HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA” LẦN THỨ 11 NĂM 2009 TÊN CÔNG TRÌNH: TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦ
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - EURÉKA
LẦN THỨ 11 NĂM 2009
TÊN CÔNG TRÌNH:
TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRUNG QUỐC TRONG
NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI CHUYÊN NGÀNH: ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
Mã số công trình: ………
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”
LẦN THỨ 11 NĂM 2009
TÊN CÔNG TRÌNH:
TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRUNG QUỐC TRONG NGHỆ
THUẬT KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI
CHUYÊN NGÀNH : ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
Họ và Tên tác giả, nhóm tác giả Giới tính Sinh viên năm thứ
Trưởng nhóm: Lâm Thị Thúy Hà Nữ 4
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN XUÂN TIÊN – P SAU ĐẠI HỌC, TRƯỜNG ĐẠI
HỌC MỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1 Tên đề tài: “ Tìm hiểu ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc trong nghệ thuật kiến
trúc cung đình Huế”
2 Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Xuân Tiên, P Sau đại học, Đại học Mỹ thuật,
TP HCM
3 Thành viên thực hiện:
a Lâm Thị Thúy Hà- Sinh viên năm 4 khoa Đông Phương học- Chủ nhiệm đề tài
b Trần Tú Anh- Sinh viên năm 4 khoa Đông Phương học- Thành viên
c Nguyễn Thị Vân Thi- Sinh viên năm 4 khoa Đông Phương học- Thành viên
d Nguyễn Ngọc Bảo Chiêu- Sinh viên năm 4 khoa Đông Phương học- Thành viên
4 Thời gian thực hiện nghiên cứu: 5 tháng ( từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 4 năm
2009), chỉnh sửa và bổ sung thêm vào tháng 9 năm 2009
5 Nội dung nghiên cứu: gồm ba chương chính:
Chương I: Nho giáo Trung Quốc- Quá trình du nhập- Ảnh hưởng đối với văn hóa Việt Nam
Chương II: Kiến trúc cung đình Huế và những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc
Chương III: Định hướng bảo tồn- Nghiên cứu- Học tập và phát huy những giá trị văn hóa nghệ thuật của kiến trúc cung đình Huế
-Xác định các thuộc tính cung đình với sự thể hiện và chi phối các biểu hiện tâm linh, quyền lực, sáng tạo nghệ thuật để tìm ra nét độc đáo, tính chất đặc biệt trong trang trí kiến trúc cung đình Huế
Chủ nhiệm đề tài Lâm Thị Thúy Hà
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
PHẦN DẪN NHẬP 3
CHƯƠNG I : NHO GIÁO TRUNG QUỐC - QUÁ TRÌNH DU NHẬP - 9
ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM 9
1.1 Nguồn gốc và quá trình du nhập của Nho Giáo Trung Quốc vào Việt Nam 9
1.2 Những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc đối với văn hoá Việt Nam 16
CHƯƠNG II : KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRUNG QUỐC 24
2.1 Đặc điểm kiến trúc Nho giáo Trung Quốc: 24
2.2 Đặc điểm kiến trúc cung đình Huế 39
2.3 Những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về mặt hình thức và tinh thần trong kiến trúc cung đình Huế: 51
CHƯƠNG III : ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN-NGHIÊN CỨU HỌC TẬP VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA NGHỆ THUẬTCỦA KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ 59
3.1 Giá trị văn hóa và nghệ thuật của kiến trúc cung đình Huế 59
3.2 Định hướng bảo tồn 67
3.3 Nghiên cứu, học tập và phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật của kiến trúc cung đình Huế 71
KẾT LUẬN 73
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
Trang 5TÓM TẮT
Công trình nghiên cứu “Tìm hiểu ảnh hưởng của nho giáo Trung Quốc trong nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế” gồm 3 chương với 50 trang chính văn và 18 trang hình ảnh minh họa, thời gian nghiên cứu trong vòng 5 tháng từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 4 năm
2009, công trình nghiên cứu tổng thể về quá trình du nhập của Nho giáo Trung Quốc vào Việt Nam, những ảnh hưởng của nho giáo Trung Quốc trong kiến trúc cung đình Huế, và đưa ra những định hướng bảo tồn, nghiên cứu học tập và phát huy những giá trị văn hóa nghệ thuật của kiến trúc cung đình Huế
Trong chương I, công trình đã khái quát lịch sử hình thành của nho giáo Trung Quốc, quá trình du nhập của nho giáo Trung Quốc vào Việt Nam và những ảnh hưởng của các tư tưởng nho giáo ở Việt Nam như ảnh hưởng đối với tầng lớp tri thức phong kiến, ảnh hưởng đối với tầng lớp bình dân và ảnh hưởng trong đối với đời sống văn hóa hiện đại Qua đó, người đọc sẽ có cái nhìn tổng quát hơn, rõ hơn về những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc ở Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử
Trong chương II, công trình đi vào nội dung chính là tìm hiểu, phân tích nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế và những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc trong nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế Trong đó tìm hiểu, phân tích về đặc trưng cơ bản của kiến trúc nho giáo Trung Quốc bao gồm nghệ thuật bố cục cảnh quan và mặt bằng kiến trúc đô thành- hoàng thành Trung Quốc, Nghệ thuật trang trí- điêu khắc- màu sắc trong kiến trúc cung điện Trung Quốc, sau đó phân tích đến những đặc trưng cơ bản của kiến trúc cung đình Huế, từ đó so sánh, phân tích và đưa ra những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về mặt hình thức và tinh thần trong kiến trúc cung đình Huế để thấy được tinh hoa, nét đẹp và những nét rất riêng của Việt Nam trong kiến trúc cung đình Huế dù chịu ảnh hưởng nhiều
từ tư tưởng Nho giáo của Trung Quốc
Trong chương III, từ những phân tích, tìm hiểu, so sánh của chương hai, đề tài nêu lên những giá trị về văn hóa, nghệ thuật của kiến trúc cung đình Huế, tầm quan trọng của
nó đồng thời đưa ra những định hướng bảo tồn, nghiên cứu học tập và phát huy những giá
Trang 6trị văn hóa nghệ thuật của kiến trúc cung đình Huế Từ đó, chúng ta nhận thức rõ rằng nhiệm vụ học tập, bảo vệ và phát huy những giá trị nghệ thuật của kiến trúc cung đình Huế là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam chúng ta và nhất là đối với những người yêu cái đẹp, những người trân trọng giá trị truyền thống văn hóa lịch sử mà triều Nguyễn
đã để lại cho chúng ta
Tóm lại, công trình nghiên cứu nhằm:
- Xác định những ảnh hưởng của nho giáo Trung Quốc trong nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế làm cơ sở cho công tác bảo tồn những di sản văn hóa Huế hiện tại và tương lai
- Sự khác biệt trong kiến trúc cung đình của Trung Quốc và Việt Nam, tìm ra những nét độc đáo trong kiến trúc của hai quốc gia để có những ứng dụng phù hợp trong xây dựng và trang trí trong lĩnh vực kiến trúc sau này
- Xác định các thuộc tính cung đình với sự thể hiện và chi phối các biểu hiện tâm linh, quyền lực, sáng tạo nghệ thuật để tìm ra nét độc đáo, tính chất đặc biệt trong trang trí kiến trúc cung đình Huế
- Góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật của Di sản văn hóa Huế
Trang 7PHẦN DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Nho giáo Trung Quốc kể từ khi du nhập vào Việt Nam đã có những ảnh hưởng to lớn trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trong rất nhiều lĩnh vực Những tư tưởng của Nho giáo đã thấm nhuần vào trong tư tưởng của người Việt từ xưa đến nay, ở rất nhiều các tầng lớp, giai cấp trong xã hội
Quần thể kiến trúc cung đình Huế là một phần quan trọng cấu thành nên Di sản văn hóa Huế Cố đô Huế là nơi còn lưu giữ rất nhiều những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam Nhắc đến Huế, mọi người đều hình dung ngay đến những thành quách, cung điện vàng son, những đền đài, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch và những thắng tích do thiên nhiên khéo tạo Quần thể di tích kiến trúc cung đình Huế là di sản văn hoá tiêu biểu và là niềm tự hào của người dân Việt Nam
Tìm hiểu những ảnh hưởng của Nho giáo trong nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế giúp chúng ta nhận thức rõ giá trị của kiến trúc cung đình không chỉ góp phần vào việc gìn giữ, phát huy những tinh hoa văn hóa dân tộc mà định hướng cho nền kiến trúc Việt Nam trong thế kỉ XXI Nhưng ảnh hưởng của Nho giáo trong kiến trúc cung đình Huế như thế nào? Đặc điểm nổi bật là gì? Chúng ta có tiếp thu những ảnh hưởng đó một cách máy móc hay không?
