Với mong muốn thu thập, khảo sát toàn bộ những thành tựu lao động của một nhà giáo, nhà nghiên cứu có tâm, có tài từ lâu đã khẳng định được vai trò và uy tín trong nhiều lĩnh vực chúng t
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA
LẦN THỨ 11 NĂM 2009
TÊN CÔNG TRÌNH:
THƯ MỤC NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VIỆT NAM CỦA
GIÁO SƯ BỬU CẦM
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC
Mã số công trình:………
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA
LẦN THỨ 11 NĂM 2009
THƯ MỤC NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VIỆT NAM CỦA
GIÁO SƯ BỬU CẦM
Chủ nhiệm đề tài: LÊ THỊ THANH THẢO
SV Ngành Hán Nôm
Khoá : 2006- 2010
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN ÁNH LOAN
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THƯ MỤC NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO SƯ BỬU CẦM 6
1.1 Vài nét về tiểu sử Giáo sư Bửu Cầm 6
1.2 Một vài đặc điểm về thư mục nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm 7
CHƯƠNG 2 : THƯ MỤC NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO SƯ BỬU CẦM 26
2.1 Thư mục phân loại theo năm xuất bản của tạp chí và trật tự chữ cái tên sách 26
2.2 Thư mục phân loại theo tiêu chí các phương diện nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm 41
2.3 Các loại sách và tạp chí về nghiên cứu văn hóa 51
2.4 Một số bài viết tản mạn và thơ 56
KẾT LUẬN 58
Trang 4TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Đề tài của chúng tôi ngoài phần mở đầu và kết thúc được kết cấu thành hai chương và mười hai tiết
Chương đầu tiên gồm hai phần:
Phần một trình bày về tiểu sử giáo sư Bửu Cầm
Phần hai trình bày một vài đặc điểm của thư mục Trong phần này chúng tôi trên cơ sở khái quát thư mục đã đưa ra những đặc điểm về nội dung và hình thức
Có thể thấy được qua thư mục nghiên cứu của Giáo sư Bửu Cầm một nội dung phong phú về tư liệu, kiến thức và bình diên nghiên cứu Các bài viết được viết trên cơ sở kế thừa và sáng tạo, đặc biệt là với phong cách sáng tạo tác gỉả đã
có những phát hiện mới, mang tính chất gợi mở trong nghiên cứu Tính dân tộc cũng là một biểu hiện rõ nét, đặc điểm này thể hiện tâm huyết trong nghiên cứu của tác giả
Về hình thức các bài viết và sách của thư mục được trình bày đã có cách trình bày khoa học, vừa đầy đủ nội dung, cô đọng lại ngắn gọn, dễ hiểu và có tính thuyết phục toát lên từ những luận cứ, luận chứng, lập luận lôgic, xác đáng Trong cách trình bày các vấn đề tiên sinh chuyển tải nội dung bằng nhiều phương pháp khoa học, đặc biệt là phần phụ lục chú thích rõ ràng, hệ thống, có tính tham khảo cao Văn phong của tiên sinh giản dị, dễ hiểu, ngôn ngữ trong sáng, hành văn lưu loát, lối viết của ông cũng rất đa dạng, trong từng trường hợp có khi thuần túy về nghiên cứu, có lúc lại kèm theo cảm xúc, trữ tình đặc sắc
Chương hai là phần chính của công trình Chương này chúng tôi sử phối hợp sử dụng các phương pháp sau:
- Sưu tầm các bài viết và sách đã xuất bản của giáo sư Bửu Cầm
Trang 5- Thống kê, phân loại và trình bày thành thư mục nghiên cứu
- Ngoài ra chúng tôi còn kết hợp sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh, liệt kê…
để sắp xếp thư mục nghiên cứu theo hai tiêu chí:
Thứ nhất là: Thư mục phân loại theo năm xuất bản của tạp chí và trật tự chữ cái tên sách Trong phần này chúng tôi sắp xếp các bài viết của giáo sư thành hai phần gồm: Các bài tạp chí và sách đã xuất bản của giáo sư
Các bài báo, tạp chí chúng tôi sắp xếp theo số thứ tự xuất bản của tờ báo
đó Do giáo sư Bửu Cầm viết bài cho nhiều tạp chí khác nhau nên chúng tôi ưu tiên xếp tạp chí có số lượng bài viết của giáo sư nhiều đứng trước, các tạp chí có bài viết của giáo sư ít hơn xếp sau
Mỗi đơn vị trong thư mục được thể hiện theo trình tự các yếu tố sau: số thứ
tự, tên tác giả, tên bài viết, nguồn trích, năm xuất bản, số tạp chí xuất bản, số trang, và có thêm phần tóm tắt nội dung chính của từng bài tạp chí đề cập đến
Thứ hai là: Thư mục phân loại theo tiêu chí các phương diện nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm Trong phần này, trên cơ sở những tài liệu đã sưu tầm được chúng tôi thấy rằng Bửu Cầm tiên sinh là một nhà nghiên cứu rộng, thể hiện được
sự hiểu biết sâu sắc, tài hoa trên nhiều lĩnh vực Dựa vào nội dung các bài viết trên báo và những sách đã xuất bản của tiên sinh chúng tôi tập hợp thành các mảng lớn
để tiện cho việc khái quát vấn đề Từ thực tế phân tích cần phải nói rõ rằng sự sắp xếp của chúng tôi chỉ có giá trị tương đối, để tiện cho việc tham khảo các tác phẩm
và bài viết nghiên cứu của giáo sư
Cách sắp xếp theo phương diện nghiên cứu này chúng tôi cũng sắp xếp các bài viết và sách của tiên sinh Bửu Cầm theo thứ tự năm xuất bản của các tạp chí và thứ tự chữ cái tên tác phẩm
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do và mục đích chọn đề tài
Giáo sư Bửu Cầm là một chuyên gia nghiên cứu hàng đầu về Hán học ở Việt Nam, đã từng là giảng viên giảng dạy môn Hán Nôm và các môn về lịch sử ở đại học Văn khoa Sài Gòn Với sự nghiệp nghiên cứu lâu năm, ông đã có nhiều cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực, văn hóa, lịch sử địa lý và đặc biệt là những thành quả trong lĩnh vực Hán- Nôm Nhiều bài nghiên cứu của tiên sinh đã được
công bố trên các tuần báo như: Văn hóa nguyệt san, Đồng Nai văn tập, Tập san sử địa, Tập san khảo cổ và xuất bản trên hai mươi đầu sách về các lĩnh vực
