Dưới đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ, những hoa văn được bố cục chặt chẽ theo chiều dọc tấm vải, được thể hiện bằng những hình cách điệu rất cao: bông hoa, con chim, con thằn lằn,
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
….…
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN - EURÉKA”
LẦN 8 NĂM 2006
Tên công trình:
THỔ CẨM Ê ĐÊ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội
Trang 2ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
….…
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN - EURÉKA”
LẦN 8 NĂM 2006
Tên công trình:
THỔ CẨM Ê ĐÊ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội Nhóm tác giả :
Lê Thị Mỹ Duyên Nữ Nguyễn Thanh Thiên Vân Nữ Khoa: Đông Phương Học
Trưởng nhóm: Nguyễn Thanh Thiên Vân Người hướng dẫn : Th.S Nguyễn Thanh Tuấn
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
PHẦN DẪN LUẬN 3
CHƯƠNG I 10
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI ÊĐÊ 10
1.1 Nguồn gốc của người Êđê 10
1 2 Sinh hoạt kinh tế 12
1.3 Sinh hoạt văn hoá- xã hội 14
Chương 2 22
NGHỀ DỆT THỔ CẨM CỦA NGƯỜI ÊĐÊ Ở ĐĂK LĂK 22
2.1 Nguyên liệu 24
2.2 Công cụ dệt và kỹ thuật dệt 28
2.3 Hoa văn và màu sắc 33
CHƯƠNG III 40
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO THỔ CẨM ÊĐÊ 40
3.1 Thực trạng của thổ cẩm Êđê hiện nay 40
3.2 Giải pháp 49
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 67
Trang 4Như đã thành truyền thống, các cô gái Êđê khi đến tuổi trưởng thành đều phải biết dệt vải, nhất là dệt thổ cẩm Sợi bông là nguyên liệu chính của nghề dệt Trước kia, họ thường tự trồng bông, kéo sợi, dệt vải và tự nhuộm lấy các sản phẩm của
mình Thuốc nhuộm được chiết xuất từ các cây, lá rừng như krum, le le, adio, snan dak, anara, nghệ,… để tạo thành nên các màu cơ bản: đỏ, đen, vàng, xanh nhưng hiện nay,
họ chủ yếu mua sợi nhuộm sẵn để dệt được nhiều hơn và nhanh hơn
Khung dệt thổ cẩm của người Êđê không phải cố định như khung dệt của người Chăm mà chỉ là những bộ phận rời, một đầu khung dệt có dây vòng qua sau lưng người thợ dệt, còn đầu kia buộc vào cột nhà hoặc song cửa sổ Khung dệt tuy đơn giản nhưng lại rất đa dạng, có loại chuyên dành cho việc dệt váy, có loại chuyên dệt cho những tấm vải có kích thước nhỏ hơn như túi thổ cẩm, khăn địu, khố,…
Trang 5Dưới đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ, những hoa văn được bố cục chặt
chẽ theo chiều dọc tấm vải, được thể hiện bằng những hình cách điệu rất cao: bông hoa, con chim, con thằn lằn, con rùa, tổ ong, hình người, nhà thờ,…Sự bố trí màu sắc trên tấm thổ cẩm Êđê cũng như thổ cẩm của các dân tộc khác là loại sản phẩm mỹ thuật, tác phẩm nghệ thuật do nghệ nhân dân gian và khung dệt tạo ra Do lao động thủ công nên việc tạo ra một tấm thổ cẩm tốn rất nhiều thời gian và công sức, thường là một tháng, đôi khi đến vài ba tháng
Hiện nay, nghề dệt thổ cẩm đang được người Êđê ra sức gìn giữ và phát triển tại các buôn làng Tuy nhiên, việc bảo lưu nghề này còn gặp rất nhiều khó khăn, đó là
do quy mô sản xuất của nghề dệt thổ cẩm còn rất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu nguồn nguyên liệu tại chỗ, tính cạnh tranh kém,…Bên cạnh đó, việc truyền nghề, lưu giữ những mẫu hoa văn truyền thống và kết hợp phát triển nghề dệt thổ cẩm với du lịch ở địa phương cũng gặp rất nhiều khó khăn Để giải quyết được những khó khăn này một cách triệt để đòi hỏi chính đồng bào Êđê cũng như các cấp, các ngành có liên quan phải có những biện pháp cụ thể, đúng đắn Với những giải pháp mà tác giả đề
ra trong nghiên cứu này hy vọng sẽ khắc phục phần nào những khó khăn khách quan
và chủ quan, tạo điều kiện phát triển nghề dệt thổ cẩm, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân và cho cả nền kinh tế địa phương
Trang 6PHẦN DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Trên dải đất hình chữ S của Việt Nam ta có đến 54 dân tộc anh em cùng sinh sống lâu dài với nhau Trong quá trình cộng cư này đã diễn ra sự giao lưu, tiếp xúc văn hoá giữa các dân tộc Tuy nhiên, mỗi dân tộc dù ít hay nhiều vẫn giữ được vốn văn hoá truyền thống riêng có của mình Thổ cẩm của các dân tộc thiểu số là một ví dụ điển hình Cùng là thổ cẩm nhưng thổ cẩm của người Thái khác thổ cẩm của người Chăm, thổ cẩm Chăm lại khác với thổ cẩm Êđê, Thổ cẩm của các dân tộc đó không chỉ khác nhau về hình dáng, kích thước mà cả về chất liệu và hoa văn trang trí trên đó Nhưng với xu hướng hội nhập của nền kinh tế thị trường như hiện nay, nếu chúng ta không có biện pháp thích hợp thì nét văn hoá đặc sắc này có thể sẽ bị mai một, bị biến dạng, không còn giữ được cái vốn có, riêng
có của chính nó ở mỗi dân tộc.Vì thế, việc bảo tồn và phát huy nét văn hoá đặc sắc này nói riêng văn hoá dân tộc nói chung là một vấn đề rất quan trọng Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ Tám đã xác định: “Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc
tế phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc Khai thác và phát
triển mọi sắc thái và giá trị văn hoá nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước ta, tạo ra sự
thống nhất trong đa dạng và phong phú của nền văn hoá Việt Nam” Do đó, khi chúng tôi
chọn nghiên cứu đề tài “Thổ cẩm Êđê- thực trạng và giải pháp” là nhằm làm thỏa mãn lý do này, đồng thời cũng muốn xác định vị thế của thổ cẩm Êđê trong không gian văn hoá Việt Nam
Trang 72 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu về “thổ cẩm Êđê” là nghiên cứu văn hóa tộc người Êđê vì văn hóa tộc người bao gồm những thành tố văn hóa đặc trưng của một tộc người, để phân biệt tộc người này với các tộc người khác, cụ thể là nghiên cứu về nghề dệt thủ công truyền thống
của người Êđê Theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh năm 2000, trang 1744, thổ cẩm là một thứ hàng nhiều màu, có hoa văn do đồng bào thiểu số dệt bằng khung cửi
ở địa phương (Thổ: đất hay địa phương, cẩm: gấm) Mục đích đầu tiên mà đề tài hướng đến là trình bày khái quát các đặc điểm của thổ
cẩm Êđê và các khâu trong quá trình sản xuất thổ cẩm Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng khảo sát các yếu tố văn hóa truyền thống trong thổ cẩm Êđê và những biến đổi của nó trong
xã hội hiện đại
Tuy nhiên, một đề tài ngoài ý nghĩa khoa học thì ý nghĩa thực tiễn, cải tạo và đưa ra những giải pháp cũng là vấn đề quan trọng Trong Đại hội lần thứ IX của Đảng, Đảng ta đã đưa ra quan điểm về việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc để
“Việt Nam ta có một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc” Nền văn hóa đậm đà bản sắc này không thể không tính đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các tộc người thiểu số Việc nghiên cứu tìm hiểu các tộc người thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là những giá trị văn hóa truyền thống của họ có một ý nghĩa thực tiễn quan trọng Do đó, mục đích thứ hai của đề tài là tìm hiểu những thực trạng và giải pháp để thổ cẩm Êđê có thể phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cũng như góp phần vào việc phát triển kinh tế địa phương
1.Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Tám Nxb Chính trị quốc gia, H.1996,tr.5.