Từ những yêu cầu, mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc lên nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế nói riêng và đặc điểm nghệ thuật, nét độc đáo trong kiến trúc cung đình Huế và đời sống văn hóa tinh thần của
người Huế nói chung đã hình thành nên đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu những ảnh hưởng
của Nho giáo Trung Quốc trong nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế”
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Về những ảnh hưởng của nho giáo Trung Quốc lên nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế Trong bài viết Văn hóa Đông Á- Tương đồng và dị biệt, tiến sỹ Phan Thanh Hải đã viết:
Cung điện Huế là kết tinh của kiến trúc truyền thống ngàn năm của người Việt Trải qua ngàn năm bồi đắp, tích lũy từ Cổ Loa huyền thoại đến Hoa Lư, Thăng Long- Đông Đô và cuối cùng là Phú Xuân- Huế, kỹ thuật xây dựng thành trì, cung điện đã không ngừng được tích lũy, bồi đắp rồi nâng lên thành một nghệ thuật Huế được ngợi ca là một kiệt tác kiến trúc thơ đô thị, bời sự hài hòa, tuyệt diệu giữa thiên nhiên, kiến trúc và con người Cũng là Nho giáo, cũng vận dụng thuật Phong thủy, Ngũ hành để quy hoạch và xây dựng kinh đô, nhưng Huế vẫn thể hiện bản sắc và bản lĩnh văn hóa Việt Nam không thể lẫn vào đâu được…
Giáo sư Trần Văn Giàu trong bài viết “ Luận cương Nho giáo ở Việt Nam” đã khái
quát nguồn gốc và quá trình du nhập cũng như ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc ở Việt Nam
Giáo sư Ngô Huy Quỳnh trong “Tìm hiểu về lịch sử kiến trúc Việt Nam” đã khái
quát chung về kiến trúc dân gian Việt Nam, kiến trúc Việt Nam từ thời dựng nước đến các bước thịnh suy phong kiến, kiến trúc Việt Nam dưới triều đại cuối cùng Thông qua lịch
sử kiến trúc Việt Nam, chúng ta rút ra được nét tương đồng cũng như khác biệt của kiến trúc Việt Nam và Trung Quốc đặc biệt là kiến trúc cung đình
Việc nghiên cứu nghệ thuật trang trí kiến trúc cung đình Huế đã thu hút rất nhiều
sự quan tâm, ý kiến và đánh giá khoa học rất khác nhau Trong cuốn Lược sử Mỹ thuật
Việt Nam của Nguyễn Phi Hoanh có đoạn viết: “Phong kiến Nguyễn là một vương triều
rất phản động và lạc hậu, cho nên đối với vấn đề mỹ thuật nó chưa được như phong kiến Trung quốc mà nó bắt chước”
Những năm gần đây việc nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế đã phát triển mạnh hơn với sự xuất hiện của các sách chuyên về mỹ thuật, kiến trúc thời Nguyễn của các tác giả như Phan Thuận An, Nguyễn Tiến Cảnh, Du Chi, Chu Quang Chứ, Trần
Trang 9Lâm Bền, Nguyễn Hữu Thông, Phan Cẩm Thượng… Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng trong giảng dạy, sáng tác và có ít nhiều ý nghĩa trong việc phục chế một số công trình, tác phẩm mỹ thuật Việc tìm hiểu những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc lên kiến trúc cung đình Huế không chỉ có giá trị về mặt nội dung mà còn có những đóng góp nhất định trong quá trình gìn giữ, bảo tồn và phát huy di sản, văn hóa Huế
3 Mục đích nghiên cứu
Xác định những ảnh hưởng của nho giáo Trung Quốc trong nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế làm cơ sở cho công tác bảo tồn những di sản văn hóa Huế hiện tại và tương lai
Sự khác biệt trong kiến trúc cung đình của Trung Quốc và Việt Nam, tìm ra những nét độc đáo trong kiến trúc của hai quốc gia để có những ứng dụng phù hợp trong xây dựng và trang trí trong lĩnh vực kiến trúc sau này
Xác định các thuộc tính cung đình với sự thể hiện và chi phối các biểu hiện tâm linh, quyền lực, sáng tạo nghệ thuật để tìm ra nét độc đáo, tính chất đặc biệt trong trang trí kiến trúc cung đình Huế
Góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật của Di sản văn hóa Huế
4 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung vào những đặc điểm kiến trúc ở những công trình kiến trúc cung đình tiêu biểu như cung điện, thành lũy, lăng tẩm, đền miếu
Nghiên cứu những ảnh hưởng của nho giáo Trung Quốc từ khi du nhập vào Việt Nam đặc biệt hình thức biểu hiện của nho giáo Trung Quốc trong kiến trúc cung đình Huế
5 Phương pháp nghiên cứu
Phân tích, chắt lọc, xử lý thông tin tư liệu lịch sử và nghệ thuật để rút ra những vấn
đề trọng tâm, đối chiếu, so sánh rút ra nhận định
Phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp là phương pháp nghiên cứu chủ yếu để hoàn thành đề tài Đề tài còn sử dụng các phương pháp như so sánh, đối chiếu, ghi chép
Trang 10tài liệu, hình ảnh để so sánh, đối chiếu nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài
Để phân tích tổng hợp một cách chính xác và đem lại hiệu quả nghiên cứu, đề tài còn tham khảo các tài liệu, sách báo, nhận định của các nhà chuyên môn, nhà khoa học, nhà văn hóa Ngoài ra còn khai thác thông tin, đặc biệt là các thông tin về chất liệu truyền thống, ý nghĩa tâm linh, văn hóa lễ hội ở Huế
6 Những đóng góp của đề tài
Bước đầu tạo lập hệ thống đề tài, mang đến cái nhìn rõ hơn về những ảnh hưởng của nho giáo Trung Quốc trong kiến trúc cung đình Huế, từ đó hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật trong kiến trúc cung đình Huế
Khẳng định nét độc đáo của kiến trúc Việt Nam, dù chịu nhiều ảnh hưởng của nho giáo Trung Quốc nhưng vẫn giữ những nét rất riêng, nét truyền thống phù hợp với văn hóa
và tinh thần Việt
Đề tài mong muốn đóng góp vào việc xác định các giá trị của nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế cũng như văn hóa tinh thần trong đời sống của người dân Huế nói riêng và người Việt nói chung Từ đó có cơ sở để bảo tồn, trùng tu, phục chế các di tích trong quần thể kiến trúc cung đình Huế và phát huy những truyền thống, giá trị của văn hóa cung đình, văn hóa dân gian và tinh thần Huế
Trang 111.2.3 Những ảnh hưởng đối với đời sống văn hóa hiện đại
CHƯƠNG II KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRUNG QUỐC
2.1 Đặc điểm kiến trúc Nho giáo Trung Quốc
2.1.1 Nghệ thuật bố cục cảnh quan và mặt bằng kiến trúc đô thành- hoàng thành Trung Quốc
2.1.2 Nghệ thuật trang trí- điêu khắc- màu sắc trong kiến trúc cung điện Trung Quốc
2.1.3 Đặc trưng cơ bản của kiến trúc Nho giáo Trung Quốc
2.2 Đặc điểm kiến trúc cung đình Huế
2.2.1 Nghệ thuật bố cục cảnh quan và mặt bằng kiến trúc hoàng thành cung đình Huế
2.2.2 Nghệ thuật trang trí – điêu khắc- màu sắc trong kiến trúc cung đình Huế 2.2.3 Đặc trưng cơ bản của kiến trúc cung đình Huế
2.3 Những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về mặt hình thức và tinh thần trong kiến trúc cung đình Huế
2.3.1 Ảnh hưởng về mặt hình thức
2.3.2 Ảnh hưởng về mặt văn hóa tinh thần
CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN- NGHIÊN CỨU- HỌC TẬP VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT CỦA KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ
3.1 Giá trị văn hóa và nghệ thuật của kiến trúc cung đình Huế
3.1.1 Giá trị văn hóa
3.1.2 Giá trị nghệ thuật
3.2 Định hướng bảo tồn
Trang 13CHƯƠNG I : NHO GIÁO TRUNG QUỐC - QUÁ TRÌNH DU NHẬP -
ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM
1.1 Nguồn gốc và quá trình du nhập của Nho Giáo Trung Quốc vào Việt Nam
1.1.1 Nguồn gốc:
Về nguồn gốc của Nho giáo, cho đến nay vẫn còn có nhiều người lầm lẫn cho rằng Khổng Tử là “Thuỷ tổ” của Nho giáo Nho giáo không phải bắt đầu từ Khổng Tử mà Khổng Tử chỉ là người phục hưng Nho giáo và ngài là người có công rất lớn trong việc hoàn thiện và phát triển Nho giáo
Nho giáo bắt nguồn từ thời Thái cổ nước Tàu, khởi thủy của Nho giáo được hình thành do thực tế quan sát và nhu cầu tổ chức xã hội, kết hợp với nguyên lý của trời đất, lấy đạo Trời làm khuôn mẫu cho các hành động của người, nếu nghịch lẽ Trời thì phải bị tiêu diệt với ba vị Thánh Vương: Phục Hy mà Phục Hy là vị vua khởi đầu, Thần Nông , Hoàng
Đế, nhờ quan sát Long Mã, lập ra Hà đồ, vạch ra Bát Quái, cắt nghĩa sự hình thành và biến hoá của trời đất Những vạch bát quái được xem là đầu mối của văn tự sau này Vua lại dạy dân trồng dâu nuôi tằm, lấy tơ làm quần áo, chế ra đờn cầm đàn sắt, dạy dân lễ nghĩa, phép cưới vợ gả chồng, lập thành gia tộc Sau Phục Hy là vua Thần Nông chế ra cày bừa dạy dân làm ruộng, họp chợ búa để dân trao đổi hàng hoá, nếm thử các thứ cây thuốc để trị bệnh cho dân
Tiếp nối vua Thần Nông là Huỳnh Đế chế ra áo mão, lập nghi lễ triều đình, sai ông thương hiệp chế ra chữ viết
Nối tiếp ba vị Thánh vương kể trên là vua Nghêu và vua Thuấn, khởi đầu đạo Trung Dung, củng cố lễ nhạc, lập ra nền tảng gia đình và xã hội với đạo Tam cương và Ngũ thường
Đến thời vua Hạ Võ, nhờ Lạc thư, vua lập ra Hồng Phạm Cửu Trù, chế ra Ngũ Hành
Tới đây Nho giáo đã có căn bản đầy đủ và vững chắc
Trang 14Nho giáo đã giúp cho nước Trung Quốc thời thượng cổ được hoà bình, dân chúng thuận hoà, tạo nên một nền luân lý tốt đẹp
Sau một thời gian dài, đến đời nhà Chu, vua Văn Vương nghiên cứu Bát quái của Phục Hy (gọi là Tiên Thiên Bát Quái), đặt ra Bát Quái Hậu Thiên, tạo thành Kinh Dịch, giải nghĩa
64 quẻ Con của Văn Vương là Chu Công Đán giải ý nghĩa của 384 hào của 64 quẻ, rồi nghiên cứu lễ nhạc của các đời trước, qui định lại lập thành lễ nhạc có hệ thống chặt chẽ Cuối thời nhà Chu, đời vua Chu Linh Vương, năm 551 trước Tây lịch Đức Khổng Tử ra đời
Khổng Tử chỉnh đốn lễ nhạc, san định các kinh sách đời trước để lại: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh lễ, Kinh Nhạc, viết Kinh Xuân Thu, dạy 3000 học trò Toàn bộ cuộc đời với những hoạt động phong phú và sinh động của Khổng Tử, chúng ta có thể kết luận được rằng ông là người đã khai sinh ra một đại học phái có ảnh hưởng lâu dài và to lớn đối với Trung Quốc nói riêng, các nước phương Đông nói chung và đặc biệt là Việt Nam Đại học phái đó chính là Nho học Vậy nói đến Nho học là nói đến Khổng Tử
