ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA ĐỊA LÝ ---o0o--- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
Lý do thực hiện đề tài
Mong ước có việc làm ổn định, có cuộc sống đầy đủ, ấm no là mong ước chính đáng của tất cả mọi người nói chung và của người nghèo nói riêng Nhưng vì nhiều lý do khác nhau không phải ai cũng có được may mắn đó Làm thế nào để thoát nghèo, hay chí ít cũng giúp gia đình đủ ăn, đủ mặc hàng ngày và con em mình có thể được đến trường, biết đọc, biết viết là những trăn trở của những dân nghèo chọn giải pháp chuyển cư đến các thành phố để mong tìm được việc làm với thu nhập tốt hơn Đó cũng là trường hợp của những người dân nhập cư chúng tôi đã gặp ở làng Việt Kiều, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
“Làng Việt Kiều” – một cái tên mới nghe qua sẽ khiến người ta nghĩ đến một nơi giàu có, sung túc và phát triển Tuy nhiên, thực tế lại không như người ta vẫn nghĩ “Làng Việt Kiều” là tên gọi của một xóm những người di dân từ Campuchia về lập cư tại xã Tân Thông Hội Cư dân trong làng phần lớn là những người di dân từ nhiều nơi sang Campuchia làm ăn, sau 1975 họ trở lại Việt Nam và chọn vùng đất này làm nơi định cư của mình Phần lớn họ là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, chủ yếu là đi nhặt, thu mua ve chai; bán vé số; bán báo dạo; làm thuê và không ít người thất nghiệp Với khoản thu nhập bấp bênh, việc đảm bảo nhu cầu tối thiểu hàng ngày cho gia đình là một vấn đề khó khăn cho họ Họ hầu như sống bế tắc và không tìm được lối đi trong việc thoát khỏi tình hình hiện tại
Vì nhiều lý do, hầu hết họ không có hộ khẩu, không có điều kiện làm giấy khai sinh cho con em mình, và vì vậy các em đã không được đến trường, không được hưởng các quyền cơ bản mà đáng ra các em phải được hưởng đó là quyền được có khai sinh, quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc sức khỏe… Phần lớn các em phải nghỉ học sớm để theo cha mẹ, anh chị bán vé số, bán báo, lượm ve chai… để lo cho miếng cơm manh áo của bản thân và gia đình Chính vì vậy các em là nhóm trẻ có nguy cơ cao, rất dễ bị sa ngã, dụ dỗ và lôi cuốn vào các tệ nạn xã hội
Những nhận định ban đầu này đã thúc đẩy chúng tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về cộng đồng nhập cư này, nhận diện nhu cầu của họ và cùng với họ xây dựng một chiến lược giảm nghèo bền vững, để góp phần làm cho cuộc sống của những người dân nhập cư ngày càng tốt đẹp hơn.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu hiện trạng đời sống người Việt hồi cư từ Campuchia và người Khmer nhập cư tại xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, nhằm đóng góp cho việc định hướng cải thiện đời sống và nâng cao năng lực xóa nghèo bền vững cho cộng đồng này Cụ thể:
Tìm hiểu nguyên nhân nhập cư, hiện trạng về đời sống của cộng đồng nhập cư và nhận định những khó khăn mà cộng đồng đang phải đối mặt
Tìm hiểu các mô hình hỗ trợ cho cộng đồng nhập cư đang được áp dụng tại địa phương
Phác họa một số mô hình kinh tế nhỏ có thể áp dụng tại địa phương nhằm nâng cao năng lực cho cộng đồng thiệt thòi trong việc ổn định kinh tế và phát triển đời sống.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng đầu tiên được xác định là những người dân hồi cư từ Campuchia trong nhiều thời kỳ khác nhau Tuy nhiên khi đi khảo sát tại địa phương, chúng tôi nhân thấy ngoài cộng đồng người hồi cư này còn có những người Khmer (quốc tịch Việt Nam) từ các tỉnh đồng bằng sông Cưu Long di dân đến Do nhóm này nói cùng thứ tiếng (tiếng Khmer) nên người địa phương đôi khi không phân biệt họ với người hồi cư từ Campuchia Vì vậy, khi hướng dẫn chúng tôi đi thực hiện các phỏng vân, họ đã đưa chúng tôi đến gặp cả hai nhóm này
Hơn nữa, do hai nhóm người này sinh sống trên cùng một khu vực nên khi tiến hành khào sát chúng tôi đã quyết định tìm hiểu cả hai nhóm trên để có thêm thông tin, nhằm so sánh các đặc điểm và những hỗ trợ khác nhau mà họ nhận được, cũng như khả năng tự giải quyết các khó khăn của mỗi nhóm đối tượng
- Thu thập và phân tích các tài liệu thứ cấp: bao gồm các báo cáo của chính quyền địa phương, các kết số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên và một số đề tài nghiên cứu về người nhập cư tại TP.HCM đã được thực hiện trước đây
- Khảo sát tại địa phương: thực hiện các phỏng vấn sâu, chủ yếu là với người nhập cư thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau, với các giáo viên của lớp học tình thương dành cho con em người nhập cư
Tổng cộng đã thực hiện hơn 30 cuộc phỏng vấn sâu với đối tượng là người nhập cư và 2 cuộc phỏng vấn chính thức với các giáo viên Tuy nhiên, do sai sót về kỹ thuật, chúng tôi chỉ phân tích và trích dẫn được từ 19 đoạn băng ghi âm Ngoài ra, trong nhiều lần đến khảo sát tại địa phương chúng tôi đều có những cuộc trao đổi không chính thức với người phụ trách chung của lớp học tình thương là nữ tu Phan Thị Ngọc Hà và được cung cấp nhiều thông tin bổ ích cho cuộc khảo sát
Các thông tin thu thập được qua các cuộc phỏng vấn đã được sắp xếp, phân loại theo chủ đề và chọn lọc để làm trích dẫn.
Nội dung nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở khảo sát thực tế và tham khảo những nghiên cứu sẵn có, đề tài tiến hành phân tích, đánh giá các vấn đề sau:
- Giới thiệu sơ lược khái niệm về di dân và tình hình nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh; khái niệm nghèo đói và phân hóa giàu nghèo và nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo của một số cộng đồng người nhập cư
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng đời sống của người dân nhập cư nghèo, thiệt thòi Phân tích nguyên nhân và những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nghèo đói, thiệt thòi của cộng đồng nhập cư tại địa phương
- Tìm hiểu những chính sách, hoạt động của chính quyền và các tổ chức đã thực hiện nhằm cải thiện đời sống cho cộng đồng nhập cư tại địa phương.
Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ giới hạn khảo sát trong phạm vi một xã và một cộng đồng dân nhập cư tương đối ít người nên kết quả chỉ là một trường điển cứu khá đặc thù, có thể không đại diện cho toàn bộ người nhập cư vào huyện Củ Chi hay cho người nhập cư nói tiếng Khmer vào TPHCM
Vì vậy chúng tôi mong có nhiều nghiên cứu tiếp theo để bổ sung có các thông tin đã thu nhận được giúp nhận rõ hoàn cảnh, nhu cầu của người nhập cư nghèo nhằm có định hướng hỗ trợ một cách hiệu quả hơn
TÌNH HÌNH NHẬP CƯ VÀ NGƯỜI NHẬP CƯ NGHÈO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tình hình nhập cư đến TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế năng động của khu vực phía Nam và toàn quốc Với nền kinh tế thị trường đã sớm phát triển, thành phố trở thành nơi hội tụ của các luồng trao đổi hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ và lao động của cả nước Cải cách kinh tế bắt đầu 1986 đã giải tỏa việc hạn chế chuyển cư đã làm gia tăng số người di chuyển giữa các Trong quá trình chuyển đổi từ nên kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường, thành phố đã đạt được nhiều thành quả quan trọng: tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng từ 57,8 tỷ đồng năm 2001 (giá so sánh năm 1994) lên 99,7 tỷ (giá so sánh năm 1994), chiếm 24,3 % GDP của cả nước 1
Sự tăng trưởng kinh tế liên tục và đều đặn trong những năm qua đã tác động tích cực đến các yếu tố sản xuất như thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển thành phần kinh tế tư nhân, giúp từng bước cải thiện cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, tăng cường phúc lợi xã hội, cải thiện mức sống người dân Với các chuyển biến kinh tế xã hội tích cực, TP.HCM đã trở thành một trung tâm thu hút các luồng nhập cư Đô thị hóa tại TPHCM diễn ra theo các hướng chính: (1) Đông Bắc, về phía Biên Hòa, Vũng Tàu theo Quốc lộ 1; (2) Nam và Đông Nam, về phía Biển Đông và đồng bằng sông Cửu Long; (3) Tây Bắc, dọc theo đường Xuyên Á, nối liền TPHCM với Phnom Penh, Bangkok và các thành phố lớn khác của ASEAN Dọc theo các hướng phát triển này của thành phố sự tập trung dân cư cũng diễn ra với tốc độ nhanh
Theo số liệu thống kê, dân số của thành phố tăng liên tục Theo kết quả
Tổng điều tra dân số ngày 01/04/1999, dân số thành phố là 5,04 triệu người,
1 Nguồn: www.hochiminhcity.gov.vn trong đó dân số trong tuổi lao động chiếm 57% Đến năm 2008, dân số là 6,8 triệu người, tỷ lệ dân đô thị đạt 85 %, tập trung tại các quận ven nội Gò Vấp (520.928 người), Bình Tân (500.493), Bình Thạnh (474.206) Các quận có mật độ dân cư cao là Quận 3, 4, 5, 10 và 11, với mật độ trên 40.000 người/km 2 2
Theo Cục Thống kê, từ năm 2000 đến 2008, tỷ lệ tăng dân số tại TPHCM dao động trong khoảng từ 3,0% đến 3,9% mỗi năm Trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên có xu hướng giảm, tỷ lệ tăng cơ học biến động nhiều hơn và có xu hướng tăng trở lại trong vài năm gần đây (xem bảng 1)
Bảng 1: Biến động dân số của thành phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ
Thời kỳ Tăng dân số (%) Tăng tự nhiên
Nguồn : Cục Thống kê TP.HCM
Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn 1976 – 1990, số người nhập cư vào TPHCM khoảng 900.000 – 1.000.000 người, bình quân tăng mỗi năm 70.000 – 100.000 người do di dân, chiếm tới 25% trong số 2 triệu lao động của thành phố Bên cạnh đó hàng năm còn có khoảng 35.000 – 40.000 người di dân theo thời vụ.Theo số liệu của Công An thành phố, đến tháng 01/2002 toàn thành phố có 1.165.468 người nhập cư (bao gồm người tạm trú ngắn hạn và dài hạn) Đến tháng 6/2004 con số này lên đến gần 1,4 triệu người 3
2 Nguồn: www.pso.hochiminhcity.gov.vn
3 Chi cục Phát triển Nông thôn TP.HCM, 2005, trang 1-2
Dân nhập cư tăng là một hiện tượng mang tính quy luật, không thể tách rời khỏi quá trình phát triển đô thị Nhìn từ góc độ tích cực, dân nhập cư là một lực lượng lao động quan trọng, góp phần vào sự tăng trưởng của thành phố Tuy nhiên, họ cũng tạo thêm sức ép về việc giải quyết việc làm, các phúc lợi xã hội, cơ sở hạ tầng dịch vụ và các vấn đề môi trường cho thành phố trong quá trình phát triển.
Tình hình nhập cư đến huyện Củ Chi và xã Tân Thông Hội
1.3.1 Tình hình nhập cư đến huyện Củ Chi
Huyện Củ Chi là huyện ngoại thành rộng thứ 2 sau Cần Giờ mang tính chất của một vùng nông thôn khá rõ nét của thành phố Hồ Chí Minh Với diện tích lớn đất đai dành cho nông nghiệp Tuy nhiên trong những năm gần đây, quá trình công nghiệp hoá được đẩy mạnh Bằng chứng là trên địa bàn huyện lần lượt các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được lập nên như: khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, cụm công nghiệp Tân Quy - khu A, cụm công nghiệp Tân Quy
- khu B, khu công nghiệp Tân Phú Trung… dự tính đến năm 2020 trên địa bàn huyện sẽ có tất cả 5 khu công nghiệp và 5 cụm công nghiệp Vì thế đã thu hút rất nhiều lao động từ nơi khác đến
Cộng với môi trường ở nơi đây tương đối trong lành, không gian thoáng đãng, mức sống không cao so với các quận huyện khác của thành phố Mặc khác, Củ Chi nằm ở vị trí khá thuận lợi, nằm trên quốc lộ 22 xuyên Á nối liền Phnômpênh, Bangkok với thành phố Hồ Chí Minh, là trục giao thông thuận lợi cho hoạt động thương mại trong nước và với nước ngoài Đồng thời hệ thống đường giao thông đã được nhựa hoá, bê tông hoá, các phương tiện giao thông công cộng như xe buýt đã về tận các xã nên việc đi lại của người dân cũng khá thuận tiện Vì thế Củ Chi ngày càng thu hút đông đảo người lao động (đặc biệt là lao động phổ thông) đến làm việc và sinh sống
Theo số liệu của Phòng Thống kê huyện Củ Chi năm 2007 dân số huyện
Củ Chi theo diện cư trú KT3 (tạm trú dài hạn) là 14.356 người (trong đó nữ là 7.810 người chiếm 54,4%), KT4 (tạm trú ngắn hạn) là 18.727 người (trong đó nữ 11.217 người chiếm gần 60%) Như vậy huyện có tổng số người nhập cư năm
2007 là 33.083 người chiếm 10,23% so với tổng dân số huyện (33.083 so với
323.419, đơn vị: người) Người nước ngoài đến cư trú là 199 người (trong đó nữ
Trong 21 xã, thị trấn thì các xã có nhiều người nhập cư nhất thuộc về các xã có khu công nghiệp trên địa bàn hoặc địa bàn nằm gần khu công nghiệp như xã Tân Thạnh Đông gần cụm công nghiệp Tân Quy với số người nhập cư cao nhất huyện: 5.913 người (trong đó nữ 3.493 người chiếm 59,1%); xã Tân Phú Trung có khu công nghiệp Tân Phú Trung, số người nhập cư của xã năm 2007 là 4.280 người (trong đó nữ là 2.317 người chiếm 54,1%); hay xã Tân Thông Hội 3.638 người …
Xã có ít người nhập cư nhất thuộc về các xã Thái Mỹ (285 người), Xã Trung Lập Thượng (332 người), Nhuận Đức (420 người)… là các xã mà người dân sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp…
1.3.2 Tình hình dân nhập cư xã Tân Thông Hội
Xã Tân Thông Hội cách thành phố Hồ Chí Minh 30km và gần trung tâm hành chánh của huyện (cách thị trấn Củ Chi 5km theo quốc lộ 22), là một trong những xã có điều kiện giao thông thuận lợi nhất huyện Ngoài ra, xã còn nằm gần khu công nghiệp Tân Phú Trung và giao thông thuận tiện đến khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi… Đồng thời đây cũng là một trong những xã có số người nhập cư đông nhất huyện sau Tân Thạnh Đông và Tân Phú Trung Theo số liệu thống kê của huyện thì năm 2007 xã có 3.638 người dân theo diện cư trú KT3 và KT4 (Trong đó KT3 là 1.638 người, KT4 là 2.000 người) chiếm 11% so với tổng số người nhập cư của huyện và chiếm 14,4% so với tổng dân số của xã (3.638 người so với 25.280 người) Trong tổng số người nhập cư của xã thì nữ chiếm một tỷ lệ khá lớn 54,43% (1.980 người so với 3.638 người)
Người dân nhập cư đến đây sinh sống chủ yếu bằng các nghề như: công nhân, buôn bán nhỏ, hay làm nghề tự do… Với những công việc như vậy nên thu nhập của họ thường không ổn định và điều kiện sống thì không ít những khó khăn
Trong đề tài này, đối tượng nhập cư được nghiên cứu chia thành 3 nhóm:
- Người Khmer (người Việt) nhập cư từ nơi khác đến (diện tạm trú dài hạn và ngắn hạn), chủ yếu là từ đồng bằng sông Cửu Long
- Người dân hồi hương từ Campuchia về sau những năm 70
- Nhóm người vẫn thường hay qua lại Campuchia theo báo cáo của xã thì cuối năm 2007 có khoảng 57 hộ.
Nhận dạng về người nghèo nhập cư nghèo, thiệt thòi
1.2.1 Quan niệm về nghèo đói
Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội để tăng thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc gặp khó khăn, dễ bị tổn thương trước những biến động (môi trường, xã hội), ít được thamgia vào quá trình ra quyết định 4 Như vậy nghèo khổ được định nghĩa từ nhiều góc cạnh khác nhau
Nghèo còn là một khái niệm để chỉ mức sống của một nhóm dân cư, một quốc gia so với mức sống của cộng đồng hay các quốc gia khác 5 Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng tồn tại một bộ phận dân cư được xem là nghèo, tuy rằng mức nghèo đói ở mỗi quốc gia có khác nhau
Hội nghị chống nghéo đói khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, do ESCAP tổ chức tại Thái Lan năm 1993, đã đưa ra định nghĩa chung như sau : nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương Định nghĩa hiện đang được nhiều nước sử dụng, trong đó có nước ta
Quy mô và mức độ nghèo đói phụ thuộc vào hai yếu tố : thu nhập bình quân đầu người và mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Để có thể giải quyết tình trạng nghèo đói cần phải hiểu biết các nhóm người nghèo đói là ai và đặc điểm kinh tế của họ là gì
4 Phạm Ngọc Linh, Nguyễn Thị Kim Dung (2008), Giáo trình kinh tế phát triển, trang 131
5 Phan Thúc Huân (2003), Kinh tế học phát triển, trang 171
1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng người nhập cư nghèo, thiệt thòi
Di chuyển lao động là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, là biểu hiện rõ nét nhất của sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền lãnh thổ, giữa các quốc gia Những khác biệt mức sống, chênh lệch trong thu nhập, cơ hội việc làm, sức ép sinh kế, tiếp cận dịch vụ xã hội giữa các khu vực, vùng miền là các nguyên nhân cơ bản tạo nên các dòng di cư trong nước hiện nay
Nếu dựa vào 2 yếu tố để định nghĩa tình trạng nghèo như trên là thu nhập bình quân đầu người và mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, chúng ta có thể thấy một số nguyên nhân dẫn đến việc một nhóm người nhập cư, cụ thể là đến TPHCM, lâm vào tình cảnh nghèo túng như sau:
- Người nhập cư vào các đô thị nói chung là không có tay nghề hoặc tay nghề không cao Do vậy, họ thường phải làm những công việc thủ công, trong khi nhiều cơ sở tuyển dụng lao động cần người có tay nghề nhất định Theo kết quả điều tra di cư năm 2004, đại đa số người di cư nằm trong độ tuổi trẻ Vấn đề bất cập có thể thấy ở đây là dư thừa nguồn lao động trẻ không có tay nghề, trong khi nền kinh tế thiếu lao động có tay nghề, có chuyên môn
- Một bộ phận quan trọng người nhập cư vốn đã là người nghèo ở nông thôn với các đặc điểm như ít vốn, không có tư liệu sản xuất, người phụ thuộc trong gia đình đông… Những đặc điểm này khiến cho nỗ lực giảm nghèo của họ trong khu vực đô thị càng gặp khó khăn, khiến họ không thoát được vòng lẩn quẩn của sự nghèo đói
- Ngoài ra, đối với cộng đồng nhâp cư là người dân tộc ít người, các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa đôi khi cũng làm hạn chế khả năng giao tiếp và sự hội nhập của họ vào môi trường mới
- Cũng có thể kể đến một số nguyên nhân khách quan như mức sống cao tại các thành phố, tình trạng khan hiếm nhà ở dành cho đối tượng có thu nhập thấp, ảnh hưởng của các tệ nạn, tình trạng thiếu an ninh trong đô thị…
- Dù gặp nhiều khó khăn, nhưng do tình trạng cư trú chưa ổn định nên người nhập cư khó tiếp cận các chương trình hỗ trợ của nhà nước Các chính sách hỗ trợ cho người nghèo của các địa phương đôi khi bỏ quên nhóm đối tượng này Vì vậy, họ thường sống tập trung lại thành từng nhóm để có thể tương trợ lẫn nhau lúc gặp khó khăn
Nhìn chung, việc di chuyển đến TPHCM là để tìm kiếm cơ hội để cải thiện đời sống, vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, không phải người di dân nào cũng có may mắn tìm được công việc ổn định, chỗ ở đàng hoàng để thực hiện ước muốn “đổi đời” Đề tài chỉ là một điển cứu nhỏ tại một huyện ngoại thành TPHCM nhưng cũng góp phần làm rõ một số nguyên nhân khiến cộng đồng người nhập cư nghèo gặp nhiều thiệt thòi và khó khăn trong việc nâng cao mức sống.
GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Khái quát về Huyện Củ chi
2.1.1 Các điều kiện tự nhiên
Huyện Củ Chi là huyện ngoại thành rộng thứ hai của thành phố Hồ Chí Minh, sau Cần Giờ, nằm về phía Tây Bắc của TPHCM, có tọa độ địa lý từ
10 o 53’00” đến 10 o 10’00” vĩ độ Bắc và từ 106 o 22’00” đến 106 o 40’00” kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp với huyện Trảng Bàng - Tây Ninh
- Phía Đông giáp huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
- Phía Tây – Tây Nam giáp huyện Đức Hòa, tình Long An
- Phía Nam giáp huyện Hóc Môn
Với diện tích 42.848 ha, huyện Củ Chi có 1 thị trấn và 20 xã Huyện nằm trên quốc lộ 22 Xuyên Á nối liền Phnômpênh, Bangkok với thành phố Hồ Chí Minh, là trục giao thông thuận lợi cho hoạt động thương mại trong nước và với nước ngoài
2.1.1.b Các yếu tố khí hậu
Huyện Củ Chi mang đặc điểm khí hậu chung của khí hậu thành phố Hồ Chí Minh, khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt Với nền nhiệt độ cao và tương đối ổn định giữa các mùa, lượng mưa hàng năm khá dồi dào
Huyện Củ Chi nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, với đặc trưng chủ yếu là:
- Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm khoảng 26,6 o C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,8 o C (tháng 4), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 24,8 o C (tháng 12) Tuy nhiên biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch khá lớn, vào mùa khô có trị số 8 – 10 o C
- Lượng mưa trung bình năm từ 1.300 mm – 1.770 mm, tăng dần lên phía Bắc theo chiều cao địa hình, mưa phân bổ không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào tháng 7,8,9; vào tháng 12 - tháng 1 lượng mưa không đáng kể
- Độ ẩm không khí trung bình năm khá cao 79,5% cao nhất vào các tháng 7,8,9 là 80 – 90%, thấp nhất vào tháng 12,1 là 70%
- Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2100 – 2920 giờ
Huyện nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió mùa chủ yếu phân bố vào các tháng trong năm như sau:
- Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau có gió Đông Bắc, vận tốc trung bình từ 1 – 1,5 m/s Từ tháng 2 đến tháng 5 gió đổi hướng thành Đông Nam hoặc Nam với vận tốc trung bình từ 1,5 – 2,0 m/s;
- Tháng 5 đến tháng 9 thịnh hành là gió Tây – Tây Nam, vận tốc trung bình từ 1,5 – 3,0 m/s
Huyện Củ Chi có hệ thống sông, kênh, rạch khá đa dạng, với những đặc điểm chính:
- Sông Sài Gòn chịu chế độ ảnh hưởng dao động bán nhật triều, với mực nước triều bình quân thấp nhất là 1,2m và cao nhất là 2,0 m
- Các hệ thống kênh rạch tự nhiên khác, đa số chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ hủy văn của sông Sài Gòn như Rạch Tra, Rạch Sơn, Bến Mương … Riêng chỉ có kênh Thầy Cai chịu ảnh hưởng chế độ thủy văn của sông Vàm Cỏ Đông
Nguồn nước của huyện chủ yếu là nước ở các sông, kênh, rạch, hồ, ao Tuy nhiên, phân bố không đều tập trung ở phía Đông của huyện (Sông Sài Gòn) và trên các vùng trũng phía Nam và Tây Nam với chiều dài gần 300 km cả hệ thống, đa số chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều Theo các kết quả điều tra khảo sát về nước ngầm trên địa bàn huyện Củ Chi cho thấy, nguồn nước ngầm khá dồi dào và đang giữ vị trí quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân
Chất lượng nước nhìn chung khá tốt trừ các khu vực vùng trũng như: Tam Tân, Thái Mỹ Ngoài ra, do tác dụng của hệ thống kênh Đông Củ Chi đã bổ sung một lượng nước ngầm đáng kể, nâng mực nước ngầm lên từ 2 – 4m
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Củ Chi là 43.450,2 ha và căn cứ nguồn gốc phát sinh có 3 nhóm đất chính sau: a) Nhóm đất phù sa Đất phù sa được hình thành trên các trầm tích alluvi tuổi Haloxen muộn ven các sông, kênh, rạch Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Thành phần cấp hạt sét là chủ yếu (45 – 55 %), cấp hạt cát cao gấp 2 lần cấp hạt limon; tỉ lệ các hạt giữa các tầng không đồng nhất do hậu quả của các thời kỳ bồi đắp phù sa; Trị số pH xấp xỉ 4; cation trao đổi tương đối cao kể cả Ca2+,
Mg2+,Na2+, riêng K+ rất thấp; CEC tương đối cao, đạt trị số rất lý tưởng cho việc trồng lúa; Độ no bazơ cao; Các chất dinh dưỡng về mùn, đạm, lân và kali rất giàu Đây là một loại đất rất quí hiếm, cần thiết phải được cung cấp nước tưới, ưu tiên sản xuất lúa nước 2 đến 3 vụ và sử dụng một phần diện tích nhỏ cho việc trồng cây ăn trái b) Nhóm đất xám: Đất xám hình thành chủ yếu trên mẫu đất phù sa cổ (Pleistocen muộn) Tầng đất thường rất dày, thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt cát trung bình và cát mịn chiếm tỉ lệ rất cao (40 - 55%), cấp hạt sét chiếm 21 – 27% và có sự gia tăng sét rất rõ tạo thành tầng tích sét Đất có phản ứng chua, pH xấp xỉ 5; các cation trao đổi trong tầng đất rất thấp; hàm lượng mùn, đạm tầng đất mặt khá nhưng rất nghèo Kali do vậy khi sản xuất phải đầu tư thích hợp về phân bón
Loại đất này rất dễ thoát nước, thuận lợi cho cơ giới hóa và thích hợp với các loại cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày, rau, đậu … Nên ưu tiên sử dụng cho việc trồng các cây như cao su, điều vì khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt Trong sử dụng phải chú ý biện pháp chống xói mòn và rửa trôi, tăng cường phân bón bổ sung dinh dưỡng nhất là phân hữu cơ c) Nhóm đất đỏ vàng:
Loại đất này hình thành trên sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ và mẫu chất khác nhau Đặc điểm của nhóm đất này là chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp thụ không cao, khoáng sét phổ biến là kaolinit, axit mùn chủ yếu là fuvic, chất hòa tan dễ bị rửa trôi
2.1.1.e Các vùng sinh thái nông nghiệp
Củ Chi là vùng đất phù hợp với nhiều loại cây trồng Vùng đồi gò cao 10- 15m thích hợp với các loại cây công nghiệp như điều, cao su và trồng rừng Vùng chuyển tiếp từ vùng gò và vùng bưng trũng phân bố đều trong hầu hết các xã, thích hợp với các cây công nghiệp ngắn ngày đặc biệt là đậu phộng và rau màu, các loại đỗ, đậu…
Giới thiệu về xã Tân Thông Hội
2.2.1 Các điều kiện tự nhiên
Tân Thông Hội là xã nằm ở phía nam của Củ Chi, cách thành phố Hồ Chí Minh 30km theo đường Xuyên Á (quốc lộ 22) Tân Thông Hội nằm giữa Thị Trấn Củ Chi và các xã Tân An Hội, Phước Vĩnh An, Tân Phú Trung (Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh); xã Tân Thới Nhì (huyện Hóc Môn, Thành phố
Hồ Chí Minh) và các xã Đức Lập Hạ, Mỹ Hạnh Bắc (Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An) với diện tích tự nhiên xấp xỉ 17.900ha và dân số tại chỗ khoảng hơn 21.000người
Phía Bắc của xã Tân thông hội là thị trấn Củ Chi và xã Phước Vĩnh An, phía đông giáp xã Tân Phú Trung, phía tây giáp xã Tân An Hội và phía nam giáp Đức Hoà – Long An Nằm gần khu công nghiệp Tân Phú Trung, gần trung tâm hành chánh của huyện (thị trấn Củ Chi), giao thông thuận tiện đến khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi… Là xã có điều kiện giao thông khá thuận lợi so với các xã khác
Hình 1: Sơ đồ vị trí xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi
2.2.1b Các điều kiện tự nhiên khác
Là một xã thuộc huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy Tân Thông Hội có địa hình bưng trũng đặc trưng của địa hình phía Tây Nam huyện
Củ Chi, đó là nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Tây nam bộ và miền sụt Đông nam bộ, với độ cao giảm dần theo 2 hướng Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 8m – 10m Điều kiện khí hậu cũng mang tính chất chung của huyện Củ Chi như: có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt Với nền nhiệt độ cao và tương đối ổn định giữa các mùa, lượng mưa hàng năm khá dồi dào Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Ngoài ra địa bàn xã có tương đối nhiều ruộng, đất đai thuận lợi để phát triển nông nghiệp so với các xã khác trong huyện Theo báo cáo định kỳ năm
2006 của UBND xã Tân Thông Hội thì toàn xã hiện có khoảng 499ha đất gieo trồng Đất được phù sa bồi lắp thuận lợi cho phát triển các loại lúa, hoa màu Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hẹp dần do quá trình đô thị hoá Đất nông nghiệp không còn nhiều, thay vào đó người dân chuyển sang làm chăn nuôi, buôn bán nhỏ
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Theo thống kê của Phòng Thống kê huyện Củ Chi thì Tân Thông hội là một trong những xã đông dân nhất huyện, sau xã Tân Thạnh Đông và Tân Phú Trung Năm 2007 dân số của huyện là 25.280 chiếm 7,82% dân số toàn huyện Trong đó nữ chiếm 53,24% tương đương với 13.143 người và số nữ trong độ tuổi khả sản (15 -49) là 6.018 người
Lực lượng lao động của huyện này khá dồi dào Cũng theo số liệu của phòng thống kê thì năm 2007 xã có khoảng 4.688 trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 18,5
% dân số toàn xã, số người trên 60 tuổi chiếm 6,61% tương đương với 1.671 người Như vậy số người đang trong độ tuổi lao động chiếm tới 74, 89%
Bên cạnh đó, công tác y tế, đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo cũng như chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em cũng được UBND xã rất quan tâm
Nông nghiệp: trong những năm gần đây diện tích đất trồng trọt trong nông nghiệp được xã cố gắng duy trì ổn định Năm 2007 diện tích đất trồng trọt là 485 ha chủ yếu dùng trồng lúa, rau các loại và bắp Trong đó diện tích trồng lúa năm 2007 là 173 ha, năng suất lúa bình quân khá cao 4,1 tấn/ha; rau các loại chiếm 273 ha đạt năng suất 27,5 tấn/ha; bắp 39 ha với năng suất 28,5 tấn/ha
Về chăn nuôi, trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi cũa xã tăng khá mạnh Cụ thể là năm 2007 tổng đàn gia súc của xã là 6.762 con tăng khá cao so với 2006 Trong đó heo 4.537 con - tăng 1.467 con; bò ta 1.070 con - tăng 536 con; trâu 59 con - tăng con…
Các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ chiếm 70% tỷ trọng trong các ngành sản suất Trong toàn xã hiện có 49 % đơn vị sản xuất kinh doanh, có tăng nhưng không cao so với những năm trước
2.2.2.c Tình hình phổ cập giáo dục
Theo báo cáo năm 2006 của UBND xã thì trên địa bàn đã hoàn thành công tác chống mù chữ và phổ cập tiểu học Riêng phổ cập trung học cơ sở (THCS) đạt 6,88% (21/305 em); phổ cập trung học phổ thông đạt 13,17%
(39/296 em) Đảm bảo tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng của tiểu học không quá 0,04% và THCS không quá 1,2% 6
Bên cạnh những thành quả tốt đẹp đó, tại Tân Thông Hội còn tồn tại một thực trạng đó là tình trạng trẻ em từ nơi khác theo bố mẹ tới làm ăn tại địa phương Các em này phần lớn là con của các di dân nghèo, không có điều kiện được đến trường và được hưởng các quyền lợi như các em khác Điều này đã gây không ít trăn trở cho chính quyền địa phương và những người làm công tác phát triển cộng đồng tại địa phương
2.2.3 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2008
Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội, củng cố bộ máy chính quyền vững mạnh
2.2.3.b Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu
KẾT QUẢ KHẢO SÁT – THẢO LUẬN
Tiếp cận cơ sở hạ tầng kỹ thuật
3.1.1 Tiếp cận cơ sở giáo dục:
Với những hộ hồi hương từ Campuchia vào những năm 1970 thì hầu hết gia đình họ đã có hộ khẩu nên việc con cái họ tham gia vào các lớp học khá dễ dàng về thủ tục, chỉ còn lại rào cản nữa là vấn đề tài chính Chị Nguyễn Thị Dung cho biết “nhà còn có con bé út đi học, nó đang học lớp 11 Năm ngoái nó xém nghỉ vì không có tiền đóng học phí Nhưng ai cũng tiếc vì nhiều năm liền nó liên tục là học sinh xuất sắc Vậy là tui lên xã làm giấy xin xét miễn giảm.” hay như trường hợp nhà chị Nguyễn Thị Là: “nhà có thàng út nhỏ nhất năm nay
17 tuổi, hồi xưa nó học đến lớp 6 thì nghỉ Nó thấy gia đình kinh tế eo hẹp, nó chán vậy là nghỉ học đi làm phụ gia đình.”
Thông qua các hộ phỏng vấn viên tiếp cận ta có thể phác họa tình hình chung ở những hộ gia đình có thời gian sinh sống tương đối dài (nếu lấy mốc bắt đầu từ sau những năm 70) như sau: trẻ nghỉ học giữa chừng hoặc tới lớp 10,11 thì không đến lớp nữa Nguyên nhân chủ yếu do không đủ giấy tờ, do kinh tế gia đình nên trẻ có xu hướng bỏ học để phụ giúp bố mẹ hoặc có khi chỉ vì lý do trẻ trông em bé cho bố mẹ đi làm, một vài trường hợp cá biệt là trẻ không còn muốn đi học nữa do sức học kém, tiếp thu không kịp bạn bè, muốn nghỉ ở nhà để đi làm phụ giúp gia đình
Riêng những gia đình vẫn hay qua lại Campuchia, các em không có giấy khai sinh, không thể xin vào học trường công Hoặc do bố mẹ hay đi vắng, không chăm lo cho các em đầy đủ, nên một bộ phận các em vừa học vừa làm cho dù tuổi còn rất nhỏ
Việc đến trường của nhóm trẻ em này thực sự nhờ vào sự hỗ trợ của tổ chức từ thiện Ơ địa bàn, chủ yếu nhờ vào hoạt động thiện nguyện của các soeur trong nhà thờ, theo cách thức phổ biến là các soeur tự tìm hiểu hoàn cảnh của các gia đình, tiếp cận, vận động với những phương thức hỗ trợ vật chất cụ thể để trẻ có thể đến trường do các soeur trực tiếp đứng lớp Sau một thời gian trẻ sẽ được hỗ trợ những thủ tục (chủ yếu là giấy khai sinh) để giúp trẻ tiếp tục học ở những năm tiếp theo ở trường tiểu học, trung học cơ sở… Với những gia đình có đông trẻ em đang ở tuổi đi học, sự giúp đỡ của các soeur mở rộng ra cả hình thức hỗ trợ 50% học phí hay tìm kiếm các mạnh thường quân tài trợ cho các em được đến trường Hộ của chị Nguyễn Thị Hiền (51 tuổi, lộ 13, ấp Tân Thành) có
3 con thì trong đó chuyện học của các con được giải quyết như sau “Đứa con nhỏ nhất của tôi đang đi học bên nhà thờ, được các soeur giới thiệu cho một người Pháp làm đỡ đầu cho nó, đứa con lớn thì bên chồng phụ tôi một tay nuôi ăn học Chỉ có đứa con giữa học tới lớp 8 thì bỏ học giữa chừng, bây giờ đang đi làm thuê cho người ta”
Riêng các em thuộc các gia đình nhập cư gặp khá nhiều trở ngại về thủ tục khi đến trường Có một số gia đình khi đến đây thường đi cả nhà, từ những người có khả năng lao động đến các em còn tuổi đi học Các em khi đến đây không thể đến trường vì không có giấy tờ hợp lệ Mặt khác, vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, mà cho các em tham gia học tập tại các trường sẽ rất tốn kém Cho nên, dù muốn họ cũng không mặn nồng với việc tìm mọi cách cho con đến trường Ví như gia đình chị Khoon, Út chỉ mới học lớp 3 nhưng đã nghỉ học khi theo gia đình chuyển lên đây Hiện tại, em chỉ ở nhà trông cháu, xỏ mành trúc cùng mẹ để kiếm thêm thu nhập cho gia đình
Tóm lại, việc tiếp cận hệ thống giáo dục căn bản, trẻ ở các hộ gia đình đối tượng nhập cư thực sự chịu nhiều thiệt thòi hơn trẻ ở trong gia đình khác Tính đến thời điểm hiện tại, trong các hộ phỏng vấn, ít nhiều trẻ chịu ảnh hưởng của việc tiếp cận không đầy đủ cơ sở giáo dục
3.1.2 Tiếp cận cơ sở hạ tầng giao thông
Hiện nay Củ Chi là một trong những huyện có tốc độ đô thị hoá khá nhanh của TPHCM, hệ thống đường xá, giao thông khá thuận lợi Dù là người dân sống ở đây hay những người từ nơi khác đến, dù là người có phương tiện hay không có phương tiện đi lại cá nhân thì việc đi lại đến các quận, huyện, đến các tỉnh lân cận cũng khá dễ dàng vì các phương tiện giao thông công cộng khá phổ biến, thuận tiện và thường xuyên
Hệ thống giao thông nội xã được hoàn thành về căn bản và đang tiếp tục được nâng cấp cải thiện Những trục lộ chính đã được đắp nền, lót xi măng, trải nhựa nên việc lưu thông cũng dễ dàng Những đường lộ khác chủ yếu là đang trong giai đoạn hoàn thành, vẫn còn là đường cát hoặc sỏi Hệ thống kênh mương hai bên dọc theo trục lộ giúp các hộ gia đình sống trong khu vực không bị ảnh hưởng ngập lụt vào mùa mưa Các tuyến đường phụ nối ra các trục đường chính khá nhiều, do đó các hộ dân trong khu Việt kiều đều có thể di chuyển đến chợ, trường học, nhà thờ … khá thuận lợi
Các tuyến xe buýt đã về đến xã và trở thành phương tiện giao thông quen thuộc đối với người dân tại đây Chị Khoon, gia đình có 4 người con đi làm may
“Nhà chỉ có duy nhất chiếc xe đạp tụi nó thay nhau đi, hôm nay đứa này đi xe đạp thì đứa kia đi bộ, chỗ làm cũng gần, đường xá dễ đi nên không cần phải đi xe máy Khi nào cần đi đâu xa thì ra đầu đường đón xe buýt”
Hay như lời của chị Nguyễn Thị Là: “Ở đây đi đâu người ta hay đi xe buýt lắm Cứ 10 phút có một chiếc, tiện lợi, an toàn mà lại rẻ Ngồi trên xe có máy lạnh mát mẻ, khỏi phải dầm nắng dầm mưa ”
Anh Phạm Văn Thành, 22 tuổi, tạm trú tại ấp Tân Lập: “Cứ chủ nhật là tụi bạn trên thành phố xuống chơi, hay đi bằng xe buýt, xe buýt về đó nhiều lắm Còn tui đi làm hôm nào lười mới đi xe máy, còn không đi bộ với đám bạn cho vui.”
Còn về vấn đề nhà ở thì lại khác Với những người từ các tỉnh khác, đến đây kiếm việc làm thì thường là ở tạm trú ở trong một số khu nhà trọ Thường thì những phòng trọ này không lớn nhưng giá cả không phải là rẻ đối với công nhân Thế nên thường thì một phòng rộng khoảng 6 – 10 m 2 họ phải ở ghép 4- 5 người cho rẻ Như phòng trọ của gia đình chị Khoon tại ấp Tân Lập, rộng gần 9 m 2 , tiền thuê hàng tháng là 400.000 đồng chưa tính tiền điện nước Phòng có tất cả 5 người ở “4 đứa con với tui là 5”, chị Khoon tính
Hai khu nhà trọ mà chúng tôi đến gồm những căn phòng nhỏ hẹp, ẩm thấp và thường phải sử dụng các công trình vệ sinh chung Vào buổi trưa thường rất nóng do không có la phông Khi hỏi đến điện nước sử dụng thế nào? Thì được cho biết hai khu trọ này thường dùng nước giếng khoan cho rẻ (nhà chị Khoon được dùng miễn phí, còn khu trọ nhà anh Thành phải trả 3000 đồng một mét khối), điện thì tính giá chung là 2000 đồng một kwh Đối với đối tượng hồi hương từ Campuchia thì vấn đề nhà ở bớt khó khăn hơn, vì họ ổn định cuộc sống do ở đây cũng đã khá lâu Nhà không phải thuê, nhưng cũng khá vất vả Ba trong số các đối tượng tiếp cận được là chị Nguyễn Thị Dung (Tân Định), Nguyễn Thị Là và Nguyễn Thị Sương (Tân Tiến) thì đã có hai căn được xây nên nhờ quỹ “nhà tình thương”
Kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của cộng đồng nhập cư nghèo
Học vấn là một trong những yếu tố rất quan trọng trong đời sống của mỗi người Nó ảnh hưởng tới nhiều khía cạnh trong cuộc sống Mà cụ thể trong đề tài này là ảnh hưởng tới năng lực giảm nghèo của đối tượng nghiên cứu Thế nhưng hầu hết đối tượng chúng tôi tiếp cận đều có trình độ học vấn thấp, hoặc mù chữ, chỉ hai hộ gia đình có người phỏng vấn trình độ tương đương cấp 2 Những hộ khác, đối tượng phỏng vấn đa phần là thế hệ bố mẹ, trình độ học vấn hầu như là không: không biết đọc, viết hoặc nhận mặt chữ Ví như chị Khoon (tạm viết vậy), ngụ tại ấp Tân Lập, khi nghe chị giới thiệu tên mình, chúng tôi đã nhờ chị viết ra giấy mới phát hiện ra chị không biết đọc biết viết Vì thế, chúng tôi chỉ có thể gọi tạm chị là Khoon vì không biết viết tên chị như thế nào Hay như chị Nguyễn Thị Dung, ấp Tân Định thì “Hồi đó tui ở bên Miên, học cho biết chữ thôi chứ không có tính lớp như mình bây giờ” Tình trạng cũng tương tự đối với cô Nguyễn Thị Là và Nguyễn Thị Sương ấp Tân Tiến Trước kia cũng sinh sống bên Campuchia hồi hương từ những năm 1970 Họ chỉ được học ở diện xóa mù: chỉ biết đọc, biết viết Còn xác định học tới lớp mấy thì không ai tính được cả
Có nhiều lí do khác nhau để giải thích tình trạng này, nhưng trong nhóm người nhập cư mà chúng tôi tiếp cận đều có những đặc điểm chính sau:
- Là phụ nữ, giai đoạn tuổi đi học gắn liền với điều kiện kinh tế khó khăn của đất nước: Những người mà chúng tôi tiếp cận đều được sinh ra vào những năm mà đất nước ta đang còn trong chiến tranh, việc đi học không được ưu tiên đối với giới nữ như: Nguyễn Thị Dung (1957), Chị Khoon (1960), chị Nguyễn Thị Là (1952)…
- Điều kiện gia đình khó khăn, đi học là một ước muốn xa xỉ: Dù không là nữ, dù tuổi không cao nhưng anh Phạm Văn Thành, 22 tuổi, ấp Tân Lập, quê Trà Vinh vẫn chỉ có thể học đến lớp 6 “Phải lo đi làm kiếm tiền phụ cha mẹ, tiền đâu mà đi học, nhà khổ lắm…” Anh nói
- Điều kiện sống không ổn định không chỉ ảnh hưởng đến chính bản thân họ mà còn ảnh hưởng tới việc học hành của con cái
Khi di chuyển từ nơi này sang nơi khác, để kiếm việc làm, để sinh sống thì việc hưởng những phúc lợi của bản thân họ cũng bị ảnh hưởng như không thể tham gia các hoạt động đoàn thể của địa phương mình, không thể tham gia một số chương trình tập huấn, học tập… Còn đối với con cái, việc học hành của các em bị đứt quãng hoặc dừng lại Hầu hết những gia đình được tiếp cận đều có trẻ em thôi học giữa chừng do nhiều nguyên nhân như không chi trả nổi học phí, đau bệnh, phụ giúp gia đình làm kinh tế, học không nổi nên bị ở lại lớp rồi nghỉ luôn v.v Kết quả của việc không đến trường là những thanh thiếu niên độ tuổi 13-18 hoặc vừa đi học vừa kết hợp làm thêm, phụ giúp hàng xóm nhằm có tiền trang trải một vài thứ, hoặc bỏ học hẳn và đi làm trong các xí nghiệp may hoặc gia công vật liệu trong địa bàn cư trú, một nhóm nhỏ không nghề nghiệp thì phụ thuộc hẳn vào gia đình v.v…
Khi phỏng vấn chị Khoon về tình hình học tập của con em mình thì được cho biết: “Nhà có bé Út, hồi ở nhà nó còn đi học, khi chuyển lên đây nó nghỉ luôn” vì “lên đây tiền bạc không có, làm chỉ đủ ăn thôi, không có giấy tờ…” Trong khi đó ở quê bé chỉ học đến lớp 3
Cô Ba, giáo viên lớp học tình thương tại ấp Tân Lập, Củ Chi chia sẻ “Có đứa đang học dở chừng, mấy hôm sau thấy nó nghỉ Tìm hiểu mới biết là nhà nó chuyển sang nơi khác để làm ăn Có một số gia đình thì cứ hay đi đi về về thì càng khổ hơn vì mỗi lần như vậy các em cũng phải đi theo, và khi về thì phải học bù nhưng rất khó theo kịp các bạn vì bỏ học lâu quá…” Cô giáo thở dài:
“Với chúng tôi, đảm bảo bài vở cho các em cũng rất khó khăn.”
Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có những đặc trưng riêng của từng nhóm đối tượng khác nhau Như với những người nhập cư là những người hồi hương từ Campuchia từ những năm 1970, hầu hết họ đều không biết mình học đến lớp mấy, chỉ biết đọc, biết viết Và mỗi người trong số họ được học chữ Việt bằng những con đường riêng “Hồi đó học chữ Miên nhưng học được ít thôi, sau đó theo học đạo rồi học chữ Việt luôn Biết đọc biết viết rồi thôi.”chị Nguyễn Thị
Là, ấp Tân Tiến cho biết Hay như chị Nguyễn Thị Dung, ấp Tân Định: “Hồi đó cũng có học, biết đọc biết viết rồi ngưng Học ở bên Miên nên không tính lớp như mình bây giờ.”
Với những người nhập cư từ các tỉnh khác đến, hầu hết họ đến từ các vùng nông thôn, điều kiện sống còn khó khăn, khả năng tiếp cận với trường lớp bị hạn chế Đặc biệt những người nhập cư là dân tộc thiểu số thì hiện tượng “mù chữ” là hiện tượng không hiếm Ví dụ trường hợp điển hình là chị Khoon đã giới thiệu ở trên, quê Kiên Giang, người Khmer, 48 tuổi không biết đọc, biết viết dù là chữ quốc ngữ hay chữ của dân tộc mình
Nói tóm lại, trong nhóm đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận hầu hết có trình độ học vấn thấp Vì thế họ chỉ có thể làm nghề tự do, buôn bán nhỏ, làm công nhân ở những cơ sở nhỏ vì những xí nghiệp lớn yêu cầu trình độ học vấn tối thiểu là lớp 9… Có thể nói trình độ học vấn như đã phản ánh ở trên là một trong những thiệt thòi dẫn tới cái nghèo của những người nghèo nói chung và của những người nhập cư nghèo nói riêng
3.2.2 Tình hình học việc, học nghề của cộng đồng nhập cư
Trình độ học vấn ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của cuộc sống, trong đó có việc lựa chọn nghề nghiệp của mỗi người Mà nghề nghiệp nói chung, trình độ tay nghề nói riêng ảnh hưởng một cách trực tiếp đến đời sống của mỗi người
Vì nó là phương tiện để kiếm sống, để tạo thu nhập Đối với những người nhập cư, những người dễ bị tổn thương nhất trong quá trình hội nhập đô thị vì họ chịu khá nhiều thiệt thòi, trong đó có sự thiệt thòi về khả năng tiếp cận học nghề, học việc
Theo những thông tin mà chúng tôi thu thập được thì đa số những người mà chúng tôi tiếp cận đều là lao động phổ thông, không có nghề nghiệp gì Ví dụ như các chị Nguyễn Thị Dung (ấp Tân định), Nguyễn thị Sương (ấp Tân Tiến)… đều không được học nghề cho dù gia đình các chị hồi hương và đã ổn định cuộc sống từ khá lâu Hoặc nếu có được học nghề thì những nghề ấy thường không đòi hỏi trình độ học vấn cao Như chị Nguyễn Thị Là (ấp Tân Tiến) được học nghề nấu rượu của gia đình từ khi còn nhỏ Nhưng nghề này của chị cũng chỉ góp phần tạo một công việc làm thêm, kiếm thêm thu nhập “nấu rượu thì chỉ tranh thủ thôi, lấy hèm nuôi heo, rượu thì bỏ cho các quán nhỏ chứ làm nó không sao đủ sống”, chị tâm sự
Do trình độ học vấn là không có nên hầu hết người dân thuộc đối tượng nghiên cứu không hề nghĩ đến việc tìm đến trung tâm học việc Bên cạnh lý do về yêu cầu bằng cấp, kinh phí học tập thực sự cũng là một vật cản khiến họ không nghĩ rằng học việc – có bằng cấp căn bản cũng là cách thức giúp họ vượt khỏi đói nghèo và có đời sống ổn định
Tình trạng đời sống của người nhập cư nghèo trước và sau khi nhập cư 32 1 Khả năng tiếp cận việc làm
Với những người nghèo nói chung, người nhập cư nghèo nói riêng thì cơ hội việc làm không mở rộng với họ Như đã đề cập ở trên, trình độ học vấn là nguyên nhân hàng đầu ảnh hưởng khả năng tiếp cận việc làm của người nhập cư
Vì học vấn thấp nên cơ hội nghề nghiệp của họ không nhiều Họ không có nhiều sự lựa chọn Họ chỉ có thể làm những công việc lao động tự do như bốc vác, làm thủ công tại nhà (xỏ mành trúc) hay buôn bán nhỏ (bán xôi, bán vé số…)
Vì phần lớn đối tượng tiếp cận của chúng tôi là phụ nữ nên có một số người không quan trọng vấn đề việc làm của bản thân Họ chấp nhận ở nhà làm nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái Như gia đình chị Khoon, cho dù đời sống khó khăn, điều kiện vật chất thiếu thốn nhưng chị chấp nhận ở nhà làm nội trợ, giữ cháu cho các con đi làm Chính bản thân chị cũng nghĩ rằng: “không có việc gì cho mình làm cả…” Với những người trẻ như các con của chị Khoon thì cơ hội việc làm cũng không nhiều, chỉ có thể làm thuê ở những cơ sở may gia công mà thôi Dù bản chất công việc không khác với ở xí nghiệp may nhưng họ không thể vào làm ở các xí nghiệp vì: thứ nhất, không đủ tuổi (có người chỉ mới 16 tuổi); thứ 2, học vấn không qua lớp 9 Hay như gia đình chị Nguyễn Thị Sương, gia đình có tất cả 5 người: hai vợ chồng chị, hai vợ chồng người con và đứa cháu Chồng thì ốm đau thường xuyên không thể lao động được, còn chị cũng ở nhà làm nội trợ Tất cả mọi chi tiêu phụ thuộc vào hai vợ chồng người con (chồng làm công nhân, vợ làm nhân viên phục vụ bán hàng)…
Những việc làm hiện tại của bà con Việt kiều hồi hương chủ yếu có được chủ yếu từ:
Nhờ người quen, hoặc hàng xóm – những người trước đó đến địa bàn trước đó về quê “dắt” sang Được sự hỗ trợ “tình nguyện” từ những hàng xóm mới ở địa bàn khảo sát, dù chỉ bằng cách giới thiệu công việc cho họ
Phần lớn những người Việt kiều đã có thời gian hồi hương khá lâu, từ những năm 1970, do vậy họ ở một khía cạnh nào đó, đã có thời gian làm quen với địa bàn và tự họ xoay sở cho mình cách kiếm sống Khi đã có thể ổn định trong công việc, họ truyền lại cho con cái làm ăn, vay vốn để cải thiện kinh tế, tuy nhiên đây chỉ là một vài trường hợp cá biệt, phần lớn người dân vẫn chỉ tập trung làm những công việc thời vụ, cần sức lao động
Tóm lại, người nhập cư nghèo không có nhiều sự lựa chọn trong vấn đề việc làm Và cho dù có việc làm thì thường mang những tính chất chung là: không ổn định và thu nhập thấp
3.3.2 Những việc làm phổ biến của cộng đồng trước và sau khi nhập cư
3.3.2a Những việc làm phổ biến trước khi nhập cư
Trong những hộ được hỏi về công việc trước khi hồi hương, phỏng vấn viên nhận thấy công việc tiếp nối nghề gia đình như Chủ tàu, Bán quán, Chụp hình, làm bánh ướt bỏ mối sỉ…Mặt bằng kinh tế không quá khó khăn, ổn định, có khả năng tự trang trải được
Với những người nhập cư nghèo đến từ vùng nông thôn của các tỉnh lân cận thì họ đến Củ Chi với nhu cầu tìm kiếm việc làm Trước khi đến Củ Chi, ở quê nhà hầu hết những hộ này đều làm nông Nhưng vì không có nhiều đất, không có nhiều vốn mà lại lao động thừa Đất đai không đủ canh tác, thu nhập không đủ sống…mà “chỉ đủ gạo ăn” như lời chị Khoon Nên họ đến Củ Chi để tìm kiếm việc làm, cải thiện cuộc sống
Họ không đến Củ Chi do ngẫu nhiên mà thường là do người thân, bạn bè giới thiệu Như anh Phạm Văn Thành thì được các bạn cùng lứa “rủ rê”: “mấy đứa bạn lên trước, tìm được việc làm Tụi nó thấy sống ở đây cũng được nên rủ lên luôn.” Còn với gia đình chị Khoon “đứa cháu lên đây lâu rồi Thấy ở nhà không làm gì, nó rủ cả gia đình lên đây làm ăn Lên đây được năm rưỡi rồi.” Theo họ giải thích thì cũng vì môi trường sống nơi đây không ồn ào như nhũng nơi khác Mức sống không cao như với các quận, huyện khác mà điều kiện đi lại cũng khá dễ dàng
Với những người hồi hương từ Campuchia thì “thời đó loạn lạc, chính phủ đưa về, tạo điều kiện, cấp đất, cấp nhà, định cư ở đây luôn” Đó không chỉ riêng là lời bộc bạch của chị Nguyễn Thị Sương mà là nguyên nhân chung của nhóm người này khi về đây định cư Khi được hỏi trước đây, khi còn ở
Campuchia thì thường làm gì để sống? Chúng tôi nhận được những câu trả lời sau:
Chị Nguyễn Thị Sương: “Hồi đó ba tui cũng trồng trọt thôi.”
Chị Nguyễn Thị Là: “Thì cũng trồng trọt, buôn bán nhỏ, thỉnh thoảng làm thuê.”
Chị Nguyễn Thị Dung (ấp Tân Định): “Hồi bên đó đâu có đất đâu mà trồng trọt Nhà tui chủ yếu là buôn bán lặt vặt sống qua ngày Thời buổi loạn lạc mà.”
Như vậy chúng ta thấy, trước khi nhập cư đến củ chi thì việc làm chủ yếu của nhóm người nhập cư mà chúng ta nghiên cứu là làm nông hoặc buôn bán nhỏ Vậy sau khi nhập cư công việc của họ có gì khác?
3.3.2b Những việc làm phổ biến sau khi nhập cư
Qua những thông tin chúng tôi thu thập được thì những công việc mà người nhập cư lựa chọn thường là lao động tự do, buôn bán nhỏ hoặc làm công nhân cho một số xí nghiệp nhỏ, gần nhà Những công việc không đòi hỏi trình độ học vấn cao, không đòi hỏi trình độ tay nghề, những việc làm nhờ vào sức lao động là chính
Do hoàn cảnh lịch sử những năm 70 của thế kỉ XX ở Việt Nam và
Campuchia, sau khi hồi hương, một bộ phận Việt kiều chưa chọn Củ Chi như vùng đất lập nghiệp Những người hồi hương này phần lớn được chính quyền Sài Gòn thời bấy giờ chuyển lên các vùng xa như các huyện ven của Đồng Tháp, Kiên Giang, một số ít được về Củ Chi (Sài Gòn) Nhiều hộ gia đình đã định cư tại đó trước khi thử tìm kiếm cơ hội ở những vùng đất khác Họ về Sài Gòn, đi về phía Đồng bằng Sông Cửu Long, v.v… rồi mới di chuyển đến vùng kinh tế mới là Củ Chi – lúc bấy giờ đã có những lâm trường cao su như Phạm Văn Cội…Công việc ban đầu của họ có thể là cạo mủ cao su, một thời gian sau, thường là ở thời điểm bước qua tuổi ba mươi, rời khỏi lâm trường, họ xoay chuyển ra buôn bán rau củ, những vật phẩm đòi hỏi ít vốn, chăn nuôi…
Với phụ nữ việc buôn bán nhỏ được xem là một thế mạnh Như chị Nguyễn Thị Dung: “Tui bán xôi, sáng chở xôi chạy vòng vòng trong xóm, hôm nào bán hết cũng được hơn 30.000.” Trong gia đình chị là lao động chính, mọi khoản chi trong gia đình đều do một tay chị lo toan, vì: “Ổng thì ốm đau suốt, thằng con trai cũng vậy, dáng cứ yểu yểu, còn đứa con gái thì đang đi học.” Hay chị Nguyễn Thị Là, chị bán hàng với cái quán nhỏ trước nhà phục vụ quà bánh cho trẻ con
Vai trò của cộng đồng, chính quyền và các tổ chức xã hội trong việc cải thiện đời sống người dân nhập cư
3.4.1 Về phía cơ quan chức năng
3.4.1a Xây dựng cơ chế, chính sách:
Khi tiếp xúc với chính quyền địa phương chúng tôi nhận thấy hầu như không có sự phân biệt giữa cộng đồng dân cư nghèo với cộng đồng Việt kiều hồi hương nghèo Đó cũng là điểm mạnh của các hoạt động hỗ trợ xã hội của chính quyền Mọi đối tượng đều có cơ hội nhận sự giúp đỡ như nhau
Tuy nhiên, cũng từ điều này, việc xem xét đối tượng để nhận hỗ trợ từ các chương trình của nhà nước như xây nhà tình thương tình nghĩa, hỗ trợ vốn làm ăn, cho vay từ quỹ xóa đói giảm nghèo… thường dựa vào tiêu chí dân địa phương, thu nhập thấp,…Và chính ngay từ tiêu chí ưu tiên cho dân địa phương cũng đã ít nhiều ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận hỗ trợ của đồng bào Việt kiều hồi hương
Theo một số đông các cá nhân được phỏng vấn, cơ chế hành chính bên Campuchia trước năm 1970 rất khác với cơ chế quản lý hành chính ở Việt Nam
Họ không có giấy tờ tùy thân để chứng thực, và do đó, giấy tờ để chuyển đổi chứng minh nhân thân cũng là một vấn đề đối với người dân hồi hương từ
Campuchia Do đó, nếu yêu cầu xem xét dựa trên chứng minh nhân dân, hộ khẩu để hỗ trợ từ phía chính quyền phần nào ảnh hưởng đến người hồi hương, dù rằng đã có một quá trình sinh sống lâu dài tại nơi này
Trường hợp gia đình ông Lâm Wul Thung là một điển hình Gia đình ông hồi cư từ sau 1970, nhưng đến nay ông vẫn chưa xin được quốc tịch Việt Nam, không có hộ khẩu và chứng minh nhân dân Vì vậy con trai ông không thể đăng ký kết hôn khi lấy vợ Nay đến cháu nội ông cũng phải mang họ mẹ vì bố mẹ chưa được công nhận là kết hôn hợp pháp Dù đã nhiều lần liên lạc với Lãnh sự quán Campuchia và các cơ quan chức năng của Việt Nam để xin hướng dẫn làm thủ tục nhập quốc tịch ông vẫn chưa đạt được nguyện vọng chính đáng này để được đối xử như một công dân Việt Nam Loại giấy tờ duy nhất mà ông và các thành viên trong gia đình được cấp cho đến giờ vẫn là tấm thẻ thường trú (xem hình 2), loại giấy tờ vẫn còn lạ lẫm ngay đến với nhân viên của một số cơ quan hành chính của nhà nước
Hình 2: Ngôi nhà của gia đình ông Thung và thẻ thường trú của ông
Nguồn vốn đầu tư được phân phối chủ yếu từ Hội Phụ nữ Ngoài ra, cũng có hỗ trợ từ phía Công đoàn địa phương Việc cho cộng đồng nghèo vay và sử dụng vốn vay hiệu quả cũng là một vấn đề ở cả hai phía cho vay và phía xin cấp vốn vay Việc cho vay vốn diễn ra không quá phức tạp miễn là nơi xin cấp vốn vay chứng thực được kế hoạch sử dụng đồng vốn hiệu quả Đó cũng là cơ sở đảm bảo cho những lần vay vốn sau này Đa phần người dân sử dụng đồng vốn vào buôn bán nhỏ, lặt vặt hoặc chăn nuôi heo, bò, gà Tuy nhiên, tình hình kinh tế và những rủi ro trong nông nghiệp như các dịch cúm gia cầm, heo tai xanh… đã khiến một số hộ lâm vào tình cảnh khó khăn vì không thể trả được vốn vay và lãi Về sau, họ cũng được chấp nhận xem xét và miễn giảm nhưng khả năng được vay lại vốn là rất thấp Cũng có một bộ phận người dân do nóng lòng vay được vốn đã trình bày một kế hoạch khác với việc triển khai sử dụng đồng vốn Điều này cũng gay trở ngại cho vấn đề niềm tin cho vay vốn cũng như không nhận được một sự tư vấn đúng mức, cần thiết
Ngoài Hội phụ nữ, những nguồn vốn khác để giúp đỡ cộng đồng Việt kiều hồi hương ở địa bàn là không ghi nhận được Những hoạt động hỗ trợ cộng đồng nếu có mang tính thời vụ, có thời hạn Thường diễn ra dưới hình thức hỗ trợ bà con ăn tết hằng năm Hoạt động được thực hiện bởi một vài cá nhân hoặc một vài công ty như một hoạt động từ thiện: liên hệ địa bàn và thực hiện hoạt động tình nguyện Hằng năm, sẽ có các công ty đoàn thể khác nhau đến triển khai hoạt động này tại địa bàn Tuy nhiên, không thể khẳng định đây là hoạt động thường niên vì tiêu chí lựa chọn địa bàn và đối tượng tiếp nhận hỗ trợ của các đoàn thể này thì rất khó nắm bắt
3.4.1c Công tác quản lý và hỗ trợ của chính quyền địa phương
Là những cư dân nhập cư, và có lẽ chính vì vậy mà sự hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với nhóm người này chưa thực sự hiệu quả, một phần nguyên nhân là do chính sách và cơ chế quản lý của chúng ta mặc dù hợp lý nhưng còn chồng chéo và chưa thật linh động, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn Cơ chế quản lý qui định rất rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ của cư dân cư ngụ trên từng địa phương; còn người nhập cư phần lớn không có chỗ ở cố định, nếu có chăng nữa thì họ suốt ngày lo việc mưu sinh, nay đây mai đó nên gây rất nhiều khó khăn cho chính quyền trong việc quản lý cũng như đảm bảo các quyền lợi cho họ và con em họ
3.4.2a Việc tiếp nhận thông tin
Việc tiếp nhận các thông tin có liên quan đến các chính sách, chương trình của nhà nước được thực hiện chủ yếu thông qua hai cách: Thứ nhất là họp tổ dân phố, thông qua tổ trưởng, thông tin về chương trình xóa đói giảm nghèo hoặc cho vay vốn của hội Phụ nữ đến được với người dân Và đối tượng nhận được thông tin là cả cộng đồng ở địa phương, không phân chia đối tượng Việt kiều hồi hương hay người bản xứ Cách thứ hai là thông qua thông tin truyền miệng nhau giữa người dân với nhau, rồi sau đó lại cần một thời gian để một vài đối tượng hỏi thăm những người có hiểu biết về vấn đề này, thông thường, là tổ trưởng, tổ phó, hoặc ấp trưởng, ấp phó…Đây là cách phổ biến của các cộng đồng dân cư ở Việt Nam
Tuy nhiên, thông tin về tiêu chí lựa chọn đối tượng nằm trong diện xóa đói giảm nghèo không rõ ràng Điều này khiến nhiều người trong cộng đồng hồi hương không thực sự hài lòng và có một số hiểu lầm đối với ý tưởng hỗ trợ của cơ quan nhà nước
3.4.2b Phương thức phản hồi, đóng góp ý kiến:
Qúa trình trao đổi, phản hồi thông tin trong cộng đồng chủ yếu qua hai kênh: tổ trưởng của ấp đại diện cho kênh chính quyền – địa phương và kênh cộng đồng – cộng đồng thông qua các câu chuyện trao đổi trong đời sống thường nhật của người dân Đa phần những người dân khi đi họp tổ dân phố theo suy nghĩ có điều gì có lợi cho mình thì mới đi Vấn đề nảy sinh ở chỗ khi người dân chỉ giới hạn quyền lợi ấy phải là cái mình trực tiếp thụ hưởng chứ không phải là những chương trình phát triển xa xôi không gần gũi với họ Do đó, sau một vài buổi họp, họ đã không thể tiếp tục ở các buổi họp sau và gần như có suy nghĩ rằng chính quyền địa phương không thể giúp ích gì cho họ Nếu như có những khảo sát hộ để hỗ trợ theo chương trình chính sách của nhà nước như xây dựng nhà tình thương, khám sức khỏe hằng năm, hỗ trợ đồng bào nghèo ăn tết v.v, hẳn ai cũng kì vọng rằng mình sẽ được nằm trong diện đối tượng này Thế nên nếu xảy ra trường hợp họ không được xem xét, phản ứng của mọi người thông thường là thông báo và đưa ra thắc mắc giữa cộng đồng địa phương với nhau Rất ít cá nhân trực tiếp đến và đưa thắc mắc của mình đến các đơn vị có thẩm quyền để có câu trả lời xác đáng
3.4.2c Việc nhận được các hỗ trợ kịp thời trước mắt: Đa số người dân nhận được những hỗ trợ về vật chất vào dịp Tết Những hỗ trợ này xuất phát từ các mạnh thường quân, các công ty…hỗ trợ người dân ăn Tết ( thông thường là hộp sữa và phong bì) Ngoài ra, không tìm thấy các hỗ trợ khác trong việc xóa đói giảm nghèo dành riêng cho đối tượng hồi hương
3.4.2d Việc nhận được các hỗ trợ lâu dài:
Nếu xem hình thức cho vay vốn làm ăn của Hội Phụ nữ như cách thức hỗ trợ lâu dài thì có một vài khúc mắt trong việc thực hiện Thứ nhất, vay vốn ưu tiên cho những hộ có hộ khẩu thường trú tại khu vực Điều này có thể xem như hình thức ràng buộc chắc chắn giữa địa phương và cơ quan quản lý Tuy nhiên, lưu ý một điều một bộ phận người dân hồi hương do vướng mắc về giấy tờ thủ tục và cả chứng minh nhân dân Vì thế, việc tiếp cận hình thức hỗ trợ này hoặc phải xin qua một trung gian khác, hoặc là không thể tiếp cận
Thứ hai, việc cho vay vốn thực sự chưa tạo được hiệu quả cao trong cộng đồng những người dân hồi hương Đa số mọi người không biết chữ, trình độ học vấn không có vì thế việc sử dụng đồng vốn như thế nào cho hiệu quả thì lại là một vấn đề lớn, khả năng hoàn trả vốn trong năm và xoay vòng đồng vốn vay thường thấp
Do trình độ văn hóa và chuyên môn thấp nên những công việc họ chọn khi sử dụng vốn vay thường là buôn bán nhỏ, hay chăn nuôi là những công việc mang tính rủi ro cao trong cuộc sống hiện tại do các biến động giá, do kinh tế hoặc do các dịch bệnh…Vì vậy, việc lựa chọn hình thức vay vốn và sử dụng đồng vốn như thế nào thực sự là câu hỏi khó đối với cộng đồng người dân
3.4.3 Những nhân tố và mô hình hỗ trợ khác