Trang 8- Nghiên cứu các đặc điểm của thổ cẩm Êđê và các khâu trong việc làm thổ cẩm như:
nguyên liệu, công cụ dệt, kỹ thuật, màu sắc, hoa văn và đồng thời cũng tìm hiểu thổ cẩm Êđê trong đời sống sinh hoạt xã hội cộng đồng
- Khảo sát thực trạng và kiến nghị một số giải pháp cho thổ cẩm Êđê
3 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Thổ cẩm là đề tài nghiên cứu hấp dẫn từ lâu đã được các nhà nghiên cứu nhân học,
văn hóa quan tâm đến Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu gần đây như: “Textiles
of the Central Highlands of Vietnam”, của Micheal C Howard và Kim Be Howard
xuất bản ở Bangkok năm 2002 Công trình này khái quát lên nghề dệt của một số dân tộc ít người
và sản phẩm của nó trong đời sống xã hội “Textiles of Southeast Asia: tradition, trade and transformation” của tác giả Robyn Maxwell do Australian National Gallery phát hành năm
2003 Nghiên cứu này nêu sơ lược lịch sử hình thành và phát triển ngành dệt của các dân tộc ở Đông Nam Á Từ đó, công trình nghiên cứu này cũng khảo sát thực trạng ngành dệt
và kinh doanh của nó trước thách thức của kỷ nguyên toàn cầu hoá như hiện nay “Though the thread of time southeast Asia textiles” của tác giả Jane Puranananda trong Hội thảo
khoa học do quỹ James H.W Thompson Foudation tài trợ được tổ chức ở Bangkok năm 2004, trình bày về ngành dệt của các nước Đông Nam Á qua các thời kỳ,…
Trang 9Ngoài ra, những nghiên cứu trong nước về thổ cẩm cũng có thể kể đến như: “Hoa văn
thổ cẩm miền Bắc Việt Nam” của Diệp Trung Bình do Nxb VHNT phát hành tại Hà Nội
năm 1997 “Hoa Văn Mường” của Trần Từ do Nxb Văn hóa Dân tộc Hà Nội xuất bản năm
1978 “Nghề dệt của người Thái Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại” của Nguyễn Thị Thanh Nga do Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội in năm 2003 “Nghề dệt Chăm truyền thống” do Tôn
Nữ Quỳnh Trân chủ biên được Nxb Trẻ phát hành năm 2003,…
Có thể nhận thấy rằng, đa số các nghiên cứu về thổ cẩm trong nước là nghiên cứu về
thổ cẩm Chăm và thổ cẩm của một số tộc người ở phía Bắc Các nghiên cứu hay chuyên khảo về thổ cẩm Êđê cho đến nay vẫn chưa được tìm thấy nhiều Liên quan đến thổ cẩm
Êđê, có thể thấy nhắc đến trong sách của Từ Chi “Một lần tiếp xúc hoa văn Thượng”; một phần trong sách của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, xuất bản năm 1998; “Hoa văn cổ truyền Đăk Lăk” của Chu Thái Sơn do Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội phát hành năm 2000;
Bùi Văn Vượng, “Các làng nghề truyền thống Việt Nam” của Nxb Văn hoá Thông tin năm
2002 và một số bài viết khác đăng trên các báo như Sài Gòn Giải Phóng, trên các website nhưng tất cả chỉ dừng lại ở phạm vi mô tả khái quát hay nêu thực trạng
Nhắc đến Tây Nguyên-Trường Sơn, ngoài cồng chiêng và sử thi thì một nét văn hóa khác mà không thể không nhắc đến là văn hoá thổ cẩm của các tộc người bản địa, trong đó nổi bật là thổ cẩm Êđê Thế nhưng, rất tiếc là các công trình nghiên cứu về thổ cẩm của người Êđê hiện nay chưa nhiều và chưa đi sâu Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Thổ cẩm Êđê:
thực trạng và giải pháp” ra đời với mong muốn góp phần nhỏ vào việc giới thiệu nét văn hóa đặc sắc này
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về thổ cẩm Êđê là nghiên cứu về một đặc trưng văn hóa của một tộc người Do vậy, phương pháp nghiên cứu được chú trọng trước nhất là phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học tại địa bàn sinh sống của người Êđê Với phương pháp này, tác giả đã sử dụng nhiều hình thức như: quan sát trực tiếp đời sống dân tộc Êđê, hỏi chuyện, phỏng vấn, ghi chép, chụp ảnh,…tại địa bàn nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu điền dã theo điểm đã được lựa chọn (phương pháp điểm) Địa bàn nghiên cứu được chọn là các buôn của người Êđê cư trú, cụ thể là buôn Phê và buôn Puăn A, xã Êa Phê, huyện
Krông Păk- dệt thổ cẩm của đồng bào ở xa trung tâm Bên cạnh đó để có được cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng của nghề dệt thổ cẩm Êđê hiện nay, tác giả cũng nghiên cứu Buôn Ako D’hong- buôn du lịch; Buôn Alê A- một buôn đã rất phát triển nghề dệt thổ cẩm trong những năm 1999-2000; Hợp tác xã dệt thổ cẩm Dam Yi- một hợp tác xã đang phát triển hiện tại; Cửa hàng bán các sản phẩm thủ công ở trung tâm thành phố Buôn Mê Thuột, cửa hàng Y Pao và Trường đào tạo nghề Thanh niên dân tộc Các kết quả của nghiên cứu điền dã
là nguồn dữ liệu quan trọng nhất của đề tài nghiên cứu này
Ngoài các tài liệu trên, tác giả còn thu thập tài liệu, chụp ảnh từ các mẫu thổ cẩm ở Bảo tàng Buôn Mê Thuột, Đăk Lăk và những tài liệu trong các công trình nghiên cứu của những người đi trước trong các kho lưu trữ, ở các thư viện Những bài viết trên báo chí và trên website có liên quan đến thổ cẩm Êđê cũng là nguồn tài liệu mà tác giả sử dụng để nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thổ cẩm Êđê, thổ cẩm Êđê được xem xét trong mối
tương quan với thổ cẩm của các tộc người khác, những tộc người được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử, văn hóa-tộc người có nhiều nét tương đồng nhưng cũng
có nhiều khác biệt Vì thế phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp nghiên cứu loại hình
học cũng được sử dụng để phân loại, tìm ra những đặc điểm chung, những đặc điểm khu biệt của chúng để từ đó xác định những bản sắc riêng của thổ cẩm Êđê
Trang 11Ngoài những phương pháp nói trên, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp
mô tả, phân tích, và tổng hợp để hoàn thành bài nghiên cứu này
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài nghiên cứu về thổ cẩm Êđê hy vọng sẽ cung cấp cho người đọc các thông tin đầy đủ và có hệ thống về nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Êđê Qua
đó, người đọc có thể hiểu rõ hơn về văn hóa của tộc người Eđê trong quá khứ và hiện tại
- Kết quả nghiên cứu này có thể sẽ là nguồn tham khảo cần thiết và hữu ích cho sinh viên các ngành văn hóa, mỹ thuật,… và những ai quan tâm đến văn hóa thổ cẩm của các tộc người thiểu số
5.2 Ý nghĩa khoa học
- Phương pháp nghiên cứu về thổ cẩm Êđê có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc
nghiên cứu các ngành nghề thủ công khác, đặc biệt của các tộc người thiểu số ở Việt Nam cũng như ở các nước khác
- Thực trạng và giải pháp của đề tài đưa ra có thể làm cơ sở đắc lực góp phần vào việc phục hồi và phát triển ngành thủ công truyền thống ở nước ta và một số nước khác
Trang 126 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục hình ảnh đề tài nghiên cứu được kết cấu
thành các chương sau:
· Chương 1 Khái quát chung về người Êđê
· Chương 2 Nghề dệt thổ cẩm của người Êđê
· Chương 3 Thực trạng và giải pháp cho thổ cẩm Êđê
Trang 13CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI ÊĐÊ
1.1 Nguồn gốc của người Êđê
Môi trường sinh tồn của người Êđê từ xưa đến nay vẫn là miền cao nguyên đất đỏ giàu có nằm ở trung tâm cao nguyên, giữa Gia lai, Kom Tum ở phía Bắc và Lâm Đồng ở phía Nam Có
nhà nghiên cứu giải thích tộc danh Êđê mang ý nghĩa là “những người sống dưới tán rừng tre vàng”, nhưng lại có kiến giải khác cho rằng nó có ý nghĩa là “con người của thượng đế” (thần Aê
