi phát âm ngữ âm tiếng Anh 47

2.2.1 Xây dựng bảng từ và câu khảo sát lỗi 47

2.2.2 Chọn đối tượng để khảo sát lỗi phát âm 49

2.2.3 Các bước thu thập tư liệu 50

2.2.4 Phân loại và đánh giá các dạng lỗi 51

2.2.4.1 Quan niệm về lỗi phát âm 51

2.2.4.2 Cách xác định lỗi cụ thể 52

Trang 8

2.3.1.1 Phụ âm đơn 53

2.3.1.2 Các cụm phụ âm 60

2.3.2 Các nguyên âm 79

2.3.3 Trọng âm và ngữ điệu 82

CHƯƠNG 3: Các nguyên nhân gây lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh ở Phú Yên và giải pháp khắc phục 92

3.1 Các nguyên nhân gây lỗi 92

3.1.1 Giao thoa ngôn ngữ 92

3.1.2 Các qui tắc ngoại lệ về chữ viết tiếng Anh 96

3.1.3 Từ phía chương trình và sách giáo khoa 97

3.1.4 Phương pháp dạy ngoại ngữ 98

3.1.5 Môi trường học 98

3.1.6 Ý thức về việc rèn luyện phát âm 99

3.1.7 Đặc điểm tâm lý người Việt khi học ngoại ngữ 100

3 2 Giải pháp đề nghị đối với việc khắc phục các lỗi phát âm tiếng Anh 100

3 2.1 Truyền đạt kiến thức ngữ âm cơ bản đồng thời với việc luyện tập phát âm 101

3.2.2 Bài tập luyện phát âm tiếng Anh 103

3.2.3 Tạo một môi trường học ngoại ngữ thuận lợi 114

3.2.4 Thái độ đối với lỗi phát âm 116

3.2.5 Sử dụng phương pháp dạy học mới 118

KẾT LUẬN 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

PHỤ LỤC 129

PHỤ LỤC 1 129

PHỤ LỤC 2 142

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa như một tất yếu đối với mọi quốc gia Đất nước chúng ta cũng đang từng bước mở cửa và hội nhập với thế giới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong bối cảnh chung đó, việc làm chủ một ngoại ngữ, đặc biệt đối với thế hệ trẻ, không chỉ được xem như một nhu cầu tất yếu mà còn là một công cụ, một chìa khóa của mỗi cá nhân để hòa nhập và bắt nhịp chung với xu thế toàn cầu hóa của nhân loại Khi Việt Nam gia nhập WTO thì vai trò ngoại ngữ là cầu nối để giao lưu văn hóa, học hỏi, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ trong nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và các nước trên thế giới càng được nhấn mạnh, đặc biệt là tiếng Anh Tiếng Anh vốn được xem là ngôn ngữ quốc

tế, đã được dạy và học ở Việt Nam một cách rộng rãi từ năm 1975 đến nay

Hiện nay, nhu cầu học tiếng Anh ở nước ta ngày càng phát triển Đối với tất

cả mọi người, khi học tiếng Anh ai cũng muốn mình nghe giỏi, nói tốt Nhưng để nói tốt tiếng Anh thì điều quan trọng nhất là chúng ta phải biết cách phát âm các từ

mà chúng ta sẽ nói Trong quá trình rèn luyện kỹ năng nói tiếng Anh, phát âm đúng

là một trong những việc tập luyện ban đầu nhằm tiến đến việc làm cho người khác hiểu được điều mà chúng ta muốn giao tiếp trực tiếp qua nghe nói

Tuy nhiên, trong học ngoại ngữ, người học luôn sử dụng những thói quen vốn trở thành bản năng của tiếng mẹ đẻ để áp dụng cho ngoại ngữ mà mình học ở tất cả các cấp độ: dùng từ, đặt câu, hiểu câu… và cả trong cách phát âm Sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ cả về mặt cấu trúc nội tại của hệ thống cũng như những khác biệt về văn hóa mang tính dân tộc luôn là rào cản của việc học ngoại ngữ Nguyên nhân này đã tạo ra những lỗi ngoại ngữ ở tất cả các bình diện của ngôn ngữ Những người Việt học tiếng Anh nói chung và người Phú Yên học tiếng Anh nói riêng, trong phát âm, thường mắc những lỗi tiêu biểu mà nguyên nhân trước tiên là thói quen phát âm đơn âm tiết của tiếng Việt, sau đó là sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ trong hệ thống nguyên âm, phụ âm và cách dùng trọng âm, ngữ điệu…

Trang 10

Giáo dục trung học phổ thông hiện nay đã và đang từng bước nâng chất lượng và hiệu quả giáo dục, song hãy còn nhiều bất cập như đã được chỉ ra trên các phương tiện thông tin đại chúng Đặc biệt là môn tiếng Anh, học sinh học tiếng Anh qua nhiều năm (hơn bảy năm) những vẫn không giao tiếp được

Là giáo viên tiếng Anh, trong quá trình giảng dạy chúng tôi nhận thấy rằng các em gặp khó khăn trong giao tiếp bởi vì các em thường phát âm sai, do đó không

đủ tự tin Vì vậy để nâng cao khả năng giao tiếp của học sinh cần chú trọng đến phần ngữ âm trong quá trình dạy tiếng Anh chứ không nên chỉ chú tâm vào ngữ pháp và từ vựng Theo kinh nghiệm giảng dạy của chúng tôi và đồng nghiệp, do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương nên học sinh phổ thông trung học ở Phú Yên đã phát âm tiếng Anh sai rất nhiều, dẫn đến hạn chế khả năng nghe nói của các

em Vì thế, chúng tôi đặt nhiệm vụ khảo sát ảnh hưởng của tiếng Phú Yên (chỉ phương ngữ Phú Yên ) trong phát âm tiếng Anh của học sinh trung học phổ thông nhằm tìm ra những âm nào là khó phát âm, những âm nào mà học sinh ở Phú Yên

có thể phát âm dễ dàng, những lỗi mà học sinh thường phạm phải, để tìm ra phương pháp dạy phát âm tiếng Anh tối ưu cho học sinh, giúp các em tự tin hơn trong việc giao tiếp tiếng Anh

2 Lịch sử vấn đề

Ngữ âm học là bộ môn nghiên cứu mặt âm thanh của ngôn ngữ Ngữ âm học nghiên cứu toàn bộ phương tiện ngữ âm trong tất cả những hình thái và chức năng của nó và mối liên hệ giữa hình thức âm thanh và chữ viết của ngôn ngữ Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về ngữ âm học nói chung và phát âm nói riêng, đặc biệt có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu đến ảnh hưởng của cách phát âm tiếng mẹ đẻ (native-language L1) đến cách phát âm ngôn ngữ thứ hai (L2) của các học giả như Long (1990), Flege & Frieda (1997)

Về những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát âm của ngôn ngữ thứ hai, các nhà khoa học đã chỉ ra các nhân tố như tuổi tác (age factors), năng khiếu (aptitude), môi trường học (learning environment), và đặc biệt là phát âm của L1 Weireich (1953)

là người đầu tiên cho rằng có sự ảnh hưởng qua lại giữa hai ngôn ngữ của người sử

Trang 11

dụng song ngữ; trong trạng thái song ngữ, ngôn ngữ này ảnh hưởng đến ngôn ngữ kia là điều không tránh khỏi

Việc đối chiếu phát âm tiếng Anh của học viên Việt Nam so với người bản ngữ cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, của các giáo viên và sinh viên chuyên ngành tiếng Anh nhằm tìm ra lỗi phát âm của học viên người Viêt