Với những đóng góp to lớn ấy, Bửu Cầm tiên sinh đã để lại những tư liệu nghiên cứu quý giá có ích rất nhiều cho những công trình nghiên cứu nối gót tiên sinh và cũng là nguồn tài liệu tham khảo phong phú Với mong muốn thu thập, khảo sát toàn bộ những thành tựu lao động của một nhà giáo, nhà nghiên cứu có tâm, có tài từ lâu đã khẳng định được vai trò và uy tín trong nhiều lĩnh vực chúng
tôi thực hiện đề tài “Thư mục nghiên cứu văn hóa Việt Nam của giáo sư Bửu Cầm” nhằm hệ thống lại toàn bộ thành quả nghiên cứu của giáo sư để làm tài liệu
tham khảo cho ngành Hán Nôm và các lĩnh vực khác
Thông qua việc hệ thống lại toàn bộ những bài viết, tác phẩm của tiên sinh Bửu Cầm chúng tôi sẽ thu được một pho tư liệu phong phú đồng thời có cở sở nhìn nhận, đánh giá vai trò và giá trị của những thành tựu của ông trong nhiều năm nghiên cứu
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích của đề tài, trong bài nghiên cứu khoa học này, chọn đối tượng và phạm vi nghiên cứu là toàn bộ tác phẩm của tác giả Bửu Cầm được viết trên nhiều lĩnh vực, được đăng trên nhiều tạp chí, và được in thành nhiều tập sách
Trang 7Chúng tôi mở rộng phạm vi tác phẩm so với tên đề tài là vì muốn khảo sát một cách toàn diện những đóng góp về các phương diện nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm Do đó, thư mục chúng tôi thực hiện ngoài những tác phẩm viết về văn hóa Việt Nam còn bao gồm các bài viết trên nhiều lĩnh vực khác cùa tác giả
3 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lí luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đảng Cộng sản Việt Nam
Bài viết của chúng tôi sẽ phối hợp sử dụng các phương pháp sau:
- Sưu tầm các bài viết và sách đã xuất bản của giáo sư Bửu Cầm
- Thống kê, phân loại và trình bày thành thư mục nghiên cứu
- Ngoài ra chúng tôi còn kết hợp sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh, liệt kê…
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài về thư mục giáo sư Bửu Cầm là một đề tài hoàn toàn mới, trước nay chưa có người thực hiện đề tài này
5 Ý nghĩa của công trình nghiên cứu
Ý nghĩa lí luận: Khẳng định quá trình nghiên cứu khoa học tận tâm và những thành tựu nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực của giáo sư Bửu Cầm
Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp một thư mục về những tài liệu nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm, đồng thời cung cấp thư mục các tài liệu nghiên cứu về Hán Nôm và các lĩnh vực khác
6 Những đóng góp của công trình
Góp thêm một thư mục nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm vào những bài viết nghiên cứu về giáo sư
Trang 8Góp phần khẳng định giá trị to lớn của những bài viết, bài nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm đăng trên tạp chí và in thành sách
7 Kết cấu của công trình
Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận được kết cấu thành hai chương
và 12 tiết
Trang 9CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THƯ MỤC NGHIÊN CỨU CỦA
GIÁO SƯ BỬU CẦM
1.1 Vài nét về tiểu sử Giáo sư Bửu Cầm
Giáo sư Bửu Cầm sinh năm 1920 tại Vỹ Dạ- Huế Là con đầu lòng của thi
sĩ Ưng- Oanh và nữ sĩ Trịnh Thị Tố Dòng dõi của Tuy Lý Vương Miên Trinh
Thuở nhỏ vì sức khỏe kém, từ năm 10 tuổi đến năm 20 tuổi đau yếu liên miên, cho nên học với gia đình và tự học nhiều hơn học tại trường Năm 12 tuổi đã
viết văn và làm thơ Năm ngoài 20 chủ biên Tinh hoa văn tập và tập san Gió lên
xuất bản tại Huế
Vì những hoạt động văn hóa nên được mời giảng dạy môn Việt văn tại trường Quốc Học Huế (1950)
Năm 1956 đổi vào Sài Gòn phụ trách phòng sưu tầm và khảo cứu Viện Khảo Cổ
Năm 1958 được mời giảng dạy môn Hán- Nôm và các môn lịch sử Việt Nam, ngữ học Việt Nam, Triết học Đông Phương tại trường đại học Văn Khoa Sài Gòn
Năm 1969 được phong giáo sư diễn giảng Năm 1972 được thăng giáo sư thực thụ Viện đại học Sài Gòn Đã bảo trợ cho nhiều nghiên cứu sinh soạn luận án tiến sĩ và cao học Trong thời gian này, được bộ giáo dục cử đi hội nghị quốc tế về
Trung Quốc (Hán học) ở nước ngoài Đồng thời được cử tham gia Ủy ban hỗ tương thẩm định giá trị văn hóa Đông Tây của UNESCO và phái đoàn giao dịch với Trung tâm nghiên cứu văn hóa Đông Nam Á tại Nhật Bản
(Tài liệu do gia đình giáo sư Bửu Cầm cung cấp)
Trang 101.2 Một vài đặc điểm về thư mục nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm 1.2.1 Đặc điểm về nội dung
Các bài viết của giáo sư Bửu Cầm về nội dung rất phong phú, viết trên nhiều lĩnh vực Như trong phần thư mục chúng tôi sẽ trình bày cụ thể, bao gồm các phương diện sau: Nghiên cứu văn học, nghiên cứu văn hóa, các bài viết giới thiệu và chú thích, một phần nữa là các bài viết tản mạn và một số bài thơ đã được
in thành sách của tác giả
Nội dung các bài viết phong phú trên nhiều lĩnh vực, trong khuôn khổ mỗi bài viết lại có sự tham khảo nhiều tài liệu như các loại sách vở, thư tịch cổ, từ điển v v… thể hiện một tác phong nghiên cứu khoa học cẩn trọng cùng bề sâu kiến thức phong phú, đa dạng
Chẳng hạn trong bài viết “Lam bản cuốn “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du” tác giả đã trích dẫn kết hợp sử dụng tư liệu từ nhiều sách, chúng tôi
thống kê được gồm các sách sau:
“Ngu sơ tân chí: Tên một tập truyện ngắn của nhiều tác giả, trong ấy có truyện Vương Thúy Kiều của Dư Hoài
Trung Quốc danh nhân đại từ điển, Thượng Hải, Thượng vụ ấn thư quán,
1921
Đoạn trường tân thanh, Giá sơn Kiều Oánh Mậu (chú thích), 1902
Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm, Nhà in Vũ Hùng, Hà Nội,
1951
Tân từ điển, Trọng Văn Thao, Hương Cảng, Thế giới xã xuất bản, 1957
Cổ văn quan chỉ, Thượng Hải, Bách Tân thư điểm xuất bản
Trung Quốc văn học sử giảng thoại, Hồ Hành Chi, Thượng Hải, Quang hoa
thư cục, 1932
Trang 11Trung Quốc văn học sử giảng biên, Lục Khản Thư và Phùng Nguyên Quân,