Khổng Tử người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nay thuộc phủ Duyên Châu, tỉnh Sơn Đông Ngài dòng dõi là người nước Tống (Hà Nam) Ông tổ ba đời dời sang ở nước Lỗ (Sơn Đông) Thân phụ ngài là là Thúc Lương Ngột làm quan võ, lấy người vợ trước sinh được chín người con gái Người vợ lẽ sinh được một người con trai tên Mạnh
Bì, nhưng lại có tật què chân Đến lúc gần già ông thân phụ mới lấy bà Nhan Thị sinh ra Ngài Ngài sinh vào mùa Đông tháng mười năm canh Tuất là năm thứ hai mốt đời vua Linh Vương nhà Chu, tức là năm 551 trước Tây lịch kỷ nguyên Bà Nhan Thị có lên cầu
tự trên núi Ni Khâu, cho nên khi sinh ra ngài mới nhân điềm ấy đặt tên ngài là Khâu Ni, tên tự là Trọng Ni
Nói đến Khổng Tử cũng có nghĩa là trước hết và chủ yếu là nói đến công lao san
định và biên soạn Lục Kinh gồm có Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh xuân thu,
Kinh nhạc Về sau Kinh nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ Kinh nên thường được gọi là Ngũ kinh - công trình có giá trị đặt nền tảng căn bản đầu tiên cho sự khai sinh của Nho
học Hiểu một cách đơn giản nhất thì Lục Kinh đại để như sau:
Trang 15Kinh thi: Là tác phẩm tuyển chọn ca dao cổ đại của Trung Quốc Hẳn nhiên Khổng
Tử tuyển chọn theo cách của ông Với tất cả 311 bài ca dao, Kinh thi tuy chỉ có độ dày khá khiêm nhượng nhưng lại có ý nghĩa và giá trị rất sâu sắc Xem Kinh thi thì biết được tính tình, phong tục và chính trị các đời và các nước chư hầu Học Kinh thi thì có thể di dưỡng
tính tình và mở rộng tri thức
Kinh thư: Là tuyển tập những điển, mô, huấn cáo, thệ, mệnh…của các vua Trung
Quốc thời Đường, Ngêu, Ngu Thuấn cho đến đời Đông Chu Kinh thư hiện đang lưu truyền có tấ cả 59 thiên, chia làm: Ngu thư, Hạ thư, Thượng thư, Chu thư Đọc Kinh thư
chúng ta có thể hình dung được sơ bộ chế độ, tư tưởng phép tắc, đạo đức, cấu trúc của xã
hội Trung Quốc cổ đại Xem Kinh thư thì biết cái tính chất phác và lối văn chương của
người đời cổ Những sự hành vi và những tư tưởng chép trong sách đều lấy hai chữ chấp trung làm cốt
Kinh lễ: Là công trình tập hợp, tuyển chọn và giới thiệu lễ nghi của người Trung
Quốc cổ đại, mà theo Khổng Tử là để nuôi đức, giữ tình và tạo dựng trật tự sao cho thật phân minh, hạn chế những điều sai quấy thường thấy trong muôn đời
Trong Ngũ kinh tính phức hợp thể hiện trong Kinh lễ là rõ ràng, tập trung và sâu sắc nhất Văn bản Kinh lễ còn được lưu giữ có tất cả 25 quyển, chia làm 49 thiên Tuy
Kinh lễ cũng không phải là một công trình lớn nhưng các bậc danh Nho thiên cổ Trung
Quốc lẫn của ta đều cho rằng đó thật sự là kết quả của một cuộc đại tập thành trí tuệ của nhiều thế hệ, Khổng Tử chỉ là người mở đầu mà thôi
Kinh dịch: Dịch là sách tướng số để bói toán xem cát hung và lại là sách lý học,
giải thích lẽ biến hoá của trời đất và sự hành động của muôn vật, tức là bộ sách trọng yếu
của Nho Giáo Kinh dịch hiện còn lưu giữ được có cấu trúc đại để gồm hai bộ phận khác
nhau Bộ phận thứ nhất là hình dạng từng quẻ Bộ phận thứ hai là thoán từ tức là cắt nghĩa từng quẻ Bộ phận này cũng chia làm 2 phần riêng biệt: 2 thiên Kinh và 10 thiên Truyện,
cả thảy là 12 thiên Trong những thiên Truyện, Khổng Tử giải thích rõ ràng các ý nghĩa
sâu xa ở Kinh dịch và phát huy những tư tưởng uyên áo về tạo hoá và những quan niệm
Trang 16đặc biệt về vũ trụ và vạn vật, ngài lập thành cái nền lý học của Nho Giáo về sau các nho
giả đời Tống đều sở cứ vào Kinh dịch mà thiết lập ra các học thuyết rất có giá trị
Thư tịch cổ thường hay nhắc đến Hà đồ và Lạc thư Đặt trong lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống phân tich có thể nói Hà đồ và Lạc thư là bước chuẩn bị quan trọng
đầu tiên để từ đó hình thành sau nó một loạt khái niệm căn bản về âm dương, ngũ hành,
bát quái… đã được xây dựng và phổ biến ngày càng rộng rãi Nho gia nói Kinh dịch để xét
đoán sự hay dở, cát hung, lường trước sự thịnh suy, biến hoá, nhằm răn dạy điều lành,
khuyên tránh việc giữ Trong Ngũ kinh thì Kinh dịch là khó hiểu nhất
Kinh xuân thu: Là bộ sách do Khổng Tử làm ra Ngài theo lối văn làm sử mà chép
truyện nước Lỗ Xem hình thể ngoài thì đó là một bộ sử biên niên, lời lẽ vắn tắt, lắm chỗ không có nghĩa gì cả, nhưng xét rõ đến tinh thần thì thật là một bộ sách triết lí về việc chính trị
Với Kinh xuân thu, Khổng Tử muốn xây dựng và quảng bá thuyết chính định danh phận, bởi thế, các triết gia xưa thường nói Kinh xuân thu là kinh của danh và phận Chữ trong Kinh xuân thu được chọn lọc và sử dụng một cách đặc biệt nghiêm cẩn Kinh xuân
thu là thành tựu được chính Khổng Tử tâm đắc nhất
Kinh nhạc: Do Khổng Tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một ít làm
thành một thiên trong Kinh lễ gọi là Nhạc Ký Như vậy Lục kinh chỉ còn lại Ngũ kinh
Ngay khi còn tại thế, Ngũ kinh đã được đông đảo các môn đệ của ông hân hoan tiếp
nhận Cho dẫu được xây dựng trên một nền tảng lịch sử như thế nào và cho dẫu sự kế thừa
đã diễn ra ở mức độ cụ thể ra sao, thì Ngũ kinh vẫn thật sự là tinh hoa trí tuệ của Khổng
Tử Từ Ngũ kinh và trên cơ sở Ngũ kinh, Khổng Tử đã có công đặt nền tảng căn bản đầu
tiên cho sự khai sinh của Nho học
Sau Ngũ Kinh, đồng thời kế tục và phát triển những tư tưởng của Ngũ kinh là Tứ
thư Nếu như Ngũ kinh chủ yếu gắn liền với tên tuổi của Khổng Tử thì Tứ thư chủ yếu gắn
liền với tên tuổi những môn đệ mà gần gũi và xuất sắc nhất của ông
Trang 17Tứ thư gồm có: Luận Ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử Cùng với Ngũ kinh, Tứ thư là kinh điển của Nho giáo
Luận ngữ: Là sách ghi của những lời nói và việc làm của Khổng Tử cùng các thế
hệ môn đệ đầu tiên của ông Luận ngữ còn có tên gọi khác là Lỗ luận Sách gồm 10 quyển, mỗi quyển đều có hai thiên, tổng cộng là 20 thiên
Đại học: Người đầu tiên có công cống hiến một phần của Kinh lễ thành một trong
Tứ Thư là Tăng Tử - một học trò xuất sắc của Khổng Tử
Văn phong của Đại học rất giản dị, dễ đọc, dễ nhớ, nhưng vẫn chuyển tải được
những ý tưởng sâu sắc, khiến cho người học chỉ cần đọc qua cũng đã có thể sơ bộ hiểu được, dạy phép làm người để trở thành bậc quân tử
Trung dung: Có nguồn gốc từ Kinh lễ Người đầu tiên có công biến một phần của Kinh lễ thành sách Trung dung là Tử Tư (tức Khổng Cấp), con của Khổng Bá Ngư, cháu
nội của Khổng Tử Trung dung dạy cho người ta cách sống dung hoà, không thiên lệch
Trung dung cũng được coi là khó hiểu nhất trong Tứ thư
Mạnh Tử: Mạnh Tử là tên sách, đồng thời cũng chính là tên tác giả của sách Sách này do ông cất công ghi chép lại những cuộc đối đáp của chính ông với vua các nước chư hầu và với những học trò gắn bó mật thiết nhất, đồng thời chép lại những ý kiến của mình
về một số học phái đương thời… tất cả gộp lại được bảy thiên, đặt cho tên gọi chung là Mạnh Tử
Như vậy tính đến Mạnh Tử nho học đã tiến được một bước tiến rất xa và cũng rất
vững chắc Cũng tính đến Mạnh Tử, nền tảng căn bản nhất của Nho học là Ngũ kinh và Tứ
thư đã hoàn tất Sau Mạnh Tử Nho học còn được tiếp tục bổ sung và nâng cao với những
khía cạnh và mức độ khác nhau bởi nhiều danh Nho nữa Nhưng tính cho đến trước thời tiền Hán, Nho học ở Trung Quốc nhìn chung vẫn là Nho học xã hội, tồn tại và phát triển trong lòng xã hội chứ chưa có cơ hội để xuất hiện trên vũ đài chính trị và tư tưởng của nhà nước chính thống
Trang 18Đến thời Tiền Hán, một bước ngoặt thực sự của Nho học mới bắt đầu, mà đến lúc
đó thì những người có công khai sinh ra Ngũ kinh và Tứ thư đều đã về chốn vĩnh hằng,
không một ai có cơ may được chứng kiến nữa
1.1.2 Quá trình du nhập
Vào khoảng đầu công nguyên, tức là vào những năm cuối cùng của nhà Tiền Hán, thời Bắc thuộc (bắt đầu từ năm 179 trước Công nguyên đến năm 905 sau Công nguyên) Nho giáo mới bắt đầu truyền bá vào nước ta, với tư cách là công cụ, phương tiện để thiết lập củng cố xã hội, chủ yếu theo gót giày quân xâm lược phương Bắc và giao lưu văn hoá (trong chừng mực nhất định thì đó là sự cưỡng bức văn hoá) Nho giáo ở nước ta thời Bắc thuộc chỉ bao hàm nội dung rất hạn hẹp nhưng lại được coi là những khuôn mẫu về đạo đức và luật pháp
Nho giáo truyền vào nước ta bởi những hoạt động mang tính tự phát của khá đông Nho gia Trung Quốc thất thế, bị đày hoặc tự dộng di cư lánh nạn sang nước ta gần như những nhà truyền bá Nho giáo vào nước ta thời Bắc thuộc đều là người Trung Quốc, họ gồm nhiều thành phần phong phú khác nhau, nhưng phần lớn là quan lại của chính quyền
đô hộ
Nho giáo với tư tưởng Tam Cương Ngũ Thường, tư tưởng Thiên mệnh hết sức khắc nghiệt và phản động đã được quân xâm lược phương Bắc sử dụng như một công cụ chủ yếu để thống trị, nô dịch nhân dân ta và biến nước ta thành một quận, huyện của Trung Quốc, biến văn hoá nước ta phụ thuộc và là một bộ phận văn hoá Hán Lúc đầu ngoại trừ một số người thuộc tầng lớp trên của xã hội ít nhiều tiếp thu tri thức Nho giáo do được học tập theo tư tưởng Nho giáo và tham gia vào bộ máy cai trị của chúng, còn lại tuyệt đại đa số nhân dân ta căm ghét xa lánh Nho giáo, chống lại Nho giáo và văn hoá Hán,
vì vậy Nho giáo trong thời kỳ đầu ít có ảnh hưởng sâu đến đời sống của nhân dân Việt Nam
Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, là giai đoạn xây dựng chế độ phong kiến dân tộc độc lập Mặc dù Nhà nước đã có tính chất căn bản của một Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, nhưng ảnh hưởng của Nho giáo trong thời này không đáng kể Tình hình trật tự kỷ
Trang 19cương trong xã hội chưa thật sự ổn định, những hiện tượng trái với các quan điểm của Nho gia về chính danh, trái đạo trời… chứng tỏ Nho giáo chưa có một chỗ đứng và cơ sở vững chắc để phát triển
Đến thời Lý - Trần là giai đoạn xây dựng và củng cố, phát triển của chế độ phong kiến và Nhà nước phong kiến tập quyền Vì nhu cầu tổ chức, duy trì và phát triển bộ máy Nhà nước và chế độ phong kiến vững mạnh, vì mong muốn duy trì trật tự kỷ cương xã hội, cùng việc cai trị, quản lí xã hội và xây dựng phát triển đất nước hết sức bức thiết… các nhà tư tưởng đã tìm thấy ở Nho giáo với những tư tưởng về thiên mệnh, Tam cương, Ngũ thường hết sức phù hợp với những yêu cầu trên nên Nho giáo bắt đầu được các triều đại phong kiến Việt Nam đề cao, khai thác, và sử dụng như một công cụ, một vũ khí sắc bén trong việc cai trị và quản lí xã hội Tuy nhiên, ở thời Lý, Nho giáo vẫn giữ một vị trí khá khiêm tốn trong xã hội và chỉ khi sang đến đời Trần, cùng với sự “thất sủng” của Phật giáo thì Nho giáo lúc này mới “lên ngôi”, ngày càng có vị trí, vai trò nhiều hơn trong đời sống con người và xã hội Đến cuối đời Trần, Nho giáo đã trở thành ý thức hệ thống chính trị xã hội
Thế kỷ XV là thời kỳ phát triển cao độ chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế và
bộ máy Nhà nước phong kiến tập quyền quan liêu Đến giữa thế kỷ XV dưới thời vua Lê Thánh Tông, chế độ phong kiến Việt Nam đã phát triển tới giai đoạn toàn thịnh Đây cũng
là giai đoạn Nho giáo được đẩy lên bằng các biện pháp: tổ chức Nhà nước quân chủ tập trung, pháp luật và các chính sách, giáo dục, và khoa cử Nho học Các vua quan nhà Lê,
để phục vụ cho giai cấp mình đã chủ trương “độc tôn Nho giáo” và ban những chiếu dụ, luật gây khó khăn, hạn chế sự phát triển và ảnh hưởng của những tôn giáo khác như Phật giáo, Đạo giáo…
Ở những thế kỷ sau, vai trò của Nho giáo ngày càng mờ nhạt Mặc dù các vua quan vẫn ra sức đưa Nho giáo thành hệ tư tưởng chính thống trong xã hội, và dưới triều Nguyễn Nho giáo một lần nữa trở lại vị trí độc tôn, nhưng đó là một Nho giáo đã biến chất nhiều, tính tích cực không còn, trái lại mang nhiều sự bảo thủ giáo điều, tiêu cực… nên sự ảnh hưởng của nó trong nhân dân không còn mạnh mẽ Đó là thực trạng đương thời, càng về sau, chế độ phong kiến càng lâm ào khủng hoảng, “đạo thống” không còn được tôn trọng,
Trang 20kỷ cương, phép tắc, luân thường bị đảo lộn, lý tưởng về một xã hội thái bình, thịnh trị ổn định ngày càng mất hiệu lực… Giai cấp phong kiến vì lợi ích của mình đã dần mất đi vai trò lãnh đạo tích cực mà dần đi vào con đường phản động, chống lại nhân dân, ra sức bóc lột nhân dân để phục vụ cho lợi ích của mình Xã hội ngày càng rối loạn, trộm cắp nhan nhản, các cuộc khởi nghĩa bạo động của nhân dân ngày càng nhiều, và thậm chí ngay ở trong cung đình thì cha con, anh em mưu hại, tàn sát, lẫn nhau… Những quan niệm Nho giáo trở nên giáo điều, xa rời thực tế, không còn phù hợp vớii xã hội nên dần dần bị đào thải và người dân tìm quên nỗi khổ của mình trong Phật Giáo, Đạo giáo…Nhưng nói cho cùng Nho giáo du nhập vào Việt Nam đã ảnh hưởng sâu đậm trên nhiều lĩnh vực như tư tưởng, thơ văn, phong tục tập quán… của người Việt từ xưa cho đến nay
Tuy Nho giáo Việt Nam về cơ bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Quốc, nhưng không phải là một phiên bản hoàn chỉnh mà đã có những biến đổi nhất định so với Nho giáo Trung Quốc Quá trình du nhập và tiến tới xác nhập vị trí của Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam cũng là quá trình tiếp biến văn hoá hết sức sáng tạo của người Việt trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, là một nét độc đáo trong văn hoá Việt Nam
1.2 Những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc đối với văn hoá Việt Nam
1.2.1 Những ảnh hưởng đối với tầng lớp tri thức phong kiến
Những quan điểm nổi bật của các nhà Nho, nhà tư tưởng Việt Nam và xã hội với những đặc trưng cơ bản là chế độ phong kiến thái bình, thịnh trị và thống nhất, trong xã hội đó có “vua sáng tôi hiền” cùng nhau “đồng tâm hiệp sức” để trị nước yên dân Vua là người có đức, quan thì mẫn cán, trung thành và quan tâm chăm sóc dân chúng, để trăm họ
an vui, hạnh phúc Rõ ràng nhà Nho, nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đã khai thác tư tưởng đức trị trong học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo để đưa ra quan điểm với một
xã hội lý tưởng Nhưng một số đặc trưng khác trong quan điểm của các nhà Nho Việt Nam được hình thành từ truyền thống nhân ái, yêu hoà bình và thực tiễn xây dựng và bảo
vệ tổ quốc của nhân dân ta Vì vậy, về cơ bản, xã hội lý tưởng trong quan điểm của người Việt Nam là sự bổ sung và phát triển tư tưởng của Nho giáo Những đặc trưng đó không
Trang 21chỉ là mục tiêu, định hướng cơ bản mà còn là cơ sở căn cứ chỉ đạo hoạt động của chế độ phong kiến Việt Nam trong công cuộc xây dựng triều đại, xây dựng và phát triển đất nước
về nhiều mặt
Quan điểm về một xã hội lý tưởng của các nhà Nho Việt Nam được hình thành, hoàn thiện và phát triển không thể không chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo nhưng truyền thống văn hoá của dân tộc, điều kiện kinh tế xã hội, những nhiệm vụ thực tiễn đặt ra cho chế độ phong kiến Việt Nam, và cho cả dân tộc, ở từng thời kỳ phát triển là yếu tố chi phối Vì vậy mà quan điểm về xã hội đó cùng những đặc trưng cơ bản của nó được bổ sung thêm và vượt qua những giới hạn chật hẹp, gò bó, khắc nghiệt của Nho giáo Tất nhiên xã hội ấy cũng chỉ là một xã hội phong kiến, không vượt qua khuôn khổ phong kiến với những giới hạn của nó Do vậy mà quan điểm đó cũng chỉ nhằm mục đích duy trì sự tồn tại của chế độ phong kiến và góp phần duy trì bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị
Nho giáo đặt mối quan hệ vua tôi là cao nhất trong ngũ luân Ở Việt Nam các nhà Nho không quá “Ngu trung” như ở Trung Quốc Họ đòi hỏi nhà vua trước hết phải trung thành với tổ quốc và phải chăm lo quan tâm đến đời sống người dân Nhân nghĩa trong Nho giáo Việt Nam cốt đem lại cho nhân dân cuộc sống thanh bình và quân đội chính nghĩa phải tiêu diệt những quân tàn bạo như Nguyễn Trãi đã viết trong “Đại cáo Bình Ngô”:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Nho giáo hết sức đề cao việc học coi trọng “văn bị” hơn “võ bị” Với tinh thần của Nho giáo: “học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện”, “Giáo gia”, “đào tạo kẻ sĩ, nhân tài là công việc đầu tiên cơ bản”, của nhà vua, của chế độ… Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tiếp thu trọn vẹn những tư tưởng quan điểm của Nho giáo về giáo dục, về việc dạy và học Ảnh hưởng của Nho giáo đến nền giáo dục Việt Nam rất mạnh mẽ Nội dung dạy học và thi cử, trong hệ thống giáo dục nước ta thời phong kiến cơ bản không nằm ngoài những tri thức trong kinh sách Nho giáo như Tứ thư , Ngũ kinh Người đi học, đi thi, đỗ đạt, làm
Trang 22quan, làm thầy phải thông thạo những kiến thức đó Điều đó chứng tỏ Nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc và chi phối các khâu, các mặt, các lĩnh vực của nền giáo dục, khoa cử Việt Nam Nhà nước đặc biệt coi trọng, đề cao nhân tài, những người có học, đỗ đạt, họ được
bổ nhiệm làm quan, làm thầy, được hưởng bổng lộc của nhà vua, được nhà vua ban yến tiệc, làm lễ xướng danh, ghi tên vào bia đá, được vinh quy bái tổ, được cả xã hội tôn kính… Vì vậy, nền giáo dục khoa cử ở Việt Nam đã tạo ra một truyền thống “tôn sư trọng đạo”, tinh thần ham học, hiếu học, trọng người có học…
Tuy nhiên, nền giáo dục Nho học ấy cũng có những tiêu cực, những mặt hạn chế
của nó, những điều người ta học chỉ bó hẹ trong Tứ thư Ngũ kinh, những kinh sách của
Nho giáo Những tri thức ấy đôi khi hết sức giáo điều, xáo rỗng, sách vở, ra rời thực tế và làm thui chột sức sáng tạo của người học khi cứ phải học thuộc lòng theo những khuôn mẫu sách vở Nho giáo đề cao việc học nhưng lại phiến diện, một chiều: coi trọng việc học nhưng lại không coi trọng việc giáo dục nhân cách, dạy nghề Nho giáo không cung cấp cho con người những kiến thức cần thiết trong cuộc sống như những kiến thức về khoa học kỹ thuật, hướng nghiệp, làm ăn, mà chỉ dạy họ làm thơ văn, cung cấp những kiến thức về khoa học xã hội, văn học, sử học, triết học… đã khiến cho nhiều nhà Nho học chỉ “có tiếng mà không có miếng”, họ chỉ có kiến thức sách vở mà không có thực tài Đồng thời dẫn tới những hiện tượng tiêu cực trong xã hội như dùng tiền để “mua quan bán tước”, những tư tưởng trì trệ như chỉ có một con đường tiến thủ bản thân là đi học, đi thi
và ra làm quan
Tất cả những hạn chế này là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tính bảo thủ, xa rời thực tế của Nho giáo, cản trở bước phát triển của lịch sử Đặc biệt từ thế kỷ XVI trở đi ở Việt Nam dưới chế độ phong kiến và những hệ lụy của nó vẫn còn kéo dài tới ngày nay
1.2.2 Những ảnh hưởng đối với tầng lớp bình dân
Ở Việt Nam Nho học được gọi là Nho giáo, người Việt tiếp nhận những yếu tố mang tính tôn giáo ở Nho giáo sâu sắc hơn, khiến Nho giáo Việt Nam gần giống với một tôn giáo hơn là một học thuyến chính trị xã hội Những người nông dân là tầng lớp chiếm