Nam Có thể kể đến các tác giả như Santry với “The way South Vietnamese

pronounce English” (1992); Trần Thị Mai Đào với “Lỗi phát âm phụ âm tiếng Anh của học sinh Việt Nam” (2003); Dương Thị Ngọc Thủy với "Lỗi phát âm trọng âm

từ tiếng Anh của học sinh Việt Nam" (2004) Trong bài khảo sát gần đây của Võ Thị

Thảo Ly và Nguyễn Thị An với đề tài “Khảo sát việc thể hiện phụ âm tắc tiếng Anh

của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa” (2008), hai tác giả đã đối

chiếu cách phát âm nhóm âm tắc tại các vị trí khác nhau trong cấu trúc âm tiết và đã thống kê các lỗi thường gặp của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa khi phát âm nhóm âm này; tuy nhiên việc phân tích, chứng minh chủ yếu dựa trên việc so sánh cách phát âm của sinh viên và người bản ngữ Cuối năm 2009, Phùng

Thanh Loan thực hiện tiểu luận với đề tài “Đối chiếu cách phát âm nhóm phụ âm

tắc vô thanh tại các vị trí khác nhau trong cấu trúc âm tiết tiếng Anh của sinh viên Việt Nam so với cách phát âm của người bản ngữ” Phương pháp nghiên cứu chủ

yếu của tác giả là đối chiếu dựa trên việc phân tích sóng âm, và tác giả đã đưa ra những bằng chứng trực quan về lỗi phát âm của sinh viên Việt Nam về nhóm phụ

âm tắc vô thanh cũng như đưa ra những nguyên nhân và giải pháp để khắc phục những lỗi phát âm này

Mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của tiếng Việt cũng như của tiếng địa phương đối với việc phát âm tiếng Anh nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến ảnh hưởng của phát âm tiếng Phú Yên đến phát âm tiếng Anh của đối tượng là học sinh trung học phổ thông Do đó chúng tôi chọn đế tài “Khảo sát ảnh hưởng của tiếng Phú Yên trong phát âm tiếng Anh của học sinh trung học phổ thông (Nghiên cứu thực nghiệm)” làm đề tài cho luận văn Cao học của mình Việc lựa chọn đề tài này xuất phát từ sự khác biệt rất

Trang 12

lớn giữa hệ thống ngữ âm tiếng Anh với hệ thống ngữ âm tiếng Việt nói chung và tiếng địa phương Phú Yên nói riêng Đề tài này cũng là tâm huyết của chúng tôi vốn

là những người dạy tiếng Anh ở bậc trung học phổ thông ở Phú Yên muốn học sinh thực hiện tốt kĩ năng nói và nghe bên cạnh các kĩ năng khác Chúng tôi hy vọng những kết quả có được của luận văn sẽ góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu so sánh đối chiếu và giúp khắc phục lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh Phú Yên

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng mà chúng tôi quan tâm là cách phát âm hệ thống âm vị tiếng Anh

và những lỗi phát âm điển hình về phụ âm, nguyên âm, trọng âm và ngữ điệu của các học sinh Phú Yên học tiếng Anh mà cụ thể là học sinh của trường THPT (trung học phổ thông) Trần Quốc Tuấn, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên Các học sinh này

đã học tiếng Anh (7 năm) từ lớp 6 đến lớp 12, giáo trình là sách giáo khoa tiếng Anh của bộ Giáo dục và Đào Tạo

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác định các dạng lỗi phát âm phụ âm, nguyên âm, trọng âm và ngữ điệu

mà học sinh Phú Yên hay mắc phải trên cơ sở khảo sát cách phát âm phụ âm, nguyên âm, trọng âm và ngữ điệu của học sinh trường THPT Trần Quốc Tuấn, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên

Giải thích các nguyên nhân gây lỗi trên cơ sở so sánh đối chiếu cấu trúc âm tiết và hệ thống ngữ âm giữa tiếng Anh và tiếng Phú Yên; các nguyên nhân bên ngoài gây ra lỗi phát âm, ví dụ: giáo trình dạy tiếng, môi trường dạy tiếng, từ phía học sinh…

Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục các lỗi phát âm phụ

âm, nguyên âm, trọng âm và ngữ điệu của học sinh Phú Yên học tiếng Anh Các giải pháp này có tính đến đặc điểm khác biệt mang tính loại hình giữa hai ngôn ngữ; đặc điểm người học; môi trường dạy ngoại ngữ… Hệ thống các bài tập dạy phát âm các phụ âm, nguyên âm, trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh được xem là biện pháp cụ

Trang 13

thể nhằm mục đích giúp học sinh trong một thời gian ngắn phát âm lưu loát và chuẩn xác

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn này giới hạn phạm vi nghiên cứu ở cách phát âm và các lỗi phát âm

về phụ âm, nguyên âm, trọng âm và ngữ điệu của học sinh THPT ở Phú Yên khi học tiếng Anh Học sinh THPT ở Phú Yên có cùng một đặc điểm phát âm chung đó

là tiếng Phú Yên thuộc vùng phương ngữ Nam Trung bộ Đây được xem là cơ sở chung giúp cho việc so sánh, đối chiếu và giải thích các lỗi phát âm phụ âm, nguyên

âm, trọng âm và ngữ điệu của các học sinh Phú Yên khi học tiếng Anh

Trong khuôn khổ bản luận văn này chúng tôi chỉ nghiên cứu phụ âm, nguyên

âm, trọng âm trong những từ tách rời (riêng lẻ) không nằm trong ngữ lưu và một vài ngữ điệu cơ bản của những câu đơn giản trong sách giáo khoa tiếng Anh 12 Chúng tôi không thể giải quyết tất cả các từ Anh ngữ mà chỉ tập trung vào những từ có tần

số xuất hiện cao

Các lỗi phát âm của học sinh được chúng tôi thu thập chủ yếu trong môi trường dạy và học tiếng Anh tại lớp trong phạm vi nhà trường

4 Phương pháp nghiên cứu

Nội dung của luận văn này là phân tích lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh Phú Yên Do vậy, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp phân tích ngữ âm học thực nghiệm Kết quả của việc điều tra lỗi sẽ được trình bày bằng phương pháp phân loại, thống kê và miêu tả

Việc điều tra lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh Phú Yên tuân thủ theo các bước sau:

- Xây dựng bảng từ và câu khảo sát (test)

- Lựa chọn đối tượng điều tra (các cộng tác viên là học sinh - CTV)

- Thu âm cách phát âm tiếng Anh của các học sinh được chọn để khảo sát

- Thu âm cách phát âm tiếng Anh của người bản ngữ (dùng phần mềm đọc tiếng Anh SPEAKING NOTEPAD)

- Xử lí thông tin và đối chiếu phát âm tiếng Anh của học sinh Phú Yên với

Trang 14

phát âm tiếng Anh của người bản ngữ dựa trên phần mềm phân tích ngữ

âm Praat; cụ thể là phân tích sóng âm (waveform), âm phổ (spectrogram), cường độ (intensity), ngữ điệu (pitch)

- Xác định lỗi phát âm

5 Những đóng góp của luận văn

Đóng góp chính của luận văn là thực trạng lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh Phú Yên lần đầu tiên được thu thập và nghiên cứu thực nghiệm một cách có hệ thống