Khai minh thư điếm in, Thượng Hải, 1949
Tiểu thuyết khảo chứng, Tưởng Thụy Thảo, Thượng Hải, Thượng vụ ấn thư
Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Quyển XX
Đoạn trường tân thanh, Kim Vân Kiều tân tập, Việt Nam văn học sử yếu, Tân từ điển (của Trọng văn Thao)
Cùng các loại từ điển như Từ nguyên, Từ hải, Trung Quốc danh nhân đại
từ điển cùng một số sách sử như: Minh Sử, Chiết Giang thông chí…”
Với một số lượng sách tham khảo phong phú như thế cho thấy tác giả đã có một quá trình tích lũy tài liệu lâu dài, cùng với phần lý luận đã làm sáng tỏ được một vấn đề văn học, giúp người đọc biết rõ về thân thế cùng những vấn đề liên
quan đến Thanh Tâm Tài Nhân- tác giả lam bản cuốn Truyện Kiều của Nguyễn
Du, là một tuyệt tác của nền văn hóa Việt Nam
Trong bài viết của giáo sư Bửu Cầm ngoài phần tư liệu rất phong phú, tác giả còn tham khảo, đối chiếu hàng loạt sách, tiếp thu những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước, thể hiện một thái độ nghiên cứu nghiêm túc cho nên đã cung cấp cho người đọc những kiến thức phong phú, rất đáng tin cậy
Trong các bài nghiên cứu nhiều khi tác giả còn sử dụng tài liệu của các ngành khác để bổ trợ thêm cho vấn đề nghiên cứu Chẳng hạn như nghiên cứu về nguồn gốc chữ Nôm trong phần nêu luận đề ông nêu lên có ý kiến cho rằng vào thời thượng cổ dân tộc Việt Nam đã có một thứ văn tự riêng mà người Mường
Trang 12Thanh Hóa đến nay còn dùng, tác giả cho rằng thuyết này có liên quan đến thuyết nhân chủng học:
“Người Việt Nam và người Mường nguyên là cùng chủng tộc, nhưng sau khi có cuộc tiếp xúc với người phương Bắc, những người Việt đồng bằng ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, còn những người Việt bất hợp tác với di tộc, rút vào rừng núi, tức là người Mường bấy giờ, thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa và giữ được phong tục cùng ngôn ngữ cũ”1
Như vậy, bên cạnh sử dụng kiến thức chuyên ngành tiên sinh còn vận dụng kiến thức của ngành có liên quan là dân tộc học để người đọc có thể tiếp thu vấn
đề từ nhiều phương diện, hiểu thêm về đối tượng nghiên cứu trong bài viết
Ngoài những kiến thức phong phú, đa dạng các bài viết của tiên sinh Bửu Cầm còn được trình bày trên cơ sở kế thừa và sáng tạo Sự kế thừa ở đây biểu hiện qua việc tác giả trong bài viết của mình tham khảo rất nhiều sách vở cùng những quan điểm của những người nghiên cứu đi trước Có nhiều vấn đề trước khi đưa ra
ý kiến đánh giá của mình tác giả trình bày quan điểm của nhiều nhà, sau đó dùng lí luận và dẫn chứng để bác bỏ hay tán đồng
Chẳng hạn trong bài viết “Lam bản cuốn Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du” tiên sinh đã đưa ra ba quan điểm nhận dạng tác giả Kim Vân kiều truyện:
“1) Truyện Kiều có lẽ lấy ở truyện Vương Thúy Kiều 王臎翹 trong thuyết
sách chép những truyện phong tình đời xưa
1Bửu Cầm, Nguồn gốc chữ Nôm, Văn hóa nguyệt san, 1960, số 50, Tr.347
Trang 133) Nguồn gốc Truyện Kiều của Nguyễn Du là quyển tiểu thuyết Trung Hoa nhan đề Kim Vân Kiều truyện 金雲翹傳 do một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài
Với ba thuyết này tác giả tiếp tục đưa ra những lập luận cùng dẫn chứng cụ thể để bác bỏ hai thuyết đầu và tán thành thuyết thứ ba Trên cơ sở sự kế thừa này người viết tiếp tục trình bày những ý kiến cùng tài liệu nghiên cứu của mình để làm sáng tỏ về con người được mệnh danh Thanh Tâm Tài Nhân Qua bài viết chúng tôi thấy rằng tiên sinh đã đưa ra nhiều tư liệu thuyết phục và đã trình bày được những vấn đề về thân thế, con người của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân Bài viết ngoài ra còn rất thú vị vì tác giả đã đưa ra một thêm vài nhận xét tinh tế giúp
ta hiểu thêm không chỉ về Thanh Tâm Tài Nhân mà còn về mối quan hệ giữa những cái tên sách viết về Vương Thúy Kiều- một người con gái tài hoa bạc mệnh
cùng quá trình Nguyễn Du tìm ra và chuyển thể “Đoạn trường tân thanh” theo
phong cách thơ dân tộc
Cùng một cách trình bày nội dung có tính chất kế thừa ấy, trong bài viết nghiên cứu về chữ Nôm, tác giả cũng đưa ra hàng loạt ý kiến của những người đi trước, như: Văn đa cư sĩ, Sở cuồng Lê Dư, Phạm Huy Hổ sau đó bằng lý luận tán thành hoặc bác bỏ những ý kiến đó, đồng thời đưa ra nhận xét riêng và giả thiết riêng của mình
Việc sử dụng các tài liệu trong sách tham khảo cũng là một sự kế thừa tích cực, được tiên sinh vận dụng triệt để Chúng ta có thể khẳng định một điều rằng trong các bài viết của mình tiên sinh bao giờ cũng tham khảo các tài liệu của nhiều loại sách, bất kể bài nghiên cứu dài hay ngắn đều không bỏ qua thao tác này
Từ những cái nhìn của người nghiên cứu đi trước tiên sinh đã biết chọn lọc
và đưa vào bài viết của mình những ý kiến, quan điểm để có thể tổng hợp đánh giá
2Bửu Cầm, Lam bản cuốn Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, Tập san Khảo cổ,
1966, số 4, Tr.6
Trang 14vấn đề từ góc độ khoa học và khách quan Phương thức này rất thường thấy trong nghiên cứu khoa học, là cách vận dụng những công trình đã có sẵn, tuy nhiên tiên sinh không chỉ tham khảo mà còn đưa ra nhiều kiến giải, mở ra nhiều hướng thể hiện sự sáng tạo trong nghiên cứu
Chẳng hạn khi phân chia thơ đời Đường người ta thường phân chia theo các giai đoạn Sơ Đường, Trung Đường, Thịnh Đường Giáo sư Bửu Cầm không tán đồng cách phân chia này, ông cho rằng:
“Xét ra cách phân chia thời kì trên đây không hợp lý, vì không cắm được những cái mốc quan trọng cho lịch sử đời Đường Một triều đại dài gần 300 năm (618- 906), nhà Đường trong khoảng thời gian đó đã có những cuộc chiến tranh với các nước ngoài và những cuộc nội loạn; nhưng ta phải kể cuộc biến loạn của