Trang 23số đông trong xã hội, không thể hiểu thấu đáo những lý thuyết “Thiên mệnh”, “tính lý”… nhưng họ dễ dàng tiếp nhận Nho giáo qua những quan niệm hiếu trung lễ nghĩa… cùng ý thức củng cố về gia đình, họ tộc và cộng đồng qua những hoạt động có tính công giáo Vào thế kỷ thứ XIX, ở nhiều làng quê Việt Nam đã có những văn chỉ bia miếu thờ thánh Khổng Tử Nho giáo Việt Nam là loại tôn giáo đặc biệt không hề có giáo chủ, giáo hội, giáo điều, giáo dân, nhưng nhờ những nhà Nho như là tầng lớp tăng lữ đặc biệt đi rao giảng kinh sách Khổng Mạnh mà người người nghe theo Những lời nói của Khổng Mạnh
là lời của Thánh Nhân không ai bàn luận nó đúng hay sai mà mọi người chỉ biết tuân thủ
nghiêm khắc như tuân theo tín điều tôn giáo vậy Có thể nói “Nho giáo Việt Nam cũng
giống như là một dạng tôn giáo đặc biệt Nho giáo tuy ít bàn đến vấn đề sống chết mà chủ yếu nói về gia đình tông tộc, đến vua tôi nhưng rất đề cao tín ngưỡng đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Nho giáo không chủ trương xuất gia nhưng lại có hệ thống luân
lý hạn chế những dục vọng chặt chẽ, bắt mọi người phải giũ đúng những qui định khuôn phép, lễ nghi nghiêm ngặt như một tín đồ” 1 Có thể nói Nho giáo ở Việt Nam là một hệ tư tưởng chính xuyên suốt chiều dài lịch sử phong kiến và vẫn còn ảnh hưởng nhiều đến tận ngày nay Nho giáo như là một tư tưởng đánh giá phẩm chất đạo đức của con người trong
xã hội
Tuy nhiên Nho giáo cũng có nhiều hạn chế là xem nhẹ vai trò của người dân, những kẻ “tiểu nhân” tầng lớp thương nhân… là những người trực tiếp làm ra của cải vật chất nuôi sống xã hội nhưng Nho giáo chỉ đề cao người quân tử, kẻ có học Điều này khiến người dân không phát huy sức sáng tạo của mình khiến họ trở nên an phận, không
có sức đấu tranh chỉ biết tuân theo những giáo huấn đôi khi duy tâm, không tưởng của triết lý Nho giáo Ngoài ra, Nho giáo cũng hết sức xem thường thân phận người phụ nữ Những người phụ nữ ấy không có quyền lợi, địa vị gì trong gia đình và cả ngoài xã hội Tông giáo Trung Quốc thực hiện quyền gia trưởng nghiêm ngặt, người phụ nữ có địa vị thấp và khinh thường Còn ở Việt Nam chế độ tông pháp có phần thông thoáng hơn, phụ
nữ cũng được phân chia tài sản, Nho giáo trọng nam khinh nữ đề cao nam giới, còn ở
1
Phan Đại Doãn (1985)- Một số vấn đề lí luận về lịch sử tư tưởng Việt Nam, Viện triết học
Trang 24nông nghiệp Việt Nam lại trọng âm sinh nên coi trọng ngưòi phụ nữ, coi trọng mẹ sinh: thờ Thánh Mẫu, thờ các bà Tứ Phóng, đức Liễu Hạnh…
Còn gia đình truyền thống Việt Nam không có đặc tính một định chế xã hội chính trị như kiểu đại gia đình “tứ đại đồng đường” “ngũ đại đồng đường” như ở Trung Quốc Nho giáo coi trọng gia đình, ít nói tới chú bác cô dì, còn ở Việt Nam luôn mở rộng phạm
vi gia tộc, coi trọng họ hàng, làng xóm: chết cha còn chú, sảy mẹ bú dì, bán anh em xa mua láng giềng gần…
Nho giáo Trung Quốc đề cao gia đình hơn dòng họ trong khi Nho giáo Việt Nam coi trọng dòng họ hơn gia đình Mỗi dòng họ đều có trưởng họ, nhà thờ họ và ngày giỗ họ
Do đó, tổ chức họ tộc, các tập tục thờ cúng tổ tiên có ảnh hưởng đối với người Việt Nam sâu đậm hơn, ngoài ra chế độ tông pháp ở Việt Nam không chặt chẽ như ở Trung quốc
Trong điều kiện như trên, những tư tưởng của Khổng Tử toát lên tinh thần khoan dung, sống có trách nhiệm với nhau Việt Nam tiếp thu Nho giáo mang đậm bản sắc văn hoá nông nghiệp lúa nước của mình là ưa chuộng hoà bình, trọng tình trọng nghĩa, trọng tình nghĩa làng xóm, triết lý âm dương hoà hợp sinh thành đã nảy nở… Văn hoá Việt Nam
là văn hoá nông nghiệp, Nho giáo cũng là văn hoá nông nghiệp nhưng lại kết hợp thêm văn hoá du mục từ thời Hán
Bản sắc văn hoá Việt Nam nông nghiệp trọng nghĩa tình, nên dễ dàng hoà nhập với đạo đức Nho giáo nhân, lễ, nghĩa, trí tín, trong cuộc sống tình người gương mẫu hàng ngày
Văn hoá nông nghiệp lúa nước Việt Nam đã sớm nảy nở tư duy ẩn dụ về vũ trụ theo cấu trúc âm dương ngũ hành, khi Nho giáo vào Việt Nam đã giúp hệ thống hoá, ký hiệu hoá cấu trúc này thành giá trị văn hoá phổ biến sử dụng sau này Người Việt tôn trọng Trời, nhưng Trời không đơn lẻ chỉ có dương sinh, cha sinh như trong quan niệm Nho giáo mà Trời ở người Việt bao giờ cũng đi liền với Đất, như dương kết hợp với âm: thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn, “ Trời cao đất dày ơi, khấn xin keo âm dương”
Trang 25Ảnh hưởng của Nho giáo vào Việt Nam trên cơ sở một tiểu nông lúa nước, do môi trường xã hộit như vậy mà những lí thuyết và tư tưởng Nho giáo từ Trung Quốc vào Việt Nam cũng phải được “điều hoà hoá” để thích hợp với xã hội Việt Nam
1.2.3 Những ảnh hưởng đối với đời sống văn hoá hiện đại
Hiện nay ở Việt Nam đối với vấn đề Nho giáo hiện nay có những điều trong lí thuyết, tư tưởng Nho giáo không còn phù hợp với nhu cầu thực tiễn, chế độ tông pháp có nhiều nhược điểm như gia trưởng, hạn chế tự do dân chủ, bình đẳng, coi thường phụ nữ,
tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, phải có con trai nối dõi diễn ra không ít và phá vỡ việc sinh đẻ có kế hoạch Tác phong gia trưởng, “tình nhà cao hơn phép nước”, vẫn còn diễn ra
ở nhiều cơ quan đoàn thể, thậm chí ở nhiều thôn quê còn tạo ra bè phái, gây nhiều xích mích Nhưng có những quan điểm vẫn đúng đắn phù hợp với xã hội Việt Nam hiện nay Điều quan trọng là chúng ta phải biết loại bỏ những điều hủ lậu, lạc hậu của Nho giáo và giữ gìn phát huy những nhân tố hợp lí của nó nhằm khôi phục lại truyền thống tốt đẹp xưa nay của văn hoá Việt Nam
Gia đình là điều kiện tiên quyết cho xã hội ổn định, giáo dục gia đình sẽ góp phần ngăn chặn những tệ nạn xã hội Những ảnh hưởng tích cực của Nho giáo và mối quan hệ gia đình cũng rất cần thiết và cần được duy trì như: hiếu để “kính trên nhường dưới”, “chị ngã em nâng”, “tôn sư trọng đạo” “uống nước nhớ nguồn”… và khôi phục lại những mối quan hệ, sinh hoạt gia đình truyền thống như thờ cúng tổ tiên, nhận lại anh em họ hàng xa… củng cố quan hệ gia đình, gạt bỏ tư tưởng gia đình trị, thái độ bao che lẫn nhau của người trong họ hàng, gia đình…
Tư tưởng khoan dung là một trong những tư tưởng lớn của Khổng - Mạnh Những quan niệm: tứ hải giai huynh đệ, kỷ sở bất dục vật thi ư nhân, dĩ hoà vi quý, kỷ dục lập nhi lập nhân - Kỷ dục đạt nhi đạt nhân trong Luận ngữ thì thực sự là những mệnh đề có ý nghĩa tích cực thể hiện một tinh thần khoan dung nhân hậu
Xã hội hiện đại, trong một nước, một khu vực chứa bao nhiêu hiện tượng khác biệt thậm chí là mâu thuẫn như: giàu - nghèo, sang - hèn, lạc hậu - tiến bộ, cá nhân - cá nhân,
Trang 26sắc tộc, chủng tộc, chế độ chính trị, nước lớn nước nhỏ… Tất cả những mâu thuẫn trên dù
to nhỏ khác nhau đều tạo ra khả năng mất ổn định xã hội, thậm chí còn xung đột
Ngày nay người phụ nữ đã có được thế bình đẳng với nam gới trong lĩnh vực gia đình, và cả lao động, sản xuất, quản lí Nhà nước… Tuy nhiên ở một số vùng nông thôn, thậm chí là ngay cả xã hội hiện đại, người phụ nữ vẫn chịu nhiều bất công, bị khinh rẻ, bị
ép buộc, bị bạo hành… Điều quan trọng là phải giải phóng phụ nữ khỏi tinh thần trọng nam khinh nữ, trói buộc phụ nữ trong chuyện bếp núc, gia đình, những bất công xã hội…, cho họ cơ hội được học hỏi, được tiềp thu những kiến thức xã hội, có ý thức về bản thân mình và được sự tôn trọng, đồng thời bình đẳng tuyệt đối Đồng thời người phụ nữ Việt Nam phải luôn trau dồi kiến thức và đạo đức, phải tự giải phóng mình thoát khỏi những bất công trong tư tưởng Nho giáo, làm đẹp mình không chỉ ở ngoại hình mà cả ở trong tâm hồn, để xứng đáng với tám chữ vàng mà Hồ Chí Minh đã trao tặng cho phụ nữ Việt Nam “anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang”
Nho giáo luôn quay lưng lại với quá khứ, đời này không bằng đời trước, luôn noi gương người xưa để học, người ít tuổi không bằng người nhiều tuổi, còn xã hội hiện nay luôn nhìn về phía trước, lạc quan vào tương lai, đặt niềm tin vào thanh niên, tiền đồ dân tộc Người Việt Nam từ trước đến nay vẫn luôn đề cao việc học, tinh thần ham học hỏi, đó
là điều rất đáng duy trì và phát triển Cha mẹ phải tạo điều kiện để con cái học hỏi, đồng thời cũng phải tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết trong hoàn cảnh một xã hội hiện đại, luôn cập nhật thông tin, kiến thức khoa học như hiện nay…Việc giáo dục quá giáo điều, sách vở đã tạo nên một thế hệ tri thức nhưng lại không biết cách ứng dụng những tri thức đó trong thực tế, chưa kể những kiến thức cung cấp cho người học quá hàn lâm, không thể áp dụng được trong cuộc sống Ngoài ra, giáo dục ở Việt Nam hiện nay còn nặng về giáo dục lí thuyết, mà chưa chú trọng đến giáo dục nhân cách, giáo dục toàn diện cho người học Đây cũng là một trong những ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo đối với nền giáo dục nước nhà
Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, cùng với thời gian, nó đã tiến tới việc xác lập vị thế của mình và đã trở thành một hệ tư tưởng chính xuyên suốt thời phong kiến Việt Nam Có những giai đoạn Nho giáo đã có những tác động lớn trong việc
Trang 27xây dựng và phát triển Nhà nước phồn thịnh khiến cho người người, nhà nhà đều được ấm
no, mọi người tương thân tương ái, có đạo đức; nhưng cũng có những giai đoạn Nho giáo trở nên lạc hậu, bảo thủ tác động tiêu cự so với sự phát triển của thời đại và kiềm hãm sự phát triển của đất nước, kéo dài sự thống trị của giai cấp phong kiến hàng ngàn năm Dù sao đi nữa, Nho giáo cũng là một trong những hệ tư tưởng chính trong hệ tư tưởng Việt Nam và nó đã in đậm dấu ấn, sự ảnh hưởng của mình trên tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam như văn hoá xã hội, văn học, triết học, giáo dục thi cử… sự ảnh hưởng ấy không chấm dứt mà vẫn còn kéo dài mãi cho đến ngày nay