Từ kết quả thu được, luận văn phân tích những nguyên nhân bên trong và bên ngoài gây ra lỗi phát âm để từ đó đưa ra những biện pháp thiết thực giúp học sinh Phú Yên nói riêng và Việt Nam nói chung phát âm đúng tiếng Anh

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn này ngoài phần Mở đầu và Kết luận, gồm 03 chương

Chương 1: Đối chiếu hệ thống âm vị tiếng Anh và tiếng Phú Yên

Chúng tôi tiến hành miêu tả hệ thống ngữ âm tiếng Anh, tiếng Phú Yên để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt của hai hệ thống ngữ âm tiếng Anh và

tiếng Phú Yên

Chương 2: Khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh ở Phú Yên

Chúng tôi khảo sát lỗi phát âm phụ âm, nguyên âm, trọng âm và ngữ điệu của học sinh trung học phổ thông ở Phú Yên Đầu tiên chúng tôi ghi âm phát âm của 10 em học sinh lớp 12 (được lựa chọn ngẫu nhiên), dùng phần mềm phân tích ngữ âm Praat để tìm lỗi phát âm của các em so với người bản ngữ

Chương 3: Những nguyên nhân gây lỗi phát âm tiếng Anh và các giải pháp khắc phục

Từ những lỗi phát âm của học sinh (trình bày trong Chương 2), chúng tôi đi tìm những nguyên nhân gây lỗi phát âm tiếng Anh Cuối cùng chúng tôi đưa ra những bài luyện tập tham khảo, những giải pháp nhằm hạn chế lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh THPT ở Phú Yên nhằm giúp các em tự tin trong giao tiếp tiếng Anh

Trang 15

CHƯƠNG 1 ĐỐI CHIẾU HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG ANH

VÀ TIẾNG PHÚ YÊN

1.1 Hệ thống âm vị tiếng Anh

1.1.1 Đặc điểm của ngữ âm tiếng Anh

Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, đa tiết. Trong tiếng Anh, ranh giới hình vị

không trùng với ranh giới âm tiết, một hình vị có thể là một âm tiết hay nhiều âm tiết, với cường độ nhấn giọng khác nhau trên các âm tiết của cùng một từ (trọng âm) Có hiện tượng biến đổi của nguyên âm và phụ âm ở trong hình vị, sự biến đổi này mang ý nghĩa ngữ pháp và được gọi là "biến tố bên trong”

Tiếng Anh không có quan hệ một một giữa hệ thống chữ viết và cách phát

âm, nghĩa là phát âm không căn cứ vào chính tả Tiếng Anh có 26 chữ cái nhưng có

44 âm tố lời nói (speech sounds) Số lượng âm tố trong tiếng Anh thay đổi theo phương ngữ và phụ thuộc vào cách tính của các nhà nghiên cứu

Để miêu tả những âm thanh cơ bản của ngôn ngữ những nhà ngôn ngữ học

sử dụng bộ kí hiệu phiên âm được gọi là Mẫu tự phiên âm quốc tế (International Phonetic Alphabet (IPA)) Biểu đồ dưới đây là tất cả những mẫu tự phiên âm quốc

tế được sử dụng miêu tả cho những âm thanh trong ngôn ngữ tiếng Anh gồm có 24 phụ âm và 20 nguyên âm Đây là bộ kí hiệu phiên âm chuẩn của tiếng Anh (RP: Received Pronunciation)

Trang 16

1.1.2 Cấu trúc âm tiết

Giống như các ngôn ngữ khác, trong tiếng Anh, vị trí hạt nhân hay đỉnh của

âm tiết là một nguyên âm (đơn hay đôi) Kết hợp với hạt nhân là các phụ âm hay nhóm phụ âm đứng ở vị trí trước (onset) hay sau (coda) để tạo thành âm tiết

Ở vị trí trước hạt nhân âm tiết có thể tồn tại một phụ âm, tổ hợp hai hoặc nhiều nhất là ba phụ âm Còn ở vị trí sau hạt nhân có thể tồn tại từ một đến nhiều tổ hợp phụ âm như sơ đồ dưới đây:

1.1.3 Hệ thống phụ âm tiếng Anh

1.1.3.1 Tiêu chí phân loại

Phụ âm là những âm được phát ra bị một cản trở nào đó, như qua khe hở của dây thanh, sự tiếp xúc của đầu lưỡi với răng, sự khép chặt của môi …làm cho tiếng phát ra không dễ nghe, không êm tai, có tiếng động, tần số không ổn định Ví dụ phụ âm [b], [v], [f] So với việc phát âm của nguyên âm thì sự phát âm của phụ âm khó hơn, cần luyện tập nhiều mới phát âm đúng được

Phụ âm tiếng Anh được phân loại theo hai tiêu chí là phương thức cấu âm và

vị trí cấu âm Theo phương thức cấu âm (cách luồng hơi được sử dụng) tiếng Anh

có những phụ âm sau: phụ âm tắc hay còn gọi là phụ âm nổ, phụ âm xát, phụ âm tắc

Trang 17

xát, phụ âm mũi, phụ âm bên và phụ âm lướt Phụ âm mũi, bên và lướt trong tiếng Anh luôn luôn là hữu thanh; phụ âm tắc, xát và tắc xát có thể là hữu thanh hoặc vô thanh

Phụ âm tắc (nổ) (Stops/Plosives): Trong cấu tạo của những phụ âm này, luồng không khí đi ra từ phổi bị bít lại hoàn toàn tại một vài điểm rồi mới thoát ra Trong tiếng Anh, chúng là /p/, /b/, /t/, /d/, /k/, /g/

Phụ âm xát (Fricatives): Luồng không khí bị thu hẹp lại nhưng không bị chận lại toàn bộ Trong tiếng Anh bao gồm những phụ âm /f/, /v/, / /, / /, /s/, /z/, / /, / /, /h/

Phụ âm tắc xát (Africatives): Những phụ âm này bắt đầu như những phụ âm tắc, với sự cản trở hoàn toàn luồng không khí hoặc sự khép lại của dây thanh, và kết thúc luồng không khí bị hạn chế giống như phụ âm xát Tiếng Anh có hai phụ âm tắc xát là phụ âm / / như trong "church" và / / như trong "judge"

Phụ âm mũi (Nasals): Phụ âm mũi là những âm được tạo ra với không khí đi qua mũi Trong tiếng Anh những âm này là/ m/, /n/, / /

Phụ âm bên (Laterals): Phụ âm bên cho phép luồng không khí thoát ra hai bên lưỡi Trong tiếng Anh chỉ có một phụ âm bên là /l/

Phụ âm lướt (Approximants): Trong cấu tạo của phụ âm lướt, sự phát âm của một âm gần với một âm khác, như dây thanh không bị co hẹp lại mà mở rộng đến nổi luồng không khí thay đổi bất thường được tạo ra Trong tiếng Anh, những âm này là /j/, /w/ và /r/ Phụ âm lướt /j/ và /w/ cũng được xem như là những bán nguyên