An Lộc Sơn và Sử Tư Minh năm 755 là quan trọng hơn hết, đã làm cho vua Đường (Huyền Tông) phải chạy vào đất Thục, và khiến cho trăm họ thống khổ, lầm than Cuộc biến loạn ấy đã đem lại cho nhà Đường một sự thay đổi lớn về phương diện chính trị, xã hội, cũng như về phương diện văn học
Bởi vậy, trong bài này, luận về các thi phái đời Đường, chúng tôi chỉ chia làm hai thời kì: Trước loạn An, Sử và sau loạn An, Sử”3
Với cách phân chia mới tác giả đã khái quát ngắn gọn mà súc tích toàn bộ giá trị thơ ca đời Đường qua tiêu chí thi phái, những lí lẽ trình bày của tác giả có
hệ thống và tương đối hoàn chỉnh, là một tài liệu tham khảo thể hiện được một cái
nhìn mới về thơ Đường Một bài viết khác nghiên cứu về văn học Trung Quốc, tác giả đã đưa ra ý kiến đánh giá khác với sử gia Tư Mã Thiên về nguồn gốc Kinh Thi, ông nói rằng:
“Căn cứ vào những lời biện luận trên đây, chúng ta có thể tin rằng: Những bài thi ca xưa đến đời Khổng Tử đã bị tàn khuyết rất nhiều, chỉ còn lại chừng hơn
ba trăm thiên Nếu Khổng Tử có chỉnh lí Kinh Thi, cũng chỉ bỏ bớt những câu,
3
Bửu Cầm, Các thi phái đời Đường, Văn hóa nguyệt san, 1961, số 64, Tr.1153/131
Trang 15những chữ tối nghĩa hoặc rườm rà, chứ không phải chọn lấy một phần mười như
Tư Mã Thiên đã nói”4
Trong bài nghiên cứu về nguồn gốc văn thể lục bát tiên sinh đã khẳng định thể văn lục bát không có nguồn gốc từ thư tịch Trung Hoa như một số người vẫn lầm tưởng, đồng thời thể văn này cũng không phải là tài sản riêng của dân tộc Việt Nam, người Thái và người Chàm đều có Như thế nguồn gốc văn thể lục bát là một vấn đề cần được xác định thêm, không thể đưa ra những nhận xét tùy tiện Bài viết của tiên sinh giúp chúng ta hiểu thêm về văn thể lục bát cùng nguồn gốc của
nó, xưa nay người Việt Nam vốn tự hào về thể thơ lục bát thế nhưng không phải ai cũng hiểu rõ về nó Cuối bài tác giả đã tổng kết như sau:
“Ba dân tộc Việt, Thái, Chàm đều có lục bát Duy người Trung Hoa không
có văn thể ấy, mặc dầu lời Hào ở quẻ Khôn trong Kinh Dịch có một câu được xem như lục bát, nhưng đó chỉ là một sự ngẫu nhiên, bởi vì nếu người Trung Hoa đã biết làm lục bát thì họ phải có những câu hát, bài vè hoặc tác phẩm trường thiên
để chứng minh việc đó, thế mà quyển Kinh Thi là một tuyển tập dân ca của họ cũng vẫn không thấy có bài nào làm theo thể lục bát cả”5
Ngoài ra ông còn khảo cứu và chứng minh một vài vấn đề về nguồn gốc
văn bản, với dẫn chứng cụ thể ông nêu lên tác giả bài thơ Bán than không phải của Trần Khánh Dư, một vương thất nhà Trần Hay ông đã giới thiệu sách Kiến văn lục của Vũ Nguyên Hanh, khẳng định sự khác nhau của cuốn sách này với Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, trước nay “ít người biết vì thế có sự ngộ nhận” giữa
hai tác phẩm này Với bài viết của mình tác giả đã đã cung cấp cho người đọc những tư liệu chính xác, dựa trên cơ sở khoa học về nguồn gốc của những tác phẩm ấy
Trang 16Tính dân tộc là một trong những biểu hiện rõ nét trong các bài viết của giáo sư Bửu Cầm, nhất là các bài giới thiệu và chú thích một số tác phẩm chữ Nôm của dân tộc Các tác phẩm này đã được tiên sinh dày công sưu tầm, chú thích
kĩ càng sau đó mới giới thiệu cho nên không những cung cấp những tư liệu quý giá mà còn có ý nghĩa to lớn Chữ Nôm vốn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, tác giả đã dày công trong sưu tầm, nghiên cứu và giới thiệu các tác phẩm chữ Nôm chính là đã đóng góp công sức rất lớn trong bảo lưu và phát huy tinh hoa văn hoá của dân tộc Một điều đáng quý hơn là tâm huyết của tác giả gởi gắm trong các bài viết bên cạnh việc sưu tầm, giới thiệu tác giả còn đưa ra những đánh giá tinh tế trên cơ sở là người hướng dẫn phát hiện những vẻ đẹp cùng giá trị ẩn sau những văn bản đó
Trong bài giới thiệu tác phẩm Nam Cầm Khúc tiên sinh đã giới thiệu phần
nguyên văn và dịch thơ lục bát một tác phẩm của Tuy Lý Vương, đồng thời đưa ra nhận xét:
“Tang thương hằng bày ra trước mắt, thế cuộc đầy rẫy những vật đổi sao dời, những lời tao nhân bất hủ vẫn còn phảng phất với non sông
Bảng “Nam cầm khúc phiên dịch quốc âm ca” của Di Hiên tiên sinh là một hương hỏa quý báu của văn học Việt Nam, mà kẻ viết bài này tự nhận thấy có bổn phận phải đưa ra giới thiệu với tất cả những ai thường lưu tâm đến vấn đề quốc học”6
Lời khen của tiên sinh không chỉ xác nhận giá trị của Nam cầm khúc mà
hơn thế nữa còn bộc lộ niềm yêu thích và tự hào về những áng văn chương đặc sắc
Trang 17Một bài viết khác của tiên sinh giới thiệu về Thanh Hóa quan phong – Một tác phẩm được đánh giá như một tập Kinh Thi của Việt Nam, sau khi sơ lược về
nguồn gốc và kết cấu tác phẩm cùng một vài trích dẫn, tác giả đã tổng kết như sau:
“Tóm lại, “Thanh Hóa quan phong” là một tài liệu quý giá khả dĩ giúp chúng ta nghiên cứu dân ca Việt Nam, vì Thanh Hóa, nơi đã phát quật được nhiều trống đồng, chính là dao lam của văn hóa Lạc Việt”7
Chúng tôi thấy rằng sau khi tham khảo những tác phẩm tiên sinh giới thiệu
so với nhận xét của ông rất là hợp lý Thật bất ngờ khi biết rằng trong nền văn học
Việt Nam có một tác phẩm giống như Kinh Thi của người Trung Quốc, lưu giữ
những câu ca dao dân ca chủ yếu ở địa phương Thanh Hoá, một khu vực có nền văn hoá lâu đời của dân tộc Những bài dân ca trong sáng vừa lạ vừa quen, bởi đây
là những câu đặc trưng của người Thanh Hoá nhưng cũng là tài sản chung nằm trong kho tàng ca dao dân ca của dân tộc Một số bài rất hay và đặc sắc, chúng tôi xin trích dẫn vài câu minh chứng:
“Ruột tằm chín khúc vò tơ,
Biết lòng chàng có đợi chờ ta chăng?
