1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và nhu cầu sử dụng cán bộ quan hệ quốc tế tại các sở và các lãnh sự quán, cơ quan đại diện ngoại giao tại thành phố hồ chí minh công trình dự thi giải thưởng khoa học sinh viên euréka lần

99 10 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Hồ Chí Minh có "những điều kiện khách quan đặc biệt thuận lợi mà không một tỉnh, thành phố nào khác ở nước ta quy tụ được nhiều ưu thế như vậy, Thành phố Hồ Chí Minh có triển v

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”

LẦN 8 NĂM 2006

TÊN CÔNG TRÌNH:

“THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CÁN BỘ QUAN HỆ QUỐC TẾ TẠI CÁC SỞ VÀ CÁC LÃNH SỰ QUÁN, CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI

GIAO TẠI THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH”

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI

Mã số công trình: ………

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

**************************

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN - EURÉKA”

LẦN 8 NĂM 2006 TÊN CÔNG TRÌNH:

“THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CÁN BỘ QUAN HỆ QUỐC TẾ TẠI CÁC SỞ VÀ CÁC LÃNH SỰ QUÁN, CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI

GIAO TẠI THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH”

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI

Trưởng nhóm: LÊ MINH NAM Lớp: QH104 Năm thứ/số năm đào tạo: 2/4

Bộ môn: Quan hệ Quốc tế Người hướng dẫn: TS ĐÀO MINH HỒNG

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương I: 4

TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ 4

HỒ CHÍ MINH () 4

1 - Vị trí địa lí - Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho hội nhập: 7

2 - Điều kiện kinh tế - xã hội: 8

3 - TPHCM – Trung tâm kinh tế-dịch vụ lớn nhất nước: 9

4 - Trung tâm chính trị: 16

5 - Tầm quan trọng của công tác đối ngoại trong hoạt động của thành phố: 18

Chương 2: 22

THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CÁN BỘ QUAN HỆ QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ QUAN CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC 22

VÀ CÁC LÃNH SỰ QUÁN 22

1 - THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CÁN BỘ QUAN HỆ QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ QUAN CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: 22

2 - THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CÁN BỘ QUAN HỆ QUỐC TẾ TRONG CÁC LÃNH SỰ QUÁN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: 35

Chương 3: 42

NHỮNG ĐÁNH GIÁ, ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC ĐÀO TẠO CÁN BỘ QUAN HỆ QUỐC TẾ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 42

1 - NGUỒN ĐÀO TẠO CHÍNH QUY – NHÂN LỰC NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ: 42

2 - ĐỘ CHÊNH LỆCH GIỮA YÊU CẦU CÔNG VIỆC THỰC TẾ VÀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO: (khảo sát các nhân viên đối ngoại tại các Sở và các Lãnh sự quán) 44

3 - ĐỀ XUẤT CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI CHƯƠNG TRÌNH HỌC CỦA BỘ MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ TRƯỜNG ĐH KHXH&NV TPHCM: 54

KẾT LUẬN ĐỀ TÀI 62

PHỤ LỤC 66

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày 01 tháng 02 năm 2000, Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh kí quyết định 10/QĐ/TCCP thành lập Bộ môn Quan hệ Quốc tế trực thuộc Khoa Lịch Sử

Trong bối cảnh hoạt động đối ngoại khu vực miền Nam đang phát triển mạnh

mẽ, sự xuất hiện của ngành học Quan hệ Quốc tế phần nào đang bắt đầu đáp ứng nhu cầu về nhân lực trong lĩnh vực này Với sự xuất hiện của Bộ môn tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn nói riêng cũng như tại các trường Đại học khác trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung, lực lượng cán bộ đối ngoại trong tương lai chắc chắn sẽ tăng cao Vấn đề đặt ra là công việc của họ sẽ như thế nào, với số lượng đáp ứng nhu cầu thực tế đến mức nào, … Đó không chỉ là điều mà bộ phận đào tạo tại các trường Đại học muốn biết mà ngay cả sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế cũng từng ngày trăn trở với tương lai của mình Xuất phát từ lý do đó, nhóm nghiên cứu khoa học quyết định thực hiện đề tài “Thực trạng và nhu cầu sử dụng cán

bộ Quan hệ Quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh”, mở đầu bằng việc khảo sát khối cơ quan nhà nước và các Lãnh sự quán tại thành phố Hi vọng qua kết quả chúng tôi đạt được, đưa ra một cái nhìn tổng quan về hoạt động đối ngoại tại các cơ quan nhà nước, cụ thể là tại các Ủy ban nhân dân, các Sở; và tại các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài đóng trên địa bàn thành phố Bên cạnh đó, nhóm thực hiện đề tài còn muốn góp phần đưa ra những ý kiến đề xuất định hướng cho khung chương trình đào tạo cho Bộ môn Quan hệ Quốc tế trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, cũng như định hướng đầu ra cho sinh viên chuyên ngành Quan hệ Quốc tế

Với độ dài 4 tháng thực hiện (tháng 01 - tháng 04 năm 2006), tổng hợp trong bản báo cáo này là tất cả những gì mà nhóm đã nỗ lực đạt được, với giả thiết đặt ra ban đầu là:

Trang 5

- Số lượng cán bộ ngành Quan hệ Quốc tế tại thành phố hiện nay là thiếu

- Chất lượng: không đồng đều đa số không được đào tạo chuyên môn một cách chính quy về chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, phần lớn làm việc không đúng với chuyên môn mình được đào tạo, có trường hợp làm việc dựa trên kinh nghiệm là chính

Thông qua các phương pháp nghiên cứu:

- Khảo sát điều tra thực địa: nghiên cứu ngoài thực địa đặc điểm, thực trạng,

nhu cầu sử dụng cán bộ ngành Quan hệ Quốc tế

- Điều tra, nghiên cứu điền dã: thực hiện phỏng vấn đối thoại với những nhà

quản lý, những người thuộc khu vực khảo sát, xem xét các hiện tượng dưới nhiều góc độ khác nhau

- Thu thập và phân tích tổng hợp tài liệu: các tài liệu được kiểm chứng, so

sánh và phân tích tổng hợp

- Thống kê, xử lý định lượng các số liệu về cán bộ ngành Quan hệ Quốc tế

đang làm việc, những tư liệu đám đông để rút ra những kết luận khoa học, tránh cái nhìn chủ quan, tư biện

- Nghiên cứu liên ngành, đa ngành: được sử dụng để tiếp cận đối tượng

bằng nhiều hướng khác nhau, từ đó rút ra những kết luận mang tính tổng hợp và toàn diện

Nhóm đã có được một bản báo cáo bước đầu hoàn thành được những mục tiêu đề ra Mặc dù đối diện với những khó khăn đối với một đề tài hoàn toàn mới, nhưng những gì nhóm đã làm được là rất đáng chú ý Thông qua đề tài của mình, chúng tôi đã có được một cái nhìn khái quát về thực trạng công tác đối ngoại hiện

Trang 6

nay, từ đó có những ý tưởng đóng góp vào chương trình học đang cần được hoàn thiện của công tác đào tạo ngành Quan hệ Quốc tế tại thành phố hiện nay cho phù hợp với nhu cầu của thực tế

Cấu trúc của báo cáo gồm có 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh

Nêu tổng quan về địa lý, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội

Tầm quan trọng của thành phố Hồ Chí Minh trong sự phát triển kinh tế đất nước

Nêu tầm quan trọng của công tác đối ngoại trong các hoạt động của thành phố

Chương 2: Thực trạng và nhu cầu sử dụng cán bộ ngành Quan hệ Quốc

tế tại các cơ quan chính quyền nhà nước và các Lãnh sự quán

I – Khu vực các cơ quan chính quyền nhà nước

II – Khu vực các Lãnh sự quán

Đưa ra những đánh giá tổng quan chính xác về thực trạng và nhu cầu

sử dụng cán bộ Quan hệ Quốc tế dựa trên những số liệu có được

Chương 3: Đánh giá và đề xuất cho hướng đào tạo

Hi vọng qua báo cáo của đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ phần nào mang lại những hiểu biết mới cho người đọc về công tác đối ngoại trong khu vực nghiên cứu hiện nay!

NHÓM NGHIÊN CỨU

Trang 7

Dân tộc : Việt , Hoa , Khơme , Chăm…

Đơn vị hành chính : 24 quận huyện

Bản đồ hành chính thành phố Hồ Chí Minh

1

Tất cả các thông tin trong chương 1 được lấy từ trang web chính thức của UBND Thành phố Hồ Chí Minh

và trang web chính thức của Sở Kế hoạch Đầu tư thành phố

Trang 8

Sài Gòn cổ xưa được thành lập từ năm 1623, nhưng tới năm 1698, Chúa Nguyễn mới cử Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Phương Nam, khai sinh ra thành phố Sài Gòn Năm 1911, Sài Gòn là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại

ra đi tìm đường cứu nước, khi đất nước thống nhất, Quốc Hội khoá VI họp ngày 2.7.1976 đã chính thức đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh

Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, với hơn 300 năm hình thành và phát triển Thành phố vẫn còn lưu giữ được rất nhiều công trình kiến trúc cổ, nhiều di tích và hệ thống bảo tàng phong phú

Không phải ngẫu nhiên Sài Gòn có danh xưng là “hòn ngọc Viễn đông” Chính người Pháp đã đặt cho Sài Gòn cái tên này, điều đó chứng tỏ sức hấp dẫn mãnh liệt của Sài Gòn đối với người Pháp nói riêng và người phương Tây nói chung Không có gì đáng ngạc nhiên khi cho rằng Sài Gòn là nơi tiếp xúc với văn minh phương Tây đầu tiên của cả nước Thoạt đầu người phương tây đến Sài Gòn với mục đích buôn bán giao thương là chủ yếu Đất Sài Gòn giàu có sản vật, dễ dàng tập trung hàng hóa từ Đông và Tây Nam Bộ, thu hút thuyền buôn của thương gia Đức, Anh , Mỹ, Thụy Sĩ…Thấy được những lợi thế về kinh tế của Sài Gòn, thực dân Pháp sau khi tấn công mở đầu ở Đà Nẵng(1858) đã ngay lập tức chiếm Gia Định (1859)

để làm bàn đạp xâm lược toàn Việt Nam Sau này dù đã đặt ách đô hộ ở cả 3 kỳ, thực dân Pháp vẫn coi Nam kì, đặc biệt Sài Gòn là trung tâm kinh tế, hành chính của mẫu quốc Pháp xây dựng cơ Sở hạ tầng, đặt cơ Sở nền tảng cho các ngành kinh doanh hết sức mới mẻ đối với Việt Nam phong kiến thời bấy giờ như vận tải đường thủy, đóng tàu… Xét ở mặt tích cực, quá trình thực dân hóa sâu sắc này đã để lại cho Sài Gòn nhiều di sản có giá trị như các kiến trúc kiểu phương Tây, và quan trọng hơn là nền kinh tế tương đối hiện đại, sớm mang dáng dấp “thị trường”, rất năng động, nhạy bén Người Pháp và người Mỹ sau này, trong thời kì chiếm đóng của mình đã mang lại cho người Sài Gòn những nét tính cách lịch thiệp nhưng không kém phần nhanh nhạy, thực tế và khả năng ngoại ngữ tốt, cùng mối quan hệ rộng rãi Đây chính là lợi thế rất lớn cho Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình mở cửa hội nhập thế giới ngày nay

Với vị trí địa lý thuận lợi, Sài Gòn – nơi một thời được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông, là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng,

Trang 9

sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hoá phương Bắc, phương Tây, góp phần hình thành lối sống, tính cách con người Sài Gòn Đó là những con người thẳng thắn, bộc trực, phóng khoáng, có bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm

Trải qua 300 năm hình thành và phát triển, cùng nhau vượt qua bao nhiêu khó khăn, thử thách của tự nhiên và lịch sử, họ đã chính thức trở thành một phần không thể thiếu của cộng đồng người Sài Gòn chung tay xây dựng TPHCM ngày càng giàu đẹp như câu ca từ thời mở cõi: “Đến đây thì ở lại đây/ Bao giờ bén rễ xanh cây thì về”

Với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - du lịch, giáo dục - khoa học kỹ thuật - y tế lớn của cả nước

Trong tương lai, thành phố sẽ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, có cơ cấu công nông nghiệp hiện đại, có văn hoá khoa học tiên tiến, một thành phố văn minh hiện đại có tầm cỡ ở khu vực Đông Nam Á

Trang 10

Vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trong khu vực Đông Nam Á

1 - Vị trí địa lí - Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho hội nhập:

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 10 0 38 vĩ

độ bắc và 106 0 22’ – 106 054 ’ kinh độ đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây

Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang

Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây,

là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50

km đường chim bay Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với

Trang 11

năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km

Quan trọng hơn hết, TPHCM nằm ở ranh giới vùng đất cao Đông Nam Bộ - đất thấp ĐBSCL giao thông đến 2 vùng nguyên liệu công nghiệp (Đông Nam Bộ) và nông nghiệp (Tây Nam Bộ) đều rất thuận lợi Hai hệ thống sông chính: sông Sài Gòn

và sông Vàm Cỏ, cửa biển Cần Giờ, các cảng Sài Gòn, Bến Nghé từ lâu đã trở thành cửa chính tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương và giao lưu kinh tế xã hội của Sài Gòn Sách “Gia Định thành thông chí” có viết:” Sông Tân Bình (tục gọi là sông Bến Nghé) tàu buôn của nước nhà cùng của các nước , ghe xuồng nối nhau, là một nơi đại đô hội…Cửa biển Cần Giờ nước sâu rộng bằng phẳng ngày thường có thuyền buôn ra vào, là hải cảng các nước khen tốt bực nhất, không đâu ví bằng”

Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên cho phép thành phố luôn ở trong tình trạng

dễ dàng tiếp nhận ngoại lực bên ngoài Đây là một tiền đề hết sức thuận lợi cho việc phát triển thành phố trong thời đại mở rộng giao lưu toàn cầu hóa đồng thời cũng đặt một áp lực lớn lao lên công tác đối ngoại của thành phố

2 - Điều kiện kinh tế - xã hội:

Thấy được ưu điểm tự nhiên và lịch sử của mình, thành phố đã sớm định hướng chiến lược phát triển kinh tế dựa vào đầu tư nước ngoài Số lượng dự án đầu

tư nước ngoài được cấp phép của thành phố luôn chiếm trên 30% số lượng dự án của

cả nước với số vốn lên tới mấy chục ngàn tỉ đồng VN

Chỉ tính riêng trong năm 2005, số dự án được cấp phép của thành phố là 1089

dự án với tổng vốn là 1386 triệu USD Tính từ khi luật đầu tư được ban hành, thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước dù hiện nay thành phố đang phải cạnh tranh gay gắt với các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương Sự làm ăn có hiệu quả của các công ty, tập đoàn nước ngoài tại thành phố thực sự góp phần thúc đẩy hoạt động đối ngoại của thành phố không chỉ trong lĩnh vực kinh tế

mà cả trong lĩnh vực chính trị, xã hội

Trang 12

Để tận dụng lợi thế của mình, thành phố đã tập trung xây dựng cở Sở hạ tầng,

hệ thống giao thông nối liền thành phố với các tỉnh trong nước, với các nước trên thế giới Các công trình tiêu biểu đã đưa vào sử dụng có hiệu quả hoặc đang trong quá trình triển khai như : sân bay Tân Sơn Nhất đón hơn 1 triệu lượt khách mỗi năm, cảng Thị Vải thay thế cảng Sài Gòn có thể nhận tàu tải trọng 5 vạn tấn, đường bộ Xuyên Á nối liền các nước Đông Nam Á…

3 - TPHCM – Trung tâm kinh tế-dịch vụ lớn nhất nước:

Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 0,6% diện tích và 6,6 % dân số so với cả nước, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế của cả nước,

có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã trở thành đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, một trung tâm kinh tế, văn hoá - du lịch, giáo dục

- khoa học kỹ thuật - y tế lớn của cả nước

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu

trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Nếu như năm 1998 tốc độ tăng GDP của thành phố là 9,2 % thì đến năm 2002 tăng lên 10,2% Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước Kinh tế thành phố liên tục tăng trưởng với tỉ lệ năm sau cao hơn năm trước Năm 2005 là năm có mức tăng trưởng cao nhất trong 5 năm qua (2001: 9,5%; 2002: 10,2%; 2003: 11,4%; 2004: 11,7%, 2005: 12,2%) Đóng góp vào tăng trưởng 12,2%, cao nhất là khu vực dịch vụ (đóng góp 6,2%), khu vực công nghiệp - xây dựng (đóng góp 6%), khu vực nông nghiệp (đóng góp 0,03%) Đây là lần đầu tiên sau nhiều năm khu vực dịch vụ có tỷ lệ đóng góp cao nhất vào tăng trưởng kinh tế thành phố (vượt qua khu vực công nghiệp - xây dựng) Trong các thành phần kinh tế, đóng góp nhiều nhất vào tốc độ tăng trưởng là khu vực kinh

tế dân doanh (6,54%); kế đến là khu vực kinh tế Nhà nước (3,55%) và khu vực kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài (2,12%)

Nét nổi bật là tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ có xu hướng tăng dần qua các năm và có mức tăng cao nhất Mặc dù thấp hơn tốc độ tăng

Trang 13

giá trị gia tăng của khu vực công nghiệp - xây dựng (12,6%), nhưng xu hướng khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, cho thấy khu vực này có vai trò ngày càng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế thành phố

GDP bình quân đầu người cũng liên tục tăng trong 5 năm gần đây (năm 2001: 15,57 triệu đồng; 2002: 17,04 triệu đồng; 2003: 19,31 triệu đồng; 2004: 22,61 triệu đồng; 2005: 27,46 triệu đồng)

Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam

(KTTĐPN) và trung tâm đối với vùng Nam Bộ Với mức đóng góp GDP là 66,1% trong vùng(KTTĐPN) và đạt mức 30% trong tổng GDP của cả khu vực Nam Bộ Kinh tế thành phố có sự chuyển dịch mạnh mẽ, năm 1997 giá trị sản xuất của thành phố đạt 65,2% của vùng (KTTĐPN), về công nghiệp chiếm 58,7% giá trị sản lượng công nghiệp vùng Thành phố là trung tâm của vùng về công nghiệp dịch vụ Giá trị sản lượng công nghiệp thành phố năm 2000 là 76,66 ngàn tỷ đồng, gấp 2, 2 lần Bà Rịa – Vũng Tàu, 3,7 lần Hà Nội và 4 lần Đồng Nai Kinh tế quốc doanh vẫn giữ vị trí chi phối, đóng góp 45% GDP Dịch vụ thương mại chiến tỷ lệ cao trong cơ cấu GDP

Thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước, kể từ

khi Luật đầu tư được ban hành Số dự án đầu tư vào thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng số dự án đầu tư nước ngoài trên cả nước Nếu như trong giai đoạn 1988 – 1998 thành phố có 786 dự án với tổng vốn đầu tư là 9.540,7 triệu USD thì cả nước có

2453 dự án với tổng số vốn là 38.856,8 triệu USD Năm 1999, mặc dù tình hình chung trong khu vực còn nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế, thành phố cũng đã

có thêm 109 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn 471 triệu USD, đưa tổng số dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố lên 816 dự án với tổng số vốn 10.232 triệu USD, chiếm tỷ trọng hơn 20% của cả nước Trong 10 tháng đầu năm 2003, đã có

151 dự án đầu tư nước ngoài tại TPHCM được cấp phép với tổng vốn đầu tư đăng

ký 254 triệu USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ Trong đó có 129 dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài (217 triệu USD), 19 dự án liên doanh với nước ngoài (21 triệu USD), 3 dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh (16 triệu USD) Phần lớn các dự án đầu

tư vào ngành công nghiệp Như vậy tổng vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào thành

Trang 14

phố từ đầu năm tính đến 10/10 là 399 triệu USD Năm 2005 thành phố đã thu hút mới 258 dự án được cấp phép với tổng vốn 577 triệu USD, tăng 4,5% về số dự án và 43,7% về vốn đầu tư so cùng kỳ Có 145 dự án tăng vốn với số vốn điều chỉnh tăng 330 triệu USD, bằng 75% so cùng kỳ Tính chung tổng vốn đầu tư kể cả tăng vốn là 907 triệu USD, tăng 7,7% so cùng kỳ Bên cạnh đó, có 5 dự án đầu tư ra nước ngoài có tổng vốn là 29,1 triệu USD

Thành phố luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách của Nhà nước, mặc dù gặp nhiều khó khăn song thu ngân sách của vẫn không ngừng tăng

Thời kỳ 1986 - 1990, thu ngân sách thành phố chiếm 26,4% tổng thu ngân sách của

cả nước, đến năm 1999 chiếm 36, 46 %

Chỉ số giá tiêu dùng trong năm tăng 7,33%, giảm so với năm 2004 (tăng

8,14%); riêng hàng lương thực tăng 2,5% (năm 2004 tăng 10,27%), hàng thực phẩm tăng 13,76% (năm 2004 tăng 9,85%) Chỉ số giá USD tăng 0,63% (năm 2004 tăng 0,13%); giá vàng bình ổn trong 8 tháng đầu năm, từ giữa tháng 9 giá vàng tăng mạnh

do ảnh hưởng của giá vàng trên thị trường thế giới Tại thời điểm cuối tháng 11 đầu tháng 12 đến nay, giá vàng tiếp tục tăng mạnh, trên 1 triệu đồng/chỉ, cao nhất trong những năm gần đây

3.1 - Về công nghiệp:

Thành phố HCM có truyền thống công nghiệp lâu đời với lực lượng công nhân có tay nghề cao, ý thức kỷ luật lao động tốt Năm 2004, công nghiệp thành phố đạt giá trị sản xuất: 102063 tỷ đồng, chiếm 30% cả nước Tăng trưởng 14%/năm với các ngành mũi nhọn phù hợp với lợi thế về công nhân, nguồn nguyên vật liệu như: chế biến lương thực thực phẩm, dệt may, giày da… Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15% so với năm 2004 (năm 2004 tăng 14,7%) Trong đó, khu vực công nghiệp dân doanh chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu công nghiệp (chiếm 32,8%) tăng 16,1%, nhanh hơn công nghiệp khu vực kinh tế Nhà nước (chiếm 37,4%) tăng 7,9% Khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhờ có nhiều lợi thế về thị trường tiêu thụ ổn định, lợi thế cạnh tranh về thương hiệu, v.v… đã có mức tăng trưởng khá cao trong các ngành cao su - plastic (tăng 49,2%), hóa chất (35,4%), vật liệu xây dựng (32,9%), da giày (28,1%) và máy móc thiết bị (25,9%)

Trang 15

Toàn ngành công nghiệp có 23/27 ngành sản xuất tăng so với năm 2004, trong đó 12 ngành tăng trên 15%, như da giày, sản phẩm từ cao su - plastic, vật liệu xây dựng, kim loại và sản phẩm từ kim loại, sản xuất máy móc thiết bị

Để công nghiệp tiếp tục phát triển trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt, thành phố đã có chủ trương “trải thảm đỏ” thu hút đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu chế xuất…Bên cạnh đó, thành phố đang dần dần chuyển đổi

cơ cấu từ các ngành công nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp cao đòi hỏi nhiều chất xám và kỹ thuật hiện đại như: công nghệ thông tin, điện tử…

3.2 - Nông nghiệp:

Năm 1997 thành phố có 99164 ha diện tích đất nông nghiệp với 1,43 triệu lao động chiếm 35,57% số lao động thành phố Hoạt động nông nghiệp của thành phố chủ yếu diễn ra các quận huyện ngoại thành như :quận 2,7,8,12, huyện Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè, Cần Giờ, Thủ Đức Đóng góp giá trị sản xuất nông lâm thủy sản là khoảng 2000 tỷ đồng Những năm gần đây, diện tích trồng lúa giảm dần, tăng canh trồng cây ăn trái, trồng hoa lan , cây cảnh, bonsai, phù hợp với chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn đô thị hóa của thành phố Năm 2005, mặc dù có nhiều diễn biến bất lợi cho sản xuất nông nghiệp do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm tái phát, hạn hán kéo dài, diễn biến xâm nhập mặn sâu và cao hơn trung bình nhiều năm, nhưng thành phố đã có các biện pháp tích cực hạn chế thiệt hại và thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng, giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản đạt 3.780 tỷ đồng, tăng 1,8% so cùng kỳ

Trang 16

Điểm nổi bật nhất của ngành nông nghiệp là chương trình 2 cây - 2 con, chương trình trồng hoa - cây kiểng - cá cảnh tiếp tục phát huy hiệu quả và ngày càng phát triển Về trồng trọt, diện tích trồng dứa Cayene đạt 900 ha, diện tích trồng rau

an toàn tăng nhanh, đạt 750 ha Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng 7,3% Đàn heo tăng 6,6%; đàn bò sữa đạt 56.000 con (tăng 4.000 con so với năm 2004) với sản lượng sữa 129.000 tấn Về thủy sản, sản lượng nuôi tôm sú đạt 8.500 tấn, tăng 13%, với diện tích nuôi 8.000 ha; sản xuất và thuần dưỡng tôm giống 900 triệu post (tôm con); số lượng cá cảnh thương phẩm tăng, đạt 20 triệu con; đã có hơn 55.000 con cá sấu được nuôi, đang tiếp tục phát triển gắn với chế biến xuất khẩu sản phẩm từ cá sấu; đàn ba ba thương phẩm 500.000 con Chăn nuôi và nuôi - trồng thủy sản đã chiếm 64,4% giá trị sản xuất nông nghiệp thành phố (năm 2004 chiếm 60%)

Trong tương lai lâu dài, thành phố có định hướng quy hoạch khu vực chuyên canh cây ăn trái chất lượng cao phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, phát triển Cần Giờ thành ngư trường đánh bắt thủy sản, khẳng định chăn nuôi tiếp tục là ngành mũi nhọn, phát triển chăn nuôi heo siêu thịt, bò sữa, tôm cá có giá trị kinh tế cao Hiện nay ngành nông nghiệp thành phố đã xây dựng xong chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 2006 - 2010 với mục tiêu nâng cao hiệu quả thu được từ một đơn vị diện tích đất nông nghiệp gấp 5 lần hiện nay

cao, thị trường trong nước phát triển; nhiều hình thức tổ chức kích cầu tiêu dùng mới

được triển khai như bán hàng khuyến mãi, chợ phiên cuối tuần, bán trả góp và bán hàng lưu động, các hội chợ ngành nghề tổ chức liên tục đã tác động tích cực đến hoạt động thương mại, dịch vụ; cơ Sở vật chất ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400 chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung tâm thương mại, 3 chợ đầu mối

Trang 17

Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam, dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính -

tín dụng Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu toàn quốc Thành phố có hệ thống ngân hàng vững mạnh, đa dạng với gần

34 ngân hàng quốc doanh, 19 ngân hàng thương mại cổ phần Nguồn vốn huy động qua ngân hàng đạt 170.890 tỷ đồng, tăng 23,1% so cùng kỳ Dư nợ tín dụng 164.600

tỷ đồng, tăng 32,3% so cùng kỳ ; trong đó dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 49% tổng dư nợ Cho vay khu chế xuất - khu công nghiệp tăng 38,7% so cùng kỳ; cho vay chương trình kích cầu thông qua đầu tư tăng 5,1%

Về ngoại thương, thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu hàng hóa lớn nhất nước với các mặt hàng chủ lực là sản phẩm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

(48%), lương thực nông sản (31%), thủy hải sản (17%), lâm sản (4%) Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Nhật Bản, Singapore, Đài Loan…Năm 2006 lĩnh vực xuất khẩu

đã mang về cho thành phố 1261 triệu USD Tuy có sự tăng lên theo từng năm nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của thành phố Hiện nay thành phố vẫn còn gặp một số khó khăn, trong đó nổi bật lên là rào cản thương mại do Việt Nam vẫn chưa chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO

Thị trường chứng khoán vốn còn rất mới mẻ ở Việt Nam nhưng với sự nhạy bén của mình, tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đã có 30 công ty cổ phần, 01 công ty quản lý quỹ niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh; tổng vốn cổ phần niêm yết trên 1.600 tỷ đồng; trong đó có 17 công ty niêm yết có trụ Sở tại thành phố, chiếm 55% về số công ty niêm yết và 75% về vốn của các công ty niêm yết Có 14 công ty chứng khoán hoạt động trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, doanh số giao dịch đạt 31.000 tỷ đồng, trong

đó giao dịch cổ phiếu 8.000 tỷ đồng; giao dịch trái phiếu 23.000 tỷ đồng Chỉ số Index ngày 01 tháng 12 năm 2005 là 312,09 điểm, tăng 79,68 điểm so với cuối năm

Vn-2004

3.4 - Du lịch:

Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố trẻ trung và hiện đại mới 300 năm tuổi, song trong lòng thành phố đã chứa đựng biết bao giá trị văn hoá nhân văn - văn hoá lịch sử được kết tinh và thăng hoa từ sự giao lưu của nhiều nền văn hoá khác nhau

Trang 18

trên nền tảng văn hoá mang đậm bản sắc Việt Nam Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hoá trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển Những cái tên như: bến Nhà Rồng, Bưu điện, Nhà hát lớn, đền Quốc Tổ, trụ Sở UBNDTP, dinh Thống Nhất, chợ Bến Thành…, hệ thống các ngôi chùa cổ

như: chùa Giác Lâm, chùa bà Thiên hậu, Tổ Đình Giác Viên…; các nhà thờ cổ như:

Nhà thờ Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức…; cùng với sự đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng với hàng chục lễ hội văn hoá hàng năm đã tạo nên tính thống nhất trong đa dạng văn hóa của mảnh đất phương Nam này.Trên từng con đường, góc phố, địa danh của thành phố đề gắn liền với những danh nhân văn hoá - lịch sử, những chiến công của một thành phố anh hùng Thành phố có nhiều danh lam thắng cảnh rất đẹp, địa danh - di tích lịch sử - văn hoá nổi tiếng như: Thảo Cầm Viên, Đầm Sen, Suối Tiên, Hồ Kỳ Hoà, Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, địa đạo Củ Chi, đền tưởng niệm Bến Dược Củ Chi, chiến khu An Phú Đông, 18 thôn Vườn Trầu, Hóc Môn Bà Điểm, Láng Le Bàu Cò, vườn thơm Bưng Sáu, “Căn cứ nổi” rừng Sác, khu du lịch sinh thái Cần Giờ với nhiều hệ sinh thái có nhiều chủng loại động thực vật…

Từ khi có chính sách mở cửa, số khách du lịch, nhất là khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh đã tăng với tốc độ cao, từ chỗ có 180.000 khách quốc tế vào năm 1990, đến nay đã có hàng triệu khách quốc tế mỗi năm, chiếm trên 50%- 70% lượng khách quốc tế vào Việt Nam

Năm 2002, với lượng khách quốc tế lên đến 1.433.000 người, tăng 20% so với năm 2001 Năm 2005, lượng khách du lịch quốc tế đến thành phố trên 2 triệu lượt, tăng 27% so cùng kỳ Công suất sử dụng phòng của các khách sạn 3 đến 5 sao đạt 75%, tăng 9,5% so cùng kỳ Doanh thu ngành du lịch đạt 13.250 tỷ đồng, tăng 23% so cùng kỳ Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch đã phát huy các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng chuyên mục du lịch trên các báo lớn, truyền hình, tranh thủ các hãng truyền hình của Mỹ, Malaysia, Hồng Kông, Nga tuyên truyền về du lịch thành phố và Việt Nam Tăng cường và nâng cao hiệu quả các đợt tham dự hội chợ du lịch chuyên nghiệp khu vực và các thị trường trọng điểm, tổ chức Hội chợ du lịch chuyên nghiệp lần đầu tiên tại thành phố với sự tham gia của 11 quốc gia và vùng lãnh thổ Triển khai chương trình xét chọn và công nhận

Trang 19

100 điểm mua sắm đạt chuẩn du lịch Đến nay, có 142 khách sạn được xếp hạng, trong đó 35 khách sạn 3 đến 5 sao với 5.740 phòng và 346 doanh nghiệp lữ hành đủ điều kiện kinh doanh

Những con số khả quan trên là kết quả của chính sách mở cửa và hội nhập thế giới, sự cải tạo và nâng cấp cơ Sở hạ tầng, cơ Sở vật chất kỹ thuật phục vụ du khách,

sự khuyến khích đầu tư nước ngoài mà thành phố Hồ Chí Minh luôn là địa phương

đi đầu trong cả nước trong sự nghiệp đổi mới trong lĩnh vực đời sống xã hội

Kết luận:

Trong tương lai thành phố phát triển các ngành kinh tế chủ lực, là địa phương đầu tiên tập trung phát triển các ngành cơ khí gia dụng, sản xuất phương tiện vận tải, chế tạo máy, các ngành công nghệ cao … vẫn là đầu mối xuất nhập khẩu, du lịch của

cả nước với hệ thống cảng biển phát triển Việc hình thành các hệ thống giao thông như đường Xuyên Á, đường Đông Tây … sẽ tạo điều kiện cho kinh tế thành phố tăng trưởng mạnh mẽ

Trong quá trình phát triển và hội nhập, thành phố Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò là một trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước và cũng là vùng động lực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã

hội ở địa bàn Nam Bộ và cả nước theo chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 20

Vị trí quan trọng của Thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài Từ thời còn chế độ phong kiến, Thành phố đã là một trung tâm chính trị, phòng vệ của vùng phía nam đất nước

Thời thực dân Pháp cai trị, Hà Nội và Thành phố Sài Gòn là hai nơi có cơ quan của toàn quyền Đông Dương đóng Riêng với Thành phố Sài Gòn, Pháp cố gắng xây dựng nó thành "Hòn ngọc Viễn Đông"

Đến thời Mỹ thống trị, chúng ta đã dùng Thành phố này làm Thủ đô của Chính quyền ngụy kể từ vĩ tuyến 17 trở vào

Sau khi miền Nam được giải phóng, nước ta được thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Thành phố Sài Gòn được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra công sức đóng góp vào sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước

Nghị quyết 01 (1982) của Bộ Chính trị nhận định: "Thành phố Hồ Chí Minh

có vị trí chính trị sau Thủ đô Hà Nội" Thành phố Hồ Chí Minh có "những điều kiện khách quan đặc biệt thuận lợi mà không một tỉnh, thành phố nào khác ở nước ta quy tụ được nhiều ưu thế như vậy, Thành phố Hồ Chí Minh có triển vọng rất tốt đẹp

về phát triển công nghiệp, phát triển xuất khẩu, du lịch và dịch vụ quốc tế, có khả năng cùng với các tỉnh trong vùng sớm hình thành một cơ cấu kinh tế công nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ kinh tế trong nước với kinh tế nước ngoài, đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế chung của cả nước ta"

Thành phố đã giữ vững được sự ổn định chính trị của mình, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư, thu hút khách du lịch Thành phố cũng đã đảm bảo an ninh , một phần không thể thiếu trong sự thành công của các hội nghị lớn, các chuyến viếng thăm của lãnh đạo các quốc gia đến thành phố Tiêu biểu nhất là chuyến viếng thăm của tổng thống Mĩ Bill Clinton Thành phố cũng đã hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân năm 2005 ở cả 3 cấp Đây là năm thứ 7 thành phố liên tục hoàn thành chỉ tiêu và chất lượng thanh niên nhập ngũ được nâng lên (trình độ văn hóa, sức khỏe, trình độ chính trị, v.v )

Lãnh đạo thành phố chủ trương giáo dục cho toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân Thành phố nhận thức và thực hiện tốt 2 nhiệm vụ chiến lược – xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; quán triệt sâu sắc về mối quan hệ hữu cơ giữa ổn định chính trị với phát triển kinh tế, xây dựng, củng cố các tổ chức chính trị - xã hội, xây

Trang 21

dựng “thế trận lòng dân” - bảo đảm yên tâm, mà giữ vững ổn định chính trị, củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân Đề cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, gây mất ổn định chính trị, đe dọa an ninh kinh tế, khoa học – công nghệ, tư tưởng – văn hoá, đối ngoại; ngăn chặn và đẩy lùi các loại tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội; lập lại trật tự kỷ cương trong việc chấp hành pháp luật, thiết lập trật tự đô thị

Là một bộ phận hữu cơ và quan trọng của Tổ quốc thống nhất, Thành phố Hồ Chí Minh đang ra sức thực hiện những nhiệm vụ do Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra, góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ đất nước, đồng thời cũng để xứng đáng được mang tên Thành phố Bác Hồ kính yêu

5 - Tầm quan trọng của công tác đối ngoại trong hoạt động của thành phố:

Sau giải phóng, Trung ương đã khẳng định: "Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước ta”

Với đặc điểm đó, 10 năm qua, thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, công tác đối ngoại của thành phố ngày càng phát triển về quy mô, mức độ và phạm vi, vừa mang tính chất đoàn kết hữu nghị và hợp tác với các nước anh em và dân tộc khác, vừa mang thực chất một cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao Những năm đầu sau giải phóng (1975-1976), công tác đối ngoại thực tế ở thành phố chỉ ở mức tiếp đón các đoàn khách quốc tế mừng chiến thắng to lớn của dân tộc ta, biểu thị lòng biết ơn của Việt Nam, đối với bạn bè các nước, chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa

Đến năm 1985, hoạt động đối ngoại của thành phố được Trung ương phân công, đã mở rộng trên nhiều lĩnh vực

Trong 10 năm qua, mỗi năm khoảng 500 đoàn khách, không tính khách của riêng thành phố với các tỉnh, thành phố kết nghĩa như Lêningrat, Leipzich, Bratislava, quận Bagne (Pháp), gồm các đoàn Đảng, quốc hội, Chính phủ, ngoại giao đoàn, báo chí, đoàn thể, các đoàn hữu nghị; khối lượng khách quốc tế đến thành phố mỗi năm đều tăng

Trang 22

Thành phố có 30 cơ quan đại diện ngoại giao, kinh tế, thương mại, văn hoá, hàng không, hàng hải Thành phố được Trung ương giao làm công tác lãnh sự.Thành phố cũng là nơi được Trung ương chọn và cho phép đăng cai nhiều Hội nghị quốc tế, Hội thảo quốc tế về giáo dục, văn hoá, bưu điện, địa chất, kế hoạch,

dạy nghề, bảo hiểm xã hội, Hội nghị công đoàn quốc tế, Hội nghị nhà văn Á-Phi

Thực hiện phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” của ngoại giao Việt Nam, hoạt động đối ngoại tại TPHCM diễn ra khá sôi

động, trên các mặt ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân, đối ngoại Đảng và trong lĩnh vực chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại

Thành phố bước đầu đã có quan hệ với 3 thành phố kết nghĩa :Lêningrat (Liên Xô) Leipzich (Cộng hòa Dân chủ Đức), Bratislava (Tiệp Khắc) trên nguyên tắc hợp tác anh em, có trách nhiệm và bình đẳng Riêng đối với Cam-pu-chia và Lào, thành phố được Trung ương giao nhiệm vụ cùng với Hà Nội kết nghĩa với thành phố Phnom Pênh và có quan hệ với thành phố Viêng Chăn anh em Thành phố đã cử 14 đoàn đi thăm và làm việc ở nước ngoài nhằm tăng cường quan hệ đối ngoại và quảng bá hình ảnh của thành phố, đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác với hơn 10 địa phương của 8 quốc gia thông qua việc ký kết nhiều Bản ghi nhớ và Thỏa thuận hợp tác; nổi bật là quan hệ hợp tác với San Francisco (Mỹ), Rhone-Alpes và Lyon (Pháp), Busan (Hàn Quốc), Vientiane và Champasak (Lào), Phnompenh (Campuchia) Đón gần 100 đoàn khách quốc tế, trong đó có nhiều đoàn khách cấp cao, nhiều đoàn các nhà doanh nghiệp, đầu tư nước ngoài đến thăm, tìm hiểu và xúc tiến đầu tư vào thành phố Hơn 750 lượt phóng viên nước ngoài đến thành phố để đưa tin về tình hình kinh tế - xã hội thành phố, đặc biệt là để đưa tin nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Ngoài ra, hơn 30 hội nghị và hội thảo quốc

tế đã diễn ra trên địa bàn thành phố

TPHCM đã tiếp hàng trăm đoàn khách quốc tế quan trọng hàng năm vào thăm chính thức thành phố (không kể các đoàn kinh tế thương mại) Cuối năm

1989, TPHCM mới có 9 Tổng Lãnh sự quán, hiện nay đã có 34 Tổng Lãnh sự quán

và cơ quan đại diện nước ngoài đang hoạt động trên địa bàn Số văn phòng đại diện

Trang 23

(VPÐD) của các công ty nước ngoài, năm 1980 hầu như không có thì đến 1995 có trên 900 VPĐD, năm 2000 có 1.300 VPÐD và hiện nay con số được nâng lên đến 1.988 VPĐD của các công ty thuộc 52 quốc gia và vùng lãnh thổ còn hiệu lực hoạt động

Trên địa bàn thành phố có hàng chục ngàn người nước ngoài thuộc nhiều quốc tịch đang sinh sống, học tập và làm việc

Trong tương lai, TPHCM sẽ tổ chức các đoàn đi xúc tiến đầu tư và thương mại tại châu Âu và Mỹ để giới thiệu và kêu gọi đầu tư vào các dự án phần mềm, công nghệ cao, giao thông công cộng, xử lý nước thải… Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư TP (ITPC) và Saigontourist đang hoàn tất chọn địa điểm để thành lập văn phòng đại diện xúc tiến thương mại và đầu tư tại Mỹ TP cũng đang tổ chức phối hợp với sứ quán, Lãnh sự quán tại các nước hỗ trợ trong công tác xúc tiến đầu

tư và thương mại

Kể từ 1994 đến nay, thành phố cũng đã vận động khá hiệu quả các cơ quan đại diện nước ngoài tham gia các chương trình phát triển văn hóa xã hội của thành phố và một số tỉnh bạn (xây dựng trường học, trạm y tế, đóng góp vào chương trình

từ thiện và chương trình xóa đói giảm nghèo ) Đặc biệt trong các đợt cứu trợ lũ lụt cho đồng bào miền Trung, các Tổng Lãnh sự quán và các cơ quan đại diện nước ngoài đều tổ chức quyên góp ủng hộ rất nhiệt tình Hiện nay, thành phố có quan hệ hợp tác hữu nghị với nhiều thành phố trên thế giới và đang hướng các nội dung hợp tác với các thành phố bạn vào lĩnh vực kinh tế và bước đầu đã thu được một số kết quả

Việc mở rộng Quan hệ Quốc tế đã tạo ra cho thành phố một môi trường thuận lợi trong lĩnh vực hợp tác về giáo dục, đào tạo Trong những năm gần đây,

có rất nhiều sinh viên của thành phố đi du học tự túc, học tại những trường đại học

có tiếng dạy giỏi Số học bổng của các nước mà thành phố nhận được ngày càng nhiều hơn về số lượng và dài hơn về thời gian đào tạo Ngoài ra, lần đầu tiên cho phép mở trường đại học của nước ngoài tại thành phố : Trường Ðại học quốc tế Công nghệ Hoàng gia Melbounrne Australia (RMIT) RMIT là trường đại học có nhiều ngành đào tạo của Australia với hơn 60.000 sinh viên, trong đó 8.000 du học sinh Tại TPHCM, Chủ tịch UBNDTPHCM Lê Thanh Hải đã tiếp và làm việc với

Trang 24

GS.Dennis Gibson AO, Chủ tịch Hội đồng ĐH Công nghệ Hoàng gia Melbounrne Australia (RMIT) kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị ĐH quốc tế RMIT tại Việt Nam bàn về sự hợp tác phát triển giáo dục giữa TPHCM và RMIT

Nhìn lại chặng đường qua, cùng với cả nước, công tác đối ngoại của thành phố đã được những kết quả quan trọng, mặc dù tình hình chung còn nhiều khó khăn phức tạp Điều đó nói lên sự cố gắng to lớn của lãnh đạo thành phố và của các ngành liên quan đã không ngừng phấn đấu làm cho thành phố xứng đáng với vị trí là một đầu mối quan trọng về chính trị, kinh tế và giao lưu quốc tế của cả nước

Trang 25

Chương 2:

THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CÁN BỘ QUAN HỆ QUỐC

TẾ TẠI CÁC CƠ QUAN CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

VÀ CÁC LÃNH SỰ QUÁN

*******

Từ đặc điểm trên của Thành phố Hồ Chí Minh, có thể nói hoạt động đối ngoại đang dần đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển của trung tâm tại khu vực miền Nam này Vậy lực lượng nhân lực trong hoạt động đối ngoại tại thành phố hiện nay là như thế nào? Họ hoạt động ra sao? Chúng ta hãy cùng nhau khảo sát và nghiên cứu những điều trên tại khu vực cơ quan nhà nước và các lãnh sự quán đặc tại thành phố, những nơi tiêu biểu nhất

1 - THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CÁN BỘ QUAN HỆ QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ QUAN CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:

Theo dự định ban đầu của nhóm nghiên cứu, khu vực cơ quan chính quyền nhà nước được khảo sát sẽ bao gồm các Ủy ban nhân dân các quận huyện và các Sở ban ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Tuy nhiên, trên thực tế, các Ủy ban nhân dân các quận huyện hoàn toàn không có chức năng thực hiện công tác đối ngoại Cơ quan duy nhất có chức năng đối ngoại chính là Ủy ban nhân dân thành phố Nhưng thông tin về nhân viên thực hiện chức năng đối ngoại tại uỷ ban nhân dân thành phố là tuyệt mật

Trong khu vực Sở, ban ngành, dựa trên chức năng và quy mô của hoạt động đối ngoại, chúng tôi xin phép được chia làm 2 phần: Sở Ngoại vụ và các Sở khác

Trang 26

1.1 - Sở Ngoại Vụ

1.1.1 - Tổng quan:

Sở Ngoại Vụ thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại Giao, chịu sự chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Bộ Ngoại Giao về đường lối đối ngoại cũng như về chuyên môn và nghiệp vụ ngoại giao, tổ chức bộ máy và biên chế cán

bộ

Trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh, Sở Ngoại Vụ đồng thời chịu sự lãnh đạo của UBND thành phố về công tác đối ngoại, chính trị, tư tưởng và các công tác đối ngoại khác của thành phố

Chức năng của Sở Ngoại Vụ:

- Tham mưu cho Bộ Ngoại Giao và UBNDTP về các mặt công tác đối ngoại và trực tiếp thực hiện hoạt động đối ngoại, giải quyết các vấn đề liên quan đến nhân tố nước ngoài tại thành phố và các tỉnh thành phía Nam theo uỷ quyền của Bộ Ngoại Giao

- Tham mưu và xử lý các vấn đề liên quan đến đối ngoại của thành phố Hồ Chí Minh theo sự chỉ đạo của UBNDTP

1.1.2 - Cơ cấu:

Bao gồm 10 phòng ban:

1 Phòng Lãnh Sự

2 Phòng Chính trị - Kinh tế đối ngoại

3 Phòng Văn hoá - Thông tin đối ngoại

4 Phòng tổ chức cán bộ

5 Phòng lễ tân

6 Phòng nghiệp vụ văn phòng

7 Nhà khách chính phủ

Trang 27

8 Viện trao đổi văn hoá với Pháp

9 Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng kiến thức ngoại giao

10 Trung tâm dịch vụ đối ngoại

1.1.3 - Thực trạng công việc:

Số lượng cán bộ nhân viên chuyên về đối ngoại: 48 nhân viên, làm việc trong các phòng chuyên trách đối ngoại: phòng Lãnh sự, phòng Chính Trị - Kinh tế - Đối ngoại, Phòng Văn hóa – Thông tin đối ngoại, phòng Lễ tân, và viện trao đổi văn hoá với Pháp

 Phòng Lãnh sự: quản lý các cơ quan đại diện lãnh sự và các cơ quan đại

diện các nước về kinh tế, thương mại, văn hoá, khoa học kỹ thuật đóng trong thành phố Hồ Chí Minh; tham gia xử lý các vụ việc có nhân tố nước ngoài; thực hiện công tác lãnh sự (cấp hộ chiếu, hợp pháp hoá) tại các tỉnh thành phía Nam theo sự uỷ nhiệm của Bộ Ngoại Giao

 Phòng Văn hoá - Thông tin đối ngoại: Thực hiện công tác tuyên truyền

đối ngoại, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các chủ trương chính sách đối ngoại của nhà nước đối với các cơ quan trong nước, các cơ quan nước ngoài và người nước ngoài; quản lý phóng viên báo chí nước ngoài được

Bộ Ngoại Giao hoặc UBND Thành phố cho phép hoạt động tại thành phố

và các tỉnh, thành phía Nam; quản lý các hoạt động báo chí, in ấn, lưu hành các ấn phẩm của các Tổng Lãnh sự quán và các cơ quan nước ngoài đóng trên địa bàn thành phố theo quy định của pháp luật

 Phòng Chính trị - Kinh tế đối ngoại: Quản lý thống nhất công tác đối

ngoại theo đúng chủ trương chính sách đối ngoại, luật pháp của nhà nước Việt Nam; hỗ trợ và hợp tác với các cơ quan trong thành phố (kể cả các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn thành phố) và các tỉnh phía Nam để đảm bảo thực hiện những quy định của nhà nước ta trong quan hệ với các

Trang 28

cơ quan nước ngoài và người nước ngoài; phối hợp với các ngành liên quan thực hiện chủ trương phát triển các mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam với các thành phố của các nước trên thế giới; phối hợp với các cơ quan chức năng làm đầu mối liên hệ giữa các doanh nghiệp và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước

ngoài; thúc đẩy và mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hoá Việt Nam

Trang 29

 Về môi trường làm việc, đa số người được phỏng vấn đánh giá tốt (9/12)

 Về sự hữu ích của những kiến thức từ những ngành đã học, tất cả đều đánh giá cao

 Đa số đều đang bồi dưỡng thêm kiến thức thông qua con đường tự nghiên cứu và các khoá học ngắn hạn (10/12) và theo học tiếp bậc sau Đại học (2/12)

1.2 - Các Sở khác:

SỐ LIỆU THỐNG KÊ

Công tác đối ngoại nhìn chung đóng vai trò quan trọng tại các Sở nhưng chưa

có được quy mô đúng mức Hiện tại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 17 Sở

và trong đó có 08 Sở có cán bộ làm công tác đối ngoại:

SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG Không có

Trang 30

SỞ TÀI CHÍNH VẬT GIÁ Không có

SỞ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Chưa rõ

Thông qua khảo sát, nhóm nghiên cứu thu được những thông tin về thực trạng

sử dụng cán bộ đối ngoại ở các Sở như sau:

* Về cơ cấu tuổi:

Nữ 34%

Trang 31

Mở bán công

Y dược

Trang 32

* Môi trường làm việc:

Đánh giá môi trường làm việc

Tốt67%

Khá33%

Tốt Khá

* Đánh giá về cơ hội thăng tiến:

Cơ hội thăng tiến

33%

67%

Tốt Khá

Trang 33

* Hiện nay có khoảng 67% nhân viên tiếp tục bồi dưỡng kiến thức về tiếng Anh chuyên ngành và các ngành khác ngành Quan hệ Quốc tế Cách thức bổ sung kiến thức:

- Tự học: 83 %

- Theo học các khoá ngắn hạn: 34%

- Tiếp tục theo học bậc đại học: 50%

* Đánh giá của cán bộ lãnh đạo về hiệu quả làm việc:

Hiệu quả làm việc

25%

50%

25%

Tốt Khá Trung Bình

* Lí do chưa đạt yêu cầu:

- Thiếu kiến thức chuyên môn về Quan hệ Quốc tế: 25%

- Thiếu kinh nghiệm đối ngoại: 25%

- Thiếu kĩ năng giao tiếp: 50%

- Yếu ngoại ngữ: 25%

ĐÁNH GIÁ:

Ngoại trừ Sở Ngoại vụ là một cơ quan thuộc trực thuộc Bộ Ngoại Giao, thực hiện công tác đối ngoại với số lượng nhân viên đối ngoại lớn, thì trong các Sở trực thuộc UBNDTP còn lại, số lượng nhân viên đối ngoại không nhiều (số lượng trung bình dao động từ 1 đến 4), duy chỉ có Sở Kế hoạch đầu tư có 13 nhân viên do yêu cầu của việc xử lý hồ sơ đầu tư nước ngoài Thậm chí trong nhiều Sở hoàn toàn

Trang 34

không có nhân viên chuyên phụ trách đối ngoại mang chức danh chuyên viên đối ngoại Tại sao lại có tình trạng này trong khi thành phố được coi là nơi có môi trường giao lưu quốc tế nhộn nhịp nhất nước? Qua phỏng vấn, khảo sát, chúng ta có

lý do như sau: trên thực tế chỉ có một số Sở là thực sự chú trọng đến công tác đối ngoại khi có số lượng lớn các đối tác nước ngoài có liên quan, liên hệ trực tiếp với

Sở Ví dụ như: Sở GDĐT liên lạc với các tổ chức giáo dục quốc tế, các trường ĐH, các đoàn giáo sư, sinh viên quốc tế, …; Sở Kế hoạch Đầu tư để xúc tiến các dự án nước ngoài vào thành phố; Sở TDTT để liên lạc với nơi tập huấn tại nước ngoài, … Còn đối với các Sở không có thì hoặc là đã có sự giúp đỡ từ phía Sở Ngoại Vụ, hoặc đơn giản là chỉ thừa hành chỉ thị từ UBNDTP đưa xuống, ví dụ Sở Tư Pháp, Sở Công Nghiệp Thậm chí là công việc liên quan đối ngoại quá ít nên đôi lúc chỉ cần một người có khả năng ngoại ngữ (Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn) hoặc thuê một công ty, tổ chức tư nhân bên ngoài (Sở Thương Mại)

Qua khảo sát phỏng vấn tại các Sở, chúng ta có một số điều rút ra về thực trạng hoạt động đối ngoại tại các Sở như sau:

- Công việc của nhân viên phụ trách đối ngoại trong các Sở gồm có: thực hiện liên lạc với các cá nhân, tổ chức nước ngoài có mối quan hệ đối tác với Sở, thiết lập các mối quan hệ; biên phiên dịch các tài liệu; hướng dẫn, tư vấn cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài về các văn bản pháp luật, các phương thức tổ chức …; tổ chức các buổi tiếp khách, tổ chức các hội nghị, hội thảo, hội chợ quốc tế; thực hiện công tác

lễ tân tại các buổi lễ; …

- Chính vì yêu cầu trên mà khả năng ngoại ngữ của các nhân viên làm công tác đối ngoại trong các Sở là rất tốt Tất cả đều có trình độ tiếng Anh tối thiểu bằng

C Ngoài tiếng Anh, thì việc biết thêm ngoại ngữ 2 cũng là một điều khá phổ biến trong các Sở, các ngoại ngữ khác bao gồm: Pháp, Ý, Đức, Hoa, … Nhưng tiếng Anh vẫn là tiêu chí hàng đầu được các Sở đề ra khi tuyển hoặc ủy nhiệm nhân viên đối ngoại

Trang 35

- Số lượng nhân viên nam chiếm 66,6% gấp đôi nhân viên nữ (33,4%) Tất cả các nhân viên đối ngoại chính thức tại các Sở không có chuyên môn về Quan hệ Quốc tế Điều này thể hiện rõ ở tất cả các Sở: Sở Kế hoạch đầu tư nhân viên đối ngoại tốt nghiệp từ các ngành tự nhiên, kinh tế; Sở GDĐT tốt nghiệp chuyên ngành

Sư phạm, Sở Y Tế nhân viên đối ngoại tốt nghiệp từ trường đại học Y,… Phần lớn đều tốt nghiệp các ngành chuyên môn phù hợp với các Sở, có bằng cấp cử nhân là điều bắt buộc Tất cả đều qua thời gian công tác tại các cơ quan trực thuộc Sở rồi được cất nhắc về các Sở công tác và được giao cho đảm nhiệm công tác đối ngoại dựa trên trình độ Anh văn cũng như khả năng giao tiếp Ngoài ra sau quá trình khảo sát cho thấy 33,3% cán bộ của Sở biết 2 ngoại ngữ, 16% cán bộ của Sở biết 2 ngoại ngữ trở lên Chỉ có một số ít nhân viên đối ngoại là có chuyên ngành ngoại ngữ, gần với chuyên ngành đào tạo công tác đối ngoại nhất

- Tại nhiều Sở, người thực hiện công tác đối ngoại là kiêm nhiệm chứ không phải là nhân viên chuyên trách Thường người kiêm nhiệm này là trưởng phòng hoặc phó phòng một phòng ban trong Sở, ví dụ như phó phòng hành chính Thể Dục Thể Thao, phó phòng Nghiệp Vụ Y

- Trong khu vực nhà nước, cụ thể là tại các Sở, môi trường làm việc của nhân viên đối ngoại theo nhận xét là khá tốt (67% tốt, 33% khá) với cơ hội thăng tiến cao trong cơ cấu công việc nhà nước vốn được coi là ổn định ( 33% tốt, 67% khá)

- Theo nhận xét của các nhân viên đối ngoại: kiến thức đã học trong trường đại học giúp ích một cách đắc lực cho công việc hiện tại là 17%, vừa đủ là 50%, thiếu là 17% và hoàn toàn không 16% Trong quá trình làm việc ngoài việc biết 1 ngoại ngữ 33% nhân viên cho rằng biết 2 ngoại ngữ là cần thiết và 34% còn yêu cầu

là biết nhiều hơn 2 ngoại ngữ

- Với thực trạng phần lớn nhân viên đối ngoại chỉ có chuyên môn khác ngành Quan hệ Quốc tế đã cản trở một phần không nhỏ cho việc thực hiện tốt công tác đối ngoại Những cái còn thiếu của nhân viên đối ngoại, cản trở trực tiếp công việc của

Trang 36

họ gồm có: kiến thức về Quan hệ Quốc tế (nhấn mạnh vào nghiệp vụ lễ tân ngoại giao), khả năng ngoại ngữ (chú trọng các kỹ năng nghe nói), thiếu kinh nghiệm thực

tế, thiếu sự đào tạo về khả năng giao tiếp, đàm phán, …Để phục vụ tốt hơn cho công việc, các nhân viên đối ngoại đều mong muốn được đào tạo thêm về các nội dung chuyên ngành Trong đó chú trọng nhiều vào lễ tân ngoại giao thực hành(67%), khả năng giao tiếp(50%), khả năng đàm phán và tiếng Anh giao tiếp (đặt nặng nghe, nói, dịch)(67%)

- Tuy nhiên, do đặc thù công việc nhà nước nên phần lớn các nhân viên đối ngoại chọn phương pháp bổ túc kiến thức bằng cách tự nghiên cứu (83%), sự lựa chọn thứ hai là theo học các lớp tại chức hoặc văn bằng 2 vào buổi tối (50%)

Một điều đặc biệt là các nhân viên đối ngoại đều cho rằng khối lượng công việc của mình hiện nay là nhiều trong khi số lượng nhân viện phụ trách đối ngoại lại ít

Đây cũng chính là vấn đề cần được giải quyết trong tương lai Có thể nói nhu cầu về nhân viên đối ngoại đang tăng cao Qua phỏng vấn, làm bảng hỏi với các lãnh đạo, thì hiện nay quy mô công tác đối ngoại trong các Sở là tạm đủ Nhưng trong tương lai, quy mô này cần phải mở rộng lên ít nhất là 3 nhân viên, thậm chí là tách biệt thành một phòng ban đối ngoại trong Sở Tuy nhiên, nhu cầu này cũng gặp phải khó khăn khi nhà nước đang thực hiện chính sách tinh giảm biên chế Vì vậy, cần phải có sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo từng Sở với công tác đối ngoại, đưa ra một cơ cấu hợp lý để có đề nghị với UBNDTP trong việc mở rộng hoạt động ngoại giao của cơ quan Điều cần lưu ý ở đây là số lượng nhân viên đối ngoại cần thiết cho khu vực các Sở cũng không phải là một con số lớn Số lượng chỉ từ 14 – 20 nhân viên trong tương lai, một con số không phải là nhiều Song song với việc mở rộng quy mô thì việc tăng cường chất lượng của nhân viên đối ngoại cũng là một vấn đề cần chú ý

Trang 37

Để trở thành một nhân viên đối ngoại tại các Sở trong tương lai, theo ý kiến của các lãnh đạo và những người trực tiếp thực hiện công tác tuyển dụng, bạn phải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu bao gồm:

- Tốt nghiệp đại học: có thể là ngành Quan hệ Quốc tế hoặc ngành khác, tuỳ theo yêu cầu của từng Sở

- Ngoại ngữ: ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anh (rất chú trọng đến khả năng giao tiếp), việc có ngoại ngữ 2 là ưu thế cho bạn khi xin việc (khuyến khích tiếng Hoa, tiếng Pháp)

- Có khả năng giao tiếp tốt Đây là tố chất quan trọng của người làm công tác đối ngoại

- Có khả năng sử dụng vi tính văn phòng

- Có ngoại hình tương đối

Bức tranh toàn cảnh về thực trạng và nhu cầu sử dụng cán bộ đối ngoại tại các Sở có thể được phác thảo sơ bộ như trên

Trang 38

2 - THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CÁN BỘ QUAN HỆ QUỐC TẾ TRONG CÁC LÃNH SỰ QUÁN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:

Nữ 64%

Nam Nữ

Trang 39

Luật, Ngoại thương, Sư phạm, Ngoại ngữ Hà Nội, Mở bán công

Du học từ các trường nước ngoài

Trang 40

* Đánh giá môi trường làm việc:

Đánh giá môi trường làm việc

Tốt 64%

Khá 36%

Tốt Khá

* Cơ hội thăng tiến:

Cơ hội thăng tiến

28%

52%

20%

Tốt Khá Chưa hài lòng

* Bồi dưỡng kiến thức:

Bồi dưỡng kiến thức

* Đánh giá của người lãnh đạo: Hiệu quả làm việc: 100% Tốt

Ngày đăng: 16/05/2021, 12:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w