âm (semi-vowels); đây là âm vừa có tính chất phụ âm vừa có tính chất nguyên âm

răng, răng, lợi, sau lợi, ngạc, mạc và thanh hầu

Phụ âm môi răng (labiodentals): giữa môi dưới và răng trên /f/, /v/

Trang 18

/r/

Phụ âm sau lợi (alveo-palatal (or post-alveolar)): là khu vực

Phụ âm thanh hầu (Glottal): khoảng không gian giữa hai

Như vậy, dựa theo hai tiêu chí phân loại phụ âm kể trên, có thể phân loại 24

phụ âm tiếng Anh trong bảng 1.1dưới đây

Bảng 1.1: Hệ thống phụ âm tiếng Anh

Trang 19

Các âm tắc vô thanh /p, t, k/ được phát âm bật hơi [pʰ, tʰ, kʰ] khi đứng đầu

từ đơn âm tiết hay đứng đầu âm tiết mang trọng âm trong từ đa tiết (ví dụ: tea, tomato, potato) Chúng được phát âm không bật hơi [p, t, k] khi đứng sau /s/ (stan,

span, scan), đứng đầu âm tiết không mang trọng âm hay đứng cuối âm tiết

a.1 /p - b/

- Hai môi mím chặt lại và ngạc mềm (soft palate/velum) đưa lên để cho luồng hơi không thể thoát ra ngoài qua đường mũi hoặc đường miệng nhưng luồng hơi được giữ lại trong khoang miệng một khoảng thời gian ngắn

- Khi hai môi mở ra, ngay lập tức luồng hơi được thoát ra ngoài với một tiếng bật nổ nhẹ

- Phụ âm tắc /p/ vô thanh có đặc trưng bật hơi khi đứng đầu từ đơn âm tiết hay đứng đầu âm tiết mang trọng âm trong từ đa tiết Sự bật hơi này tạo nên sự khác nhau chính giữa /p/ và /b/

- Phụ âm tắc /b/ hữu thanh, khi phát âm dây thanh rung

- Ở vị trí cuối âm tiết /p/ là âm không bật hơi và làm ngắn nguyên âm trước

nó, Trong khi /b/ đặc biệt yếu và chỉ làm nên tiếng ồn rất nhỏ, kéo nguyên âm trước

nó dài ra

a.2 /t - d/

- Đầu lưỡi ép chặt vào giữa lợi, nhưng không quá gần với răng cũng không quá gần với ngạc cứng

Trang 20

- Ngạc mềm nâng lên làm cho luồng hơi không thể được thoát ra ngoài qua đường mũi; luồng hơi được giữ lại trong khoang miệng trong một thời gian ngắn

- Khi đầu lưỡi hạ xuống thấp, luồng hơi lập tức từ vị trí chân răng (teeth ridge) thoát ra ngoài với tiếng nổ nhẹ

- Phụ âm tắc /t/ vô thanh và được phát âm bật hơi trong bối cảnh ngữ âm giống như /p/; phụ âm /d/ là hữu thanh và không bao giờ bật hơi

- Ở vị trí cuối âm tiết /t / không bật hơi và làm nguyên âm trước nó ngắn lại Trong khi /d/ đặc biệt yếu và chỉ tạo ra tiếng ồn rất nhỏ, kéo các nguyên âm trước

Đây là loại âm đặc biệt, luồng hơi bị cản lại hoàn toàn do phụ âm tắc, nhưng

nó được thoát ra với phụ âm xát /Σ, Ζ /

- Đầu lưỡi ép sát vào sau lợi, và ngạc mềm nâng lên do đó luồng hơi được giữ lại một thời gian ngắn

- Phần còn lại của lưỡi ở vị trí /Σ, Ζ /

- Đầu lưỡi di chuyển đến sau lợi, toàn bộ lưỡi thì ở vị trí /Σ, Ζ / do đó khoảng thời gian ngắn ở sự cọ xát này nghe thấy, sự xát của /tΣ/ và /dΖ/ không lâu bằng /Σ/

và / Ζ / một mình

- Giống như /Σ/, phụ âm /tΣ/ là âm vô thanh, ngược lại /dΖ/ là âm hữu thanh

Trang 21

- Ở vị trí giữa từ, /dΖ/ là hữu thanh, yếu như vẫn giữ được sự xát nhẹ, /tΣ/ vẫn là vô thanh mạnh Ở vị trí cuối từ/âm tiết, /tΣ/ vẫn mạnh và vô thanh, và nó làm ngắn nguyên âm trước nó, /dΖ/ rất yếu và ngắn, và kéo dài nguyên âm trước nó

c Các phụ âm xát

Đối với các âm xát luồng hơi từ phổi đi qua một khe hẹp; tại đây nó cọ xát vào thành của bộ máy phát âm để thoát ra ngoài Trong tiếng Anh có chín phụ âm xát /f, v, Τ, Δ, s, z, Σ, Ζ, h/

- Sự khác nhau giữa /f/ và /v/ chủ yếu là về thanh tính, /f/ là một phụ âm vô thanh; /v/ là một phụ âm hữu thanh

- Khi /f/ và /v/ ở giữa từ, /v/ vẫn là hữu thanh, nó chỉ cọ xát một chút và sự

cọ xát được tạo ra bởi hoạt động của môi và răng chứ không phải bởi hai môi, /f/ vẫn là xát vô thanh

- Khi /f/ và /v/ ở cuối từ/âm tiết, chúng có ảnh hưởng đến độ dài của nguyên

âm trước Phụ âm vô thanh /f/ làm cho nguyên âm ngắn hơn, phụ âm hữu thanh /v/ làm cho nguyên âm dài hơn Đây là qui luật chung, quan trọng, áp dụng cho những cặp phụ âm vô thanh/ hữu thanh khác: phụ âm vô thanh làm ngắn nguyên âm đứng trước, phụ âm hữu thanh kéo dài nguyên âm đứng trước

c.2 / Τ - Δ /

- Ngạc mềm nâng lên để luồng hơi thoát ra ngoài qua miệng

- Đầu lưỡi ép sát với răng trên, đây là khe hẹp tạo ra sự cọ xát

Trang 22

- Tiếng ồn được tạo ra bởi sự cọ xát / Τ / và / Δ / là không quá lớn, ít hơn /s/

c.3 /s - z/

- Ngạc mềm được nâng lên để luồng hơi thoát qua đường miệng

- Đầu lưỡi và mặt lưỡi ép xát vào lợi (nhưng không chạm vào) Vị trí gây ra

c.4 /Σ - Ζ/

- Ngạc mềm được nâng lên không cho luồng hơi thoát ra qua đường mũi mà

đi qua đường miệng

- Có một khe hẹp giữa đầu lưỡi và sau ngạc cứng

- Phía trước của lưỡi cao hơn khi phát âm / s / và /z/

- Hai môi hơi tròn

- Phụ âm /Σ/ vô thanh ồn hơn /f/ và /Τ/ và chỉ ít ồn hơn /s/ một chút, phụ âm /Ζ/ xát hữu thanh yếu hơn và ngắn hơn Phụ âm /Ζ / không đứng ở vị trí đầu từ nhưng /Σ/ thường xuyên đứng đầu từ như: she, show, shop Giữa từ, /Ζ/ là hữu

Trang 23

thanh, nhẹ và rất ngắn; phụ âm /Σ/ luôn luôn là vô thanh Ở vị trí cuối từ, /Σ/ phổ biến nhưng /Ζ/ thì rất hiếm và chỉ xảy ra ở một vài từ mượn từ tiếng Pháp; cũng giống như những phụ âm xát hữu thanh khác, /Ζ/ làm cho nguyên âm trước nó dài hơn ngược lại /Σ/ làm nguyên âm ngắn hơn

c.5 /h/

- Âm /h/ luôn đứng trước nguyên âm Cách phát âm /h/ như một luồng hơi đi qua những dây thanh để ngỏ và thoát ra ngoài qua đường miệng rồi chuẩn bị cấu âm nguyên âm đứng ngay sau nó