Du, Aê Diê) Song, nếu tìm hiểu tập quán đặt tên đất, tên các dòng họ, các nhóm địa phương của người Êđê thì tộc danh Êđê phải hòa nhịp với những truyền thống mẫu hệ mới đúng Có lẽ đó là tên một dòng sông, rồi thuật ngữ Ea Đê (sông, suối Đê) đã chuyển thành Êđê chăng? Con sông này cho đến nay vẫn còn mang tên Ea Đê trên bản đồ sông suối của tỉnh Đăk Lăk- một dòng chảy thuộc huyện Krông Buk ngày nay
Êđê l một nhóm người nĩi ngôn ngữ Mã lai – Đa đảo (Malayo-polinesia)
cư trú lâu đời ở khu vực Trường sơn - Tây nguyên Nhóm người này cũng thường được gọi với một số tên khác nữa như: Rađê, Rhađê, Anăk Êđê, Đê, Êgar,
Ở Việt Nam, cùng ngữ hệ với nhóm người này còn có các dân tộc khác như Chăm, Giarai, Raglai và Churu m khu vực cư trú của nó cũng không xa so với khu vực
cư trú của người ÊĐê Ở khu vực Đông Nam Á, nhóm ngôn ngữ này phân bố rất rộng,
có mặt ở hầu hết các nước, và có một quá trình phát triển tộc người lâu dài
Theo một số nhà nghiên cứu, hệ ngôn ngữ này được hình thành vào khoảng thiên niên kỉ thứ II trước Công nguyên Còn về địa bàn cư trú đầu tiên của cư dân Malayo- Polinesia, có ý kiến cho rằng, họ chính là cư dân nói ngôn ngữ Malayo – Polinesia di cư từ
Trang 14thế giới đảo vô đất liền Nhưng có ý kiến khác cho rằng, những cư dân ny được hình
thành tại vùng Đông Nam ven biển Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay Cùng với chính sách bành trướng của nhà Hán, sản xuất phát triển và dân số tăng nhanh đã dẫn đến việc di
cư xuống phía nam của tổ tiên cư dân này, theo nhiều đợt và nhiều con đường khác nhau
Một bộ phận đi “dọc theo bờ biển Trung Quốc và Việt Nam Người Chăm dừng lại ở đây rồi đến miền Tây Inđônêxia, từ đó đi về phía Đông và Đông Bắc đến Philippin” Một bộ phận khác “qua Đài Loan sang Philippin rồi từ đó sang Inđônêxia sang Đông Dương”
Theo số liệu điều tra dân số năm 1989, người Êđê ở Việt Nam tổng số dân
là 194.710 người và đến năm 1999 là 270.348 người Người ÊĐê cư trú tương đối tập trung
ở các tỉnh Đăk Lăk, Gia Lai, Khánh Hoà, Phú Yên Tổ tiên của người Êđê đã di cư từ khu vực ven biển miền Trung lên khai phá vùng cao nguyên Đăk Lăk nên nơi đây được xem là địa bàn cư trú đầu tiên của họ Cho đến nay, dân tộc Êđê có khoảng 20 chục ngàn người
và bao gồm hàng chục nhóm địa phương như: Êđê Kpa (ở Buôn Ma Thuột), Dliê Ruê (Krông Ana), Blô (Mđrắc), Trong những nhóm trên, Êđê Kpa được mệnh danh là Êđê chính dòng với địa bàn phân bố là vùng Buôn Ma Thuột và một phần huyện Krông Buk ngày nay (Buôn Hồ cũ) Ngoài ra, người Êđê còn sinh sống tại Stungteng – Campuchia, với số dân là 15.000
người, chiếm 0,2% trong tổng số cư dn của nước này
1
2
Ngô Đức Thịnh, Dân tộc Êđê, trang 7
Các dân tộc ở Đông Nam Á, Nguyễn Duy Thiệu, Nxb Văn hoá Dân tộc – Hà Nội, 1997,trang 127
Trang 151 2 Sinh hoạt kinh tế
Trong sinh hoạt kinh tế, người Êđê lấy kinh tế trồng trọt làm gốc, trong đó việc trồng lúa có tính chất quyết định cuộc sống của người dân Trong nông nghiệp nương rẫy thì việc chọn đất canh tác là khâu quan trọng hàng đầu Những sườn núi có rừng già hoặc các triền đồi đất đỏ bazan là nơi người Êđê thường tìm đến nhất Các nhóm người Êđê nói chung thường khai phá ở những khu đất bằng phẳng, cạnh sông, suối và khe nước, riêng ở phía
Tây làm nương trên những cánh rừng Xavan gọi là Hma Hdrah còn ở những vùng trung
tâm tỉnh thì làm nương trên các đồi tranh Đất trồng ở đây không hẳn là ruộng nước mà cũng không hẳn như rẫy, loại đất này là kiểu ruộng khô Tuy nhiên, ngày nay người dân Êđê không phải cuốc đất và đợi trời mưa rồi mới trồng tỉa như trước kia mà họ đã biết làm
hệ thống kênh thuỷ lợi để phục vụ cho sinh hoạt kinh tế Vùng trồng tỉa thứ hai là vùng đất rừng, ở đây gọi là rẫy du cư Người ta chọn đất trong rừng, trồng tỉa 1- 2 năm rồi bỏ đi tìm nơi khác lm rẫy mới Khoảng trên 10 năm, lúc này đủ tái sinh họ có thể quay lại phát đốt
Ngoài lúa là cây lương thực chính, trên nương rẫy của đồng bào còn có ngô, khoai, bầu bí, dưa hấu, dưa chuột, hành, ớt,… được trồng xen canh với lúa Người Êđê còn trồng xen canh cây bông với cây lúa và trồng cả cây công nghiệp là cà phê Công cụ sản xuất thô sơ, phổ
biến là rìu, kpă (lưỡi dao có mỏ quắm hay không quắm, tra cán tre), wăng briêng (cuốc nhỏ), wăng cuốc (cuốc bàn), wăng wit, hewar (cào đứng), gậy chọc lỗ không có mũi sắt để
tra hạt, liềm, gùi,… trong đó cuốc là công cụ chủ yếu
Ngoài trồng trọt, để tăng nguồn thu nhập, chăn nuôi cũng là hoạt động kinh tế Không kém phần quan trọng của đồng bào Êđê Họ nuôi khá nhiều gia cầm như gà, vịt, … và gia súc như trâu, bò, lợn,… Chăn nuôi trâu bò khá phổ biến trong các hộ gia đình vì ngoài cung cấp nhu cầu sức kéo phục vụ cho hoạt động nông nghiệp, nuôi bán để kiếm thêm thu nhập thì trâu bò còn được sử dụng trong các nghi lễ, cúng bái và cả biểu tượng cho sự giàu có của một gia
Trang 16đình Trước đây, việc săn bắt và thuần dưỡng voi rừng cũng khá phổ biến trong cộng đồng của người Êđê, tuy nhiên hiện nay hoạt động này chỉ còn duy trì ở một vài buôn nhất định,
có thể nói đến là buôn Đôn
Sống giữa môi trường thiên nhiên, vì vậy sinh hoạt của người Êđê không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn biết khai thác từ thiên nhiên Vì thế nhiều nơi, việc lấy mật ong rừng cũng là một nguồn lợi đáng kể Ngoài ra, săn bắt thú rừng, đánh bắt cá cũng là những hoạt động thường xuyên, phổ biến
Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số, thì hoạt động kinh tế không thể không
nhắc đến nghề thủ công truyền thống Do vậy, các nghề thủ công truyền thống cũng là hoạt động kinh tế quan trọng của người Êđê mà phần lớn do những người phụ nữ trong gia đình đảm nhận nghề rèn, làm bát đồng, đan lát, làm nón, dệt chiếu và đan chài, chũm, làm các phương tiện đánh cá,… sản phẩm của thủ công ny cung cấp công cụ lao động và vật dụng hàng ngày cho gia đình cũng như cho cộng đồng Trong đó, nghề dệt được xem là nghề phổ biến trong các gia đình và cũng là nghề quan trọng nhất của cộng đồng Công việc này thường là do những người phụ nữ đảm nhận và nghề này cũng được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá tài năng, phẩm hạnh của người phụ nữ Vì vậy, người phụ nữ dệt vải giỏi sẽ là rất danh dự cho gia đình và là điều kiện để
có người chồng khá
1 Bế Viết Bằng, Chu Thái Sơn, Vũ Thị Hồng, Vũ Đình Lợi, Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Đăk Lawk, NXB.KHXH, Hà Nội, 1982, trang 39
Trang 171.3 Sinh hoạt văn hoá- xã hội
1.3.1 Sinh hoạt xã hội
Có thể nói toàn bộ xã hội của người Êđê được phân thành những đơn vị cơ sở là buôn
Buôn phân bố rải rác khắp các miền cao nguyên đất đỏ, nhất là vùng trung tâm và dọc theo
các trục giao thông Buôn làng cổ truyền của người Êđê vẫn là một điểm tụ cư gồm vài chục tới vài trăm nóc nhà, có khuôn viên cư trú và khai thác riêng, được cả buôn cùng các buôn khác thừa nhận và tôn trọng Buôn của người Êđê thường được lập trên một khoản đất hình chõm cầu hay một khu vực tương đối bằng phẳng ở gần nguồn nước tự nhiên Buôn gồm những ngôi nhà sàn dài ở hai bên con đường qua thôn, những ngôi nhà này thường có cửa chính hướng ra đường Mỗi buôn của người Êđê thường mở hai cổng chính chặn trên đường xuyên qua buôn để khi trong buôn có lễ cúng chung hoặc khi trong vùng có dịch bệnh thường được đóng lại, ngăn cấm người ở trong đi ra và người ở ngoài đi vào Dưới