Trang 28CHƯƠNG II : KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA
NHO GIÁO TRUNG QUỐC
2.1 Đặc điểm kiến trúc Nho giáo Trung Quốc:
Nho giáo chủ yếu ảnh hưởng trong các loại hình kiến trúc như đô thành và cung điện, đàn miếu hay lăng tẩm của các vua chúa Sở dĩ như vậy vì các loại kiến trúc này đều dựa trên nền tảng của tông pháp phong kiến Hệ thống cung điện và đô thành đã đạt được những thành tựu to lớn, làm nổi bật tư tưởng và quan niệm đẳng cấp rất chặt chẽ Các đàn miếu là những kiến trúc thờ các vị thần thiên nhiên và các bậc thánh hiền, hay lăng tẩm các vua chúa phát triển trong bối cảnh văn hóa đặc biệt coi trọng huyết thống họ hàng lâu
đời, coi người chết như người sống, v.v
2.1.1 Nghệ thuật bố cục cảnh quan và mặt bằng kiến trúc các loại hình kiến trúc cung đình Trung Quốc:
a Kiến trúc đô thành và cung điện Trung Quốc:
Đô thành và cung điện là kiến trúc phát triển chín muồi sớm nhất đạt được thành tựu cao nhất và quy mô lớn nhất của Trung Quốc, chú trọng ổn định trật tự chính trị - xã hội Cung điện là nơi thiết triều và là nơi ở của các bậc đế vương, ngoài đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt vật chất của các vị hoàng đế ra, thì điều quan trọng hơn cả là với ưu thế nguy nga tráng lệ, quy mô hoành tráng và bố cục không gian chặt chẽ của cung điện khiến người ta bị khuất phục làm nổi bật uy quyền của đế vương Điều này là một trong những quan niệm của Nho học mà ta đã nói ở trên
Qua đó ta thấy quan niệm của Nho giáo đã ảnh hưởng rất to lớn đến kiến trúc cung điện của Trung Quốc Để hiểu rõ hơn ta có thể điểm qua một số kiến trúc cung điện nổi tiếng trong các thời kỳ Các triều đại Tần, Hán đều có những cung điện nổi tiếng như cung
A Phòng ở Hàm Dương đời Tần, cung Vị Ương và cung Kiến Chương ở Trường An đời Hán đều là cao trào thứ nhất của kiến trúc cung điện Tuy nhiên do thời gian cách đây quá
xa nên không rõ được tình hình cụ thể
Trang 29Ở đây chúng tôi chỉ xin giới thiệu kiến trúc đô thành và cung điện thời Tùy, Đường
và Minh – Thanh vì đây là hai thời kỳ mà kiến trúc đô thị và cung điện đạt được nhiều thành tựu nổi bật và đặc trưng nhất của Trung Quốc
* Đô thành và cung điện thời Tùy, Đường
Trong cuốn Lễ ký, lần đầu tiên về mặt lý luận khái quát cao độ tầm quan trọng của
bố cục đối xứng qua trục trung tâm trong quần thể kiến trúc đối với việc làm nổi bật địa vị tôn quý, nêu lên những điện đường chính cần được xây ở những vị trí quan trọng nhất trên đường trục trung giữa gần với trung tâm Quan niệm này gọi là “thuyết lựa chọn trung
tâm” Tuân Tử còn nói một cách cụ thể hơn: “Quân vương nên ở trung tâm của thiên hạ
mới phù hợp với lễ nghi” Lã Thị Xuân Thu cũng viết: “Nên chọn trung tâm của thiên hạ
để xây quốc đô (thủ đô của một nước) và lựa chọn trung tâm của quốc đô để xây dựng cung điện”
Cũng tuân theo quan niệm đó, bố cục của Trường An đã phản ánh những đặc điểm lớn của thành phố Trung Quốc đời Hán, Đường
Trường An của Tùy, Đường được xây dựng lần đầu tiên vào năm Khai Hoàng thứ 3 (583) triều nhà Tùy, nằm ở Đông Nam Trường An của nhà Hán Bố cục của Trường An đối xứng ngay ngắn, có quan hệ đối vị nghiêm ngặt, đặc biệt là bố cục cung thành Trường
An Từ thành quách cho đến hoàng thành rồi cung thành Trường An được tổ chức, bố cục chặt chẽ, có thứ tự, tường thành từ thấp đến cao, bố cục từ thưa đến dày, kiến trúc từ nhỏ đến to, màu sắc từ nhạt đến đậm, tiết tấu từ chậm đến gấp gáp, không khí từ dân dã đến trang nghiêm, cuối cùng tập trung vào một điểm đậm nét nhất – Thái Cực Cung, nơi thiết triều của Hoàng đế, mỗi phần trong thành đều là những ánh hào quang phát ra từ điểm này,
có tác dụng làm tôn lên Thái Cực Cung như những ngôi sao vây quanh mặt trăng
Các cung điện thời Đường cũng vô cùng nổi tiếng và có thể nói là đặt nền móng quan trọng trong việc thiết kế các cung điện của các đời sau Các cung điện nổi bật như Thái Cực Cung, Đại Minh Cung và Minh Đường đời Võ Tắc Thiên Trong đó Thái Cực Cung có thể là nói là trung tâm của Trường An và Đại Minh Cung là một kiệt tác nghệ thuật vĩ đại, nhưng tất cả những công trình này đều đã mất đi theo thời gian
Trang 30Mặt bằng của toàn bộ thành Trường An là mặt bằng hình vuông, được bố trí, quy hoạch chặt chẽ, nghiêm ngặt Toàn thành có tất cả mười một phố ở phía nam bắc, mười bốn phố ở phía đông tây, hợp thành khu ngay ngắn, vuông vắn, đông tây đối xứng nhau, trong khu ô vuông này có 108 khu phường dân cư và hai chợ ở phía đông và phía tây là nơi tập trung buôn bán Bốn phía của khu phường dân cư là các bức tường bao, trên thực
tế đây là rất nhiều thành nhỏ trong một thành lớn Thành phố theo khu dân cư này, từ các phố lớn chỉ thấy những bức tường bao, nghiêm trang và lạnh lẽo Sở dĩ như vậy là vì chủ nhân của đô thành đời Đường nói riêng và đô thành Trung Quốc cổ đại nói chung là những kẻ thống trị dưới sự khống chế của tầng lớp chính quyền, là tấm bình phong vững chắc của chế độ phong kiến, những người làm nghề buôn bán kinh doanh thân phận thấp hèn, không có địa vị độc lập Những điều này đều được phản ánh qua bộ mặt của thành phố, điều đó chính là sự thể hiện rõ rệt nhất của quan niệm Nho giáo trong kiến trúc đô
thành Trung Quốc, luôn coi trọng thiên tử và giai cấp thống trị (Hình II.1)
Thái Cực Cung cũng sử dụng bố cục đối xứng qua trục trung tâm, phía đầu
và cuối dọc theo đường trục trung tâm có bố trí mấy tòa điện lớn
Trên trục dọc thiết kế nhiều lớp sân, điện, đối xứng hai bên trái phải cũng bố trí nhiều lớp sân, điện, sử dụng nhiều đường thông ngang dọc và các hành lang, nhà vu nối với nhau (nhà nhỏ đối diện với nhà chính ở hai bên) nối với nhau, sự đan chéo của tổng thể tạo thành phương thức thiết kế trên một diện tích rộng, đặc biệt cần chú ý là tính hữu
cơ của chỉnh thể, sự to nhỏ của sân, quy mô của các điện đường, việc làm nổi bật vị trí thống soái của chính và phụ, việc thể hiện các cao trào và sự thay đổi, chuyển hoán giữa
các không gian… đều cần đến sự sắp xếp nghệ thuật tinh vi, tỉ mỉ (Hình II.2)
Ngoài Thái Cực Cung thì những cung điện khác của nhà Đường cũng đều tuân theo
bố cục đối xứng qua trục trung tâm một cách nghiêm ngặt như Đại Minh Cung và Minh Đường thời Võ Tắc Thiên Tất cả những cung điện này đều có bố cục đối xứng qua trục trung tâm và dọc theo đường trục là những tòa điện lớn nhỏ và vườn cảnh vô cùng cân
đối.(Hình II.3)
Trang 31Về mặt bằng, mặt bằng của các kiến trúc cung điện đời Đường chủ yếu được xây theo hình chữ “ao” (凹 - có nghĩa là “lõm”) như mặt bằng của thành Thiên Môn của Thái Cực Cung hay quần thể kiến trúc Hàm Nguyên Điện của Đại Minh Cung Hai bên của tòa điện chính là những lầu các nối liền nhau đối xứng bao lấy tòa điện Điều đó một lần nữa
khẳng định vị trí trung tâm của thiên tử mà trong Nho giáo đã nhắc đến (Hình II.4)
Như vậy, ta có thể dễ dàng nhận ra, đặc điểm chung của bố cục cảnh quang mặt bằng của đô thành và cung điện thời Đường là bố cục đối xứng qua trục trung tâm và dàn trải sang hai bên theo chiều ngang Mặt bằng chủ yếu hình vuông và hình chữ “ao” Điều này làm cho các cung điện đời Đường trở nên hoành tráng và choáng ngợp như ánh mặt trời huy hoàng rực rỡ của một triều đại cực thịnh
* Đô thành và cung điện thời Minh, Thanh:
Bắc Kinh: Kinh đô nổi bật của hai triều đại này còn tồn tại hầu như nguyên vẹn
đến ngày nay chính là Bắc Kinh, được cải tạo trên nền Đại Đô của triều Minh Thành Đại
Đô khởi công xây dựng năm 1267 đến năm thứ 22 triều Nguyên (năm 1285) mới hoàn thành
Thành Đại Đô có mặt bằng tổng thể hình vuông Cung thành nằm trên đường trục giữa toàn thành, chia ra hai phần tiền triều và hậu cung Thành Đại đô hay thành Bắc Kinh
có bố cục nghiêm cẩn, có đường trục giữa rõ ràng lấy kinh thành làm trung tâm, đường trục này xuyên đến tận các tòa lầu trung tâm phía bắc hoàng thành Hệ thống đường phố của thành Đại Đô theo hình mạng lưới, các đường theo dọc nam bắc xuyên suốt toàn thành phố, các đường theo dọc đông, tây do bị hoàng thành ngăn cách mà thành hình chữ
“Đinh” (丁)
Ngoài ra, thành Bắc Kinh đời Thanh còn xây thêm một đoạn tường thành mới ở phía nam gọi là thành ngoại, thành cũ được đổi tên gọi là thành nội Phía nam của thành ngoại có Thiên Đàn, phía đông có Nhật đàn và phía tây có Nguyệt Đàn, hình thành bốn trọng điểm ở vòng ngoài, vây lấy hoàng thành và cung thành ở trong Thái Miếu và Xã Tắc Đàn nằm ở bên trái và phải Ngọ Môn – cổng chính của cung thành ngay sát hoàng cung
Trang 32Mỗi năm đến tiết Đông chí, Hạ chí, Xuân phân và Thu phân, hoàng đế lại lần lượt đến Thiên Đàn, Địa Đàn, Nhật Đàn và Nguyệt Đàn tiến hành tế lễ Thiên địa nhật nguyệt, đông hạ xuân thu, nam bắc đông tây, những cụm đối xứng này đã thể hiện quan niệm về
vũ trụ trời đất và con người hợp nhất của người Trung Quốc cổ đại, đúng với tinh thần của Nho giáo, coi con người là trung tâm của vũ trụ
Do phía nam mở thêm thành ngoại nên đường trục giữa của toàn thành dài thêm rất nhiều Căn cứ theo tổng chiều dài của đường trục thì từ nam lên bắc toàn thành được thiết
Phần thứ ba: từ núi Cảnh Sơn đến gác trống và gác chuông, đây là đoạn ngắn nhất
Bố cục của thành Đại Đô và sau này là thành Bắc Kinh cũng tuân thủ nghiêm ngặt
bố cục đô thành mà Nho giáo đã đề cập trước đây, đó là bố cục đối xứng qua trục trung tâm và cung thành nằm ngay vị trí trung tâm của đô thành Đây chính là đô thị hùng vĩ nhất tiêu biểu cho kiến trúc đô thành của Trung Quốc còn tồn tại đến ngày nay