- Phụ âm /h/ cũng xuất hiện ở giữa từ (không bao giờ ở cuối từ) và nên phát

âm như ở vị trí đầu từ /h/ là phụ âm vô thanh

d Các phụ âm mũi

Khi cấu âm ba âm mũi /m, n, Ν/, ngạc mềm được hạ thấp xuống và cùng lúc

đó miệng bị đóng lại tại một vài địa điểm, do đó luồng hơi bị giữ lại trong khoang miệng để sau đó được thoát ra ngoài qua đường mũi

d.1 /m-n/

- Ngạc mềm được hạ thấp xuống đối với cả /m/ và /n/

- Đối với /m/, hai môi mím chặt vào nhau; đối với /n/ đầu lưỡi ép chặt với lợi

và hai bên lưỡi cùng ép chặt vào hai bên của ngạc

- Cả hai âm đều hữu thanh và luồng hơi được thoát qua đường mũi

Khi /m/, /n/ ở cuối từ hoặc trước những phụ âm khác, thay vì đóng hoàn toàn hai môi hoặc đầu lưỡi để luồng hơi thoát ra ngoài qua mũi, chúng có lẽ chỉ hạ thấp ngạc mềm hơn và không đóng hoàn toàn, để cho một ít hơi đi xuyên qua mũi nhưng

vẫn còn đi qua miệng Khi xảy ra điều này ta có nguyên âm mũi hóa như từ can,

Trang 24

d.2 / Ν/

- Ngạc mềm được hạ thấp xuống và luồng hơi được thoát ra ngoài qua đường mũi

- Miệng bị đóng bởi gốc lưỡi ép xát vào ngạc mềm

- /Ν/ là âm hữu thanh

- Phụ âm /Ν/ có vị trí của lưỡi giống như /g/ Phụ âm /Ν/ không xuất hiện ở

vị trí đầu một âm tiết trong tiếng Anh; nó chỉ xuất hiện ở cuối âm tiết (giữa từ và ở cuối từ)

e Phụ âm bên /l/

- Ngạc mềm được nâng lên

- Đầu lưỡi (và hai bên thân lưỡi) tiếp giáp với lợi, sự cản trở được tạo ra ở giữa miệng

- Hai bên lưỡi không tiếp giáp với hai bên ngạc, vì vậy luồng hơi có thể đi qua hai bên lưỡi và ngạc, vòng qua chỗ bị cản trở ở giữa Sự cản trở này được tạo thành bởi đầu lưỡi và mặt lưỡi, sau đó thoát qua đường miệng

- Âm /l/ hữu thanh và không có tiếng cọ xát (ngoại trừ khi nó đứng ngay sau /p/ hoặc /k/)

- Hầu hết các ngôn ngữ đều có âm vị /l/ như tiếng Anh Khi /l/ đứng trước

nguyên âm nó được gọi là âm /l/ rõ ràng Khi /l/ đứng ở vị trí cuối từ, ví dụ: fill,

filled, nó được gọi là [5] nhẹ, cách phát âm của [5] là đầu lưỡi chạm mạnh vào nưới răng trên, phần giữa lưỡi hạ xuống, phần sau lưỡi nâng lên, lưỡi tạo thành hình chữ

U, luồng hơi trong hình chữ U này tạo sự cộng hưởng phát ra âm [5]

Phụ âm /l/ cũng làm âm tiết hóa giống /n/, đó là nó xuất hiện ở vị trí dính líu

đến nguyên âm, sau những phụ âm tắc Ví dụ: parcel, bottle, couple

f Các phụ âm lướt

Trang 25

f.1 /j/

Phụ âm này lướt nhanh từ vị trí của nguyên âm /i: / hoặc /Ι / đến một nguyên

âm bất kỳ khác Điều này cũng đúng cho những từ có phụ âm /j/ không đứng đầu từ; ví dụ: beauty [bju:tΙ], few [fju],

Khi /j/ theo sau /p, t, k /, nó mất sự hữu thanh vốn có, và được tạo thành vô thanh, điều này khiến cho sự cọ xát được nghe thấy Ví dụ: Tuesday [tju:zdΙ], pure [pju:]

f.3 /r/

Đây là phụ âm lướt thứ ba, như nó không có sự tương đồng với một nguyên

âm tiếng Anh như /j/ và /w/

- Lưỡi cong với đầu lưỡi hướng về phía ngạc cứng ở phía trong cùng, phần trước thấp, phần sau cao

- Đầu lưỡi không tiếp xúc quá gần với ngạc để gây ra sự cọ xát

- Môi tròn, đặc biệt khi ở đầu từ

- Ngạc mềm được nâng lên, luồng hơi hữu thanh thoát ra cách nhẹ nhàng giữa đầu lưỡi và ngạc mà không có sự cọ xát nào

Khi đứng đầu từ, /r/ được phát âm đầu lưỡi và tròn môi Ở giữa từ, phụ âm này không còn tròn môi nữa

Trong R.P., /r/ chỉ xuất hiện trước nguyên âm, không bao giờ trước phụ âm

và đứng cuối từ

g Tổ hợp các phụ âm

Trong tiếng Anh có rất nhiều tổ hợp phụ âm gồm những tổ hợp phụ âm đứng trước nguyên âm và đứng sau nguyên âm

Trang 26

g.1 Các tổ hợp phụ trước nguyên âm

• Các tổ hợp hai phụ âm tiêu biểu đứng trước nguyên âm chính âm trong tiếng Anh gồm 2 loại:

Loại 1: [s]+ [ p, t, k, f, m, n, l, w, j]

Loại 2: [ p, t, k, b, d, g, f, Τ, Σ, v, m, n, h] + [l, r, w, j]

• Các tổ hợp ba phụ âm tiêu biểu đứng trước nguyên âm trong tiếng Anh gồm: [spl, skl, spr, str, skr, skw, smj, spj, stj, skj, sfr]

g.2 Các tổ hợp phụ âm sau nguyên âm

Tổ hợp phụ âm ở cuối từ đa dạng hơn cụm phụ âm đứng đầu bởi vì /s/ hay /z/

phải được thêm vào để hình thành danh từ hình thức số nhiều như dogs, cats, … và

/t/ hay /d/ phải được thêm vào động từ để hình thành hình thức thì quá khứ như

raised, risked, … / Τ/ cũng được sử dụng để hình thành danh từ như strength,

breadth,… và số thứ tự như fifth, sixth, …

Các tổ hợp hai phụ âm tiêu biểu đứng sau nguyên âm trong tiếng Anh gồm: [l]+ phụ âm: [lp, lb, lt, ld, ltʃ, ldʒ, lk, lf, lv, lθ, ls, lʃ, lm, ln]

Phụ âm mũi + phụ âm: [mp, nt, nd, ntʃ, ndʒ, ŋk, mf, mθ, nθ, ns, nz, ŋθ]

Phụ âm + [s, z, t, d, Τ]

Phụ âm tắc + phụ âm tắc /phụ âm mũi : [pt , kt]

Các tổ hợp ba phụ âm tiêu biểu đứng sau nguyên âm chính âm trong tiếng Anh gồm:

Trang 27

a Các phụ âm đơn

Trang 28

Trong tiếng Anh còn có 1 tổ hợp phụ âm 1 tắc-lướt và 1 tổ hợp tắc-xát thể hiện bằng các chữ sau:

1.1.4 Hệ thống nguyên âm trong tiếng Anh

1.1.4.1 Tiêu chí phân loại

Nguyên âm là những âm được phát ra qua độ mở rộng hay hẹp của miệng mà không bị một cản trở nào Đặc điểm cơ bản của nguyên âm là khi phát âm chúng được tạo ra bởi độ nâng của lưỡi, vị trí của lưỡi, hình dáng của môi và sự căng của

cơ miệng Do đó chúng ta phải xác định được độ nâng của lưỡi đến đâu, môi tròn như thế nào để thấy được sự khác nhau của các nguyên âm Trong tiếng Anh, có

12 nguyên âm đơn được phân loại theo bốn tiêu chí như sau:

- Độ nâng của lưỡi – theo vị trí chiều cao của lưỡi: những nguyên âm cao, cũng là nguyên âm khép như / i:, Ι, u: Υ /; những nguyên âm thấp, cũng là nguyên âm mở như /{, ς, Θ, a: /; nguyên âm trung bình – nửa khép và nửa

mở như /e, ≅, ≅:, Ο: /

- Vị trí của lưỡi – theo vị trí chiều ngang của phần cao nhất của lưỡi: những nguyên âm dòng trước khi lưỡi dồn về trước /i:, Ι, e, {/, nguyên âm dòng sau khi lưỡi dồn về sau / u:, Υ, Ο:, Θ, a:/ và nguyên âm dòng giữa khi lưỡi giữa nâng lên /≅, ≅:, ς /

- Hình dáng môi – môi tròn hoặc không tròn khi âm thanh được tạo ra: những nguyên âm tiếng Anh dòng trước và giữa / i:/, / Ι/, /Ε /, /{/, / ≅/, / 3:/, / ς/ thì luôn luôn không tròn môi, những nguyên âm dòng sau / /, / , /, / Θ /, / / là tròn môi (nguyên âm / / không tròn môi)

Trang 29

- Sự căng của cơ miệng – nói đến căng cơ quanh miệng khi tạo ra nguyên âm: những nguyên âm căng (được tạo ra có sự căng mạnh cơ miệng) / /, / /, / /, / /, / /; những nguyên âm căng là những âm có độ dài lớn và thường dài hơn những nguyên âm lơi Những nguyên âm lơi (được tạo ra

có sự căng cơ nhỏ) / /, /Ε/, / /, / /, / /, / /, / / Những nguyên âm lơi luôn luôn là ngắn

Dựa theo vị trí và độ nâng khác nhau của lưỡi khi cấu tạo các nguyên âm trong khoang miệng, chúng ta có thể biểu diễn các nguyên âm tiếng Anh theo bảng 1.2 sau:

Bảng 1.2: Hệ thống nguyên âm tiếng Anh

Vị trí của lưỡi

Độ nâng của lưỡi

Dòng trước Dòng giữa Dòng sau

/ / sit

/ /boot / / book Trung bình

/e/ bet / / sofa

1.1.4.2 Miêu tả cách phát âm của nguyên âm tiếng Anh

a Các nguyên âm dòng trước /i:, Ι, e, {/

Để tạo ra những nguyên âm này, lưỡi tiến về phía trước

a.1 /i:- Ι /

- Lưỡi uốn cong lên cao về phía trước gần chạm vào ngạc cứng; để đầu lưỡi ngay sau răng dưới cho /i: /; kéo lưỡi ra sau một chút khi phát âm /Ι/

Trang 30

- Môi không tròn nhưng căng nhẹ ra và kéo về phía sau, tạo thành hình dạng như miệng như đang cười cho /i:/; khi phát âm /Ι / môi dãn ra như không căng như

/i:/

cho /Ι/

Ngoài ra, âm /i: / là nguyên âm dài, còn /Ι/ là nguyên âm ngắn, hai âm này có

độ dài khác nhau, nên tính chất của âm không giống nhau, vì vậy cần chú ý khi phát

âm để tránh nhầm lẫn

a.2 /e- {/

- Đầu lưỡi chạm răng dưới, phần trước lưỡi hướng lên về phía ngạc cứng cho /e/ Khi phát âm /{/ thân lưỡi thấp bằng và vị trí của lưỡi thấp nhất trong bốn

nguyên âm dòng trước

- Môi dẹp, kéo ra phía sau, kém căng hơn và mở rộng hơn khi phát âm /i/

Âm /{/ môi mở rộng hơn /e/

- Khi phát âm /e/ miệng mở rộng khoảng giữa /I/ và /{/, khe ở giữa hai hàm răng rộng một khoảng có thể để ngón trỏ vào Khi phát âm /{/ miệng mở rộng, giữa hai hàm răng có thể để ngón trỏ và giữa vào

Âm /e/ và /{/ đều là hai nguyên âm ngắn

b Các nguyên âm dòng sau /a:, Θ, Ο:, Υ, u: /

Khi tạo ra những nguyên âm này, lưỡi đưa về phía sau Những nguyên âm dòng sau bắt đầu với /a:/ Khi phát âm từ /a:/ đến /u:/, hai môi của chúng ta mở rộng

và nới lỏng cho /a:/, nhưng khi đến /u:/ thì môi nhô ra và tròn

Trang 31

- Lưỡi hơi căng, nâng đằng sau lưỡi đến vị trí cao trung bình hướng về ngạc, đầu lưỡi gần với răng dưới cho /Θ/ Khi phát âm /Ο:/ phần sau lưỡi nâng cao hơn khi phát âm /Θ/

- Môi hơi tròn cho /Θ/ Âm /Ο:/ hai môi thu tròn và nhỏ hơn, đồng thời phải hơi nhô ra trước

- Miệng mở rộng, cao hơn /a:/ một chút

Âm /Θ/ là nguyên âm ngắn, âm /Ο:/ là nguyên âm dài

- Phần giữa của lưỡi nâng nhẹ

- Môi dãn vừa, không tròn

- Miệng thả lỏng và ở vị trí trung bình

Trang 32

Hiện tại, có xu hướng âm /^/ tiến về phía trước thành [a] như trong loving,

cup Chú ý: người London phát âm /^/ giống [a] - ví dụ: lovely - và người dân vùng

phía bắc nước Anh phát âm thành /u/: love, dustbin

Trong hệ thống nguyên âm tiếng Anh, ngoài 12 nguyên âm đơn, còn có 8 nguyên âm đôi Nguyên âm đôi thường có cấu tạo lướt từ vị trí của một nguyên âm này đến vị trí của một nguyên âm khác (sự kết hợp của hai nguyên âm đơn) Trong nguyên âm đôi, nguyên âm đầu tiên đánh dấu điểm bắt đầu trong khi nguyên âm thứ hai đánh dấu hướng chuyển động của lưỡi Nguyên âm thứ nhất thường dài hơn và lớn hơn nguyên âm thứ hai Nguyên âm đôi thường được phiên âm bằng hai kí hiệu nguyên âm, chúng đại diện cho điểm bắt đầu và hướng chuyển động của lưỡi trong cấu âm

ba được tạo thành từ 5 nguyên âm đôi và nguyên âm /≅/

1.1.4.3 Mối tương quan giữa âm và chữ ở các nguyên âm

a Các nguyên âm đơn

7 [Ο:] all-, au-, aw, -or, our-,

10 [≅:] er-, ir-, or-, ur-,

Trang 33

11 [≅]

a, e, o, ar, er, or, ure (nếu không có trọng âm),

capacity, silent, atom, writer, doctor, literature

b Các nguyên âm đôi

c Những điều cần chú ý về sự không tương ứng giữa âm và chữ

Trong tiếng Anh các con chữ a, e, i, u, o thể hiện nhiều cách phát âm khác

nhau:

- Chữ cái a có tám âm [I, {, a:, ≅, ei, Ο:, e≅, e] (village, hat, party, about,

say, tall, ware, many)

- Chữ e có bảy âm [i:, Ι, e, ≅:, u:, ju:, ≅]

- Chữ i có bốn âm [Ι, ai, ≅:, ≅ ]

- Chữ u có tám âm [Ι, e, ς, ≅:, ≅, u, u:, ju: ]

- Chữ o có mười âm [ Ι, Ο, ς, ≅:, ≅, u, u:, ou, ΟΙ]

1.1.5 Trọng âm và ngữ điệu

Trang 34

Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm tiết (polly-syllablic language) Đa số từ ngữ trong tiếng Anh là những tiếng có nhiều âm tiết (thường được gọi là vần) Trường hợp tiếng nhiều âm tiết thì chỉ có một âm tiết duy nhất được đọc mạnh hơn hết, đó

là âm tiết chính được nhấn mạnh hay âm tiết mang trọng âm (main stressed

syllable/primary stressed syllable) Trong tiếng Anh, trọng âm có thể rơi vào một

âm tiết bất kỳ nào (ở đầu, ở giữa hay ở cuối từ), gọi là trọng âm tự do Đôi khi cùng một từ nhưng trọng âm có thể chuyển vị trí từ âm tiết này sang âm tiết khác khi từ thay đổi hình thái Loại trọng âm như thế gọi là trọng âm di động Dưới đây là một

số trọng âm của từ trong tiếng Anh

- Từ có một âm tiết đứng một mình thì phải đọc nhấn mạnh, nhưng khi phiên âm từ một âm tiết thì thường không thêm ký hiệu trọng âm, ví dụ:

go [gou], pen [pen]

- Từ có hai âm tiết, trọng âm thường được đặt ở âm tiết thứ nhất, ví dụ:

brother [’br ςΔ≅], letter [’let≅] Nhưng có một số ít từ hai âm tiết có trọng

âm được đặt ở âm tiết thứ hai, ví dụ: hotel [h≅u’tel], police [p≅’li:s] Một

số từ hai âm tiết có cách viết giống nhau nhưng trọng âm có thể được đặt

ở âm tiết thứ nhất hoặc ở âm tiết thứ hai Khi trọng âm ở âm tiết thứ nhất thì nó là danh từ, khi trọng âm ở âm tiết thứ hai thì nó là động từ, ví dụ:

conduct (n) [’k Θndςkt], [k≅n’dςkt] (v), present [’prez≅nt], [pri’zent] …

- Từ có ba âm tiết, trọng âm của từ ba âm tiết thường được đặt ở âm tiết

thứ nhất, ví dụ: industry [’indςstri], carefully [’ke≅fΥli] Trường hợp

ngoại lệ - trọng âm của một số từ cũng có thể đặt ở âm tiết thứ hai, ví dụ:

remember [ri’memb ≅], develop [di’vel≅p]

- Từ có bốn âm tiết trở lên, trọng âm thường đặt ở âm tiết thứ ba đếm từ

sau ra trước, ví dụ: democracy [di’mΘkr≅si], impossibility

[impΘsi’bilΙtΙ] Trong các từ có nhiều âm tiết (có bốn âm tiết trở lên) ngoài việc có trọng âm chính ra, nó còn có một trọng âm phụ Trọng âm phụ thường được đặt ở âm tiết thứ ba đếm từ trọng âm chính ra trước,

Trang 35

được kí hiệu bằng dấu “, ” trước âm tiết đó trong phiên âm Ví dụ:

university [,ju:ni’v3:sΙtΙ]

Trọng âm của từ được đọc khi đọc từng từ một, những qui tắc này thường cố định không đổi, trọng âm của từ đều có thể tìm thấy trong từ điển Cụm từ và câu trong tiếng Anh cũng có những quy tắc về trọng âm của cụm từ và câu Những từ cần phải nhấn âm trong các cụm từ và câu gồm: danh từ, tính từ, số từ, động từ nghĩa thực, phó từ, một số đại từ, từ nghi vấn, cảm thán từ (hay nhấn âm từ có nghĩa thực) Một số từ chức năng như: mạo từ, giới từ, trợ từ, liên từ, đại danh từ chiếm phần lớn, thường không được nhấn giọng

Ví dụ: An ‘elephant is an ‘animal

My ‘second ‘brother is a ‘doctor

Trong câu nói của người Anh, ta thấy họ lên hay xuống giọng rất rõ, việc lên hay xuống giọng như vậy gọi ngữ điệu (intonation) Bình thường ngữ điệu của tiếng Anh có ba giọng chính: 1 Giọng thấp, 2 Giọng trung, 3 Giọng cao Giọng trung là giọng nói trung bình, cao hơn giọng thấp một chút, và giọng cao thì cao hơn giọng trung một bậc Mỗi cá nhân đều có giọng nói riêng của mình khác với giọng nói của người khác Trong tiếng Anh có hai mẫu ngữ điệu chính: Ngữ điệu lên và ngữ điệu xuống Những ngữ điệu này thường bắt đầu bằng giọng trung bình (ghi bằng số 2)

và có thể kết thúc bằng giọng cao (ghi bằng số 3) hay giọng thấp (ghi bằng số 1) tùy theo mỗi loại câu Một ngữ điệu đúng ở cuối câu là rất quan trọng, còn quan trọng hơn cả phát âm đúng hay sai nữa Đôi khi một người phát âm đúng nguyên âm và phụ âm, nhưng nói sai ngữ điệu cũng làm cho người nghe không hiểu được điều mà người nói muốn diễn tả

1.2 Âm tiết tiếng Việt và đặc điểm hệ thống ngữ âm tiếng Phú Yên

1.2.1 Âm tiết tiếng Việt

1.2.1.1 Đặc điểm âm tiết tiếng Việt

Tiếng Việt được xếp vào loại hình ngôn ngữ đơn lập bởi các đặc trưng sau đây:

Trang 36

- Tiếng, về mặt ngữ âm là âm tiết; về mặt ngữ pháp là đơn vị cơ sở; về mặt

sử dụng là một từ hoặc một yếu tố cấu tạo từ

- Từ không biến đổi hình thái

- Biện pháp chủ yếu để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp là sắp xếp các từ theo thứ

tự và sử dụng các hư từ

Trong các đặc điểm này, tính đơn lập tức hình thức một âm tiết đóng vai trò vừa là hình vị, vừa là từ cơ bản có vai trò quan trọng nhất Điều này làm cho tiếng Việt khác với các ngôn ngữ biến hình châu Âu trước tiên về cấu trúc của âm tiết

1.2.1.2.Cấu trúc âm tiết tiếng Việt

Âm tiết tiếng Việt là một đơn vị hiển nhiên, có thể nhận diện một cách đơn giản do các đặc điểm sau:

- Trong dòng ngữ lưu, mỗi âm tiết được chia tách thành từng khúc đoạn cả

về mặt phát âm và chữ viết

- Ranh giới của âm tiết trùng với ranh giới của hình vị Do vậy nhìn chung mỗi âm tiết đều mang ý nghĩa từ vựng hoặc ý nghĩa ngữ pháp

- Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ

Một cách khái quát, có thể trình bày âm tiết tiếng Việt bằng sơ đồ dưới đây:

Thanh điệu

Vần

(Theo Đoàn Thiện Thuật, tr 80)