Ngọn đèn thấp thoáng bóng trăng,
Ai đem người ngọc thung thăng chốn này?
Đôi ta làm bạn thong dong,
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
Bởi chưng thầy mẹ nói ngang,
7
Bửu Cầm, Thanh Hóa quan phong- Một quyển Kinh Thi của Việt Nam, Tạp chí đã dẫn,
Tr.8
Trang 18Có thể nói rằng tính dân tộc trong các bài viết của giáo sư Bửu Cầm chính
là hướng đến những đề tài nghiên cứu về văn hóa dân tộc trên các bình diện về văn hóa, văn học như nghiên cứu về Văn hoá Lý- Trần, quốc hiệu nước ta, nguồn gốc chữ Nôm, về học chế ở Việt Nam qua các triều đại, quốc hiệu Đại Nam và Việt Nam… nhưng đặc biệt trong các bài viết giới thiệu tác phẩm chữ Nôm và một số tác phẩm khác tính dân tộc biểu hiện rõ ràng nhất
1.2.2 Đặc điểm về hình thức
Cách trình bày vấn đề bao giờ cũng là một yếu tố quan trọng để phần nội dung được thể hiện một cách có hiệu quả nhất Qua các bài viết của giáo sư Bửu Cầm chúng tôi nhận thấy tiên sinh đã có cách trình bày khoa học, vừa đầy đủ nội dung, cô đọng lại ngắn gọn, dễ hiểu và có tính thuyết phục toát lên từ những luận
cứ, luận chứng, lập luận lôgic, xác đáng Trong cách trình bày các vấn đề tiên sinh chuyển tải nội dung bằng nhiều phương pháp khoa học, đặc biệt là phần phụ lục chú thích rõ ràng, hệ thống, có tính tham khảo cao Văn phong của tiên sinh giản
dị, dễ hiểu, ngôn ngữ trong sáng, hành văn lưu loát, lối viết của ông cũng rất đa dạng, trong từng trường hợp có khi thuần túy về nghiên cứu, có lúc lại kèm theo cảm xúc, trữ tình đặc sắc
Trước hết, về phương diện biểu hiện qua các bài viết của tiên sinh chúng tôi nhận thấy ông đã sử dụng nhuần nhuyễn và thành công các phương pháp trong nghiên cứu khoa học như: Phân tích, tổng hợp tài liệu, so sánh, liệt kê…
Phần lớn các bài viết của tiên sinh có sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để qua đó làm sáng tỏ vấn đề, có cơ sở để tạo lập luận vững chắc Đây cũng là một khâu quan trọng trong nghiên cứu, dựa trên các tài liệu có sẵn để phân tích và đưa ra những nhận định hết sức thận trọng, không mang tính chủ quan Chẳng hạn
trong bài viết về “Khúc Thừa Dụ và phong trào đòi quyền tự chủ của người Giao Chỉ cuối đời Đường” tác giả đưa hàng loạt các tài liệu trong các sách sử:
8
Bửu Cầm, Thanh Hóa quan phong- một quyển Kinh Thi của Việt Nam, Tạp chí đã dẫn,
Tr 7
Trang 19“Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書 , ngoại kỷ, quyển 5, tờ 17a, chép:
“Năm canh tý (Hiệu Quảng Minh thứ nhất của Đường Hy Tông) quân của phủ ta làm loạn, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành chạy”
Nam chiếu 南詔 là Tù Pháp 酋法 vào cướp phá […], quan đô hộ là Tăng Cổn
chạy sang Ung Châu, đạo quân Đồn thú tan rã.”
“Quân Nam Chiếu công hãm phủ đô hộ, Tiết độ sứ cuả nhà Đường là Tăng Cổn chạy sang Ung Châu, người thổ hào là Khúc Thừa Dụ vào chiếm phủ thành và tự xưng Tiết độ sứ.”9
Từ các cứ liệu lịch sử trên tác giả đã phân tích và đưa ra lập luận rằng:
“Xét những sử liệu dẫn trên, chúng ta dám nói rằng họ Khúc đã thổi vào tâm hồn người Giao Chỉ thời bấy giờ một luồng dũng khí khả dĩ gây được cái tinh thần tự cường bất khuất Nhờ thế cho nên mặc dầu Thừa Mỹ chiến bại và bị địch bắt, nhưng tiếp theo đó đã có Dương Diên Nghệ 杨延蓺 , một nha tướng của họ Khúc, đứng lên quyết chí báo thù và đã đuổi được Lý Khắc Chính, Lý Tiến, lại giết được Trần Bảo, một tướng Nam Hán đem quân tiếp viện đến cứu Lý Tiến Đến lúc
9
Bửu Cầm, Khúc Thừa Dụ và phong trào đòi quyền tự chủ của người Giao Chỉ cuối đời
Đường, Văn hóa nguyệt san, 1963, số 78, Tr.157
Trang 20phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng Tuy Ngô Quyền đã mở kỷ nguyên độc lập cho nước ta, nhưng cứ bình tình mà xét, chúng ta phải thừa nhận Khúc Thừa Dụ là người đã khởi xướng phong trào đòi quyền tự chủ của dân tộc ta về cuối thế kỷ thứ IX và đầu thế kỷ thứ X”10
Ở đây tác giả đã có sự kết hợp giữa tổng hợp và phân tích các tài liệu đáng tin cậy từ các quyển sách sử của dân tộc đã đưa ra những lập luận rõ ràng, vững chắc nêu lên một vấn đề lịch sử về những cuộc đấu tranh đòi quyền tự chủ của nhân dân thời kỳ trước khi Ngô Quyền đánh quân Nam Hán Thông qua bài viết cùng những kết luận của tác giả chúng ta có thể hiểu thêm về lịch sử đáng tự hào của dân tộc, thì ra trước khi có được chiến thắng trên sông Bạch Đằng oanh liệt, những phong trào đấu tranh giành độc lập đã nổi lên và Khúc Thừa Dụ chính là nhân vật khởi xướng phong trào trước Ngô Quyền vào thế kỉ X
Phương pháp phân tích tài liệu cùng tổng hợp được tiên sinh sử dụng rất có hiệu quả Bên cạnh đó phương pháp liệt kê cũng rất hay được giáo sư sử dụng Trong nghiên cứu phương pháp này tỏ ra đắc dụng với các vấn đề không cần phân
tích mà đòi hỏi sự chính xác và cô đọng Bài viết “Non sông gấm vóc và mùa xuân của dân tộc” phương pháp liệt kê được tác giả vận dụng triệt để Chúng tôi xin
trích dẫn đoạn sau đây tác giả khái quát về lãnh thổ Việt Nam dưới thời Gia Long
đã trình bày:
“Dưới thời Gia Long toàn quốc chia làm 24 trấn và hai thành
Tại miền Bắc ngoài thành Thăng Long ra, có 11 trấn: Lạng Sơn, Kinh Bắc, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Sơn Tây, An Quảng, Hải Dương, Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ
10
Bửu Cầm, Khúc Thừa Dụ và phong trào đòi quyền tự chủ của người Giao Chỉ cuối đời
Đường, Tạp chí đã dẫn, Tr.162
Trang 21Tại miền Trung có 8 trấn, 3 doanh: 8 trấn là Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa (Thái Khang cũ), Bình Thuận;
Ba doanh (dinh) là Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức ( Thừa Thiên)
Tại miền Nam, ngoài thành Gia Định (nay là Sài Gòn và Gia Định), có 5 trấn và 1 đạo: trấn Biên Hòa (doanh Trấn Biên cũ), trấn Gia Định, trấn Định Tường, trấn Vĩnh Thanh (châu Định Viễn và doanh Long Hồ cũ, sau là Vĩnh Long), Trấn Hà Tiên và đạo Châu Đốc”11
Rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu chính là ưu điểm của đoạn viết
Cũng có khi tiên sinh sử dụng phương pháp so sánh nhất là so sánh quan điểm nghiên cứu của những người đi trước So sánh để phân biệt và chỉ ra quan điểm nào phù hợp, đáng tin và quan điểm nào chưa phù hợp khi cùng nhìn vấn đề trên cùng một phương diện Trong bài nghiên cứu về nguồn gốc chữ Nôm, tác giả đưa ra nhiều quan điểm trong tài liệu, và so sánh các quan điểm đó Sau cùng trên
cơ sở phê phán một vài quan điểm chưa có căn cứ chính xác tác giả đã đưa ra nhận định chữ Nôm ra đời từ sau thời Sỹ Nhiếp và trước thời của Nguyễn Thuyên Nhận định của tác giả có căn cứ và lý luận cụ thể về sau được nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận và phát triển thêm
Một bài khác tác giả cũng dùng phương pháp so sánh để nêu bật đối tượng
được so sánh và những điểm khác giữa hai đối tượng Tiên sinh giới thiệu Nam cầm khúc trong tương quan so sánh với Tỳ Bà hành- một điển hình nổi bật của văn học Trung Quốc, qua những phân tích đánh giá của người viết cùng bản dịch Nam cầm khúc người đọc có thể cảm nhận được vẻ đẹp của một Tỳ bà hành Việt Nam,
Trang 22Những phương pháp nghiên cứu này giúp cho việc trình bày được trôi chảy,
dễ hiểu, hiệu quả và khoa học Tuy nhiên chính cách viết với luận cứ chính xác, lập luận lôgic, mới là phần quan trọng trong bài viết của tác giả
Chẳng hạn khi tìm hiểu về nguồn gốc danh xưng An Nam và thời gian ra đời danh xưng này tiên sinh đã đính chính lại ý kiến của Nguyễn Văn Tố sau khi
đã dựa vào những tài liệu trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt sử ký tiền biên và Đại Việt sử ký toàn thư đã cho rằng hai chữ An Nam đã có
từ năm 264, vì năm đó nhà Ngụy cho Lã Hưng làm An Nam tướng quân, Giao Chỉ Thái thú Theo Bửu Cầm tiên sinh vấn đề này thật ra nên nhìn dưới nhiều góc độ,
và tiên sinh lý giải rằng:
“Theo sự khảo cứu của chúng tôi, thì năm 248, (hiệu Xích ô 赤烏 thứ 11
đã được phong chức “An Nam tướng quân”
Năm ấy bà Triệu nổi lên kháng cự quân Ngô ở Cửu Chân nhưng bị thứ sử Lục Dận dẹp yên Do đó Dận được phong An Nam tướng quân Việc này sử Tàu chép rất rõ nhưng sử ta không chép đến Sử ta chép Lã Hưng làm An Nam tướng quân, nhưng sử Tàu không chép như vậy
Về sự kiện này chúng ta nên tin theo sử ta hay sử Tàu?
Tôi xin trả lời dứt khoát rằng chúng ta nên tin theo sử Tàu […]
Nay theo những tài liệu mới tìm được, nhất là tiểu truyện Lục Dận trong Ngô chí, chúng ta nên đính chính lại thuyết của Nguyễn Văn Tố mà cho hai chữ
An Nam đã có từ 248”12
Bằng dẫn chứng phong phú, tiêu biểu, lý luận sắc sảo, tác giả đã suy nguyên được nguồn gốc của danh xưng An Nam Chúng tôi, nhận thấy rằng cách
12
Bửu Cầm, Quốc hiệu nước ta từ An Nam đến Đại Nam, Tủ sách sử học, 1969, Tr.5
Trang 23viết của tác giả tuy ngắn gọn nhưng đã xoáy sâu vào vấn đề nghiên cứu, chỉ rõ sai sót trong nhận định của người đi trước với cái nhìn tinh tế, khách quan và khoa học Từ gốc độ này, đây có thể là những gợi ý cho các nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực lịch sử có thể phát triển thêm để có những nghiên cứu hoàn chỉnh
Một bài viết khác về nguồn gốc chữ Nôm tác giả sau khi đưa ra luận cứ cho rằng chữ Nôm phải có sau Sĩ Nhiếp, trước Nguyễn Thuyên đã có những lập luận sâu sắc, thuyết phục và rõ ràng:
“ 1 o ) Mặc dầu Sĩ Nhiếp 士 燮 không phải người đầu tiên đem chữ nho sang dạy dân ta, vì trước đời Sĩ Nhiếp nước ta đã chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa rồi, nhưng đến lúc Sĩ Nhiếp làm Thái thú quận Giao Chỉ từ năm 187 đến năm 226, Hán học mới được truyền bá sâu rộng trong dân gian Như chúng ta đã biết, chữ Nôm thoát thai ở chữ Hán, cho nên dân ta cần phải trải qua một thời gian học chữ Hán đến một trình độ khá cao, nhiên hậu mới có thể dùng thứ chữ ấy để chế tác ra chữ Nôm, mà công việc đó là của nhiều người và nhiều thế hệ
2 o ) Nguyễn Thuyên là người đầu tiên làm thơ bằng quốc âm (chữ Nôm), nhưng ông không phải là người đặt ra chữ Nôm Về thế kỷ VIII (791) Phùng Hưng