Bên cạnh đó, bố cục cảnh quan của Bắc Kinh cũng ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc
và hòa quyện vào thiên nhiên Theo một nghiên cứu gần đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiên một đặc điểm lạ lùng trong bố cục của Bắc Kinh Đó là là bố cục hình tượng “Song Long” trong bố cục toàn cảnh kiến trúc của Bắc Kinh Con rồng thứ nhất được gọi là
“Thủy Long”, còn con thứ hai là “Lục Long” vô cùng kỳ thú Toàn bộ hệ thống các hồ đầm của Bắc Kinh tạo ra một “Thủy Long” hướng theo hướng tây bắc “Lục Long” thì được tạo nên bởi hệ thống đường giao thông chính của Bắc Kinh Có thể nói bố cục “Song Long” của Bắc Kinh phản ánh tư tưởng “quân, thần” rất được đề cao trong giai đoạn lịch
sử này và cũng chính là tinh thần chủ đạo của Nho học (Hình II.5)
Trang 33Cung điện nổi bật nhất và vẫn còn tồn tại hầu như nguyên vẹn đến ngày nay của hai triều đại này chính là Cố cung, hay còn gọi là Tử Cấm Thành được xây dựng trong 14 năm từ năm Vĩnh Lạc thứ 5 đến năm Vĩnh Lạc thứ 18 của triều đại Minh (1420)
Cố cung: là phần thứ hai của toàn bộ thành Bắc Kinh, được xây dựng nghiêm khắc
theo trật tự lễ giáo, quy phạm chính trị và tinh thần luân lý của các vương triều phong kiến Trung Quốc Bố cục chỉnh thể cũng như quy mô, hình dáng, màu sắc, trang trí và trưng bày của cố cung được xây dựng nghiêm khắc theo trật tự lễ giáo và đẳng cấp nghiêm ngặt Bản thân cố cung cũng có thể được chia làm ba phần chính Phần thứ nhất dài nhất từ Đại Minh Môn đến Ngọ Môn, là cổng chính của cung thành có tất cả ba quảng trường nối tiếp nhau, nằm trước cung, đây là không gian mở đầu Phần thứ hai là Tử Cấm Thành do tiền triều, hậu tẩm và ngự hoa viên hợp thành, đây là cao trào Phần thứ ba ngắn nhất tính từ Thần Vũ Môn, cổng phía bắc Tử Cấm Thành đến đình Vạn Xuân nằm trên đỉnh núi cảnh
sơn là kết thúc (Hình II.6)
Vai trò và thủ pháp nghệ thuật của mỗi phần và mỗi phần nhỏ trong ba phần này không giống nhau, nhưng tất cả đều có gắn bó với nhau, tiền hô hậu ứng, cùng phục vụ cho một chủ đề của kiến trúc là làm nổi bật uy quyền của các vua chúa
Tất cả những phần của Tử Cấm Thành đều tuân thủ nghiêm ngặt bố cục đối xứng qua trục trung tâm Ngay cả Ngự Hoa Viên cũng tuân theo bố cục đó khác hẳn với bố cục
tự do được đặc biệt nhấn mạnh trong vườn cảnh Trung Quốc
Về mặt bằng, mặt bằng tổng thể của Tử Cấm Thành là một hình chữ nhật kéo dài theo hai trục bắc nam Diện tích Cố cung hơn 20000 m2, chiều dài nam bắc gần 1000 m, chiều đông tây rộng 800 m Các công trình bên trong Cố cung cũng được xây dựng rất quy
củ và tuân theo những quy định nghiêm ngặt trong xây dựng mặt bằng Một số công trình tiêu biểu như quảng trường Thiên An Môn được xây dựng theo hình chữ “đinh” (丁), quảng trường đoan môn hình chữ nhật, quảng trường Ngọ Môn hình chữ “ao” (凹), quảng trường điện Thái Hòa hình vuông Sau điện Thái Hòa có điện Trung Hòa và Bảo Hòa, hai điện này có vai trò làm nền cho điện Thái Hòa, cả ba tòa điện đều nằm trên một đài đá trắng hình chữ “công” (工) Phía trước chữ “công” có tòa nguyệt đài (đài nhô ra trước mặt
Trang 34chính điện, ba mặt đều có chỗ lên xuống) lớn nhô ra, nếu căn cứ theo hướng nam – bắc thì đài có hình chữ “Thổ” (土) Theo quan niệm ngũ hành của Trung Quốc thì Thổ nằm chính giữa là tôn quý nhất Đặc điểm chung của mặt bằng kiến trúc Trung Quốc chính là xây dựng theo những khối hình có một trục trung tâm và mở rộng saong hai bên theo chiều ngang Điều này cũng chính là sự thỏa mãn tinh thần của Nho giáo, luôn coi trọng vị trí
trung tâm, vị trí của Thiên tử (Hình II.7, II.8)
Qua kiến trúc đô thành và cung điện của hai triều đại Đường và Minh Thanh, ta cũng nhận ra được đặc điểm bố cục và mặt bằng kiến trúc của đô thành và cung điện Trung Quốc ảnh hưởng Nho giáo sâu sắc Đó là bố cục đối xứng nghiêm ngặt qua trục trung tâm, và dàn trải theo chiều ngang làm cho quy mô kiến trúc của các công trình trở nên nguy nga, tráng lệ và đồ sộ, hùng vĩ
b Kiến trúc đàn miếu:
Nho học dồn sự quan tâm, chú ý đến sự hài hòa, ổn định trong trật tự xã hội loài người, đối với thế giới thần linh, hư vô như có như không, Nho học luôn có thái độ hết sức
né tránh Sách Luận Ngữ nói, Khổng Tử xưa nay không hề nói lời nào liên quan đến quỷ
thần Khi có người hỏi ông chuyện quỷ thần, ông luôn hỏi lại một cách rất thông minh:
“Chuyện con người còn chưa lo xong, hà cớ gì cứ nghĩ đến chuyện ma quỷ?” Câu nói của
ông đã nhắc nhở một cách tích cực mọi người nên quan tâm chú ý đến chuyện của con người Nhưng dưới sự hạn chế về trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật cổ đại và tình trạng xã hội thì sự phát sinh của quan niệm thần linh là điều tất yếu Ngay từ thời tiền sử
đã có việc sùng bái thần tự nhiên và sùng bái tổ tiên, từ đó mới phát triển thành tôn giáo nguyên thủy Trung Quốc là một xã hội sớm phát triển, sau khi bước vào xã hội văn minh,
sự sùng bái nguyên thủy đó được giữ lại và được các nhà Nho cải tạo một cách thận trọng dựa trên quan niệm của mình nên đã được đẩy mạnh, đó là lấy thần quyền và tộc quyền để làm nổi bật hoàng quyền, trở thành trụ cột tinh thần quan trọng, để bảo vệ chế độ đẳng cấp phong kiến Vì thế Khổng Tử vẫn rất coi trọng việc thờ cúng các vị thần tự nhiên và tổ tiên, ông nói chỉ cần làm tốt việc thờ cúng thì việc trị nước không phải là khó Đây chính
là sự thể hiện tinh thần nhập thế của nhà Nho
Trang 35Phương thức thờ cúng đối với hai loại súng bái này cũng có nét khác biệt, thông thường thì thờ cúng tổ tiên, đa số được tiến hành trong phòng gọi là “miếu”, ví dụ Thái Miếu, Khổng Miếu, Quan Đế Miếu, v.v, cũng thường gọi là “nhà thờ”, ví dụ nhà thờ Tư
Mã Thiên, nhà thờ Vũ Hầu, nhà thờ các bậu tiên hiền và nhà thờ họ ở các vùng
Lễ cúng tế các vị thần tự nhiên thường được tiến hành trên một đài cao lộ thiên, gọi
là “đàn”, ví dụ như Thiên Đàn, Địa Đàn, Nhật Đàn, Nguyệt Đàn, Xã Tắc Đàn, v.v Nhưng
có một số vị thần tự nhiên được nhân cách hóa, nên lễ cúng tế cũng thường được diễn ra ở trong phòng và khi đó gọi là “miếu”, ví dụ như Miếu Đại thờ thần núi Thái Sơn, miếu Trung Nhạc thờ thần núi Tung Sơn Hai loại này hợp lại với nhau gọi là “đàn miếu”, là loại hình kiến trúc không giống như chùa miếu tôn giáo, không giống như cung điện, nhà
ở hay vườn cảnh trực tiếp được sử dụng cho cuộc sống của con người, trong đó “đàn” có thể được coi là một loại kiến trúc tôn giáo chuẩn, còn “miếu” mang ý nghĩa nhà tưởng niệm nhiều hơn
Bố cục cảnh quan và mặt bằng của các đàn miếu qua các thời kỳ cũng có nhiều điểm tương đồng như bố cục và mặt bằng của cung điện, hầu hết các miếu thờ và đàn đều
có bố cục đối xứng qua trục trung tâm và có quy mô rộng lớn Mặt bằng cũng thường là hình vuông, hình chữ nhật, được bố trí sắp xếp như một cung điện thu nhỏ Một kiến trúc miếu thờ tiêu biểu cho kiến trúc miếu của Trung Quốc là miếu thờ Khổng Tử Miếu thờ Khổng Tử có ở tất cả các địa phương, nhưng miếu có quy mô nhất là ở Sơn Tây, quê hương của Khổng Tử Bố cục của Khổng Miếu có thể nói là đại diện cho bố cục kiến trúc Nho giáo trong kiến trúc đàn miếu vì đây là nơi thờ Khổng Tử, người đã có công khai sáng ra Nho học Bố cục Khổng Miếu tuân thủ nguyên tắc đối xứng qua trục trung tâm cũng như các kiến trúc khác Các tòa điện chính đều nằm trên đường trục trung tâm nam
bắc, còn các công trình phụ đều đối xứng qua lại hai hướng đông tây.(Hình II.9)
Đối với đàn, là một loại hình kiến trúc đặc biệt hơn vì ẩn chứa trong nó nhiều triết
lý cũng như quan niệm Nho học của người Trung Quốc Trong đó Thiên Đàn có thể coi là một kiệt tác trong kiến trúc cổ đại của Trung Quốc Bố cục của Thiên Đàn cũng là bố cục đối xứng qua trục trung tâm theo hướng nam bắc và mở rộng theo hướng đông tây Tuy nhiên mặt bằng của Thiên Đàn khá đặc biệt Các công trình chính trong Thiên Đàn như
Trang 36điện Kỳ Niên hay Viên Khâu đều có mặt bằng hình tròn Sở dĩ như vậy là vì quan niệm khi xây dựng Thiên Đàn là “Trời tròn Đất vuông” nên hình tròn có ý nghĩa tượng trưng cho bầu trời và thể hiện sự tôn trọng đối với các bậc thần linh đúng với tinh thần Nho giáo
(Hình II.10)
c Kiến trúc lăng tẩm:
Lăng mộ là một loại hình kiến trúc mà trên đỉnh mộ có đắp kín đất, dùng để chôn cất các bậc đế vương Bắt đầu có từ thời Ân Thương, chính thức xuất hiện vào thời Chiến Quốc Lăng mộ trải qua các triều đại của Trung Quốc từ Tần, Hán cho đến Minh, Thanh, luôn luôn được coi trọng Bắt nguồn sự sùng bái tổ tiên nguyên thủy trong thời kỳ tiền sử, qua sự cải tạo nhấn mạnh của các nhà Nho, trong suốt hơn 2000 năm, điều đó đã được thể hiện trong kiến trúc, ngoài “miếu” dùng để thờ cúng tổ tiên, thánh hiền như đã nói ở trên thì quan trọng nhất chính là lăng mộ
Lăng mộ của các bậc đế vương qua các triều đại Trung Quốc nổi tiếng khắp thế giới, nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của những vị vua, chính vì thế mà kiến trúc của lăng mộ hay lăng tẩm vô cùng uy nghi và thể hiện tinh thần hoàng quyền một cách sâu sắc Những lăng tẩm nổi tiếng nhất có thể kể đến lăng tẩm thời Chiến Quốc, lăng tẩm Tần Thủy Hoàng, lăng tẩm đế vương đời Đường, lăng tẩm thời Minh, lăng tẩm thời Thanh Bố cục và mặt bằng của lăng tẩm cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo một cách rõ rệt Các lăng tẩm nổi tiếng như lăng mộ Tần Thủy Hoàng, Hiếu lăng và Thập Tam Lăng đời Minh, Đông Lăng, Tây Lăng đời Thanh Trong số đó, nổi bật nhất và tiêu biểu cho kiến trúc lăng
mộ Trung Quốc chính là Thập Tam lăng
Thập Tam Lăng là tên gọi chung khu lăng mộ của 13 hoàng đế triều Minh, ở chân núi Thiên Thọ, huyện Xương Bình, cách Bắc Kinh 45 km về phía bắc Khu vực này có núi non trùng điệp, hình móng ngựa mở rộng về phía nam, khu lăng tẩm nằm ở chính giữa cực bắc của hình móng ngựa này Dưới chân núi xây dựng Trường Lăng Thành Tổ, cách Trường Lăng 6 km về hướng nam là phần đầu mở rộng của móng ngựa ở hai phía đông và tây, có hai ngọn núi nhỏ đứng sóng đôi, giữa hai núi này xây Đại Hồng Môn, đây chính là khởi điểm của toàn khu lăng Cách lợi dụng địa hình này khiến người ta nghĩ đến truyền
Trang 37thống tốt đẹp coi trọng sự hòa hợp mật thiết giữa môi trường với thiên nhiên Ngoài Trường Lăng, mười hai lăng tẩm còn lại đều phân bố ở hai cánh của hình móng ngựa, tạo thành hình vòng cung mặt hướng ra đường đi chung của thần đạo
Ba khu sân trước và sau Trường Lăng đều rộng rãi và có tường bao quanh Khu sân thứ nhất trong lăng vuông, khu sân thứ hai hình vuông hơi dài, cửa vào gọi là Lăng Ân Môn, có ba cửa trên đường thẳng của cột giữa, nằm trên đài đá một tầng có lan can bằng
đá trắng bao quanh rất giồng Thái Hòa Môn của Tử Cấm Thành Điện Lăng Ân, kiến trúc chính của khu sân thứ hai nằm ở cuối sân, hình dáng và cấu tạo giồng điện Thái Hòa, bề rộng của mặt tiền còn lớn hơn điện Thái Hòa, nhưng độ sâu nông hơn, là đại diện kiến trúc
có quy mô lớn thứ hai của Trung Quốc còn tồn tại đến ngày nay Thập Tam Lăng tiêu biểu cho bố cục cảnh quan hòa quyện với thiên nhiên trong kiến trúc lăng mộ Trung Quốc
(Hình II.11, II.12)
d Yếu tố phong thủy và dịch học trong kiến trúc Nho giáo Trung Quốc:
Yếu tố phong thủy và dịch học của Nho giáo ảnh hưởng vô cung sâu sắc tới kiến
trúc Trung Quốc Theo kiến trúc sư Elip: “Phong thuỷ là nghệ thuật bài trí mọi vật bao
gồm từ việc chọn hướng cho toà nhà cho đến trang trí nội thất và ảnh hưởng của dòng khí đến một địa điểm Phong thuỷ giúp cho con người sử dụng các lực tự nhiên của trái đất và cân bằng âm dương để có được sinh khí, qua đó mang lại sức khoẻ và sinh lực”2 Thông thường phong thuỷ tốt đạt đến được nhờ vào sự kết hợp giữa nhận thức chung và khiếu thẩm mỹ trong quan niệm về không gian, bố trí đồ đạc và sử dụng hiệu quả cáo các công trình xây dựng Ðiều kiện sống tối ưu góp phần nâng cao sức khoẻ, từ đó thường mang đến thành công và sung túc Chính vì thế mà đối với người Trung Hoa, phong thủy đã trờ thành một phần không thể thiếu trong việc xây dựng, từ bố cục cảnh quan, mặt bằng cho đến trang trí nội thất Đó còn là thuật địa lý của người Trung Hoa Các thành phố cổ được thiết kế xây dựng về mặt địa lý trong vùng long khí của các rặng nhiều núi Các kinh đô
và cung điện của các triều đại Trung Hoa đều được thiết kế tuân theo các nguyên lý phong thuỷ, như Tử Cấm Thành được xây dựng vào Triều Minh và tái thiết vào Triều Thanh tuân thủ chặt chẽ theo các quy tắc của phép xem địa lý Hoàng cung này cân xứng với việc
2
TS.KTS E.Lip (1999), Nghệ thuật kiến trúc theo văn hóa cổ Trung Hoa, NXB Văn Hóa thông tin
Trang 38định hướng bắc - nam và cổng chính đối diện hướng nam Mặc dù Phong thuỷ được sáng tạo ra ở Trung Quốc cách đây gần 3000 năm, nhưng thuật này đã lan rộng sang Nhật Bản
và các nước vùng Ðông Nam Á khác cách đây hơn 1.000 năm Nhiều người Trung Hoa và các dân tộc Châu Á khác đã và đang áp dụng thuật Phong Thuỷ đối với trang trí bên trong
và ngôi nhà để đạt được vẻ hài hoà và cân bằng Các nhà địa lý quan niệm mọi vật trong
tự nhiên đều có cuộc sống và linh hồn gắn liền với hình dạng của loài vật mà chúng trông giống Thí dụ, một quả đồi trông giống như hình con rùa là một điểm tốt vì người sống ở
đó sẽ trường thọ như loài rùa Và dãy núi có dạng hình con rồng sẽ mang đến sức mạnh và sinh khí cho dân cư vùng đó
Bên cạnh đó thuật phong thủy cũng bắt nguồn từ Dịch học của Trung Quốc Vào thế kỷ thứ XII trước công nguyên, người Trung Hoa đã thiết lập trật tự Ngũ Hành (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ) cho thấy quan niệm của họ về thế giới Họ cho rằng vạn vật trên Thế giới đều có liên hệ với một hành Trong Ngũ Hành này Ðến thế kỷ thứ II sau công nguyên, người Trung Hoa đã quan sát các chòm sao chính và hành tinh Họ cũng đã xác định chuyển động của hành tinh quanh mặt trời Một thế kỷ sau, các nhà đạo sĩ và võ sư đã phát triển phép kiểm soát dòng khí của cơ thể để biểu diễn các khả năng siêu phàm Nhiều nhà
tư tưởng Lão giáo và Khổng giáo cũng rất tinh thông về địa lý học và đó là các thầy địa lý
Họ là những người đầu tiên khởi xướng trường phái hướng pháp và hình pháp của phép xem địa lý đồng thời đã tạo ra nghệ thuật sống hài hoà với trời đất Dịch học ảnh hưởng nhiều nhất trong kiến trúc Trung Quốc chính là các con số trong hệ thống kiến trúc cung điện của Trung Quốc Đặc biệt là con số 9, ví dụ như Thái Hoà Môn, cửa vào chính cung, được chủ đích bố trí theo phía trước suối Hoàng Thuỷ Cổng này có chín hàng cột (số 9
tượng trưng cho trường thọ) (Hình II.13)
Trang 39
2.1.2 Nghệ thuật trang trí – điêu khắc – màu sắc trong kiến trúc cung đình Trung Quốc:
a Trang trí và điêu khắc:
Trang trí và điêu khắc không thể thiếu trong bất kỳ loại hình kiến trúc nào, đặc biệt
là kiến trúc Nho giáo Trang trí và điêu khắc trong kiến trúc cung đình bao gồm nhiều loại hình khác nhau như bích họa, diêu khắc tượng tròn, chạm khắc phù điêu, hoa văn,v.v Đằng sau những loại hình trang trí và điêu khắc ấy ẩn chứa những quan niệm sâu sắc của Nho học Các đề tài mà ta thường bắt gặp trong kiến trúc cung đình Trung Quốc như ”Tứ Linh và các linh thú”, ”Bát vật”, ”Bát quả”, ”Tứ quý”,v.v Từ những tác phẩm trang trí và điêu khắc theo những đề tài này, ta thấy quan niệm, tư tưởng văn hóa của con người Trung Quốc, đặc biệt trong đó là nhiều triết lý Nho gia
Với đề tài Tứ linh và các linh thú, đây là một đề tài chủ đạo mà ta thường bắt gặp trong các kiến trúc cung điện, lăng tẩm giành cho vua chúa Tứ linh chính là bốn linh thú Long, Lân, Quy, Phụng
Long là hình tượng linh thú mang nhiều ý nghĩa tinh thần lớn lao bởi vì rồng là biểu tượng quyền uy của nhà vua và sức mạnh của triều đại Tất cả những hình tượng trang trí trong cung điện Trung Quốc, đâu đâu cũng xuất hiện rồng Các motif tiêu biểu
mà ta thường bắt gặp như ”Lưỡng long chầu nguyệt”, ”Lưỡng long chầu nhật”, ”Lưỡng long tranh châu”, ”Long ẩn vân”, ”Lá hóa rồng”, v.v Đặc biệt là những điêu khắc và trang trí trong Điện Thái Hòa của Cố Cung, nơi đặt ngai vàng của vua, hình tượng con rồng trong Kiến trúc Trung Quốc càng trở nên nổi bật và tráng lệ Phía trên, bên dưới có gần 13 nghìn hình tượng con rồng Bên cạnh đó, rồng xuất hiện trên hầu hết các đỉnh mái, cột trong các cung điện, đàn miếu và các toà điện trong các khu lăng tẩm Sở dĩ như vậy là vì rồng tạo nên sự uy nghi cho kiến trúc, đúng với tinh thần Nho giáo, luôn đề cao vị trí uy nghiêm của Thiên Tử
Lân là linh thú thứ hai trong bộ đề tài Tứ Linh Theo tinh thần Nho giáo, hình tượng lân là biểu tượng của một triều đại thái bình, triều đại có đức vua anh minh và biểu thị cho lòng trung quân Vì vậy, cũng như rồng, lân xuất hiện khắp mọi nơi, từ các công trình dành cho vua chúa đến các điện, cung, miếu thờ, lăng tẩm đều có thể nhìn thấy con
Trang 40lân đang đứng trước các cổng vào của những nơi này Những con lân này mang tính tạo hình và tính nghệ thuật sâu sắc, đặc biệt là hình tượng ”Long mã” hoặc ”Lân xuất hiện giữa đám mây”
Quy (con rùa): trong bộ Tứ Linh, rùa là linh thú duy nhất hội đủ các yếu tố hiện thực, vì rùa là một vật có thật và được linh thần hóa Theo quan niệm của Trung Quốc, rùa
là biểu tượng của sự bền vững, trường thọ, lòng nhẫn nại của người quân tử, vì vậy hình tượng rùa cũng có mặt ở hầu hết mọi công trình kiến trúc, chúng đội bia trong các chùa, miếu, đội Bát Quái trên các bình phong, v.v Trong các hình tượng tứ linh, hình tượng rùa mang một vẻ đẹp bình dị, gần gũi bởi tính hiện thực của chúng, mỗi nét diễn đạt đã đem lại cho hình tượng rùa sự sống động, linh hoạt, vừa dân giã vừa hàm chứa những ý nghĩa sâu xa của tinh thần tâm linh Nho giáo
Phụng (phượng): hình tượng chim phụng là hình tượng chủ yếu trong trang trí các cung điện, lăng tẩm dành cho các vị hoàng hậu, phi tần Theo điển tích, chim phụng là hình ảnh tượng trưng cho vẻ duyên dáng, sự khôn ngoan, sắc đẹp và đức hạnh của người phụ nữ Hình tượng chim phụng thường được trang trí trên trần nhà, bình phong, thảm, gối
và tranh treo trên tường Đặc biệt, chim phụng trong trang trí nội ngoại thất luôn chiếm vị trí trung tâm ở cung điện, lăng tẩm các vị hoàng hậu, phi tần và trang trí trên các đỉnh mái với những mảng sành sứ hay bích họa trang trí các cổng được chọn lọc kỹ càng về tiết điệu, màu sắc và cường độ phản chiếu ánh sáng Kiểu thức đề tài chim phụng cũng vô cùng phong phú như lưỡng phụng, phụng hàm thơ, phụng hồ, long phụng, v.v Hình tượng phụng xuất hiện tại những nơi nghỉ ngơi của nhà vua, các miếu thờ và bình phong, cổng tam quan như một biểu hiện của tinh thần tâm linh Nho giáo, hình tượng phụng được coi
là khát vọng của cuộc sống bình yên, của triều đại thái bình và sự vững mạnh của nhà vua
Đề tài Tứ Linh là đề tài quan trọng bậc nhất trong các đề tài trang trí trong kiến trúc cung đình Trung Quốc và được thể hiện rất nhiều qua các chất liệu khác nhau Nhưng bên cạnh đề tài Tứ Linh vẫn có những đề tài khác như Tứ quý (mai, lan, cúc, trúc), Bát tiên, Bát Bửu (tám vật quý), Bát quả, v.v Những đề tài này đôi khi chỉ mang tính chất phụ họa cho đề tài Tứ Linh