buôn có thể có những đơn vị cư trú nhỏ hơn, gọi là alu (như xóm của người Việt) Hiện nay,
cách bố trí trong các buôn đã thay đổi so với trước kia, nó gần giống với các làng quê của người Việt, các ngôi nhà nằm xen giữa các vườn cà phê, cửa quay ra phía con đường chạy ngang, dọc trong buôn
Nhà sàn Êđê thường có hai đầu nhà theo hướng Bắc - Nam, hướng này giúp cho nhà che đỡ được những luồng gió lùa Đông Bắc, Tây Nam, không bị nắng xối qua trục Bắc Nam mà các phòng lại được tiếp nhận ánh sáng một cách điều hòa Vào mùa mưa, hướng này cũng giúp cho các nhà sàn tận hưởng được sức nóng của mặt trời để sấy phòng, hạn chế sự ẩm ướt Cấu trúc ngôi nhà chia làm hai phần theo chiều ngang Từ cửa chính đi vào
khoảng 1/3 hay 2/3 chiều dọc là Gah, còn lại là Ôk Gak là nơi đón khách và là khu vực dành cho mọi sinh hoạt chung của gia đình, còn ôk là chổ ở riêng của các cặp vợ chồng
cùng con cái của họ Những cây cột trong nhà thường được chạm khắc bằng những hình nồi bung, đôi bầu sữa, đôi ngà voi, hình trăng non và hình kỷ hà và một số mẫu thêu truyền
Trang 18thống trên vải Phía sau nhà dài là kho lúa (h’juê) cũng làm bằng gỗ, tranh, tre, nứa Kho chứa lúa thường cao hơn nhà sàn ở và có dạng hình vuông nhưng chỉ có hai mái Các kho hiện nay đang bị mai một dần, thậm chí nhiều nơi đã mất hẳn Còn các ngôi nhà sàn thì ngày càng ít, thay vào đó là những ngôi nhà trệt, tường xây, mái ngói hoặc có khi vẫn là các ngôi nhà dài nhưng có ít nhiều thay đổi như cầu thang được xây bằng gạch, mái nhà lợp ngói, lợp tôn, …
Trong quản lí xã hội, người đứng đầu chỉ huy buôn cả về quân sự và dân sự là Khoa Pin Ea Khoa Pin Ea do một gia đình hay một dòng họ của buôn đảm nhiệm và kế thừa
theo dòng mẹ (nữ) Từ thập kỷ cuối thế kỷ XIX trở lại đây, quyền hành của các khoa Pin
Ea ngay càng bị thu hẹp, chỉ còn nhiệm vụ trông coi việc cúng bến nước và các nghi lễ
chung khác Từ khi thực dân Pháp đặt chân đến vùng người Êđê thì xuất hiện nhân vật
khác là Khoa Buôn (trưởng làng) trông coi việc hành chính, thu thuế, bắt phu cho nhà nước phong kiến, thực dân,… Ngoài ra, tổ chức quản lý xã hội còn có các Pô Phat Kđi, Nê Pha Kđô đảm nhiệm xử kiện theo phong tục tập quán, tổ chức cúng bái còn có các Pơ Riu Yang,
Pagê
Ở người Êđê, quan hệ dòng họ rất chặt chẽ Trong dòng họ, người đại diện quyền sở hữu
cho tất cả về đất đai là Polăn, về giữ vật thiêng là Kuôl Tơm Người đứng đầu gia đình là người
có uy tín nhất thuộc thế hệ cao nhất là Khoa Sang, Khoa sang trông nom tài sản, hướng dẫn sản
xuất, điều hoà các quan hệ mọi mặt giữa các thành viên Quan hệ gia đình theo mẫu hệ cho ta thấy được mối quan hệ hôn nhân ở đây cũng như việc thừa kế cũng được tính theo dòng họ mẹ (nữ)
Trang 19Trong cuộc sống hàng ngày, do đặc điểm kinh tế chi phối nên thức ăn của người Êđê
đa số là cơm tẻ, cá, thịt gia súc, gia cầm và các loại rau quả khác như bầu, bí,… Điểm đặc trưng của người Êđê là nhà nào cũng có một hay nhiều ché để ủ rượu cần Rượu cần ở đây vừa là nhu cầu vật chất vừa là nhu cầu của đời sống tinh thần
Y phục của người Êđê về mặt hình thức thì nữ mặc áo ngắn hoặc dài, chui đầu; nam giới đóng khố và mặc áo dài quá mông Nam nữ đều mang đồ trang sức bằng đồng hay
bằng bạc Váy điển hình của phụ nữ là váy quấn gọi là Mtung lang, màu nền của váy là
màu chàm đen với chiều dải hoa văn bằng chỉ ngũ sắc được thêu trên nền vải chạy vòng quanh thân váy, cạp và gấu váy Căn cứ vào số lượng và chất lượng các dải hoa văn truyền
thống mà người ta chia váy quấn Êđê ra thành các loại khác nhau như: Myêng Đếch, Muêng Đrai, Myêng Kđruêch Piêk, Miêng Bơng,… Áo truyền thống của người Êđê gọi là Áo Đếch
(Đếch là tên 1 dải hoa văn chính ở phần gấu áo) Xưa kia ở vùng Krông Buk còn có loại áo được trang trí đẹp hơn áo Đếch gọi là Ao Jik Khố của đàn ông Êđê có nhiều đường hoa văn
dệt dọc theo hai bên mép vải, ở hai đầu khố có khi được đan vài dải hoa văn nằm ngang,
đẹp nhất là khố Đrai.Áo chui cổ truyền của nam giới có nền màu chàm sẫm, hoa văn được thêu trên nền vải dọc theo hai bên nách, gấu áo, vai và cổ tay Áo có giá trị nhất gọi là Áo Ktếch hay là như của nữ, đường hoa văn chủ yếu và nổi bật là đường hoa văn chạy dọc hai
bên nách và đường hoa văn nằm ngang dưới gấu áo Những bộ trang phục này hiện nay ít được sử dụng ngay cả trong những ngày cưới, thay vào đó là các trang phục chu Âu Còn đối với người già thì họ vẫn còn cất giữ nhưng chỉ sử dụng khi có lễ hội
Ngôi mộ của người Êđê thì được lm theo hướng Đông-Tây, ngược lại với nhà ở của người
sống Tại nghĩa địa (msát), trên mỗi ngôi mộ đều có một nhà mộ gọi là Puk msát Đó là ngôi
Trang 20nhà trệt, hai mái, cây đòn nóc nằm theo hướng Đông-Tây Một số nơi, ngôi mộ không có nhà
mộ nhưng phía trên lại có một nhà hình thuyền bằng gỗ gọi là “nhà cơm” (sang êsei) Hiện
nay, nhà mộ phần lớn đã được xây bằng gạch đá, xi măng và cát sỏi
1.3.2 Sinh hoạt văn hóa
Về văn hoá nghệ thuật dân gian, trong điều kiện xã hội Êđê chưa phân hoá thành giai cấp, dòng văn học dân gian là dòng văn học nghệ thuật duy nhất của xã hội Văn học nghệ thuật có 3 nội dung chính là: văn chương truyền miệng, các phương tiện và hình thức sinh hoạt nghệ thuật và nghệ thuật tạo hình dân gian Các thể loại văn chương truyền miệng là truyện cổ (thần thoại, cổ tích, truyện thơ, ngụ ngôn, truyện cười), “khan” và tục ngữ, ca dao Nội dung của truyện cổ thường phản ánh sinh hoạt của con người với nhau, con người với thiên nhiên, bênh vực người yếu, ca ngợi những đức tính tốt, sự thông minh, sức mạnh cộng đồng và sức mạnh tình yêu Thể loại “khan” là thể loại văn chương lưu giữ nhiều giá trị dân tộc, đây là một loại văn vần, diễn đạt một truyện dài có tính lịch sử và chia thành nhiều chương khúc, có thể gọi là sử thi hay tiểu thuyết lịch sử bằng văn vần Ngoài ra, cũng như các dân tộc khác, người Êđê có thể loại tục ngữ và ca dao mang nhiều nội dung tươi vui, hàm súc và giàu chất trữ tình
Các phương tiện sinh hoạt văn hoá nghệ thuật của người Êđê chính là những nhạc cụ truyền thống, phổ biến và được đồng bào yêu thích hơn cả là bộ nhạc khí bằng đồng, sau đó là bằng tre nứa và nhạc cụ dây Nhạc khí bằng đồng có thể kể là cồng và chiêng Một bộ cồng có
6 chiếc, được cử nhạc bằng dùi, người đánh vào trong lòng cồng; chiêng gồm 3 chiếc, nhạc công cử nhạc bằng dùi nhưng đánh vào giữa mặt chiêng Nhạc khí bằng tre nứa là các ống sáo
gọi chung là đinh hay đàn kok, kèn môi (gôc) và tù và Các nhạc cụ này chủ yếu là dựa vào
phương thức tạo thanh nhạc bằng ống hơi, nhạc cụ tạo thanh bằng dây từ cật nứa tước mảnh
Trang 21Yap dhan trai trong đám tang, điệu múa chim grư, điệu múa chim tlang của phụ nữ, múa
khiên của nam và những trò tiêu khiển như con quay (tuôr), thả diều (hla jar), đi cà kheo, cưỡi voi, phi ngựa, bơi thuyền trên cạn từ xa xưa hay bịt mắt bắt dê (hlăp păn ală mă bê), mèo đuổi chuột ( hlă mieeo tiok
kuih) du nhập từ thời Pháp thuộc
Nghệ thuật tạo hình dân gian trước hết phải đề cập đến nghệ thuật trang trí hoa văn trên vải của phụ nữ mà ta đã quen với tên gọi là dệt thổ cẩm Ngoài ra, những trang trí khắc gỗ trên các kiến trúc nhà dài, khu mộ địa cũng là những nét trang trí đặc sắc Nghệ thuật tạo hình trên vải xin được nói đến rõ ràng hơn trong chương sau, ở đây chỉ nói về nghệ thuật khắc gỗ Môtíp quen thuộc của nghệ thuật khắc gỗ nhà dài là đôi bầu sữa, vầng trăng non, ngoài ra là đôi ngà voi, con rùa, con kỳ đà khắc nổi và một số hình kỷ hà khắc chìm là những mô típ thêu trên nền vải Còn trên những hình khắc gỗ trang trí trên thân cây
cột là gơng klao, gơng môông, gơng m’rai, gơng kút,… trên hai đầu nóc nhà mồ là chim diều
hâu, đại bàng, hình rẻ quạt Màu hoa văn chủ yếu là màu đỏ, trắng, đen và hoa văn thường là hoa văn hình học
Ngoài những nét văn hoá trên, những lễ nghi, phong tục trong chu kỳ đời sống của người Êđê cũng là một nét văn hoá đặc trưng Khi phụ nữ Êđê mang thai được 3 tháng,
thầy phù thuỷ (Mjâo) sẽ làm lễ hiến sinh một con chó, lấy máu thoa lên trán và dùng lá
xoan quét xung quanh bụng xua đuổi tà ma Đồng bào thường đẻ dưới gầm nhà sàn, sau khi
đẻ, đứa bé được tắm bằng nước nấu với lá Knăm, sản phụ thì thoa gừng và uống nhựa cây
xà păng Sáng hôm sau là lễ đặt tên (bi anăn) cho đứa bé Trong lễ này, bà đỡ lấy những
giọt sương mai thấm vào gan gà cho trẻ liếm, cùng lúc đó, bà đỡ sẽ đọc những cái tên của những người đã khuất, tên được chọn là tên đọc lên khi trẻ cười hoặc nằm yên Sau khi sinh
Trang 22
con ít ngày, người ta làm lễ Prăp yun để cúng linh hồn đã nhập vào đứa trẻ Trong lễ này,
nếu là con trai sẽ được cha làm cho đồ chơi là cung tên, nỏ, đao, … còn con gái sẽ được làm cho xa quay sợi, khung dệt vải, gùi, … Trong 5 năm đầu, tên thật của các đứa trẻ này ít được gọi để tránh tà ma ám hại, khi trẻ được 5 tuổi thì được dạy những nghề truyền thống như đi săn bắn đối với con trai và dệt vải, may quần áo đối với con gì
Đến 15-16 tuổi thì trai gái đều làm lễ cà răng, cà 6 chiếc răng của hàm trên, sau lễ cà răng thì mỗi người sẽ được nhận một chiếc vòng tay có khắc kí hiệu bí mật để tìm kiếm người yêu Ở người Êđê, phụ nữ đi hỏi chồng, những lễ nghi đầy đủ của một đám cưới bao
gồm: lễ đính ước (Mchuốp), lễ đưa vòng hay lễ hỏi chồng (Emuh tingmô), trước lễ cưới
thường có tục “gởi dâu” để thử thách lòng chung thủy, nết na của phụ nữ, nếu nàng dâu bị
từ chối thì nhà trai sẽ làm lễ trả lại nhà gái (Mtruth) Còn nếu nàng dâu được chấp nhận thì
sẽ làm lễ rước rể (Tu han) về nhà hay lễ cưới (Kpih ung mô) Phần chính của lễ cưới là lễ cam kết (Bikuôl) và lễ cúng tổ tiên nhà gái (phát atâo), trong đám cưới còn có tục “té nước” vào chú rể Ngoài ra, đối với chú rể còn có tục “về thăm” (Wít chua) hay “về lấy dụng cụ sản xuất” (Wít mă Wăng kgă) Theo phong tục, vợ chồng có thể bỏ nhau trong các
trường hợp một trong hai người bất lực, ngoại tình, nhưng phải bồi thường như giao ước lúc đầu đối với nữ cũng như phải rời khỏi nhà vợ với những dụng cụ sản xuất và tư trang cá nhân đối với nam Ngoài ra, trong quan hệ hôn nhân của người Êđê, tập quán pháp không
cho phép những người cùng họ mẹ lấy nhau Bên cạnh đó là tục nối nòi (cuê nuê) khi người
vợ hay chồng bị chết, tục này được tiến hành ngay sau khi có tang, lúc thi thể còn quàng tại nhà Sau lễ này, tài sản và quyền thừa kế chuyển sang người thay thế Các nghi lễ này hiện nay cũng đã bị mai một nhiều như tục cà răng đã hoàn toàn bị loại bỏ và lễ đưa vòng đã bị thay thành việc trao nhẫn trong lễ cưới
Trang 23Khi gia đình Êđê có người chết, tang gia đánh một hồi trống báo hiệu cho người trong
buôn biết Nghe tiếng trống, cả buôn kéo đến giúp tang gia lo liệu ma chay, mọi người trong buôn đều mang đến gói cơm, quả trứng làm quà tặng người đã khuất Có những nhà còn mang đến gạo, rượu, cà hay cả heo, trâu để điếu phúng Nhân dịp này, các nhà có người vừa mất và
còn giữ mã (djă msát) mang tới đồ ăn, thức uống để gởi người vừa tắt thở mang cho người thân
ở thế giới bên kia Trong lễ tang, tang chủ lấy một ché rượu cột ở phòng khách và giết một con
gà nhỏ làm lễ cúng linh hồn người chết (Chi ko atâo)
Người Êđê kiêng việc làm sẵn quan tài Chiếc quan tài của người Êđê có hình dáng nhà sàn, đầu bao giờ cũng to hơn cuối từ 10-15 cm Trên đỉnh nóc, phía đầu áo quan, gắn
mô hình con diều hâu tượng trưng cho linh hồn người chết Xung quanh áo quan vẽ các hoa
văn kỷ hà và hình hoa êrang bằng máu các con vật hiến sinh hoặc bằng nhựa cây nhăo (Ao
quan hiện nay đã được sử dụng theo kiểu đóng sẵn của người Việt) Làm xong áo quan,
người ta liệm thi hài vào ngay, trước đó làm lễ cúng linh hồn người chết (ngă yang atâo)
một lần nữa Những dụng cụ cỡ nhỏ của người chết đã dùng như điếu, nhạc cụ, đồ trang sức,… cũng được bỏ vào áo quan Khi đưa ma, người ta thường đem theo hai con gà, một gà
mẹ và một gà con Lúc hạ huyệt gà mẹ được thả xuống để làm tài sản cho người chết về
thế giới bên kia, gà nhỏ thì khi chôn cất xong sẽ thả cho nó chạy vào rừng làm lễ Biktlak
tượng trưng cho sự giải thoát của linh hồn
Sau khi mai táng, chiếc cầu thang lên xuống hàng ngày được thay bằng một cầu thang mới làm sơ sài, hết hạn tang mới đưa cầu thang cũ ra dùng Ba ngày sau khi mai táng, tang gia
lấy một ché rượu làm lễ xoá cữ (woa kpih ấy) và các thành viên nhà dài trở lại sinh hoạt bình
Trang 24thường Trước kia, những gia đình khá giả thường có tục giữ mả (djămsat), trong thời gian đó,
thân nhân phải đem cơm, rượu đổ vào ống cơm ở mộ và mỗi tháng một lần làm lễ cúng vong
hồn người chết Lễ bỏ mả (Mnăm lui msat) được tiến hành long trọng như tang lễ Sau khi làm
lễ bỏ mả, người chết được coi như đã nhập hoàn toàn vào thế giới tổ tiên
Trang 25Chương 2
NGHỀ DỆT THỔ CẨM CỦA NGƯỜI ÊĐÊ Ở ĐĂK LĂK
Nghề dệt thổ cẩm là nghề thủ công truyền thống của người Êđê Thổ cẩm Êđê hôm
nay đã trở nên khá nổi tiếng ở Đăk Lăk, là một trong những sản phẩm độc đáo của vùng đất đa dạng, phong phú về văn hoá, Trường Sơn - Tây Nguyên Thế nhưng để tìm hiểu về nghề dệt thủ công truyền thống này thì không phải là điều dễ dàng Bởi lẽ, những tư liệu
ghi chép về vấn đề này hầu như còn rất ít hoặc không có, nếu có chỉ là những dạng tư liệu truyền miệng, về sau mới được ghi chép lại Trong đó, tìm thấy hai truyền thuyết đề cập đến sự xuất hiện nghề dệt thổ cẩm của người Êđê
Truyền thuyết thứ nhất kể rằng: Ngày xưa có một gia đình có 7 anh em, 6 nam 1 nữ
Gia đình rất nghèo nên Dam Yi - người con thứ hai của gia đình cùng Dam Ram -người em thứ ba vào rừng tìm thức ăn Khi hai anh em đi vào rừng thì phát hiện ra cây có bông trắng
và đem về trồng Sau một thời gian, Dam Yi đã biết cách lấy hạt bông ra, vo lại cho tròn và cuối cùng là kéo ra thành sợi để làm nguyên liệu dệt vải Sau đó, cũng chính Dam Yi đi vào rừng chặt cây, ngâm thử để biết cây nào cho ra được màu nào Theo chị H’Der Ayŭn chủ nhiệm Hợp tác xã thổ cẩm Buôn Mê thuột thì truyền thuyết này rất dài, kể cuộc đời của nhân vật Dam Yi Đây là truyền thuyết nói về sự xuất hiện của nguyên liệu và màu sắc của nghề dệt thổ cẩm truyền thống
Trong khi đó thì truyền thuyết thứ hai đề cập đến những mẫu hoa văn trang trí trên vải
của người Êđê Xưa kia, ở một làng trên cao nguyên của người Êđê có hai bà cháu sống cùng với nhau Bà là Duôn Sun và cháu trai là Y Rít Họ rất nghèo khổ, phải làm lụng vất
vả để kiếm sống Vào những lúc rảnh rỗi, bà cặm cụi ngồi bên khung dệt, cháu chăm chỉ ngồi đan những đồ gia dụng Trong lúc dệt, bà sáng tạo ra những dải hoa văn với màu sắc rực rỡ làm tăng giá trị của từng khổ vải Đôi khi đó là hoa quả trên rừng, có lúc lại là con
Trang 26chim, thú rừng, rồi những công cụ lao động, những thao tác lao động của con người, lần lượt hiện ra trên những tấm vải màu khi bà giăng sợi ngang, luồn sợi dọc Y Rít cũng tạo ra trên đồ đan của mình những mẫu hoa văn hình học thật đẹp mắt Nhưng một vị thủ lĩnh
(Mtao) giàu có và có thế lực trong vùng đã đem đốt tất cả đồ đan và dệt của hai bà cháu, vì
cho rằng chỉ có “ma lai” mới làm được những vật dụng đẹp như vậy Hay tin, dân làng kéo tới xem và cũng là lúc tất cả đã cháy thành tro Nhưng dù đã thành tro nhưng những mẫu hoa văn của hai bà cháu vẫn thấp thoáng hiện ra, khi mờ, khi tỏ Dân làng cố nhớ những hoa văn đó để học tập hay truyền lại cho người khác Họ không chỉ thể hiện những mẫu hoa văn đó trên vải, trên đồ đan mà còn khắc lên cả cột nhà, ghế độc mộc, cán dao, ống đựng tên, điều này lí giải vì sao ngày nay hoa văn lại được tìm thấy trong hầu hết các vật dụng thường ngày của người Êđê
Dù chỉ là truyền thuyết nhưng ở mức độ nào đó, chúng đã chứng minh được nguyên liệu chủ yếu của nghề dệt thổ cẩm Êđê truyền thống là cây bông vải, thuốc nhuộm được lấy từ cây củ trong rừng Đồng thời cũng phản ảnh được những mô típ hoa văn truyền
thống, quen thuộc trên vải của người Êđê như: về động vật, thực vật (Đêc mnga wăt – dải cánh hoa wăt, boh rui – quả rui, čim ruôi – chim dang cánh, ), về sinh hoạt nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng (kwak cing– dây treo chiêng, knuak – móc xích treo nhạc cụ, gong kút – cột nhà mồ, ), về sinh hoạt kinh tế (mngatơi – hình hoa ngô, boh dêh – co chỉ, kưi hna –
bẫy nỏ, )
Trang 272.1 Nguyên liệu
Nghề dệt thổ cẩm truyền thống ngoài nguyên liệu dùng để dệt vải còn có nguyên liệu
để nhuộm màu vải
2.1.1 Kỹ thuật tạo sợi
Các tài liệu thành văn chưa nhiều nhưng cũng đủ xác nhận thực tế tồn tại, phát triển các nguyên liệu sơ sợi Trong đó, các nguyên liệu chủ yếu của nghề dệt là đay, gai - đây là những nguyên liệu có gốc bản địa còn nguyên liệu là cây bông thì xuất hiện muộn hơn Có ý kiến cho rằng cây bông du nhập từ Ấn Độ và đã trở thành cây nguyên liệu cho nghề dệt Việt Nam từ thời Đông Sơn Trong các sách Di vật chí (thế kỷ I) và Ngô lục địa lý chí (đầu thế kỷ IV) có ghi chép về việc trồng bông ở Cửu Chân (Trung bộ ngày nay)
Từ xa xưa, nguyên liệu trên tấm choàng che thân thô sơ của người Êđê là vỏ cây dày, đàn hồi tốt, nhiều sợi Vỏ cây này được đem ngâm nước, gi nhỏ rồi cán để kéo sợi dệt vải Tuy nhiên, nguyên liệu dệt phổ biến xưa kia của nghề dệt thổ cẩm là bông vải (k’pah) Bông được trồng ở nhiều nơi cả nơi đất thổ và đất rẫy nhưng phát triển tốt nhất trên loại đất
xốp, có nhiều mùn ở nương hay trong vườn nhà Cây bông vải thích hợp với khí hậu khô thuộc vùng khí hậu Savana Một lần trồng bông có thể thu hoạch từ 2-3 năm Thời gian từ ngày tra hạt đến lúc thu hoạch phải qua 4 đến 5 tháng nhằm vào lúc những ngày khô ráo Bông, vì thế, được trồng vào tháng 2-3, thu hoạch vào tháng 6-7 (âm lịch) Theo tập quán, đồng bào chọn ngày tốt để gieo hạt bông, đây là những hạt bông được chọn lọc qua các vụ trước Khi bông lên cao khoảng 20-30 cm thì làm cỏ đợt đầu Sau đó 1 tháng làm cỏ đợt hai, tỉa bớt cây nhỏ, cây mảnh Khoảng hơn 3 tháng tuổi, cây mọc cao khoảng 50-60 cm là
Trang 28bắt đầu ra hoa kết quả Đồng bào chờ khi quả nở bung là bắt đầu thu hoạch Bông nở thành từng đợt, thường đợt đầu là quả to Khi thu hoạch, quả bông được hái bằng tay và để dễ rút sợi thì đồng bào sẽ chọn những quả tốt, loại bỏ quả xấu, hỏng Bông xe sợi phải là bông trắng, loại bỏ bông đen, hỏng
Để được sợi chỉ theo đúng quá trình thao tác truyền thống, người thợ dệt phải qua 6 khâu tiếp theo là tách hạt, bật bông, kéo sợi, giặt sợi, hồ sợi và chải sợi
Tách hạt (kmêc kpah- Hình 4): bông vải mới hái về hãy còn ẩm ướt, bên trong đang có hạt
Người thợ bỏ lá, đem phơi một hoặc hai nắng cho hanh khô, tối ủ lại cho ấm để tách hạt vì chỉ
khi nào bông ấm thì mới tách được hạt ra Sau đó, người thợ dùng dụng cụ cán bông (mtăk) (Hình 3) để tách hạt Dụng cụ để tách hạt là một cái giá được làm hai thanh bằng go đứng cao
khoảng 50 cm được cố định bởi một thanh gỗ phía dưới và hai thanh gỗ phía trên đặt sát nhau Đầu ngoài của 2 hai thanh gỗ tròn có rãnh xoắn, khi quay các rãnh xoắn sẽ làm khít hai trục quay theo qui tắc hai trục song song quay ngược chiều, trục dưới nối với tay quay Khi quay, trục dưới cuốn trục trên xoay theo hướng ngược chiều bởi răng cưa hoặc rãnh Thường người ta quay theo chiều kim đồng hồ, hạt rơi phía mặt trong còn đóa bông được cuốn qua phía bên kia Những hạt bông bật ra khỏi quả được lựa chọn và cất giữ cẩn thận để gieo hạt vào vụ sau Dụng
cụ bật bông này giống với dụng cụ bật bông của người Chăm Ninh Thuận
Bật bông (kbec kpah- Hình 5): khi đã có bông sạch, người ta tiến hành bật bông để
bông tươi xốp và cuốn bông thành những con bông trước khi kéo sợi Cũng giống như dụng
cụ bật bông của người Thái Tây Bắc, dụng cụ bật bông của người Êđê là một cái cần và một sợi dây Cần là một thanh gỗ vừa chắc, vừa dẻo, ở giữa hình trụ, hai đầu vót nhọn đảm bảo độ bật và dây thường làm bằng sợi gai Bông được trải trên một mặt phẳng, người bật bông một tay cầm chắc cần, một tay bật cho dây đánh vào các lớp bông Để kéo thành sợi
Trang 29dễ dàng, bật bông xong người thợ cuốn thành từng con bông Dụng cụ cuốn bông là miếng
gỗ hình chữ nhật 20 x 30 cm và một que nhỏ vót tròn như que đan len Khi cuốn người thợ trải bông lên trên mặt gỗ, đặt que nhỏ lên trên bông và lăn cho bông cuốn xung quanh, rồi rút que ra là được một con bông, mỗi con dài chừng 20-30 cm, rỗng ruột Các con bông này được giữ cẩn thận vì đây là khâu rất quan trọng ảnh hưởng đến việc hoàn thành các công đoạn sau Bông bị ướt thì sẽ dính vào nhau, không kéo được còn nếu bị cháy thì sợi sẽ ngắn
và đứt liên tục
Kéo sợi (awak kapah- Hình 6): đây là qui trình khá phức tạp Người thợ phải kéo sợi
thành hai loại sợi, một loại to khoảng 0,3 cm để giăng sợi dọc và loại nhỏ hơn 0,3 cm để đan sợi ngang trong quá trình dệt Dụng cụ dùng để kéo sợi là dụng cụ đặc biệt, dùng phương thức động lực dây chuyền để tạo vòng quay Dụng cụ kéo sợi gồm guồng quay, suốt cuộn sợi đặt trên hai đầu của một thanh gỗ và nối với nhau bằng một sợi dây “curoa” Người thợ tay phải quay guồng, tay trái cầm con bông đã được vê vào suốt Từng sợi đã được kéo thành các tay sợi lớn để tiện cho việc hồ sợi và giăng sợi vào khung dệt
Giặt sợi (baoh amral): để giặt sợi, người thợ đem ngâm sợi vào lu đất hoặc vào thau, nếu
nhà ở gần sống hoặc suối có nước trong chảy liên tục thì những cuộn chỉ sẽ được cột lại thành chùm thả nổi trên mặt nước Thời gian ngâm khoảng 3 ngày đêm, sau đó làm sạch các chất bẩn còn dính trong các sợi
Hồ sợi (mut amral): để tăng thêm độ bền cũng như độ cứng của sợi bông, thuận lợi cho
việc dệt vải, sau khi giặt sợi, người thợ phải tiến hành hồ sợi Kỹ thuật hồ sợi của người Êđê cũng giống với kỹ thuật của người Chăm Ninh Thuận Cơm tẻ nấu chín tới, nở đều, không khê, không nhão, không khô để nguội rồi trộn đều với những cuộn chỉ mới giặt xong Sau 30 phút, người thợ dùng chân đạp, lật trở nhiều lần cho những hạt cơm thấm vào từng sợi chỉ
Trang 30Chải sợi (klah amaral): Sau khi sợi được hồ xong, người thợ căng chúng trên những
đòn tre và dùng chiếc bàn chải gỗ có cắm những sợi lông heo rừng, có tay cầm Người thợ tay cầm bàn chải, tay năm từng chùm sợi chải dọc xuống cho đến khi sợi chỉ không còn dính vào nhau, không bị đứt và không bị dính bụi hồ
2.1.2 Kỹ thuật nhuộm sợi
Sản phẩm thổ cẩm truyền thống của người Êđê gồm có 5 màu chính là đen, đỏ, trắng, vàng và xanh Những màu này lấy từ những cây tự nhiên với qui trình như sau:
Màu đen (Ia Ji): Lấy từ vỏ cây, lá và trái krum (mọc hoang dại trong rừng) giã nhỏ, cho
vào nồi ngâm lẫn với tro cây le le khoảng một ngày đêm thì vớt bã ra Nước ấy lại đem ngâm với vỏ cây adio trong 3 ngày đêm Trước khi ngâm vỏ cây này cũng phải giã nhỏ và chưng lên cho chín Thứ nước được tạo ra là Ia Ju dùng để ngâm sợi bông, sẽ cho màu đen hoặc chàm
sẫm, giặt không phai, phơi nắng không phai màu, mặt sợi bóng
Màu đỏ (h’rah): Lấy vỏ cây snan dak và anara giã nhỏ rồi ninh đủ một đêm, làm thôi
hết chất nhựa ra Sau khi vớt bã, dùng nước ấy để nhuộm sợi Vì nước này có nhựa nên sợi nhuộm màu đỏ thường cứng
Màu vàng (ca kni): Là màu vàng của nghệ Người ta lấy củ nghệ giã cho thật nhuyễn,
vớt hết bã rồi pha nước để ngâm sợi Độ đậm nhạt của sợi tuỳ thuộc vào nước nghệ loãng hay đặc và thời gian ngâm sợi dài hay ngắn
Màu trắng (kỗ): Đối với sợi bông, trắng là dạng không màu, không phải nhuộm
Màu xanh (Ia piêk): Để có màu xanh đậm hay nhạt theo ý muốn thì người thợ sẽ lấy nước
krum pha loãng rồi ngâm với sợi, thời gian ngâm và mức độ pha loãng một cách thích hợp sẽ
cho ra những màu xanh ở các sắc độ khác nhau
Qua những công đoạn như trên thì người thợ đã có thể bắt tay vào công việc dệt vải
Tuy nhiên, đây là kỹ thuật truyền thống và qui trình này là một vòng khép kín mà người
Trang 31thợ phải thực hiện Ngày nay, cũng như những người thợ dệt thổ cẩm khác, người thợ dệt Êđê thường dùng những chất liệu có sẵn trên thị trường Đó là những sợi chỉ len, chỉ
cotton,…(Hình 1,2) được sản xuất từ những kỹ thuật hiện đại Lý do đầu tiên là để tiết kiệm
thời gian làm sợi, nhuộm sợi Thứ hai là những nguyên liệu tự nhiên của cây rừng để nhuộm sợi hiện nay tương đối khó kiếm Tuy nhiên, những sợi truyền thống so với sợi công nghiệp này thì mát hơn và trong nhiều trường hợp thì bền chắc hơn
2.2 Công cụ dệt và kỹ thuật dệt
2.2.1 Công cụ dệt
Các cư dân thuộc khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, hầu như chưa có khung dệt mà chỉ mới có dụng cụ để dệt Ở nhóm cư dân Malayo – Polinesia, như người Êđê chẳng hạn
(trừ người Chăm đã có khung dệt với kết cấu khá phức tạp), họ “không dệt vải trên khung
cố định như các cư dân thuộc các ngữ hệ Việt – Mường, Tày – Thái, H’Mông – Dao hay Hán
– Tạng Công cụ dệt của người Êđê chỉ là những bộ phận chuyên dùng đơn giản, tách rời
nhau được sử dụng trong quá trình tạo ra sản phẩm Loại công cụ này cũng tồn tại ở cư dân nói ngôn ngữ Môn-khmer và được các nhà dân tộc học gọi là “khung dệt Indônêdiên” Để
có thể dệt được một tấm thổ cẩm, người Êđê đã sử dụng 2 bộ công cụ chính là khung giăng sợi và khung dệt
Khung giăng sợi (băn- Hình 11): bộ khung ngang làm bằng hai cây dài từ 3 m -
4 m Bộ khung này có lỗ để cắm 5 cây giăng sợi, mỗi cây có chiều dài 1m3, tương ứng với
5 cây chính trong khung dệt là msa, kcô, sui, khung và băn
Khung dệt (Hình 8): gồm năm cây chính mắc vào tấm sợi
· Msa: cố định, cột dây thắt lưng sau lưng người dệt
· Kcô: giữ dây kco (dây dù), đảo lớp trên và lớp dưới
· Sui: ngăn giữa hai lớp sợi
.Kcô và sui nằm sát cạnh nhau
· Khung và băn: giữ lớp sợi dọc, giữ trên tường khi ngồi dệt
Trang 32Ngoài ra, khung dệt còn có thêm 7 cây phụ (Hình 9)
· Cây tư´: cây nẹp, để gấp vải chung với msa
· Cây pŭ: để gấp sợi dọc với sui
· Cây mnơk: dập sợi, tạo nền vải
· Cây mnơk nhỏ: nhặt hoa sợi ngang
· Cây pâđ: căng vải
· Cây điêk: que nhặt sợi dọc
· Hđra: con thoi Trong khung dệt có thêm hai bộ phận nữa giúp cho người ngồi dệt là tấm gỗ (kđŭk) kê phía sau lưng người dệt và dây (klei- Hình 10) Các bộ phận này đều làm bằng những loại
gỗ tốt như cây hương, cây kăm sai
Dù có những qui định về khung dệt như trên nhưng việc thực hiện không chặt chẽ lắm bởi vì tùy vào sản phẩm sẽ được tạo ra mà người ngồi dệt có thể linh động thay đổi độ dài ngắn của các khung dệt Cụ thể là:
· Bộ khung dệt mền, khăn trải bàn: 90 cm- 1m2
· Bộ khung dệt áo, váy, địu: 90cm- 1m
· Bộ khung dệt túi, quai túi, khố: 30cm- 40cm
1.Chu Thái Sơn, Hoa văn cổ truyền Đăk Lăk,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, trang 46
Trang 33Như đã nói ở trên, ngày nay, đa số người thợ dệt vải sử dụng chỉ công nghiệp và len
Những sợi chỉ công nghiệp thường mảnh nên khi dệt phải chắp ba đến năm sợi chỉ công nghiệp thành một sợi trong dệt thổ cẩm Vì vậy, hiện nay trong bộ công cụ dệt còn xuất
hiện một công cụ nữa là dụng cụ quấn sợi (Hình 7) Đó là một khung hình chữ nhật để giữ
dụng cụ đứng, hai thanh gỗ nữa - một thanh nối với thanh ngang của khung, một thanh dài nối với thanh đứng, có gắn tay quay Trên cả hai thanh này đều có lỗ để gắn con thoi vào Khi quay, người thợ tay phải cầm tay quay, tay trái cầm chỉ di chuyển dọc theo con thoi, con thoi xoay tròn và kéo chỉ quấn vào con thoi
Qua miêu tả sơ bộ về dụng cụ dệt vải của người Êđê, chúng ta có thể nhận thấy rõ
ràng đó là những bộ phận rời nhau dùng để luồn sợi dọc và dập sợi ngang vì thế dụng cụ này còn rất hạn chế Đó là, hạn chế về công cụ dệt Êđê là buộc người thợ phải trở thành bộ phận khắng khít với khung dệt trong suốt quá trình dệt, cho năng suất thấp, độ dài của tấm vải rất hạn chế so với khung dệt cố định Tuy nhiên, với công cụ dệt này, người Êđê đã tạo
ra những tấm vải khổ rộng tối đa đến gần 1m, có thể tạo ra những sản phẩm (váy, khố, mền,…) theo ý đồ người dệt mà sau đó chỉ cần bỏ thêm chút thời gian gia công sẽ có những sản phẩm đáp ứng nhu cầu hàng ngày mà không cần phải qua cắt may mới mặc và sử dụng được
2.2.2 Kỹ thuật dệt
Qui trình giăng sợi (Hình 12) : để phân hoa văn và phối màu
Sau khi sợi bông đã được nhuộm màu và phơi khô (có đủ nguyên vật liệu), người thợ
tiến hành dệt Đầu tiên, người thợ phải giăng sợi dọc tạo thành thảm dài theo đường khép kín, sau đó mới đi vào thao tác dệt Có các hình thức giăng sợi dọc như sau:
· Giăng sợi đơn: Là cách thức giăng sợi để thay đổi màu sắc các dải sọc màu Ví dụ màu đỏ đổi sang màu vàng, xanh, tím,…
· Giăng sợi xen kẽ: Là cách giăng sợi để phối màu, tạo hoa văn trên nền vải Ví dụ
Trang 34ta giăng màu trắng xen kẽ màu đỏ hay màu đen, màu xanh xen kẽ màu vàng tạo thành dải sọc màu
· Giăng sợi đôi: Là cách thức giăng sợi tạo mảng nền và giăng dải nền đen