Theo mô hình này, ở dạng đầy đủ nhất, âm tiết tiếng Việt gồm 2 thành phần chính tạo nên: thanh (thanh điệu) và âm (âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối) Các thành phần này không bình đẳng với nhau về mức độ độc lập cũng như khả năng kết hợp Có thể miêu tả mối quan hệ giữa các thành phần này bằng mối quan

hệ hai bậc:

Bậc 1: thanh điệu, âm đầu và vần

Trang 37

Các phần này của âm tiết quan hệ với nhau lỏng lẻo, có thể được phân chia bằng các thủ pháp hình thái học như: hiệp vần thơ, nói lái, các qui tắc láy từ, iếc hoá…

Bậc 2: âm đệm, âm chính và âm cuối

Các phần này quan hệ với nhau chặt chẽ trong phạm vi phần vần của âm tiết Việc phân chia các thành phần này chỉ thuần tuý dựa vào đặc điểm ngữ âm của chúng

Trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, phụ âm đảm nhiệm vị trí âm đầu và âm cuối Điểm đặc biệt và cũng là khác biệt của cấu trúc âm tiết tiếng Việt so với cấu trúc âm tiết của các ngôn ngữ biến hình trong đó có tiếng Anh là:

- Trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, đứng ở vị trí âm đầu và âm cuối chỉ là các phụ âm đơn Không có các tổ hợp phụ âm (hai, ba hay nhiều hơn các phụ âm) ở các

vị trí này

- Các phụ âm ở vị trí đầu và cuối âm tiết có cương vị khác nhau Do vậy chúng lập thành hai hệ thống

1.2.1.3 Các loại hình âm tiết tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn tiết tính mang thanh điệu có cấu trúc âm tiết đơn giản theo mô hình CVC (phụ âm - nguyên âm – phụ âm ) Trong cấu trúc này hai yếu tố bắt buộc phải tồn tại là nguyên âm và thanh điệu Còn phụ âm đầu hoặc cuối

có hoặc không cần thiết tồn tại (Để tiện lợi khi so sánh, đối chiếu, và để cho học sinh dễ hiểu, chúng tôi chọn giải pháp xem phụ âm đầu tắc thanh hầu ở đầu âm tiết

là không quan yếu) Do vậy, về nguyên tắc âm tiết tiếng Việt có 4 loại cấu trúc sau (chúng tôi coi thanh điệu luôn tồn tại cùng nguyên âm):

Loại 2: C1 V Loại 3: V C2 Loại 4: C1V C2 Xét trên bình diện ngữ âm học, trong tiếng Việt, giữ vai trò hạt nhân âm tiết

có thể có từ một nguyên âm đến tổ hợp 3 nguyên âm trong khi ở vị trí đầu và cuối

Trang 38

của âm tiết lại chỉ có thể là một phụ âm (các tổ hợp chữ cái ch, nh, ng, ngh chỉ để

ghi một phụ âm) Trong thực tế tồn tại 12 loại âm tiết, xét trên bình diện ngữ âm học:

Loại Kiểu Cấu trúc Ví dụ

1.2.2 Đặc điểm hệ thống ngữ âm tiếng địa phương Phú Yên

Theo cách phân chia tiếng Việt thành 4 vùng phương ngữ thì tiếng địa phương Phú Yên (gọi tắt là tiếng Phú Yên) thuộc vùng phương ngữ Nam Trung bộ (từ Đà Nẵng đến Bình Thuận) Vùng phương ngữ Nam Trung bộ được xác định bao gồm hai vùng nhỏ hơn, đó là:

- Dải phương ngữ Nam–Ngãi: Tiếng Quảng Nam – Quảng Ngãi khác với các nơi khác ở sự biến động đa dạng của âm /-a:-/ (-a-) và /-α-/ (-ă-) trong kết hợp với các âm cuối khác nhau

- Dải phương ngữ Bình – Phú – Khánh – Thuận: tiếng nói của vùng này

Trang 39

Như vậy, tiếng Phú Yên thuộc dải phương ngữ Bình – Phú – Khánh – Thuận, có những đặc điểm ngữ âm đặc trưng của vùng phương ngữ Nam Trung

bộ Tiếng Phú Yên gần gũi với các thổ ngữ vùng duyên hải miền Trung, đặc biệt

là thổ ngữ Bình Định Đặc điểm ngữ âm của vùng này như sau:

+ Hệ thống âm đầu không có âm xát môi /v-/ và âm xát đầu lưỡi /z-/

+ Âm đệm /-u-/ bị lược mất

+ Hệ thống nguyên âm giảm đáng kể

+ Âm cuối chỉ còn các cặp /-m/ - /-p/, /-Ν/ - /-k/, /-u/ - /-i/ Ở đây có sự đồng nhất /-n/ với /-Ν/ thành /-Ν/, /-t/ với /-k/ thành /-k/

+ Hệ thống thanh điệu chỉ còn 5 thanh, trong đó không có sự phân biệt thanh hỏi với thanh ngã

Như trên đã nói, tiếng Phú Yên thuộc vùng phương ngữ có tính chất chuyển tiếp từ phương ngữ Bắc, phương ngữ Bắc Trung bộ, đến phương ngữ Nam bộ, Ngoài ra, do tiếp xúc với ngôn ngữ của các dân tộc ít người như Êđê, Chăm, Bana, Hoa, Tày, Nùng… cùng với ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên vùng duyên hải nên tiếng Phú Yên có những đặc điểm riêng, phân biệt với các thổ ngữ khác của vùng phương ngữ Nam Trung bộ

Ở phần ngữ âm tiếng Phú Yên, chúng tôi dẫn theo luận văn “Đặc điểm ngữ

âm tiếng Phú Yên” của Võ Thị Trúc Phương (2009) Tuy nhiên, chúng tôi cũng có

khảo sát trực tiếp một số học sinh THPT Trần Quốc Tuấn, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên

Bảng 1.3: Hệ thống phụ âm đầu tiếng Phú Yên

Vị trí cấu âm Môi Đầu lưỡi Mặt Gốc Thanh

Trang 40

Phương thức cấu âm Bẹt Quặt lưỡi lưỡi hầu

So sánh với hệ thống phụ âm đầu của tiếng Việt chuẩn có thể thấy, tiếng Phú

Yên thiếu hẳn phụ âm xát môi /v-/ và phụ âm xát đầu lưỡi bẹt /z-/, thay vào đó là

sự xuất hiện phụ âm xác hai môi /w-/ và phụ âm xát mặt lưỡi /j-/ Trong đó, phụ âm

xát mặt lưỡi /j-/ thay thế cho phụ âm xát hữu thanh môi răng /v-/ và phụ âm xát hữu

thanh đầu lưỡi bẹt /z/, còn phụ âm xát hữu thanh hai môi /w-/ thay thế cho phụ âm

tắc gốc lưỡi ồn /k-/, âm tắc gốc lưỡi vang /ŋ-/ và âm xát thanh hầu /h-/ khi chúng

phân bố trước âm đệm /-u-/

Ví dụ: qua [wa1]; ngoại [wai5]; hoa [wa1]

2.2.2 Hệ thống phụ âm cuối

Đứng ở vị trí kết thúc âm tiết tiếng Phú Yên có 4 phụ âm và 2 bán nguyên

âm tạo thành một hệ thống Các phụ âm cuối được phân loại và miêu tả dựa vào hai

tiêu chí: vị trí cấu âm và phương thức cấu âm Hệ thống này được trình bày bằng

Ngày đăng: 16/05/2021, 12:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm