1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi pháp thơ đường, những vấn đề mới về lý luận và phương pháp tiếp cận

249 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta đều biết, thơ mang sức mạnh cảm phát, cái gọi cảm phát ở đây không chỉ dừng lại ở những rung động tình cảm trong lòng tác giả thông qua tác phẩm chuyển tải và gây cảm động đến t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NĂM 2009

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : THƠ ĐƯỜNG VÀ TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN 7

1.1.Thành tựu thơ Đường 7

1.2.Tiền đề phát triển của thơ Đường 9

1.3 Tiến trình phát triển của thơ Đường 53

1.4 Nguyên nhân hưng thịnh của thơ Đường 68

CHƯƠNG 2 : THƠ ĐƯỜNG, ĐẶC TRƯNG THI PHÁP 75

2.1 “Phong cốt” và “hứng ký” 75

2.2 Thanh luật và từ chương 101

2.3 “Hứng tượng” và “vận vị” 130

2.4 Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Đường 144

CHƯƠNG 3 : THƠ ĐƯỜNG, PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 175

KẾT LUẬN 182

TÀI LIỆU THAM KHẢO 184

PHỤ LỤC 203

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Thơ Đường như một đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc, văn học Trung Quốc, văn hóa Trung Quốc; cũng là thành tựu đỉnh cao của thơ ca, văn học, văn hoá nhân loại, cần phải không ngừng tiếp cận và khai thác Với một đối tượng nghiên cứu như thơ Đường, việc tìm hiểu và nghiên cứu không chỉ dừng lại ở khía cạnh hiểu về một đối tượng nghiên cứu, mà còn gợi mở rất nhiều vấn đề, trong đó có những vấn đề thuộc bản thân thơ ca Trung Quốc, bản thân văn học nghệ thuật Trung Quốc; và cả những vấn đề nhìn từ góc độ thi học so sánh, văn học so sánh và văn hóa so sánh 1.2 Trang tử từng nói: “Ai mạc đại ư tâm tử, nhi thân tử thứ chi 哀莫大於心死,而身死次之。Điều đáng buồn của con người thực không gì lớn hơn việc lòng chết ( tâm tử ), sau đó mới đến cái chết.” Nếu như lòng con người ta ngày ngày chỉ biết chìm đắm trong vật dục, hoàn toàn không có hứng thú với bất kỳ một lĩnh vực nào khác, ấy chẳng phải đã uổng phí một kiếp nhân sinh? Chúng ta đều biết, thơ mang sức mạnh cảm phát, cái gọi cảm phát ở đây không chỉ dừng lại ở những rung động tình cảm trong lòng tác giả thông qua tác phẩm chuyển tải và gây cảm động đến từng trái tim độc giả, mà độc giả cũng có thể trên cơ sở đó tiếp tục liên tưởng, kết hợp thêm tình cảnh của cá nhân cùng bối cảnh lịch sử văn hoá của chính thời đại mình, tạo nên những xung động tình cảm mới, những tình cảm kiểu như vậy sẽ không ngừng sinh sôi, sẽ bất diệt và còn lưu truyền mãi mãi cùng thời gian Sức mạnh cảm phát của thơ ca rõ ràng có thể làm cho lòng người trở nên hoạt bát hơn, tươi trẻ hơn, thậm chí như đã nói có thể đạt đến trạng thái vĩnh hằng cùng với không gian và thời gian (“lập ngôn”) Đây chính là một trong những công năng đặc biệt của thơ.Từ khía cạnh này, một lần nữa cũng có thể thấy rõ tính tất yếu trong việc tìm hiểu và nghiên cứu thơ Đường ở Trung Quốc và các nước trên thế giới, trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai

Trang 4

1.3 Thơ Đường có vai trò, vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn thuộc nhiều bậc học tại Việt Nam Ở bậc trung học, học sinh được học thơ Đường ở lớp 7

và 8; ở bậc đại học và cao học, rất nhiều chuyên đề mang tính chất giới thiệu, nghiên cứu chuyên sâu về thơ Đường, như Văn học phương Đông, Văn học Đông Á, Văn học Trung Quốc, Thơ Đuờng, Thi pháp thơ Đường, …Không chỉ trong môi trường giáo dục, thơ Đường còn được xem là món ăn tinh thần được yêu thích của không ít cá nhân trong xã hội Trước nhu cầu không ngừng tìm hiểu, khám phá về giá trị nhiều mặt của thơ Đường của mọi người thuộc mọi thành phần xã hội, những thành tựu nghiên cứu của các học giả Việt Nam về đối tượng này, tuy đều đáng được khẳng định, đáng được trân trọng, nhưng chúng vẫn là quá ít, quá khiêm tốn so với nhu cầu thực tế Thực tiễn đòi hỏi cần phải có những công trình nghiên cứu mang tầm cao hơn, có phương pháp, biện pháp hữu hiệu hơn trong việc thâm nhập,

đi sâu vào giải mã thế giới nội tại của thơ Đường

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Thơ Đường là đối tượng nghiên cứu truyền thống, quen thuộc của giới nghiên cứu văn học thế giới Trong suốt lịch sử phát triển của ngành này, đã có không ít công trình nghiên cứu ưu tú được ra đời tại nhiều quốc gia trên thế giới Chẳng hạn,

tại Trung Quốc, có thể kể tới một số công trình tiêu biểu như Đường thi sử 唐詩史 của Hứa Tổng (1994); Cổ thi khảo sách 古詩考索 của Trình Thiên Phàm (1984);

Đường thi tổng luận 唐詩綜論 của Lâm Canh (1987); Đường thi học sử cảo 唐詩學

史稿 của Trần Bá Hải (2004); Đường thi đích mỹ học xiển thích 唐詩的美學闡釋

của Lý Hạo (2000); Đường thi tỷ giảo nghiên cứu 唐詩比較研究 của Phòng Nhật Tích (2000); Đường đại khoa cử dữ văn học 唐代科舉與文學 của Phó Huyền Tông

(2003); Thiền dữ thi học 禪與詩學 của Trương Bá Vĩ, (1992); Lý Đỗ luận lược 李

杜略論 của La Tôn Cường (1982);….Tại Đài Loan, có thể kể tới những công trình

tiêu biểu như Thiền học dữ Đường Tống thi học 禪學與唐宋詩學 của Đỗ Tùng Bách (1978); Đường thi tản luận 唐詩散論 của Diệp Khánh Bính (1981); Đường

đại thi nhân dữ tại Hoa ngoại quốc chi văn tự giao 唐代詩人與在華外國人之文字

交 của Tạ Hải Bình (1981);….Tại Nhật Bản, có thể kể tới một số công trình tiêu

Trang 5

biểu như Trung Quốc thi luận sử 中國詩論史 của Linh Mộc Hổ Hùng (1989); Luận

Trung Quốc thi 論中國詩 của Tiểu Xuyên Hoàn Thụ (1986); Trung Quốc thi sử 中

國詩史 của Cát Xuyên Hạnh Thứ Lang (1986); Cự biến dữ tưởng tượng: Trung

Quốc thi học đích Đường Tống chuyển hình 距離與想像:中國詩學的唐宋轉型 của

Thiển Kiến Dương Nhị (2005); Trung Quốc cổ điển văn hóa cảnh trí 中國古典文化

景致 của Hưng Thiện Hoành (2005);… Tại Hàn Quốc, tiêu biểu có Đường thi luận

khảo 唐詩論考 của Liễu Thặng Tuấn (1994); Hàn Trung thi thoại uyên nguyên khảo 韓中詩話淵源考 của Hứa Thế Húc (1979);….Tại Anh Mỹ, nổi bật có một số

công trình của GS.Stephen Owen, như The Poetry of the Early T’ ang (1971), The

Great Age of Chinese poetry: the High T’ang (1980), Traditional Chinese Poetry and Poetics, Omen of the World (1985); ngoài ra còn một số công trình đáng chú ý

như T’ang Poetic Vocabulary của H M Stimson (1976); Poetics and Prosody in

Early Medieval China: A study and Translation of Kukai’s Bunkyo hifuron (Thi thể

và thi học Trung Quốc thời trung cổ: nghiên cứu và phiên dịch Văn kính mật phủ luận của Không Hải) của R.W Boldman (1978);… Có thể nói, thành tựu nghiên

cứu về thơ Đường ở Trung Quốc cũng như trên thế giới đã hết sức phong phú, hầu hết mọi khía cạnh, mọi phương diện thuộc đối tượng và cả những khía cạnh, phương diện có liên quan đến đối tượng, đều đã được các nhà nghiên cứu chú ý và triển khai nghiên cứu

Riêng ở Việt Nam, ngoài những công trình chuyên dịch thơ Đường, thành tựu

của mảng chuyên luận cũng khá phong phú, như Diện mạo thơ Đường của Lê Đức Niệm (1998); Về thi pháp thơ Đường của hai tác giả Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử; Thi pháp thơ Đường của Nguyễn Thị Bích Hải (1995); Thi pháp thơ Đường của

Lương Duy Thứ (2004); Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam của Nguyễn Tuyết

Hạnh (1996);….Thế nhưng, theo ý kiến cá nhân của chúng tôi, công tác nghiên cứu thơ Đường ở Việt Nam dường như có sự lệch lạc, sự lệch lạc này không chỉ thể hiện

ở khía cạnh nội dung, tức những vấn đề được các học giả quan tâm nghiên cứu chưa thực sự nắm bắt được những đặc trưng cơ bản của thơ Đường; mà còn thể hiện ở cả khía cạnh phương pháp, có lẽ chính sự lệch lạc trong phương pháp này, khiến cho ngành nghiên cứu thơ Đường nhiều năm lại đây dậm chân tại chỗ, trong suốt một

Trang 6

khoảng thời gian khá dài, ngoài những bài viết mang tính cảm thụ, hầu như không thấy phát kiến gì mới liên quan đến đối tượng này Từ thực tế tình hình nghiên cứu thơ Đường ở Việt Nam, đề tài của chúng tôi nêu ra chính mang tham vọng chấn chỉnh những lệch lạc nêu trên

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU NGHIÊN CÚU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nội dung chủ yếu của đề tài này là những vấn đề thi pháp của thơ Đường, tức ứng dụng hệ thống lý luận cũng như những thành tựu của ngành nghiên cứu thi pháp vào nghiên cứu và giải mã thơ Đường, hoàn toàn không phải là thơ Đường học, nên

sẽ có rất nhiều vấn đề không được trình bày ở đây, chẳng hạn vấn đề tiếp nhận thơ Đường, lịch sử nghiên cứu thơ Đường, ảnh hưởng của thơ Đường,… Tất nhiên ngoài những vấn đề cơ bản thuộc thi pháp thơ Đường, chúng tôi cũng sẽ thiết cập đến một số vấn đề khác, việc làm này cốt ở tạo cho người đọc cơ hội có thể dễ dàng tiếp cận và hiểu sâu hơn về những đặc trưng thi pháp của thơ Đường hơn

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đem vấn đề được nghiên cứu trình bày một cách mới mẻ, cụ thể, đảm bảo tính khoa học Những quan điểm được đưa ra đảm bảo tính mới mẻ, đồng thời là một đột phá trong lĩnh vực nghiên cứu thơ Đường tại Việt Nam

Sau công trình này, chúng tôi hy vọng:

- Thơ Đường sẽ củng cố vị trí của mình hơn trong các chương trình Ngữ văn thuộc nhiều bậc học trong nền giáo dục tại Việt Nam

- Thơ Đường sẽ được nhiều học giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu hơn, đồng thời cũng sẽ có nhiều chuyên luận có giá trị học thuật cao ra đời

- Thơ Đường sẽ không dừng lại là một công cụ dùng để giáo dục thẩm mỹ, nó

sẽ dần dần biến thành nguồn thức ăn tinh thần mà mọi người thuộc mọi thành phần

xã hội sẽ tự giác tìm đến với nó

Trang 7

Từ góc độ chuyên ngành, chuyên luận không chỉ đóng góp về mặt nội dung, mà còn là sự đột phá về mặt phương pháp, tức việc sử dụng tri thức tổng hợp, liên ngành, liên văn hóa vào quá trình nghiên cứu và giải quyết vấn đề

Trong đề tài này, chúng tôi chủ yếu vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích thi pháp

Một tập sách nghiên cứu, bao gồm phần chính văn 150 trang A4, phần phụ lục

50 trang A4 Bản thảo sau khi nghiệm thu có thể in thành sách, dùng làm giáo trình giảng dạy môn Thi pháp thơ Đường cho học viên cao học các ngành văn học Việt Nam, văn học nước ngoài và ngành Hán Nôm dự định sẽ mở đào tạo trong tương lai gần, và cả cho sinh viên ngành đào tạo Hán Nôm; hoặc dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh ngành văn học, sinh viên ngành văn học, văn hoá học, Ngữ văn Trung Quốc,…

4.2 Kết quả khoa học và hướng ứng dụng

- Trình bày vấn đề được nghiên cứu một cách mới mẻ, cụ thể, đảm bảo tính khoa học cao

- Dùng làm giáo trình giảng dạy môn Thi pháp thơ Đường cho học viên cao học ngành văn học Việt Nam, ngành văn học nước ngoài và ngành Hán Nôm sẽ mở đào tạo trong tương lai gần

- Dùng làm giáo trình dạy môn Thơ Đường cho sinh viên chuyên ngành Hán Nôm thuộc trường

Trang 8

- Dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên Cao học và Nghiên cứu sinh

- Có thể sửa chữa, xuất bản thành sách, coi như một chuyên luận nghiên cứu về thơ Đường, cung cấp cho bạn đọc yêu và thích tìm hiểu, nghiên cứu về thơ Đường gần xa

5 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI

Đề tài gồm ba chương:

Chương 1: Thơ Đường và tiền đề phát triển

Chương 2: Thơ Đường, đặc trưng thi pháp

Chương 3: Thơ Đường, phương pháp tiếp cận

Phụ lục

Sau ba chương nêu trên, chúng tôi phụ thêm một số tư liệu lý luận quan trọng

và một số bài viết của cá nhân có liên quan đến nội dung đề tài

Trang 9

CHƯƠNG 1 : THƠ ĐƯỜNG VÀ TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN

1.1.Thành tựu thơ Đường

Đường triều là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc Các học giả trước nay theo thói quen, thường coi thơ Đường là “nhất đại chi thắng”, cũng như phú đối với Hán, từ với Tống, khúc với Nguyên và tiểu thuyết với Minh Thanh1 Dẫu rằng việc lấy một thể tài văn học đơn độc để khái quát toàn bộ thành tựu văn học của một thời đại là chưa thật hợp lý, nhưng nhìn từ khía cạnh khác, không thể phủ nhận đây

là quan điểm mang tính lịch sử lâu dài, đồng thời có ảnh hưởng sâu rộng nhất ở Trung Quốc từ hai đời Minh Thanh lại đây Thành tựu của thơ Đường có thể kể tới một số mặt như sau:

Trước hết, về số lượng, tính đến nay số lượng các bài thơ Đường thống kê

được đã vượt quá con số 55000 bài và trên 2300 nhà thơ Cụ thể, sách Toàn Đường

thi, gồm 900 quyển, thu thập hơn 48900 bài thơ của hơn 2200 nhà thơ Sách hoàn

thành dưới triều Khang Hy đời Thanh, cũng do chính vị Hoàng đế này lệnh cho Bành Định Cầu, Dương Trung Nột cùng tập thể hơn mười người tập biên trong

khoảng thời gian gần hai năm Công tác biên tập Toàn Đường thi tất nhiên nhắm tới

thu thập toàn bộ thành tựu phong phú đa diện của thơ ca đời Đường, nhưng với khoảng thời khá hạn hẹp, lại thêm thời điểm cũng như đối tượng biên chép đều cách

xa thời ấy hàng thế kỷ, vậy nên tham vọng nêu trên là không thể thực hiện Chính vì

lý do này, kể từ khi sách này ra đời, công tác sưu tầm bổ biên không ngừng diễn ra

Trong đó tiêu biểu có thể kể đến Toàn Đường thi dật của học giả Nhật Bản Thượng

Hà Mao Thế Ninh, Bổ toàn Đường thi và Đôn Hoàng Đường nhân thi tập tàn quyển của Vương Trọng Dân, Toàn Đường thi bổ dật của Tôn Vọng, Toàn Đường thi tục

bổ di của Đồng Dưỡng Niên Đặc biệt đáng chú ý trong công tác sưu tầm và bổ biên

thơ Đường là công lao to lớn của học giả Trần Thượng Quân, trong Toàn Đường thi

1

Xem Vương Quốc Duy (1996), lời tự tự trong Tống Nguyên hý khúc khảo, Đông Phương xuất bản

xã, 1996, tr.3 Xem thêm quan điểm của Ngu Tập đời Nguyên chép trong Khổng Tề (1987), Chí

Trang 10

bổ biên của mình, ông đã bổ sung thêm vào danh mục thơ Đường 6327 bài thơ,

1505 câu thơ lẻ và hơn 1600 tác giả2

Nhìn từ phương diện chất lượng kết hợp thêm một số góc độ khác, học giả đời

Minh là Hồ Ứng Lân trong quyển 3 phần Ngoại biên《外編》sách Thi tẩu《詩

cụ hỹ Kỳ điệu, tắc phiêu dật, hùng hồn, thâm trầm, bác đại, ỷ lệ, u nhàn, tân kỳ, ổi tỏa, mỹ phất nghệ hỹ Kỳ nhân, tắc đế vương, tướng tướng, triều sĩ, bố y, đồng tử, phụ nhân, truy lưu, vũ khách, mỹ phất dự hỹ

Ôi, thơ vào đời Đường mới thịnh vượng biết bao! Xét về thể, có thơ ba chữ, bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, thơ tạp ngôn, nhạc phủ, ca hành, cận thể, tuyệt

cú, thật không gì không đầy đủ; xét về cách, có cao thấp, xa gần, nồng đượm, sâu nông, to nhỏ, tinh thô, khéo vụng, mạnh yếu, không gì không đủ; xét về điệu, có phiêu dật, hùng hồn, thâm trầm, rộng lớn, đẹp đẽ, u nhàn, tân kỳ, tạp nhạp, không gì không đạt tới Lại nói về lực lượng sáng tác, có đế vương, tướng văn tướng võ, triều thần, dân thường, trẻ em, phụ nữ, sư sãi, đạo sĩ, không tầng lớp nào không tham dự vào

Từ những khía cạnh nêu trên, có thể thấy rõ, thơ Đường là một trong những thành tựu rực rỡ nhất trong lịch sử thơ ca Trung Quốc và nhân loại Hoàn toàn có

2

Xem Tào Đạo Hoành (2000), Cổ đại văn học yếu tịch giản giới, Giang Tô cổ tịch, tr.78-81 Xem

thêm Trần Thượng Quân (1997), Đường đại văn học tùng khảo, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc,

Trang 11

thể coi thơ Đường là biểu tượng huy hoàng nhất của ngôn ngữ nhân loại đạt đến đỉnh cao của sự thăng hoa.Với tư cách là bộ phận cấu thành quan trọng trong nền văn hoá truyền thống Trung Quốc, thơ Đường đồng thời cũng là di sản quan trọng của văn hoá thế giới, những vần thơ Đường cho đến nay vẫn luôn có sức lay động

và cảm hoá mạnh mẽ đối với tâm hồn người đọc không chỉ ở Trung Quốc, mà ở khắp mọi nơi trên thế giới Cũng chính vì vậy mà từ lâu, thơ Đường đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới, được nhiều thế hệ học giả Trung Quốc và thế giới dành trọn tâm huyết và cuộc đời mình cho công tác nghiên cứu và truyền bá thơ Đường

Trang tử từng nói: “Ai mạc đại ư tâm tử, nhi thân tử thứ chi 哀莫大於心死,而身死次之。Điều đáng buồn của con người thực không gì lớn hơn việc lòng chết ( tâm tử ), sau đó mới đến cái chết.” Nếu như lòng con người ta ngày ngày chỉ biết chìm đắm trong vật dục, hoàn toàn không có hứng thú với bất kỳ một lĩnh vực nào khác, ấy chẳng phải đã uổng phí một kiếp nhân sinh? Chúng ta đều biết, thơ mang sức mạnh cảm phát, cái gọi cảm phát ở đây không chỉ dừng lại ở những rung động tình cảm trong lòng tác giả thông qua tác phẩm chuyển tải và gây cảm động đến từng trái tim độc giả, mà độc giả cũng có thể trên cơ sở đó tiếp tục liên tưởng, kết hợp thêm tình cảnh của cá nhân cùng bối cảnh lịch sử văn hoá của chính thời đại mình, tạo nên những xung động tình cảm mới, những tình cảm kiểu như vậy sẽ không ngừng sinh sôi, sẽ bất diệt và còn lưu truyền mãi mãi cùng thời gian Sức mạnh cảm phát của thơ ca rõ ràng có thể làm cho lòng người trở nên hoạt bát hơn, tươi trẻ hơn, thậm chí như đã nói có thể đạt đến trạng thái vĩnh hằng cùng với không gian và thời gian (“lập ngôn”) Đây chính là một trong những công năng đặc biệt của thơ.Từ khía cạnh này, một lần nữa cũng có thể thấy rõ tính tất yếu trong việc tìm hiểu và nghiên cứu thơ Đường ở Trung Quốc và các nước trên thế giới, trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai

1.2.Tiền đề phát triển của thơ Đường

Thơ là gì theo quan niệm của người Trung Quốc ? Đối tượng này có tiến trình phát ra sao trước khi đạt đến đỉnh cao là thơ ca đời Đường? Thiết nghĩ, trước khi đi vào bàn luận về thơ Đường, đây là những vấn đề quan trọng mà chúng ta cần phải

Trang 12

giải quyết trước nhất Ở mục này, chúng tôi chủ yếu đi vào bốn vấn đề chính: quan niệm về thơ của người Trung Quốc xưa, nguồn gốc của thơ, mối quan hệ giữa tình ý

và hệ thống hình tượng trong thơ, tiến trình phát triển ở phương diện thể thức của thơ ca Trung Quốc giai đoạn trước Đường

1.2.1 Thơ theo quan niệm của người Trung Quốc

Trước khi văn tự ra đời, ca dao đã được sáng tác và lưu truyền bằng phương thức truyền miệng, điều này có thể bắt gặp trong bất kỳ một nền văn hóa thuộc bất

kỳ một dân tộc nào trên thế giới Thế nên, có thể nói, “ca 歌” và “dao 謠” chính là tiền thân của thơ Về điểm này, cổ nhân đã có không ít người đề cập, ví dụ học giả

Khổng Dĩnh Đạt đời Đường trong Thi bổ tự chính nghĩa 《詩譜序正義》từng nói:

“上古之時,徒有謳歌吟呼,縱令土鼓、葦龠,必無文字雅頌之聲。Thượng cổ chi thời, đồ hữu âu ca ngâm hô, tung lệnh thổ cổ, vĩ thược, tất vô văn tự nhã tụng chi thanh (Ở thời thượng cổ, duy chỉ có lời hô hào ca ngâm, cho dù có thể có trống chiêng, tiêu sáo, nhưng ắt chưa thể có hình thức thơ ca chép bằng văn tự.)” Ông lại cho rằng, hoạt động nói trên đại khái xuất hiện ở giai đoạn Thần Nông Do chỉ có nhạc khí phối tấu, chưa có văn tự ghi chép, nên những lời hô hào ca ngâm của tiền nhân ắt chưa thể gọi là thơ Nhưng “ca” và “dao” đã là tiền thân của thơ, nên muốn hiểu rõ quan niệm của tiền nhân Trung Quốc về thơ, ắt không thể không xem xét nét nghĩa của hai từ “ca” và “dao”

Hình thức Cổ văn của chữ “ca 歌” ngày nay được viết là “謌”, trong Kim văn viết là “訶”; cả hai đều lấy nghĩa của chữ “khẩu 口”, kết hợp với “ngôn 言” để tạo thành “訶” và “謌”, dùng chỉ nghĩa của chữ “ca 歌” trong từ “ca vũ 歌舞”, tức hoạt động ca múa Chữ “khả 可” mang nghĩa của chữ “khẩu 口” và chữ “hàoㄎ”, theo Bạch Xuyên Tĩnh, một học giả Nhật giải thích: “‘khẩu 口’ vốn là khí vật dùng để đựng lời tế, sau khi lời tế được bỏ vào, miệng của khí vật hơi mở ra, đó là hình chữ

‘viết 曰’, ‘viết 曰’ chính là động tác dùng ngôn từ khấn nguyện cùng thần linh, cũng

có thể coi là lời nhắn nhủ của thần linh đối với con người3.” Riêng chữ “hàoㄎ”,

3

Trang 13

học giả Trần Mộng Gia cho rằng, “đó chính là chữ ‘hào 号’ trong từ ‘hô hào 呼号’ (kêu gào)”, cũng giống như vũ đạo (nhảy múa), hô hào (kêu gào thuộc phần lời ca) cũng là một hình thức không thể thiếu trong mọi hoạt động cúng tế của người xưa.4Danh từ “dao 謡” luôn đi liền với “ca 歌”, đồng thời cũng là ngôn ngữ không thể thiếu trong những nghi thức cúng tế thuở xa xưa; chữ này hình thức Kim văn được viết với cấu hình bên trái phía trên là chữ “ngôn 言” (lời, ngôn từ) có thêm bộ

“nhục 肉” (thịt), chỉ ý đem thịt làm vật cúng, vật trung gian nối kết giữa thần với người kèm theo lời khấn; bên phải là chữ “hệ 系”, “ý nói muốn giao tiếp với quỷ thần phải đem vật phẩm cùng lời khấn cầu làm phương tiện kết nối vậy.”5

Như vậy, có thể thấy rõ, với tư cách là tiền thân của “thi 詩”, nội dung của “ca歌” và “dao 謠” đều gắn với hoạt động cúng tế, mang đậm tính chất tôn giáo

Trong văn tự Giáp cốt và Kim văn, chữ “thi 詩” chưa xuất hiện Theo các

chuyên gia, chữ “thi 詩” lần đầu tiên xuất hiện trong Thi kinh《詩經》, vào khoảng

thế kỷ thứ 11 trước công nguyên, tức vào khoảng giai đoạn Tây Chu Cũng theo khảo sát của các chuyên gia, chữ “thi” thời kỳ này đã có sự khác biệt đáng kể trong

so sánh với chữ “ca 歌” Ở đây, “thi” rõ ràng đã được dùng để chỉ một hình thức tư duy của con người, được con người dùng ngôn từ (văn tự) cố định lại, “thi” đã là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, chứ không phải loại hình nghệ thuật gắn liền với

âm nhạc như “ca 歌” Sự chuyển biến từ “ca” sang “thi” tất yếu có rất nhiều nguyên nhân phức tạp, nhưng theo chúng tôi, nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của

“thi”, có lẽ chủ yếu do sự biến chuyển của nền văn hóa Trung Quốc từ văn hoá vu thuật sang văn hóa sử quan giữa hai triều đại Thương Ân và Tây Chu

Hứa Thận trong Ngôn bộ《言部》sách Thuyết văn giải tự《說文解字》khi định nghĩa về “thi 詩” viết: “Thi, chí dã Chí phát vu ngôn, tùng ngôn, tự thanh 詩,志也。志發於言,從言,寺聲。Thơ, chí vậy Thơ là chí phát ra lời, trong đó chữ

“ngôn” biểu nghĩa, chữ “tự” biểu âm ”

4

Xem Trần Mộng Gia, Thần thoại và vu thuật đời Thương《商代的神話與巫術》, Yên Kinh học

báo, số 20, tr.539

Trang 14

Văn Nhất Đa trong Ca dữ thi 《歌與詩》cũng cho rằng “thi 詩” và “chí 志”

vốn chỉ là một chữ, đồng thời còn nói thêm: “Chữ ‘chí 志’ có phần trên là chữ ‘chỉ

止’ Trong Bốc từ 《卜辭》, chữ ‘chỉ 止’ được viết với chữ ‘chỉ 止’ ở trên, chữ

‘nhất 一’ ở dưới, giống như hình bàn chân người dừng trên mặt đất, vậy nên ‘chỉ 止’

có nghĩa dừng lại” Ông lại nói: “Chữ ‘chí 志’ có phần trên là chữ ‘chỉ 止’, phần dưới là chữ ‘tâm 心’, có nghĩa dừng ở trong lòng Dừng ở trong lòng cũng có thể nói

là cất giữ (tàng) ở trong lòng” Cho nên Thi tự sớ《詩序疏》 nói: “Uẩn tàng tại tâm

vị chi chí 蘊藏在心謂之志。Cất giữ ở trong lòng gọi là chí ” Mao thi tự 《毛詩

序》nói càng rõ hơn: “Thi giả, tại tâm vi chí, phát ngôn vi thi 詩者,在心為志,發言為詩。Thơ, ở trong lòng là chí, phát ra lời là thơ ”

Thêm vào đó, vì “chí 志” có nghĩa dừng ở trong lòng, hoặc cất giữ ở trong lòng, thế nên trong một số sách vở đời Tần, Hán, “chí 志” thường được giải thích

với hai chữ “tình 情” và “ý 意” Thái Thúc đáp Triệu Giản tử hỏi về lễ trong Tả

truyện《左傳》, Chiêu Công năm thứ 25 nói: “Dân hữu hiếu, ố, hỷ, nộ, ai, lạc, sinh

ư lục khí Thị cố thẩm tắc nghi loại, dĩ chế lục chí 民有好、惡、喜、怒、哀、樂,生於六氣。是故審則宜類,以制六志。Dân có hiếu, ố, hỷ, nộ, ai, lạc, ấy đều

từ lục khí mà ra Vậy nên loại nào đặt theo loại ấy, chế thành lục chí.” Khổng Dĩnh

Đạt trong Chính nghĩa《正義》nói: “Thử lục chí Lễ ký vị chi lục tình Tại kỷ vi

tình, tình động vi chí, tình chí nhất dã 此六志《禮記》謂之六情。在己為情,情

動為志,情、志一也。Lễ ký gọi lục chí này là lục tình Ở mình là tình, tình động

là chí, tình và chí thực cũng như nhau.” Sách Lễ ký thiên Học ký có câu: “Nhất niên

thị ly kinh biện chí 一年視離經辨志。Học xong một năm sẽ kiểm tra khả năng ngắt câu và phán đoán tâm ý mà lòng người hướng tới.” Trịnh Huyền chú thích câu này viết: “Biện chí, vị biệt kỳ tâm ý sở xu hướng dã 辨志,謂別其心意所趨向也。Biện chí tức phân biệt rõ nơi mà lòng người (tâm ý) hướng tới ” Trịnh Huyền

chú câu: “Thi ngôn chí, ca vĩnh ngôn 詩言志,歌永言” trong Nghiêu điển《堯 典》sách Thượng thư《尚書》viết: “Thi sở dĩ ngôn nhân chi chí ý dã; vĩnh, trường

Trang 15

以長言詩之意。Thơ dùng để biểu đạt ý chí của con người; chữ vĩnh có nghĩa kéo

dài, ca dùng để ngân dài lời thơ ” Sách Quảng nhã《廣雅》mục Thích ngôn《釋 言》nói: “Thi, ý dã 詩,意也。Thơ, ý vậy ” Sách Hán thư《漢書》mục Tư Mã

Thiên truyện《司馬遷傳》dẫn lời Đổng Trọng Thư rằng: “Thi dĩ đạt ý 詩以達

意。Thơ là để biểu đạt ý ” Từ những chú thích nêu trên, có thể thấy rõ, “chí 志” bao hàm “tình 情” và “ý 意”, cũng chính là tình cảm và ý chí hai bộ phận luôn tồn tại song song trong lòng nhà thơ Thế nên, vấn đề “ngôn chí 言志” trong thơ, thực không ngoài việc “ngôn tình 言情” và “ngôn ý 言意” Việc thơ ca Trung Quốc đặc biệt trọng tình và trọng ý có lẽ cũng vì vậy

Về ý nghĩa của “chí 志”, Văn Nhất Đa trong Ca dữ thi《歌與詩》 từ góc độ

khác khảo sát tỉ mỉ hơn Ông nói: “‘chí 志’ có ba nét nghĩa: một là ký ức (記憶), hai

là ghi chép(ký lục 記錄)và ba là hoài bão (懷抱) Ba nghĩa này đại biểu cho ba giai đoạn phát triển chủ yếu của thi ca”

Thứ nhất, “thi 詩” đã là “chí 志”, “chí” lại cất giữ (tàng 藏) ở trong lòng, vậy nên, “thi” hoặc “chí” chính là ký ức Họ Văn nói: “Thơ vốn ra đời trước chữ viết (văn tự), đương thời người ta dựa vào ký ức, thông qua truyền miệng để lưu hành tác phẩm thơ Thơ sở dĩ có vần, hình thức câu gãy gọn, ấy chẳng phải để tiện cho ghi nhớ và diễn xướng (ký tụng 記誦) sao? Cho nên, đương thời thơ đôi khi cũng có người gọi thơ là tụng Như vậy, hình thức cổ nhất của thơ cũng chính là những khẩu

quyết còn truyền đến ngày nay, kiểu như Bách gia tính《百家姓》, Tứ ngôn tạp tự

《四言雜字》v.v…”

Thứ hai, sau khi chữ viết ra đời, sự tiện lợi của chữ viết nhanh chóng thay thế

vị trí của ký ức, “ký ức được gọi là chí, ghi chép (ký 記錄) cũng được gọi là chí

Thời cổ, nhìn chung mọi ghi chép đều được gọi chung là ‘chí’” Sách Quản tử《管 子》mục Sơn quyền số《山權數》 chép: “Thi sở dĩ chí vật dã 詩所以志物也。 Thơ ghi chép sự vật.” Giả Nghị trong sách Tân thư《新書》 mục Đạo đức thuyết

《道德說》có câu: “Thi giả, chí đức chi lý nhi minh kỳ chỉ, lệnh nhân duyên chi dĩ

Trang 16

緣之以自成也。故曰:詩者,此之志者也。Thơ dùng để ghi đức và làm rõ điều

mà đức muốn nói, để cho người đời căn cứ vào đó mà tự trau dồi Vậy nên nói: Thơ

là những ghi chép về đức vậy.” Như vậy, bất kể là “chí vật 志物” hay “chí đức 志德”, cả hai không ngoài nghĩa ghi chép, ký lục Ngoài ra, trong sách vở đời Tiên Tần, hai chữ “chí vân: 志云:chí rằng:” đồng nghĩa với “thi vân: 诗云:thơ rằng: ” xuất hiện không dưới mười lần, đều chỉ sách vở ghi chép nói chung, hơn nữa lời dẫn

ở sau hai chữ đó thảy đều là văn vần Từ những điều đã nêu, có thể kết luận, ghi chép (ký lục 記錄) chính là nét nghĩa thứ hai của “chí” (hoặc “thi”)

Thứ ba, đồng thời với quá trình trên, sự phát triển nhanh chóng của xã hội và nhu cầu bức thiết của xã hội với việc cải tiến ngôn ngữ thúc đẩy sự ra đời của tản văn Tản văn ra đời cùng với xu hướng thay thế thi ca ở lĩnh vực ghi chép và thuyết

lý đã đẩy mạnh quá trình chuyên môn hóa của thi ca Từ đây, tính tự sự và ký lục trong thơ giảm dần, nhường chỗ cho “tình 情” và “ý 意” Quá trình này tiếp diễn đến khi thuật ngữ “thi ngôn chí 詩言志” hoàn toàn được xã hội công nhận, “chí 志” được dùng để chuyên chỉ việc biểu đạt hoài bão (懷抱), tức những điều nhà thơ ấp ủ trong long, cũng tức “tình 情” và “ý 意” trong lòng thi nhân Đây cũng chính là nét nghĩa thứ ba của “chí” (hoặc “thi”)

Nói tóm lại, từ những khảo cứu trên đây, quan niệm về thơ ca của người Trung Quốc từ nguồn gốc đến tiến trình hình thành và phát triển phần nào đã rõ

1.2.2 Thơ đến từ đâu?

Sách Mao thi đời Hán, mục Thi đại tự viết:

Thi giả, chí chi sở chi dã Tại tâm vi chí, phát ngôn vi thi Tình động ư trung nhi hình ư ngôn, ngôn chi bất túc, cố ta thán chi; ta thán chi bất túc, cố vĩnh ca chi; vĩnh ca chi bất túc, bất tri thủ chi vũ chi, túc chi đạo chi dã

蹈之也。(《詩大序》)

Trang 17

Thơ là nơi gửi gắm tình chí (chí đến đâu thì thơ đến đấy) của con người Ở trong lòng là chí, phát ra lời là thơ Tình động trong lòng, nên có nhu cầu thể hiện ra bằng lời (thơ), dùng lời chưa đủ nên phải thở than; thở than chưa đủ ắt thành ca ngâm; ca ngâm chưa đủ thì dùng tay múa chân nhảy

Đoạn trích trên đây cực kỳ quan trọng, nó không chỉ nói rõ thơ là gì, mà còn tiến thêm một bước, giải thích mối quan hệ mật thiết giữa thơ, ca và vũ đạo “Tình động ư trung nhi hình ư ngôn” chính là nói, trong lòng ta có sự rung động của tư tưởng tình cảm (tình chí), những rung động này nếu được con người dùng ngôn từ biểu đạt ra, chúng ta sẽ có thơ Thế nhưng sự rung động của tư tưởng tình cảm trong lòng con người đến từ đâu? Hay nói cách khác, đâu là tác nhân khiến cho tình ý trong lòng con người hoạt động?

Thiên Nhạc ký, sách Lễ ký nói: “Nhân tâm chi động, vật sử chi nhiên dã 人心

之动,物使之然也。Lòng người dao động, ngoại vật khiến lòng người như vậy.”

Nhạc ký cho rằng, “vật” hay “ngoại vật”chính là tác nhân khiến tình ý trong lòng

người dao động Nhưng “vật” hay “ngoại vật” ở đây là chỉ cái gì? Tại sao nó có thể khiến cho tình ý trong lòng người dao động? Liên quan đến điều này, Chung Vinh

trong Thi phẩm tự viết: “Khí6 chi động vật, vật chi cảm nhân, cố dao đãng tính tình,

của tiết khí manh động vạn vật, vạn vật cảm động lòng người, tình cảm rung động trong lòng người được gửi gắm vào khiêu vũ ca ngâm.” Theo Chung Vinh, “khí” chính là tác nhân khiến ngoại vật manh động, sự biến đổi của vạn vật diễn ra trước mắt mọi người, chính là nguyên nhân khiến lòng người cảm động Người Trung Quốc xưa cho rằng, trong vũ trụ tồn tại hai loại khí âm và dương, sự vận hành của chúng chính sản sinh ra trời đất, vạn vật, bốn mùa, sáng tối Ví dụ, mùa hạ là mùa dương khí thịnh nhất, dương khí lên đến đỉnh điểm vào ngày hạ chí, sau đó suy dần, nhường chỗ cho âm khí; âm khí tăng dần khiến thời tiết lạnh lẽo, cây cối hoa cỏ tàn

tạ, điêu lương Đến ngày đông chí, âm khí cũng đạt đến đỉnh điểm, sau đó lại suy

6

Khí: tiết khí, tức 24 tiết khí trong năm Thiên Vật sắc sách Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp viết:

“Xuân thu đại tự, âm dương thảm thư Vật sắc chi động, tâm diệc đào yên.” Nghĩa là: “Xuân hạ thu đông bốn mùa thay nhau, dương khí thư triển, âm khí bi trầm Cảnh vật bốn mùa thay đổi làm lòng người cũng theo đó mà rung động.”

Trang 18

yếu nhường chỗ cho dương khí Do bốn mùa lạnh ấm không giống nhau, nên cảnh vật cùng hình dạng của cây cối, cỏ hoa, chim muông cũng không giống nhau, lòng người cũng vì thế mà cảm động

Lục Cơ trong Văn phú khi bàn về tình cảm con người thay đổi trước hai cảnh

xuân thu trái ngược nhau viết: “Bi lạc diệp ư kính thu, hỷ nhu điều ư phương xuân

sao mùa thu thường gợi buồn, con mùa xuân hay đem đến niềm vui? Sở dĩ có tình trạng trái ngược này là vì, mùa xuân cây cối đầm chồi nảy lộc, hoa lá tốt tươi, cảnh vật ấy dễ làm người ta liên tưởng đến sự tươi đẹp của cuộc sống; còn mùa thu cây cối tàn tạ điêu lương, dễ khiến người ta liên tưởng đến sự suy tàn, chết chóc Đây đều là do ngoại vật tác động đến lòng người, và một khi lòng người dao động không thể bình tĩnh trở lại, họ sẽ có nhu cầu đem tình cảm trong lòng biểu đạt ra Đó cũng

chính là “dao đãng tính tình, hình chư vũ vịnh” như Chung Vinh đã đề cập trong Thi

phẩm tự

Thông thường mà nói, “ngoại vật” tác động đến nội tâm của con người có thể phân thành hai loại: một loại là “vật tượng”, tức những sự vật hiện tượng đến từ giới

tự nhiên; một loại là “sự tượng”, tức những sự việc hiện tượng thuộc phạm vi xã hội

Cả hai loại trên được Chung Vinh đề cập hết sức cụ thể trong lời tựa của bộ Thi

phẩm

Thực ra những hình ảnh “mùa thu” buồn “lá rụng”, “mùa xuân” vui “liễu rủ”

trong Văn phú của Lục Cơ đều là những vật tượng đến từ giới tự nhiên, nhưng thật

sự phải nói rằng, phải mãi đến Chung Vinh, khi mà vẻ đẹp thiên nhiên được các nhà thơ Trung Quốc phát hiện đồng thời đưa vào thơ với hai dòng thơ tiêu biểu là thơ điền viên và thơ sơn thuỷ, thì hình tượng thiên nhiên đối với văn học mới được tổng

kết đầy đủ và được nâng lên tầm cao lý luận Trong Thi phẩm tự, Chung Vinh viết:

Nhược nãi xuân phong xuân điểu, thu nguyệt thu thiền, hạ vân thử vũ, đông nguyệt kỳ hàn8, tư tứ hậu chi cảm chư thi giả dã

Trang 19

若乃春風春鳥,秋月秋蟬,夏雲暑雨,冬月祁寒,斯四候之感諸詩者也。(《詩品序》)

Còn như gió xuân thổi, chim xuân hót; trăng thu sáng, ve thu kêu; mùa hạ nóng,

có mây mưa; mùa đông lạnh, mang khí giá; khí hậu bốn mùa đều có ảnh hưởng trực tiếp tình cảm trong lòng nhà thơ

Ở đây, Chung Vinh cho rằng, cảnh vật bốn mùa xuân hạ thu đông đều là khởi nguồn của sáng tác văn học, ví dụ mùa xuân tiêu biểu với gió xuân, chim xuân; mùa thu với ánh trăng trong trẻo, với tiếng ve kêu; mùa hè với mây mưa và mùa đông với tuyết băng lạnh lẽo Tất nhiên đây chỉ là những hình ảnh mang tính biểu trưng, ngoài những hình ảnh này ra tất yếu còn rất nhiều sự vật hiện tượng khác có thể gây xao động tình cảm trong lòng nhà thơ Để làm rõ hơn quan điểm lý luận của Chung Vinh, dưới đây xin dẫn ra một số ví dụ để tiện cho việc minh chứng

Nhà thơ Mạnh Hạo Nhiên đời Đường trong bài thơ Xuân hiểu viết:

Xuân miên bất giác hiểu,

Xứ xứ văn đề điểu

Dạ lai phong vũ thanh,

Hoa lạc tri đa thiểu

春眠不覺曉,處處聞啼鳥。

夜來風雨聲,花落知多少?(《春曉》)

Giấc ngủ đêm xuân không hề biết trời đã sáng,

Tỉnh giấc nơi nơi đều nghe tiếng chim hót vang

Đêm qua tiếng gió mưa rầm rập,

Chẳng biết có bao nhiêu hoa đã rơi rụng?

Ở đây bữa tiệc mùa xuân không chỉ có gió xuân, chim xuân, mà còn có khí xuân, sắc trời xuân, hoa cỏ cây lá mùa xuân…tất cả đều tươi mới, rạo rực và tràn trề nhựa sống dưới ánh nắng ban mai của mùa xuân Nhưng tác giả bài thơ này không dừng lại ở việc tả cảnh, mà từ trong nhịp thơ, tình điệu, hệ thống hình ảnh, câu chữ,

Trang 20

hiện hiện trước mắt người đọc một cái tôi trữ tình vừa thư thới tận hưởng mọi hương sắc đến từ tự nhiên, đến từ cuộc sống hoà đồng thiên nhiên, vừa mang cảm

giác tiếc nuối về thực tế cái đẹp sẽ ra đi Điệu Như mộng lệnh của từ nhân Lý Thanh

Chiếu viết:

Tạc dạ vũ sơ phong sậu Nùng thụy bất tiêu tàn tửu Thí vấn quyển liêm nhân, khước đạo hải đường y cựu Tri phủ? Tri phủ? Ưng thị lục phì hồng sấu

昨夜雨疏風驟。濃睡不消殘酒。試問捲簾人,卻道海棠依舊。知否。知否。應是綠肥紅瘦。(《如夢令》)

Đêm qua mưa gió đầy trời Sau giấc ngủ say, tỉnh dậy hơi men vẫn còn chếnh choáng Hoa ra sao rồi, ta hỏi người thị nữ cuốn rèm, lại đáp rằng hoa hải đường vẫn

y như cũ Ngươi biết chăng? Ngươi biết chăng? Hải đường ngoài song giờ đây ắt thành lục tươi hồng võ

Cũng như nhân vật trữ tình trong Xuân hiểu, người phụ nữ trong bài từ này

cũng vì tham bữa tiệc xuân nên đã tự chuốc say tuý lúy, vì say nên không thể cưỡng lại giấc ngủ đang đến một cách tự nhiên, trong khoảnh khắc có sự giằng co giữa tâm

lý muốn hưởng thụ và nhu cầu bản năng của cá nhân, từ nhân vẫn loáng thoáng ý thức được cảnh mưa gió đang dập vùi bữa tiệc xuân ngoài trời Vậy nên sáng sớm hôm sau, sau giấc ngủ say nồng tỉnh dậy vẫn còn cảm giác hơi men chếnh choáng, điều từ nhân quan tâm nhất không chỉ cảnh xuân, mà quan trọng hơn là cảm giác

“thương xuân”, than tiếc vì mùa xuân ra đi, cái đẹp không ngừng mất đi

Nếu như sự kỳ diệu của mùa xuân nằm ở khoảnh khắc “chây lười” của con người, khoảnh khắc nằm yên trên giường lắng nghe hơi thở của mùa xuân sau một giấc ngủ say nồng, thì sự diệu kỳ của mùa thu lại nằm ở tiếng mưa đêm Tiếng mưa đêm chính là thứ tiếng của mùa thu, cũng như tiếng của mùa xuân là tiếng chim chóc véo von lúc trời vừa hửng sáng Nói thế không có nghĩa chỉ có tiếng mưa thu mới đáng nghe, mà tiếng mưa xuân đôi khi cũng hết sức kỳ diệu, thơ Lục Du từng

có câu: “Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ, thâm hạng minh triêu mại hạnh hoa 小樓一夜聽春雨,深巷明朝賣杏花。” (Nơi lầu nhỏ cả đêm lắng nghe tiếng mưa xuân, ngõ sâu sáng sớm vang tiếng rao bán hạnh hoa.) Nhưng phải nói rằng, chỉ mưa thu

Trang 21

mới đem đến cho con người cảm giác tàn tạ, suy vi, mới đem đến cho thi nhân mối sầu cảm vô hạn, nhất là trong đêm tối khi một mình nằm trên giường lắng nghe tiếng mưa đập trên tàu lá sen tàn, lá ngô đồng tàn hoặc nơi bụi trúc héo khô Lục Du từng phát hiện ra vẻ kỳ diệu trong tiếng mưa thu: “Trẩm thượng vũ thanh như hử kỳ, tàn hà tùng trúc cộng thôi thư 枕上雨聲如許奇,殘荷叢竹共催詩。” (Nằm nghe tiếng mưa trên gối mới diệu kỳ làm sao, lá sen tàn, bụi trúc cùng thúc giục thơ ta.)

Lý Thanh Chiếu cuối đời trong muôn vàn bi kịch của cuộc sống, của thời cuộc, đối diện trước cảnh mưa thu tí tách đập trên những tầu lá ngô đồng tàn tạ đã phải thốt lên:

Ngô đồng cánh kiêm tế vũ, đáo hoàng hôn, điểm điểm tích tích Giá thứ đệ, chẩm nhất cá sầu tự liễu đắc?

biểu cho mùa thu Bài thơ Thiền của Lý Thương Ẩn đời Đường viết:

Bản dĩ cao nan bão,

Đồ lao hận phí thanh

Ngũ canh sơ dục đoạn,

Nhất thụ bích vô tình

Bạc hoạn ngạnh do phiếm,

Trang 22

Phiền quân tối tương cảnh,

Ngã diệc cử gia thanh (Thiền)

本以高難飽,徒勞恨費聲。

五更疏欲斷,一樹碧無情。

薄宦梗猶泛,故園蕪已平。

Vốn ở nơi cao, chỉ ăn gió uống sương nên không thể no bụng,

Từng tiếng kêu gào như muốn thổ lộ nỗi lòng, nhưng chỉ vô ích

Vào lúc canh năm, tiếng kêu của nó thưa thớt tựa muốn đứt,

Nhưng tán rậm vô tình, khiến lòng kẻ tri âm xót sa

Ta với chức quan bé nhỏ tựa như cành cây phiêu bạt khắp nơi,

Vườn cũ nhà xưa đã hoang phế từ lâu

Cám ơn huynh đã dùng tiếng kêu để cảnh tỉnh ta,

Ta nghĩ ta cũng như huynh đều hết sức thanh bần (Ve sầu)

Ve sầu thường ẩn mình nơi cành cao, người ta chỉ nghe thấy tiếng của nó kêu Nhà thơ nói, huynh ẩn mình nơi cao như thế, không thể tìm thấy thức ăn, đành ăn gió uống sương, ắt không thể no bụng, thế mà huynh còn ngày đêm không ngừng kêu, kêu thế thì có tác dụng gì? Dù cho huynh có kêu kiệt sức, cũng đâu có ai hiểu

và đồng cảm cùng huynh? Tiếp đó tác giả tiến thêm một bước, thổ lộ về tình cảnh cùng nỗi lòng mình Ông nói: ta vì cuộc sống bức bách phải ra làm quan? Nhưng làm quan nào có thực hiện được lý tưởng chính trị của ta! Mấy năm nay ta như cành cây khô phiêu dạt, vườn cũ nơi quê nhà ta cỏ hoang mọc đầy, biết bao giờ mới có dịp trở về? Cảm ơn huynh đã không ngừng dùng tiếng kêu cảnh tỉnh ta, ta cũng như huynh đều hết sức thanh bần, cao khiết, quyết không hợp tác cùng bọn tham quan ô lại Bài thơ khởi hứng từ tiếng ve kêu, mới nhìn tưởng chỉ là một bài thơ vịnh ve sầu, nhưng thực tế tác giả lại viết về chính mình, chính những chìm nổi trong cuộc đời

Trang 23

Tóm lại, vật tượng của mùa xuân, mùa thu đi vào thơ thế nào, cảm phát hồn thơ của thi nhân ra sao đã rõ, vậy còn cảnh vật mùa hè, mùa đông đối với thi nhân thì sao? Vào mùa hè, thời tiết thường biến đổi rất nhanh, đang trời quang mây tạnh bỗng chốc mây đen kéo đến ngùn ngụt, liền đó là một trận mưa như trút ập tới Bài

thơ Đại vũ (Mưa to) của Đỗ Phủ có đoạn viết:

Tây Thục đông bất tuyết,

Xuân nông thượng ngao ngao

Thượng thiên hồi ai quyến,

Thanh hạ vân uất đào

Đất Tây Thục mùa đông không có tuyết,

Đến mùa xuân cũng không mưa, nông dân lo lắng bàn tán xôn xao

Cao xanh dường như nghĩ lại,

Giữa lúc trời mùa hạ cao xanh, mây đen kéo về che kín bầu trời

Khí nóng nhảy vọt lên cao,

Ban đầu mưa nhỏ sau lan ra cả một vùng rộng

Gió to cùng sấm chớp liên hồi ở khắp mọi nơi,

Ơn mưa móc dành ban cho đám cỏ bồng cỏ hao (tức rau ngải)

Trang 24

Đỗ Phủ viết bài thơ này khi ông đang ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên Bài thơ viết

về cảnh mưa rào mùa hạ nhưng lại bắt đầu vào mùa đông Nguyên do là suốt mùa đông, đất Tứ Xuyên không hề có tuyết, liền đó là cả mùa xuân không hề có mưa, tình cảnh đó khiến cho nông dân phải bỏ canh tác vụ xuân, lòng người nhao nhác May mà trời cao hồi tâm chuyển ý, vừa sang đầu hạ, bầu trời đang xanh trong bỗng đâu mây đen kéo về ngùn ngụt, cuồng phong, sấm chớp không ngừng nổi lên, và một trận mưa rào lớn chưa từng có ban ơn cho cả một vùng rộng lớn toàn cỏ bồng

cỏ hao Nhưng tại sao lại là cỏ bồng cỏ hao mà không phải những cây cối khác? Bởi

vì hạn hán đã kéo dài quá lâu, hoa màu thảy đều chết khô, duy chỉ bồng hao là những thứ cỏ hoang còn sống được Nhưng nhìn từ góc độ khác, tức cũng sau đợt mưa này, nông dân sẽ triệt bỏ cỏ hoang, tiếp tục công việc canh tác của mình nơi ruộng đồng

Đỗ Phủ còn có bài thơ Hỷ vũ với bốn câu cuối được viết như sau:

Tranh vinh đông sơn vân,

Giao hội vị đoạn tuyệt

An đắc tiên Lôi công,

Bàng đà tẩy Ngô Việt (Hỷ vũ)

Đám mây mưa cao vòi vọi tựa ngọn núi đông,

Liên tiếp giao nhau không hề đứt đoạn

Mong sao có thể điều khiển Thiên Lôi,

Khiến ông ta cho mưa một trận thật lớn trên đất Ngô Việt

Vào mùa hè, đám mây đen mang hơi nước giống như ngọn núi đông cao vòi vọi giữa bầu trời Tình cảnh ấy rõ ràng trước đó đã có một trận mưa, nhưng nhà thơ cho rằng mưa thế vẫn chưa đủ, tác giả ao ước sao có thể điểu khiểu được Lôi công, khiến ông ta đến vùng Ngô Việt ở phương nam làm mưa thêm một trận, hòng đem

Trang 25

tất cả mọi ô uế ở xứ ấy tẩy rửa sạch sẽ Đỗ Phủ trong Tẩy binh mã từng viết: “An

đắc tráng sĩ vãn thiên hà, tận tẩy giáp binh trường bất dụng 安得壯士挽天河,盡洗甲兵長不用。Mong sao có được tráng sĩ có thể lập lại nền thái bình cho đất nước, đến khi ấy không bao giờ còn phải dùng đến giáp binh.” Ở đây Đỗ Phủ sở dĩ viết “An đắc tiên Lôi công, bàng đà tẩy Ngô Việt” thực ra cũng ôm một niềm “tế thế” (lo cho nước, cho dân) như nhau Thực tế cho thấy, đương thời xứ Ngô Việt đang lâm trong cảnh loạn lạc, binh biến không dứt, bách tính lâm vào cảnh màn trời chiếu đất Đỗ Phủ ở bài thơ này hy vọng, triều đình có thể phái người đến dẹp loạn, giải cứu bách tích

Viết về mùa đông gió tuyết, Đỗ Phủ có bài thơ Đối tuyết như sau:

Chiến khốc đa tân quỷ,

Sầu ngâm độc lão ông

Loạn vân đê bạc mộ,

Khẩn tuyết vũ hồi phong

Biều khí tôn vô lục,

Lô tồn hỏa tự hồng

Sổ châu tiêu tức đoạn,

Sầu tọa chính thư không ( Đối tuyết )

戰哭多新鬼,愁吟獨老翁。

亂雲低薄暮,急雪舞回風。

瓢棄樽無綠,爐存火似紅。

Chiến trường đầy tiếng hồn ma vừa chết khóc than,

Nơi đây Trường An chỉ mình lão già này buồn bã ngâm thơ

Trời gần tối mây mù kéo đến đầy trời,

Đầy rẫy hoa tuyết như đang khiêu vũ trong làn gió cuốn

Trang 26

Vứt bỏ bình rượu vì từ lâu đã không còn rượu để uống,

Lò sưởi vẫn còn nhưng không chút lửa

Thế giặc bành trướng, tin tức từ khắp nơi từ lâu đã bặt,

Chỉ mình ta thẫn thờ ngồi trong phòng dùng tay vẽ vào không khí

Bài thơ này trong khoảng thời gian bị giam lỏng ở Trường An Loạn An Lộc Sơn Sử Tư Minh xảy ra, Đỗ Phủ đang cùng vợ con lưu lạc ở đất Phu Châu Được tin Túc tông lên ngôi ở Linh Vũ, ông bèn tức tốc khăn gói từ biệt vợ con lên đường đến Linh Vũ yết kiến vua mới Nhưng vừa lên đường ông đã bị loạn quan bắt, áp giải về giam lỏng ở Trường An Kế đó quân triều đình thua to ở Trần Đào, kẻ chết người bị thương hơn bốn vạn người, đau xót trước tình cảnh ấy, Đỗ Phủ đã viết rất nhiều bài

thơ mang nội dung điếu vong, và Đối tuyết chính là một trong số đó Bài thơ cấu tứ

theo hướng tức cảnh sinh tình, từ cảnh mùa đông đến cảnh chiến địa thảy đều hết sức khắc nghiệt, nhưng khắc nghiệt của mùa đông cùng điều kiện sống tồi tàn không

hề thấm thía so với nỗi đau trong lòng nhà thơ

Ở đây cũng cần phải nói rõ rằng, vật tượng hai mùa đông hạ khiến lòng người xao động không chỉ có mây mưa, gió tuyết, nhưng chúng tôi đặc biệt chỉ xoáy vào

ba bài thơ của Đỗ Phủ là vì, còn muốn chỉ ra rằng, sự cảm phát đến từ thiên nhiên đối với Đỗ Phủ có nhiều điểm rất khác so với các nhà thơ khác Chúng ta đều biết, nhà thơ vốn dĩ khác biệt với người thường, bởi họ có khả năng đem những tư tưởng tình cảm trong lòng mình biểu đạt ra, khiến cho người sau, thậm chí hàng nghìn đời sau khi đọc những sáng tác của họ trong lòng cũng nảy sinh thứ tình cảm tương tự Không chỉ dừng lại ở đó, độc giả còn có thể tiếp tục liên tưởng, kết hợp thêm tình cảnh của cá nhân cùng bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội của chính thời đại mình, tạo thành những xung động tình cảm mới, những tình cảm kiểu như vậy sẽ không ngừng sinh sôi, sẽ bất diệt và còn lưu truyền mãi cùng thời gian

Thế nhưng sức mạnh cảm phát đến từ thiên nhiên trong lòng mỗi nhà thơ hoàn

toàn không giống nhau Xuân hiểu của Mạnh Hạo Nhiên, Như mộng lệnh của Lý

Thanh Chiếu cho dù mùa xuân được viết rất hay, rất tinh tế và cảm động, cho dù cả hai cá thể trữ tình đều ngập tràn trong nỗi thương xuân, thì những tình cảm được

Trang 27

biểu đạt trong ấy vẫn mang tính cá nhân, nhỏ bé và khá ngẫu nhiên Thiền của Lý Thương Ẩn, Thanh thanh mạn của Lý Thanh Chiếu tuy thể hiện sâu sắc hơn những

cung bậc tình cảm trong lòng tác giả, nhưng những nỗi đau, niềm bi ai, sự cùng thông mà họ gửi gắm vẫn dừng lại ở mức độ cá nhân, tức tác phẩm chỉ dừng lại ở mức “chân tình” thổ lộ, để tìm sự đồng cảm, chia sẻ, chứ chưa thể đạt đến tính xã

hội rộng lớn Khổng Dĩnh Đạt đời Đường trong Mao thi chính nghĩa《毛詩正義》

từng nói: Một người làm thơ, điều mà hắn nói trong thơ chỉ là “nhất nhân chi tâm” (ý nguyện của cá nhân) Muốn cái ‘tâm’ ấy trở thành “nhất quốc chi tâm” (ý nguyện của một nước), thi nhân cần đem ý nguyện của một nước coi là cái ‘tâm’ của chính mình (kỷ tâm), … Viết về việc trong thiên hạ thì cần tổng hợp ‘thiên hạ chi tâm’ (ý nguyện của thiên hạ ), cộng thêm khảo sát phong tục khắp chốn, coi đó là ý mình, sau đó tập trung ca ngợi nền chính giáo của đế vương9 Ở đây Khổng Dĩnh Đạt rõ ràng đã chỉ cho chúng ta thấy con đường mà một tác phẩm văn học cần phấn đấu để đạt đến sự thống nhất giữa cá tính và tính xã hội Quay về trường hợp của Đỗ Phủ, tại sao Đỗ Phủ được người đời sau tôn xưng lên vị trí “thi thánh”? Ấy là vì, sức mạnh cảm phát trong thơ Đỗ Phủ cực kỳ to lớn và sâu sắc, điều mà ông nhắm tới đã không còn là sự “cùng thông” của cá nhân, mà là niềm ưu hoạn, là sự xót xa cho nỗi khổ đau cùng cực của bách tính cùng mệnh vận đang hồi nguy khốn của dân tộc của quốc gia

Trên đây đã xét sự cảm phát đến từ cảnh vật bốn mùa thuộc giới tự nhiên, nhưng như trên đã đề cập, đó không phải là nguồn gốc duy nhất dẫn đến sự khởi phát thi hứng trong lòng nhà thơ Bởi vì trong cuộc sống con người ta không chỉ tiếp xúc với cây lá chim muông, mà phần đa vẫn là những mối quan hệ muôn mặt giữa con người với con người trong xã hội Những mối quan hệ muôn mặt ấy, cũng gọi là

“sự tượng”, một khi tác động gây cảm phát đến tư tưởng tình cảm của thi nhân, ắt sẽ hình thành nơi thi nhân nhu cầu sáng tác Liên quan đến “sự tượng”, Chung Vinh

trong Thi phẩm tự nêu ra rất nhiều khía cạnh:

9 一人者,其作詩之人,其作詩者道己一人之心耳。要所言一人,心乃是一國之心。詩人覽 一國之意以為己心,……言天下之事,亦謂一人言之。詩人總天下之心,四方風俗,以為己

Trang 28

Gia hội ký thi dĩ thân, ly quần thác thi dĩ oán Chí ư Sở thần khứ cảnh10, Hán thiếp từ cung11; hoặc cốt hoành sóc dã, hoặc hồn trục phi bồng; hoặc phụ qua ngoại thú, sát khí hùng biên; tái khách y đan, suơng khuê lệ tận; hoặc sĩ hữu giải bội xuất triều, nhất khứ vong phản; nữ hữu dương nga nhập sủng, tái phán khuynh quốc Phàm tư chủng chủng, cảm đãng tâm linh, phi trần thi hà dĩ triển kỳ nghĩa; phi trường ca hà dĩ sính kỳ tình?

嘉會寄詩以親,離群托詩以怨。至於楚臣去境,漢妾辭宮;或骨橫朔

佩出朝,一去忘返;女有揚蛾入寵,再盼傾國。凡斯種種,感蕩心靈,非陳詩何以展其義;非長歌何以騁其情?

Gặp khi hội hè đình đám, lấy thơ gửi niềm thân mật; gặp cảnh biệt ly, đem thơ thác niềm uất hận Còn như Khuất Nguyên đi đày, Chiêu Quân xa Hán; lại có kẻ nắm xương tàn gửi nơi quan ải, hồn tựa phiêu bồng; có kẻ vác đao ra trận, uy trấn biên cương; có khách lãng du nơi biên ải phong phanh manh áo mỏng, người quả phụ nơi khuê phòng khóc khô nước mắt; có kẻ sĩ treo ấn từ quan, một đi không trở lại; có bậc mỹ nhân vào cung được sủng, còn mong sắc đẹp của mình có thể làm nghiêng nước nghiêng thành Tất cả những bi hoan ly hợp ấy làm cảm động tâm hồn thi nhân, trong trường hợp đó nếu không làm thơ họ biết lấy gì để gửi gắm tư tưởng, không cất cao tiếng hát thì lấy gì để giải phóng tiếng lòng nhà thơ đang thổn thức?

(Chung Vinh, Thi phẩm tự)

Những “sự tượng” được Chung Vinh nêu ra ở đây so với “vật tượng” chính ông đã nêu ở trên rõ ràng phong phú và đa dạng hơn nhiều Những sự tượng mà Chung Vinh nêu ra, đại khái có mấy khía cạnh như sau:

Thứ nhất, “gia hội ký thi dĩ thân, ly quần thác thi dĩ oán”, cũng tức sự hội ngộ cùng sự ly biệt của nhân sinh trong quan hệ với thơ Trong cuộc sống, tụ hội cùng bạn bè luôn là việc lòng người hứng khởi, cũng là chủ đề thường thấy trong

10

Sở thần khứ cảnh: chỉ việc Khuất Nguyên bị đi đày

11

Trang 29

thơ Bài thơ Kim nhật lương yến hội, một trong những bài thơ thuộc chùm thơ Cổ

thi thập cửu thủ có những câu được viết như sau:

Kim nhật lương yến hội,

Buổi yến tiệc hôm nay thật tuyệt vời,

Niềm vui thích trong lòng người khó có thể nói ra hết

Đàn tranh phát ra khúc nhạc phiêu dật,

Tiếng hát cất lên tuyệt diệu đến độ nhập thần

Tiệc tùng chính là nơi hội họp bạn bè thân quyến, đến với yến tiệc con người ta phần nhiều trong tâm trạng tươi vui Sự hứng khởi của chủ khách trong buổi tiệc càng được đẩy lên đỉnh điểm khi có thêm sự tham gia của khúc nhạc lời ca Tác giả bài thơ này có thể là chủ, cũng có thể là khách, nhưng quan trọng hơn cả là người này đã biết dùng thơ để tái hiện lại cuộc vui, dẫu rằng niềm vui cuối cùng vẫn bị

những lời cảm thán về nhân sinh ngắn ngủi lấn át Đỗ Phủ trong bài thơ Ký Lý thập

nhị Bạch nhị thập vận viết:

Bạch nhật lai thâm điện,

Thanh vân mãn hậu trần

Khất quy ưu chiếu hử,

Ngộ ngã túc tâm thân

Vị phụ u thê chí,

Kiêm toàn sủng nhục thân

Kịch đàm liên dã dật,

Trang 30

Thị tửu kiến thiên chân

Túy vũ Lương viên dạ,

Ban ngày vào chốn thâm cung,

Mây xanh theo gót chân

Xin về vua xuống chiếu ưng chuẩn,

Hội ngộ cùng ta thân thiết tựa như có duyên định trước

Không phụ chí gửi thân nơi u tĩnh,

Nhận ân sủng chỉ cảm thấy nhục

Cao đàm khoát luận càng làm ta cảm thấy mến,

Rượu uống càng say ta càng nhìn rõ cái chân thật trong ông

Buổi tối rượu say từng cùng ta nhảy múa ở Lương viên,

Vào mùa xuân lại từng cùng ta vừa đi dạo vừa ca hát bên sông Tứ

Đoạn thơ trên đây tái hiện lần đầu tiên hai nhà thơ vĩ đại nhất trong lịch sử thi ca Trung Quốc gặp nhau, cùng mối quan hệ bằng hữu khăng khít của họ sau đó thông qua cái nhìn của người trong cuộc Đỗ Phủ Nhà thơ hiện đại Văn Nhất Đa khi đề cập đến sự kiện vĩ đại này đã ví von rằng, đó khác nào sự hội ngộ của mặt trời mặt trăng trên bầu trời, chúng ta cần gióng ba hồi chiêng, gõ ba hồi trống để chúc mừng cuộc hội ngộ vĩ đại này Đỗ Phủ quen biết Lý Bạch khi tên tuổi Lý đã vang danh khắp nước, thế nên dù không đậu Tiến sĩ, Lý Bạch vẫn được Huyền tông mời vào

Trang 31

mà chỉ muốn biến Lý Bạch thành một thi sĩ cung đình ngày ngày viết thơ từ ca tụng sắc đẹp của Dương Quý phi Lý Bạch sớm nhận ra điều này nên quyết xin từ quan, Huyền tông cuối cùng cũng phê chuẩn, ban cho vàng bạc và cho về quê Câu thơ

“khất quy ưu chiếu hử” tóm lược cả một hành trình đắc ý lẫn thất ý, vinh sủng lẫn tự dẹp bỏ ảo vọng của thiên tài thi nhân Lý Bạch Câu “ngộ ngã túc tâm thân” ghi lại tâm thái khi Đỗ Phủ gặp Lý Bạch lần đầu tiên, cũng cho chúng ta biết, tác giả lần đầu gặp Lý Bạch khi Lý rời bỏ triều đình về quê Theo cảm nhận của Đỗ Phủ, tuy lần đầu gặp nhau nhưng cả hai đã cảm thấy hết sức thân thiết, tựa như đã gặp gỡ nhau từ kiếp trước Vậy nên, người khác có thể không thích Lý Bạch cao đàm khoát luận, nhưng Đỗ Phủ lại hết sức tán thưởng; người khác có thể ghét việc Lý Bạch ham thú rượu chè, nhưng Đỗ Phủ lại cho rằng, qua đó có thể thấy cái chân thật đáng quý trong con người Lý Bạch Cả hai đã cùng uống rượu, cùng say, cùng quay cuồng nhảy múa giữa Lương viên mỹ lệ, lại từng vừa cùng bộ hành vừa xướng ca nghêu ngao bên sông Tứ khi trời đất vào xuân

So với nội dung hội ngộ, nội dung ly biệt được biểu hiện vào thơ thực sự phong phú hơn nhiều Sự ly biệt có thể bao hàm rất nhiều sắc thái, có thể là sự chia tay bạn

bè, người thân, cũng có thể là sự vĩnh biệt giữa chồng vợ hoặc hai kẻ yêu nhau Bài

thơ Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ của Vương Duy viết:

Độc tại dị hương vi dị khách,

Mỗi phùng giai tiết bội tư thân

Dao tri huynh đệ đăng cao xứ,

Biến sáp thù du thiểu nhất nhân

遙知兄弟登高處,遍插茱萸少一人。(《九月九日憶山東兄弟》) Ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch là tết Trùng dương, còn gọi là tiết Trùng cửu Người xưa vào ngày này có thói quen đeo cỏ thù du và uống rượu để tránh tà Vương Duy nói, ta nay một mình nơi đất khách, lòng luôn nhớ bạn bè thân quyến nơi quê nhà, đặc biệt vào tiết Trùng cửu Ông cũng nghĩ rằng, vào ngày này, nơi quê

Trang 32

nhà, mọi người khi dắt thù du, uống rượu hoàng hoa cũng sẽ thấy thiếu một người,

và càng thêm nhớ đến ông hơn Bài thơ Thường Nga của Lý Thương Ẩn viết:

Vân mẫu bình phong chúc ảnh thâm,

Trường hà tiệm lạc hiểu tinh trầm

Thường Nga ưng hối thâu linh dược,

Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm (Thường Nga)

Để đến nỗi, phải chịu cảnh cô độc, lạnh lẽo mãi mãi trong vũ trụ

Bài thơ này trước nay có rất nhiều cách giải thích, nhưng có một cách được khá nhiều các nhà nghiên cứu văn học đồng tình, đó là, đây thực chất là một bài thơ khóc vợ (điếu vong) của Lý Thương Ẩn Bài thơ có lối bố cục khá độc đáo, hai câu đầu được viết từ góc độ chủ thể trữ tình, tái hiện tình cảnh một người cả đêm không ngủ; hai câu sau là lời giải đáp cho nguyên nhân của việc mất ngủ, nhưng lại hạ bút

từ góc độ của đối phương, tức Thường Nga, đối tượng được tác giả dùng để ví với người vợ đã chết của mình Người Trung Quốc xưa quan niệm, những thiếu nữ đẹp chính là thần tiên hạ phàm, nên khi họ chết cũng là việc họ quay trở về cõi tiên Vương thị, vợ Lý Thương Ẩn, con gái Vương Mậu Nguyên vốn nổi tiếng sắc tài, việc bà sớm đăng tiên, bỏ tác giả cô độc lại trần thế đã tạo thành vết thương không thể hàn gắn trong lòng ông Nỗi đau, nỗi cô độc, lạnh lẽo trong khoảng không gian

vô cùng thời gian vô tận vốn là cảm nhận của người ở lại, nhưng lại bị tác giả đẩy hết sang phía người ra đi, càng làm cho bài thơ mang chiều sâu và cuốn hút người đọc hơn

Trang 33

Thứ hai, “chí ư Sở thần khứ cảnh, Hán thiếp từ cung” Ở đây “Sở thần” chỉ Khuất Nguyên; “Hán thiếp từ cung” chỉ việc Vương Chiêu Quân bị đem cống Hồ theo chính sách hoà thân của Hán Nguyên Đế Khuất Nguyên là người nước Sở, sống vào giai đoạn Chiến Quốc Đường thời thế lực nước Tần cực mạnh, trong triều đình nước Sở đồng thời hình thành hai xu hướng liên Tần và kháng Tần, Khuất Nguyên thuộc phái những người kháng Tần, ông chủ trương liên kết với nước Tề ở phía đông, cùng nhau kháng Tần Nhưng về sau phái liên Tần thắng thế, Khuất Nguyên không những bị ép phải rời xa chính trường, mà còn bị đi đày rất nhiều lần Nước Sở cũng vì thế ngày càng suy sụp

Vốn là người chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Nho học, Khuất Nguyên tuy bị đọa đày nhưng lòng vẫn luôn đau đáu lo cho nước cho dân, cuối cùng ông nhảy xuống dòng Mịch La tự tận khi được tin Dĩnh đô, kinh đô nước Sở rơi vào tay giặc Bi kịch

cuộc đời cùng sự nghiệp văn chương hiển hách của Khuất Nguyên gắn liền với Ly

tao cho đến tận ngày nay vẫn luôn là cảm hứng sáng tác cho mọi thi nhân Thi hào

Nguyễn Du trên đường đi sứ Trung Quốc khi qua Tương Đàm (Trường Sa), nơi ngày xưa Khuất Nguyên đã từng gieo mình tự tận, đã viết rất nhiều thơ điếu Khuất Nguyên, trong đó có những câu nổi tiếng như “Tông quốc tam niên bi phóng trục,

Sở từ vạn cổ thiện văn chương” (Buồn rầu ba năm vì bị đày xa tổ quốc, nghìn đời

sau Sở từ vẫn luôn làáng văn hay nhất), “Trực giao Hiến lệnh hành thiên hạ, hà hữu

Ly tao kế Quốc phong” (Ví bằng Hiến lệnh ban thiên hạ, sao có Ly tao nối Quốc phong)…

Vương Chiêu Quân còn được người sau gọi tên Hán Minh phi, vốn là một thôn nữ đất Hồ Bắc, từng bị tuyển vào cung Đương thời trong cung mỹ nữ cực nhiều, Nguyên đế không thể quản hết, bèn giao cho họa sư vẽ hình mỹ nhân, sau đó

cứ theo hình vẽ chọn lựa Việc này dẫn đến hậu quả các cung nhân tìm mọi cách hối

lộ họa sư, mong muốn ông ta vẽ họ đẹp hơn Chiêu Quân vì tự tin với nhan sắc của mình, không chịu hối lộ họa sư, nên ông ta căm hận thường vẽ cô xấu hơn, cũng vì thế cô chưa từng một lần được ân sủng của quân vương Sau vì chính sách hòa thân với Hung Nô, Chiêu Quân bị gả cho Hung Nô và mãi mãi ở lại phương Bắc, không còn cơ hội trở lại cố hương Do quan hệ giữa Hán tộc và các bộ tộc thiểu số ở phía

Trang 34

bắc Trung Quốc trong lịch sử luôn là vấn đề hết sức mẫn cảm, câu chuyện về Vương Chiêu Quân đã trở thành đề tài ngâm vịnh, gửi gắm tư tưởng cho thi nhân

mọi thời đại Đỗ Phủ trong bài thơ Vịnh hoài cổ tích có câu:

Nhất khứ tử đài liên sóc mạc,

Độc lưu thanh trủng hướng hoàng hôn

Họa đồ tỉnh thức xuân phong diện,

Hoàn bội không quy dạ nguyệt hồn

畫圖省識春風面,環佩空歸夜月魂。(《詠懷古迹》)

Rời xa cung Hán, Chiêu Quân dấn thân vào sa mạc lạnh lẽo, mãi mãi không trở về;

Chỉ lưu lại nấm mồ xanh chờ đợi buổi hoàng hôn

Nàng đã là người thiên cổ, ta chỉ có thể biết nhan sắc của nàng qua hình vẽ; Trong đêm trăng sáng, hồn nàng đeo ngọc trở về thăm cố quốc

Những câu thơ này thực sự là những rung động sâu sắc luôn thổn thức nơi sâu thẳm trong trái tim của thi nhân Đỗ Phủ cho rằng, Chiêu Quân sinh ra vốn do

sự hội tụ khí anh tú của đất trời, trời đất giáng sinh một mỹ nhân như thế, đáng lẽ cần phải được nâng niu giữ gìn, nhưng nàng được gì? Chẳng được gì ngoài kết cục hết sức bi thảm “Nhất khứ tử đài liên sóc mạc, độc lưu thanh trủng hướng hoàng hôn.” Tương truyền bên ngoài quan ải, tất cả cỏ cây đều màu trắng, duy chỉ cỏ trên

mồ Chiêu Quân là màu xanh, và ngôi mồ cỏ xanh luôn hướng tới hoàng hôn, để có dịp “hoàn bội không quy dạ nguyệt hồn” Câu thơ này của Đỗ Phủ cùng câu chuyện

về Chiêu Quân đồng thời là nguồn cảm hứng chủ đạo cho Khương Quỳ viết hai bài

từ nổi tiếng trong lịch sử từ học Ám hương và Sơ ảnh Trong Sơ ảnh, ông viết:

Tưởng thị Chiêu Quân bất quán, Hồ địa đại mạc diêu viễn, chỉ ám ức Giang Bắc hòa Giang Nam Minh nguyệt dạ, hưởng bội hoàn, quy lai hóa tác thử hoa, u độc thê diễm

Trang 35

Ngỡ rằng Chiêu Quân không quen, đất Hồ sa mạc xa xôi, lòng luôn nhớ về Giang Bắc, Giang Nam Vào đêm trăng sáng, leng keng tiếng vòng ngọc, quay về hóa thành hoa này (chỉ hoa mai), đẹp nhưng u tịch lạnh lẽo

Đây vốn là bài thơ vịnh hoa mai, cụ thể là vịnh dáng vẻ của hoa mai Nhưng hình ảnh hoa mai với Chiêu Quân ở đây cũng đồng thời là hình ảnh của các bà hậu phi thuộc hai triều Tống Huy tông và Tống Khâm tông, do cùng bị bắt về phương bắc sau sự biến Tĩnh Khang, nên ngày đêm không ngừng hướng về Giang Nam, hướng về cố quốc Mượn hình ảnh hoa mai gắn liền với câu chuyện về Vương Chiêu Quân, phải chăng ẩn sĩ họ Khương thật sự có chủ đề tư tưởng muốn gửi gắm? Không dừng lại ở phạm vi thi từ, câu chuyện về Vương Chiêu Quân còn là đề tài của rất nhiều loại hình nghệ thuật như hý kịch, kịch nói, tiểu thuyết…

Thứ ba, “hoặc cốt hoành sóc dã, hoặc hồn trục phi bồng; hoặc phụ qua ngoại thú, sát khí hùng biên; tái khách y đan, suơng khuê lệ tận”, đây chính là nói, chiến tranh chính là nguyên nhân hình thành dòng thơ viết về chinh phụ, chinh phu Bài

thơ Lũng Tây hành của Trần Đào viết:

Thệ tảo Hung Nô bất cố thân,

Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần

Khả liên Vô Định hà biên cốt,

Do thị xuân quy mộng lý nhân (Lũng Tây hành)

誓掃匈奴不顧身,五千貂錦喪胡塵。

可憐無定邊骨,猶是春歸夢裏人。(《隴西行》)

Thề quét sạch giặc Hung Nô, không tiếc thân mình;

Năm nghìn tướng sĩ đã bỏ mạng nơi đất Hồ

Đáng thương thay nắm xương khô của chinh phu chất chồng bên sông Vô Định;

Trang 36

Ngày đêm vẫn luôn là đối tượng gặp gỡ trong mộng của chinh phụ nơi quê nhà

Chiến tranh luôn là nguyên nhân của rất nhiều nỗi đau Bài thơ này được tác giả viết rất hay, rất cảm động, nhưng bản thân tác giả lại không phải người trong cuộc, thế nên những điều ông viết ra không phải những vui buồn của cá nhân ông,

mà chỉ là những cảnh đời éo le, những nỗi đau cùng cực của những con người bình thường, sống cùng thời đại với tác giả Với tư cách nhà thơ, tác giả bị những điều đó làm cho cảm động, và đây cũng là nguyên nhân chính cho những sáng tác như trên

là tiêu biểu cho sự hoà hợp đỉnh cao trong quan hệ vua tôi Lưu Bị đối với Gia Cát Lượng “tam cố thảo lư” (thực sự cầu hiền), nhất nhất tin tưởng; Gia Cát Lượng đối với Lưu Bị cúc cung tận tụy, luôn sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp lớn Nhưng những mối quan hệ như thế ở đời quá ít, kẻ sĩ đời sau phần nhiều phải đối mặt với vấn đề

“bất ngộ”, hoặc hoàn toàn chưa thực hiện lý tưởng chính trị của mình đã lâm vào cảnh bị biếm quan hoặc bị đi đày Cái gọi “nhất khứ vong phản” không có nghĩa một khi ra đi là quên việc trở về, mà thực ra là muốn về cũng không thể về, tức hoàn toàn không có cơ hội trở về Liễu Tông Nguyên, một trong những người “nhất khứ

vong phản”, cuối cùng phải gửi thân nơi đất khách quê người, trong bài thơ Giang

tuyết viết:

Trang 37

Thiên sơn điểu phi tuyệt,

Vạn kinh nhân tông diệt

Cô châu thoa lạp ông,

Độc điếu hàn giang tuyết (Giang tuyết)

孤舟蓑笠翁,獨釣寒江雪。(《江雪》)

Ngàn vạn núi non hoàn toàn vắng bặt bóng chim chóc,

Ngàn vạn con đường không dấu chân người qua lại

Trên con thuyền cô độc, một ông lão khoác áo tơi đầu đội nón lá;

Đang thả câu trên dòng sông lạnh ngập tràn trong tuyết

Bài thơ có ý thơ vỡ oà khi độc giả đọc đến chữ cuối cùng “tuyết” Với sự xuất hiện của “tuyết”, từ con sông, con thuyền, ngàn vạn núi đồi, đường mòn và cả

“ngư ông” thảy đều ngập tràn trong tuyết trắng Tuyết trắng vốn đại biểu cho sự thanh sạch, cao khiết; nhưng tuyết luôn trong tình trạng băng giá, cho nên nó đồng thời cũng biểu trưng cho ý nghĩa thoát tục lánh đời Không chỉ có vậy, hai hình ảnh con thuyền và ngư phủ với ý nghĩa tự do xuất hiện trong bài thơ càng làm chủ ý lánh đời, tìm đến sự tự do cá nhân giữa thiên nhiên cây cỏ, cốt giữ sự cao khiết, thanh sạch trong thời buổi nhiễu nhương Ở một mức độ nhất định, có thể nói, Liễu Tông Nguyên đã làm đúng theo tiêu chí xuất xử hai đường mà ngày xưa Mạnh tử đã định

ra cho kẻ sĩ, đó là “Đạt tắc kiêm tế thiên hạ, cùng tắc độc thiện kỳ thân.” (Khi được vua tin dùng thì ra làm quan, giúp vua thực hiện nền nhân chính; khi bị vua xa lánh thì về ở ẩn, cốt giữ sự cao khiết, thanh sạch cho chính mình.)

Nói tóm lại, nguồn cảm phát của thơ thực hết sức phong phú và đa dạng Có thể nói, vạn vật hiện tượng thuộc giới tự nhiên, trong xã hội thảy đều mang khả năng khiến lòng người dao động; tình cảm một khi dao động cũng rất có khả năng được chuyển tải vào thơ Ở đây cần phải khẳng định một điều, những nguồn thơ mà Chung Vinh nêu ra trên đây thực chỉ mang tính tiêu biểu, hoàn toàn không phải tất

cả, nó cũng không hoàn toàn đúng với trường hợp thơ Đường Bởi vì, vào đời

Trang 38

Đường, cùng với sự phát triển mạnh mẽ, không ngừng nghỉ của muôn mặt đời sống, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, nguồn đến của thơ đã trở nên phong phú và đa dạng hơn nhiều

1.2.3 Mối quan hệ giữa hình tượng và tình ý trong thơ

Trên đây đã đề cập, không chỉ vật tượng trong tự nhiên có thể khiến lòng người cảm động, sự tượng thuộc xã hội cũng có thể khiến lòng người cảm động Nhưng chỉ cảm động thôi thì chưa thể làm thành thơ, mà bạn phải dùng ngôn từ đem những cảm xúc trong lòng bạn biểu đạt ra thì thơ mới thành Điều này cũng có nghĩa, với người thường chỉ cần cảm là được, nhưng với nhà thơ không chỉ biết cảm mà còn phải biết đem cái cảm được viết ra Vậy viết như thế nào? Điều này đã thiết cập đến phương thức sáng tác thơ

Trên cơ sở nội tâm con người cảm động trước ngoại vật, người Trung Quốc

cổ đại tổng kết ra ba nguyên tắc cơ bản trong việc viết thơ Đó là phú, tỷ và hứng Liên quan đến ba nguyên tắc này, lịch đại có rất nhiều quan điểm khác nhau, ở đây chỉ xin nói đại khái như sau: phú là “trực ngôn kỳ sự”, bạn muốn viết gì, cứ việc trực tiếp đem đối tượng miêu tả, trần thuật ra; tỷ là so sánh, đem vật này so sánh với vật khác; còn hứng chính là “kiến vật khởi hứng”, tức dùng ngoại vật để dẫn dắt hứng thơ Ba nguyên tắc này thực cũng khái quát ba mối quan hệ giữa “tâm” và

“vật”, cũng tức mối quan hệ giữa tình ý của tác giả và hệ thống hình ảnh ( tượng, hình tượng ) được sử dụng trong thơ

Trước khi đi vào xem xét phú, tỷ, hứng, cần phải hiểu rõ quan niệm của người Trung Quốc xưa về “tượng” Chúng ta đều biết, ngay từ giai đoạn rất sớm trong lịch

sử Trung Quốc, mối quan hệ giữa “ngôn” (lời) và “ý” đã được đặt ra Vấn đề

“ngôn” có thể biểu đạt đạt hết “ý” hay không thể biểu đạt hết “ý” đã trở thành vấn

đề triết học gây tranh cãi kéo dài hàng thế kỷ Sách Chu dịch thiên Hệ từ thượng có

đoạn chép:

Tử viết: “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý.” Nhiên tắc thánh nhân chi ý, kỳ bất

khả kiến hồ? Tử viết: “Thánh nhân lập tượng dĩ tận ý.” (Chu dịch, Hệ từ thượng)

Trang 39

人立象以盡意。”(《周易·系辭上》)

Khổng tử nói: “Sách không thể chuyển tải hết lời, lời không thể biểu đạt hết ý.” Như vậy tư tưởng của thánh nhân không thể truyền lại đời sau chăng? Khổng tử nói:

“Thánh nhân lập tượng để biểu đạt hết ý.”

Có thể nói, phương thức nắm bắt thế giới của Chu dịch chính thông qua

“tượng” Vậy nên Hệ từ hạ sách Chu dịch có câu: “Thị cố Dịch giả, tượng dã Tượng dã giả, tượng dã 是故《易》者,象也。象也者,像也。Thế nên Dịch

chính là ‘tượng’; ‘tượng’ chính là hình ảnh do con người tạo nên từ việc mô tả theo hình ảnh khách quan.” Như vậy, “tượng” một mặt chính là những hình ảnh (hình tượng) khách quan của thế giới bên ngoài, mặt khác cũng chính là những hình ảnh (hình tượng) do con người tạo nên trên cơ sở mô tả lại những hình ảnh (hình tượng)

thuộc thế giới khách quan Thiên Hệ từ thượng còn chép thêm: “Phù tượng, thành

nhân kiến thiên hạ chi trách, nhi nghĩ chư kỳ hình dung, tượng kỳ vật nghi, thị cố vị chi tượng 夫象,聖人有以見天下之賾,而擬諸其形容,象其物宜,是故謂之象。Thánh nhân phát hiện ra lẽ thâm áo khó thấy trong thiên hạ, bèn đem chúng ký thác vào những hình thái dung mạo cụ thể, dùng để tượng trưng ý nghĩa thích hợp

mà chúng chuyển tải, đó chính là tượng.” Trên đây đã nói, thánh nhân lập ra tượng

để biểu đạt hết ý, vậy nên, để nắm bắt cho được ý của thánh nhân cũng chính là cần phải hiểu cho đúng ý nghĩa của “vật nghi”, tức hiểu cho đúng ý nghĩa mà thánh nhân gửi gắm nơi tượng

Nói tóm lại, “tượng” chính là hình tượng, cũng chính là hệ thống hình ảnh sử dụng trong thơ Thơ dùng ngôn từ làm chất liệu, nhưng tư duy bằng hình ảnh, chắc chắn thơ sẽ không là thơ khi thiếu đi hệ thống hình ảnh Các nhà phê bình Trung Quốc do quan niệm thuật ngữ “hình tượng” có xu hướng thiên về hình dạng khách quan, mà hệ thống hình ảnh trong tác phẩm luôn phải gắn liền với chủ trương sáng tác, ý đồ nghệ thuật của tác giả, nên kiên trì sử dụng thuật ngữ “ý tượng”, tức tượng mang ý hoặc hình ảnh mang ý Cũng cần phải nhấn mạnh, hệ thống hình ảnh (tượng) trong thơ không nhất thiết chỉ là những hình ảnh đến từ thế giới tự nhiên (“vật

Trang 40

tượng”), mà bao gồm cả những hình ảnh đến từ thế giới con người, thậm chí cả những hình ảnh thuộc thế giới ý niệm

“Tượng” mang “ý”, “vật” chuyển tải “tâm”, cũng chính là, hệ thống hình ảnh trong thơ luôn đóng vai trò chuyển tải tình ý của tác giả Để hiểu rõ mối quan hệ giữa tình ý của tác giả và hệ thống hình ảnh trong thơ, cần thiết phải đi vào xem xét

ba phương pháp sáng tác: phú, tỷ và hứng

Trước hết xét “hứng” Quan thư là bài thơ mở đầu trong Thi kinh, có hai

chương đầu được viết như sau:

Quan quan thư cưu,

Tại hà chi châu

Ngày đăng: 16/05/2021, 12:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w