Khi giăng sợi xong, toàn bộ số sợi trên thảm dọc được xếp theo thứ tự hàng và nằm sát vào
nhau, ở đầu trên cao của thảm sợi là cây păđ buộc chặt vào sàn nhà hoặc song cửa sổ Còn cây msa ở đầu dưới thấp, được buộc dây (klei), vòng ra sau lưng của người thợ dệt, dựa vào một tấm
gỗ có bề mặt cong (kđŭk) Thảm sợi này gồm hai tầng, tầng trên và tầng dưới chênh lệch nhau
khoảng một góc 450, có chiều dài tối đa là 6m Nếu dài quá, người thợ sẽ không có đủ sức để căng thật thẳng thảm trong suốt quá trình dệt Bề ngang của thảm sợi tùy vào yêu cầu của sản phẩm: Sản phẩm là khố, khăn thì ngừng lúc khổ vải được 30cm - 40cm; còn là váy, mền lấy khổ vải 80cm - 90cm Ngoài ra, số sợi tạo hoa văn cũng có những qui định để phù hợp với sản phẩm như: hoa văn 10 sợi con rồng trên áo nam nữ truyền thống; hoa văn 10 sợi thường trên mền, váy, địu; hoa văn 15 sợi trên khăn trải bàn, túi đeo, địu; hoa văn 17 sợi trên mền, túi, áo nam gilê; hoa văn Kteh trên tua khố, váy, áo nam truyền thống, Mnga KTôđ (cây dương xỉ) trên khố, váy,…
Trang 35xuống đầu thấp (đối với tầng trên) và ngược lại, từ đầu thấp chuyển dần lên đầu cao (đối với
tầng dưới) Quá trình này kết thúc vào lúc sản phẩm đã được hoàn tất
Cách dệt của người Êđê chủ yếu là “đan nong mốt”; nghĩa là cứ một sợi ngang đè ln một sợi dọc kề bên Do đó, thảm sợi ở tầng trên sẽ được phân thành hai tầng nhỏ trên một đoạn ngắn ( khoảng 10 cm ) ngay trước mặt và trong tầm tay của người dệt Trên đoạn phân tầng ngắn này, các sợi dọc ở vị trí số lẻ cũng thuộcc một tầng, ngược lại các sợi dọc ở vị trí số chẳn sẽ hợp thành một tầng thứ hai Giữa hai tầng nhỏ này phải có khe hở để luồn sợi ngang Sợi ngang
được cuốn vào con thoi (Hđra) Để tạo hoa văn theo ý muốn thì bên cạnh chỗ ngồi luôn có 5-7
con thoi đã được quấn sợi, với mỗi con thoi là một màu sắc khác nhau Hai đầu con thoi liên tục được nâng lên, hạ xuống, đổi chỗ cho nhau khi luồn qua một sợi nằm ngang Tại khe hở phân
tầng luôn có một thanh gỗ dẹt (cây dập sợi- mnơk ), sử dụng để dập cho sợi sau áp sát vào sợi
trước
Như vậy, sản phẩm thường được tạo ra theo quá trình khép kín: đảo vị trí phân tầng sợi dọc, luồn sợi ngang có màu sắc mà người thợ đã qui định sẵn để tạo hoa văn rồ dập vào cho khít Với cách luồn sợi ngang (còn gọi là thêu luồn sợi) như vậy không khác gì đan mây tre để làm đồ gia dụng Thế nhưng, kỹ thuật thêu luồn sợi này lại tạo ra được những hình ảnh, đường nét và hình khối chắc chắn, khoẻ khoắn trên nền vải Đó là hiệu quả thẩm
mỹ của kỹ thuật tạo hình trên nền vải mà xuất phát từ kỹ thuật của đồ đan mây trên nền tảng hình học hóa Đặc biệt trong kỹ thuật tạo hoa văn của người Êđê xuất hiện kỹ thuật thêu luồn sợi đạt đến trình độ cao, đó là kỹ thuật Kteh, tạo ra dải hoa văn tinh tế gọi là
Trang 36Đêc.(Hình 15) Kỹ thuật này thường được sử dụng ở những mép biên vải hay hai đầu và
cuối tấm vải, người dệt phải dùng tay buộc các sợi chỉ lại với nhau tạo hoa văn một cách chậm chạp mà chắc chắn, vừa làm đẹp vừa khoá mối sợi để tấm vải được tốt hơn
2.3 Hoa văn và màu sắc
2.3.1 Màu sắc
Màu sắc truyền thống của người Êđê là màu đen (còn gọi là màu chàm sẫm) và màu
đỏ, hai màu đóng vai trò chủ đạo trên vải thổ cẩm Êđê Ngoài ra, còn có các màu khác như xanh, vàng và trắng, những màu này thường có mặt trên một số dải hoa văn màu đỏ ở trang phục của người Êđê Theo quan niệm truyền thống, màu đen tượng trưng cho đất đai mà cả cuộc đời họ gắn bó; màu đỏ tượng trưng cho sự đam mê, sự vươn lên, cho những khát vọng, tình yêu; màu xanh là màu của đất trời, cây lá; màu vàng là màu của ánh sáng, là sự kết
hợp hài hòa giữa con người với thiên nhiên
Khi phối màu, màu đen được chọn để làm màu nền cho vải mà không phân biệt giới tính hay lứa tuổi, không phân biệt chức năng của vật dụng Nền đen chiếm một diện tích lớn hơn trên bề mặt vải Êđê Những sọc màu tương phản với màu đen thường thấy là: đỏ, vàng, trắng
và đôi khi có cả xanh lam Trên nền đen đó, màu chủ đạo dễ được nhận ra và đập vào mắt người xem là màu đỏ Phần nhiều những hoa văn chủ yếu, phổ biến thường được thể hiện trên các dải màu đỏ để tạo sự tương phản mạnh mẽ với màu đen Đôi khi màu đỏ cũng được sử dụng
để làm nền cho những dải nhỏ có màu sáng hơn: vàng, trắng, xanh lam tạo nên sự tương phản hay đối lập về sắc độ với màu nền vải Như vậy, hai màu vàng, trắng là màu chủ yếu để tạo nên những hội họa trên nền vải đỏ, đen Ngoài ra, màu trắng còn được sử dụng xen kẽ giữa hai màu đỏ và đen
Khác với người Mnông (người Mnông luôn sử dụng trực tiếp sự tương phản giữa các màu: đỏ-trắng, đỏ-xanh, đỏ-tím, xanh-trắng, xanh-vàng, tím-trắng,… để tạo hoa văn trang trí trên nền
Trang 37hai màu tương phản một màu trung gian tạo nên sự chuyển tiếp êm đềm Ví dụ, giữa đen trắng
là đỏ, giữa đỏ và đen là xanh nhẹ, giữa đỏ và trắng là đen
Trang 382.3.2 Hoa văn
Theo kỹ thuật dệt và trang trí trên nền vải, hoa văn trên thổ cẩm Êđê được chia thành
2 loại là hoa văn chính và hoa văn phụ Trong quá trình điều tra, chúng tôi được biết hiện
có khoảng 30 hoa văn chính và 20 hoa văn phụ truyền thống (trong đó khoảng 12 hoa văn đường diềm và 3 hoa văn đường ngăn cách giữa) Gồm:
Hoa văn chính:
o Hoa văn động vật
· Hoa văn anăk rai (con rồng)- Hình 17
· Hoa văn tluš (con nòng nọc)- Hình 18
· Hoa văn păk kê (con tắc kè)- Hình 19
· Hoa văn čim phiêr (chim bay)- Hình 20
· Hoa văn čim tlang hĭa (con chim cắt)- Hình 20
· Hoa văn krua (con rùa)- Hình 21
· Hoa văn boh GRư (trứng đại bàng)- Hình 22
· Hoa văn tổng tĭt (con bướm)- Hình 23
· Hoa văn thằn lằn- Hình 24
· Hoa văn con ngựa- Hình 25
· Hoa văn con nhền nhện- Hình 26
· Hoa văn con bọ hung- Hình 27
o Hoa văn thực vật
· Hoa văn Mnga KTôđ (cây dương xỉ)- Hình 28
· Hoa văn Ana M’nga (cây bông)- Hình 29 · Hoa văn kmrŭ Boh anut (chùm hạt bo bo)- Hình 30
· Hoa văn tổ ong- Hình 31
Trang 39· Hoa văn Boh kruôi- Hình 32
· Hoa văn Boh êdrông- Hình 33
· Hoa văn Boh leh- Hình 34
o Hoa văn con người và đời sống sinh hoạt
· Hoa văn MNuih (con người)- Hình 35
· Hoa văn Boh êňaň (bậc thang)- Hình 36
· Hoa văn Klit grăn wăng (cán cuốc) )- Hình 37
· Hoa văn đeč Bram (mũi tên)- Hình 38
· Hoa văn đeč kăt êa (nắp bầu nước)- Hình 39
· Hoa văn knuăk (móc câu)- Hình 40
· Hoa văn đêc- Hình 41
· Hoa văn kčiêp đôi- Hình 42
· Hoa văn gu gă- Hình 43
· Hoa văn Boh Êňan (cầu thang)- Hình 44
o Hoa văn hiện đại
Trang 40Êgei anŭa (răng cưa)- Hình 52
Êgei k’kuih (răng chuột)- Hình 53
Hạt dưa- Hình 54 Ktŭ tlâo – Hình 55
Chắn đơn- Hình 62 Chắn đôi- Hình 63 Chắn ba- Hình 64
Thật ra, khó có thể sưu tập đầy đủ số lượng và tên gọi hoa văn vì có những hoa văn truyền thống hiện hữu trên trang phục hàng trăm năm mà hiện nay không còn được biết tên Bên cạnh đó, ngày nay màu sắc và hoa văn sử dụng trong thổ cẩm Êđê cũng đã có nhiều thay đổi Màu nền đen đã được thay bằng những màu sắc khác theo ý thích của người sử dụng như màu trắng, màu cam Những màu sắc họa tiết cũng thay đổi phong phú
và đa dạng hơn như màu tím, hồng, cam,… Những hoa văn như nhà thờ, thập tự giá, chữ quốc ngữ, chữ Êđê lần lượt xuất hiện trong quá trình giao lưu và tiếp xúc văn hoá với các