quốc hiệu “Đại Cồ Việt 大懼越 ” Danh hiệu và quốc hiệu ấy ấy gồm có những chữ Hán (đại vương, Đại Việt) và chữ Nôm (bố cái, cồ) lẫn lộn”13
Nếu những bài viết của Bửu Cầm tiên sinh hấp dẫn người đọc ở cách lập luận chặt chẽ thể hiện tư duy phân tích chuyên sâu thì ngoài ra còn thuyết phục hơn ở khâu trình bày Phần trích dẫn các tài liệu nghiên cứu, chú thích, phụ lục mang giá trị tham khảo và tính hệ thống cao
13
Bửu Cầm, Nguồn gốc chữ Nôm, Tạp chí đã dẫn, Tr.354
Trang 24Mỗi khi trích dẫn một tư liệu nghiên cứu nào tác giả đều tuân theo trình tự
sau: phần chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa Cách chú thích này khiến cho các vấn
đề mà tác giả trích dẫn đều rất rõ ràng, cụ thể, vừa mang tính sử liệu cao lại vừa có
sức thuyết phục Chẳng hạn như trong bài viết “Tìm hiểu Kinh Thi” Đoạn trích dẫn
sau thể hiện tác phong cẩn trọng, khoa học của tác giả khi trích dẫn tài liệu trong nghiên cứu:
“Trong Thi tập truyện 詩集傳 Chu Hy 朱熹 cũng luận về Quốc phong 國
以其被上之化以有言,而其言又足以感人,如物因風之動以有聲,而其聲又 足以動物也。是以諸侯采之以貢於天子,天子受之而列於樂官,於以考其俗 尚之美惡,而知其政治之得失焉 Quốc giả, chư hầu sở phong chi vực, nhi phong giả, dân tục ca dao chi thi dã Vị chi phong giả, dĩ kỳ bị thượng chi hoá dĩ hữu ngôn, nhi kỳ ngôn hựu túc dĩ cảm nhân, như vật nhân phong chi động dĩ hữu thanh, nhi kỳ thanh hựu túc dĩ động vật dã Thị dĩ chư hầu thái chi dĩ cống ư Thiên
tử, Thiên tử thụ chi nhi liệt ư nhạc quan, ư dĩ khảo kỳ tục thượng chi mỹ ác, nhi tri
kỳ chính trị chi đắc thất yên= Quốc là chỉ lĩnh vực phong cho chư hầu; phong là gọi chung các bài thi ca trong dân gian Gọi rằng phong là chỉ những lời dân phát
ra bởi chịu sự cảm hoá của người trên, mà lời ấy lại đủ để cảm người, như vật nhân có gió mà động và phát ra tiếng, rồi tiếng ấy trở lại làm rung động vật Bởi thế nên chư hầu nhặt những thi ca ấy để hiến Thiên tử, Thiên tử tiếp nhận và liệt vào nhạc quan, lấy đó để xét phong tục tốt xấu, biết việc chính trị nên hư”14
Phần lớn mọi tư liệu mà tiên sinh trích dẫn đều được thực hiện dưới dạng khoa học này Cẩn trọng, tỉ mỉ, chính xác là những đòi hỏi không thể thiếu đối với người nghiên cứu khoa học Khi tham khảo các bài viết và sách của giáo sư Bửu Cầm ta luôn luôn được thấy các tiêu chí này trong phần trình bày của tác giả
14
Bửu Cầm, Tìm hiểu Kinh Thi, Tạp chí đã dẫn, Tr.1301
Trang 25Khi trích dẫn các sách tham khảo chúng tôi thấy rằng tiên sinh cũng hết sức
kĩ lưỡng, thường cho biết rất cụ thể về sách cũng như phần được trích dẫn Chẳng
hạn bài nghiên cứu về Nam ông mộng lục một tác phẩm của Hồ Nguyên Trừng khi
tìm hiểu về tiểu sử Hồ Nguyên Trừng ông có viết:
“Tháng ba năm đó, Hồ Nguyên Trừng tiến quân đến cửa Hàm Tử, quân nhà Minh đến đánh, quân của Nguyên Trừng bị thua to”15
Đoạn viết này được chú thích như sau:
“Cương mục chính biên, quyển XII, tờ 16b-17b; Toàn thư, bản kỷ, quyển
IX, tờ 2 ab” 16
Qua đấy cũng thấy được tính rõ ràng, hệ thống trong chú thích của tác giả Văn phong là điểm nổi bật trong các bài viết của tiên sinh Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy phong cách viết của tiên sinh rất đa dạng, với mục đích và chủ đề khác nhau, giọng văn thể hiện cũng khác nhau
Trong các bài viết thiên về nghiên cứu tiên sinh Bửu Cầm thường có cách viết rõ ràng, gọn và chuyên về phân tích để làm rõ vấn đề hướng đến Chúng tôi
xin trích dẫn đoạn sau trong bài Giao Châu thời Lục triều để minh chứng về cách
viết này:
“Trong thời Tam Quốc, nước Ngô vì phương diện địa lý thuận tiện nên chiếm lĩnh Giao Châu Nhà Ngô quyết ý lấy Giao Châu sau trận Xích Bích Năm Kiến An thứ 15(210) Tôn Quyền sai Bộ Chất làm thứ sử Giao Châu Năm sau Bộ Chất đáo nhiệm; lúc bấy giờ Giao Châu mới thật sự thuộc về nước Ngô Tuy nhiên
vì uy tín và thế lực của Sĩ Nhiếp ở Giao Châu rất lớn cho nên từ năm thứ Kiến An thứ 16 của Hán Hiến Đế đến năm Hoàng Vũ thứ năm của nhà Ngô (tức là từ năm 211- 226), trong thời gian 15 năm đó, nhà Ngô chỉ áp dụng thống trị gián tiếp đối
Trang 26với Giao Châu, vì quyền cai trị trực tiếp xứ này vẫn ở trong tay anh em Sĩ Nhiếp17”
Qua đoạn văn trên có thể thấy được ngòi bút nghiên cứu của tác giả thiên
về phân tích, trình bày các sự kiện, có dáng dấp và phong cách của một nhà sử học chuyên nghiệp
Các bài nghiên cứu về văn học của ông giọng văn cũng thiên về phân tích, đánh giá vấn đề, cách viết chuẩn theo đúng tác phong khoa học
Thế nhưng sang một số bài viết tản mạn và giới thiệu tác phẩm ta thấy tác giả viết với một phong cách khác hẳn Vẫn là phân tích, đánh giá vấn đề nhưng giọng văn mềm mại hơn, thanh thoát hơn, cảm xúc của người viết in đậm trên từng
câu chữ Rõ ràng nhất ta có thể thấy trong bài viết của tác giả về Nam cầm khúc của Tuy Lý Vương Khi trình bày về tác phẩm tiên sinh cho là ngang tầm với Tỳ
bà hành này đoạn ông kể lại hoàn cảnh ra đời được thể hiện thanh thoát và đầy thi
Bên cạnh nhà nghiên cứu tài hoa, uyên thâm trên nhiều lĩnh vực, Bửu Cầm tiên sinh còn là một nghệ sĩ đa tài Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn được tiếp xúc những bài thơ bát cú của tiên sinh, thể hiện được một phong cách nghệ sĩ, phong thái rất khó quên
Trang 27Tin rằng khi tiếp xúc với những bài viết tản mạn về hoa lan, hoa đào hay giới thiệu về vẻ đẹp trữ tình của cố đô qua cảnh sắc trữ tình, duyên dáng của hồ Tịnh Tâm người đọc khó có thể quên được một văn phong rất riêng của tác giả
Đoạn văn sau giới thiệu về vẻ đẹp của hồ Tịnh Tâm, dưới ngòi bút của người nghệ sĩ dường như càng lung linh hơn:
“Kìa, màu rêu lục phong trên mái cũ, nền xưa, màu xanh thẫm của lá cây, màu xanh nhạt của da trời, màu xanh biếc của nước hồ pha lẫn nhau một cách rất điều hòa, khéo léo Giữa bức tranh thiên nhiên có một màu xanh dịu như nhung
ấy, còn điểm thêm vào những đóa sen hồng, những đóa hoa cẩn đỏ rực rỡ xinh tươi
Bóng dáng người xưa như phảng phất đâu đây Khách tưởng chừng vẳng nghe tiếng đọc sách, ngâm thơ của các ông hoàng thi sĩ, hiếu học và cũng đa tình, vọng lên từ sau những phiến đá chập chồng hay sau mấy gốc cây già cỗi Và trên cầu xưa, nơi bến cũ, như còn thấp thoáng những tà áo cung nhân”19
Không kể những cách nghiên cứu các bài viết đăng trên tạp chí, nhiều nhất
là ở “Văn hóa nguyệt san” và các tạp chí khác tiên sinh viết rất cô đọng, ngắn gọn
nhưng rõ ràng, đủ ý Cách viết hàm súc của ông thể hiện một phong cách nghiên cứu rất xứng đáng cho chúng ta học tập Đến với những bài viết của Bửu Cầm tiên sinh chúng ta có thể dễ dàng nắm bắt được vấn đề thể hiện, kiến thức tuy nhiều nhưng nhưng không sa đà, chủ quan mà ngược lại còn rất tiêu biểu Ngoài ra tiên sinh còn có khả năng khái quát rất cao nên kết cấu bài viết tuy ngắn gọn nhưng mạch lạc, thể hiện được toàn diện những vấn đề hướng đến
19
Bửu Cầm, Hồ Tịnh Tâm (thắng cảnh cố đô), Văn hóa nguyệt san, 1959, số 44, Tr.43
Trang 28Trên cơ sở trình bày thư mục nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm chúng tôi tiến hành khái quát một vài đặc điểm về nội dung và hình thức của thư mục, bước đầu khái quát về phong cách nghiên cứu khoa học của tiên sinh Một phong cách nghiên cứu đa dạng sắc sảo, xứng đáng là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo
Trang 29CHƯƠNG 2 : THƯ MỤC NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO SƯ BỬU CẦM
2.1 Thư mục phân loại theo năm xuất bản của tạp chí và trật tự chữ cái tên sách
Trong phần tổng thư mục nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm chúng tôi sắp xếp các bài viết của giáo sư thành hai phần gồm: Các bài tạp chí và sách đã xuất bản của giáo sư
Các bài báo, tạp chí chúng tôi sắp xếp theo số thứ tự xuất bản của tờ báo
đó Do giáo sư Bửu Cầm viết bài cho nhiều tạp chí khác nhau nên chúng tôi ưu tiên xếp tạp chí có số lượng bài viết của giáo sư nhiều đứng trước, các tạp chí có bài viết của giáo sư ít hơn xếp sau
Mỗi đơn vị trong thư mục được thể hiện theo trình tự các yếu tố sau: số thứ
tự, tên tác giả, tên bài viết, nguồn trích, năm xuất bản, số tạp chí xuất bản, số trang, và có thêm phần tóm tắt nội dung chính của từng bài tạp chí đề cập đến
Ví dụ: 2 Bửu Cầm, Một sử liệu quý giá về Nam phần Việt Nam, Văn hóa nguyệt san, 1958, số 31, Tr.506- 508
Bài viết qua các tư liệu lịch sử về việc dịch thuật Gia Định thông chí khẳng định bài Trịnh Hoài Đức soạn Gia Định thông chí thành trì chú thích của Trần
Kinh Hòa tiên sinh là một tài liệu sử rất có giá trị, cần thiết cho học giả trong và ngoài nước muốn biết rõ lịch sử và địa lý đất Nam phần trước khi người Pháp đến
Trong đó:
- 2: số thứ tự của bài viết trong thư mục
- Bửu Cầm: Tên tác giả bài viết
- Một sử liệu quý giá về Nam phần Việt Nam: Tên bài viết
- Văn hóa nguyệt san: Tên tạp chí (nguồn trích)
Trang 30- 1958: Năm công bố
- Số 31: Số của tạp chí
- Tr.506- 508: Số trang của bài tạp chí
- Phần còn lại : Nội dung tóm tắt của bài tạp chí
Để tiện lợi cho người sử dụng, trong từng đơn vị mục lục, chúng tôi trình bày tên bài viết và tên các tác phẩm được bài viết đề cập đến bằng hình thức in nghiêng
Về phần sách chúng tôi sắp xếp theo trật tự chữ cái tên tác phẩm
giả trên cơ sở những dẫn chứng tiến hành phân tích, đối chiếu, so sánh đã khẳng
định giá trị về nội dung và hình thức của Nam cầm khúc không thua kém Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị Đặc biệt ông còn nhấn mạnh sự tài hoa, sáng tạo của Di
Hiên tiên sinh là con trai của Tuy Lý Vương khi phiên dịch tác phẩm của phụ thân
ra chữ Nôm Phần sau bài viết tác giả có giới thiệu Nam cầm khúc cả bằng chữ
Hán và bản dịch thơ lục bát
2 Bửu Cầm, Một sử liệu quý giá về Nam phần Việt Nam, Văn hóa nguyệt
san, 1958, số 31, Tr.506- 508
Bài viết đề cập đến Gia Định thông chí là một cuốn sách có giá trị sử liệu
rất quý về cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam Tác giả thông qua việc khảo cứu
các tư liệu lịch sử về việc dịch thuật Gia Định thông chí khẳng định bài Trịnh Hoài Đức soạn Gia Định thông chí thành trì chú thích của Trần Kinh Hòa tiên