Một số phương pháp nghiên cứu thuộc về ngôn ngữ học nổi trội cho đối tượng này là phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê, mô tả, v.v… Mục đích của luận văn này là so sánh đố
Trang 1TRẦN LÊ TÂM LINH
THUẬT NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT TRONG VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2010
Trang 2TRẦN LÊ TÂM LINH
THUẬT NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT TRONG VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS ĐINH ĐIỀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2010
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ THUẬT NGỮ
VÀ CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC NGỮ LIỆU
1.1 Một số vấn đề lý thuyết về thuật ngữ 6
1.1.5 Nghĩa của từ và nghĩa của thuật ngữ 14
1.2.4 Khái niệm về ngôn ngữ học ngữ liệu 20 1.2.5 Cơ sở lý luận của ngôn ngữ học ngữ liệu 22 1.2.6 Đối tượng nghiên cứu là ngữ liệu thực tế 22
Trang 4ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG TRONG VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ
2.5 Thực hiện hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường 39 2.6 Thay đổi đình chỉ, thanh lý hợp đồng kinh tế 44 2.7 Hợp đồng kinh tế vô hiệu và cách xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu 46 2.8 Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng kinh tế 47 2.9 Ngôn ngữ và văn phạm trong hợp đồng kinh tế 51
CHƯƠNG 3 KHẢO SÁT THUẬT NGỮ HỢP ĐỐNG KINH TẾ DỰA TRÊN CÁCH TIẾP CẬN NGÔN NGỮ HỌC NGỮ LIỆU
3.1 Khảo sát thuật ngữ Việt-Anh và thuật ngữ Anh-Việt trong văn bản
hợp đồng kinh tế 56 3.1.1 Khảo sát thuật ngữ Việt-Anh trong văn bản hợp đồng kinh tế 56
3.1.1.2 Các thuật ngữ Việt-Anh trong văn bản hợp đồng kinh tế 60 3.1.2 Khảo sát các thuật ngữ Anh-Việt trong văn bản hợp đồng kinh tế 70
3.1.2.2 Các thuật ngữ Anh-Việt trong văn bản hợp đồng kinh tế 71 3.2 Khảo sát các thuật ngữ tiếng Anh trong văn bản hợp đồng kinh tế 79 3.3 Khảo sát các thuật ngữ tiếng Việt trong văn bản hợp đồng kinh tế 85
Trang 51 Bảng 3.1 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Việt-Anh là danh từ 99
2 Bảng 3.2 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Việt-Anh là động từ-tính từ 116
3 Bảng 3.3 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Việt-Anh là từ kèm 138
4 Bảng 3.4 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Việt-Anh là từ nối 139
5 Bảng 3.5 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Anh-Việt là danh từ 140
6 Bảng 3.6 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Anh-Việt là động từ 159
7 Bảng 3.7 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Anh-Việt là tính từ 171
8 Bảng 3.8 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Anh-Việt là trạng từ 178
9 Bảng 3.9 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Tiếng Anh 180
10 Bảng 3.10 Các dạng từ pháp của thuật ngữ tiếng Anh 244
11 Bảng 3.11 Thuật ngữ hợp đồng kinh tế Tiếng Việt 245
Phụ lục 2: Danh mục các hình vẽ 298
1 Hình 3.1 Tỉ lệ từ pháp của thuật ngữ Việt-Anh 298
2 Hình 3.2 Số lượng thuật ngữ Việt-Anh theo loại từ tiếng Việt 298
3 Hình 3.3 Tỉ lệ phần trăm thuật ngữ Việt-Anh theo loại từ tiếng Việt 299
4 Hình 3 4 Tỉ lệ từ pháp của thuật ngữ Anh-Việt 299
Trang 66 Hình 3.6 Tỉ lệ phần trăm thuật ngữ Anh-Việt theo loại từ tiếng Anh 300
7 Hình 3.7 Tỉ lệ từ pháp của thuật ngữ tiếng Anh 301
8 Hình 3.8 Số lượng thuật ngữ tiếng Anh theo loại từ tiếng Anh 301
9 Hình 3.9 Tỉ lệ phần trăm thuật ngữ tiếng Anh theo loại từ tiếng Anh 302
10 Hình 3.10 Số lượng thuật ngữ tiếng Anh theo mẫu tự 302
11 Hình 3.11 Tỉ lệ thuật ngữ tiếng Anh theo mẫu tự 303
12 Hình 3.12 Tỉ lệ từ pháp của thuật ngữ tiếng Việt 303
13 Hình 3.13 Số lượng thuật ngữ tiếng Việt theo loại từ tiếng Việt 304
14 Hình 3.14 Tỉ lệ phần trăm thuật ngữ tiếng Việt theo loại từ tiếng Việt 304
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ hội nhập WTO,việc làm ăn quan trọng nhất là hợp đồng Vì vậy công việc soạn thảo văn bản hợp đồng kinh tế được xem như ưu tiên hàng đầu.Trên tinh thần đó, những nghiên cứu về hợp đồng, đặc biệt là những hợp đồng song ngữ hợp tác quốc tế cũng được nhiều người quan tâm Một số phương pháp nghiên cứu thuộc về ngôn ngữ học nổi trội cho đối tượng này là phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê, mô tả, v.v… Mục đích của luận văn này là so sánh đối chiếu thuật ngữ hợp đồng kinh tế dựa trên cách tiếp cận kho ngữ liệu song ngữ Đồng thời nghiên cứu những từ / ngữ thuộc thuật ngữ dùng trong hợp đồng kinh tế
và so sánh đối chiếu chúng giữa tiếng Anh với tiếng Việt Vì dựa trên cách tiếp cận ngôn ngữ học ngữ liệu nên chúng tôi phải thu thập thật nhiều loại hợp đồng kinh tế
từ nhiều nguồn ngữ liệu khác nhau
6 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lý do thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: “Thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong văn bản hợp đồng kinh tế” là do nhiều năm giảng dạy Anh văn chuyên ngành khoa học cũng như Anh văn chuyên ngành kinh tế thương mại ở một số trường Đại học (như Đại học Khoa học Tự Nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Hoa Sen, Đại học Griggs,…) sự tìm tòi và năng động của sinh viên làm động cơ thôi thúc chúng tôi nghĩ tới đề tài thiết thực này Ngoài ra, qua những lớp dạy thêm và tập huấn cho một vài công ty (như Công ty Cát Tiên Sa, công ty dược phẩm Dr Reddy, Bệnh viện Từ Dũ, Công ty Tư Vấn Thiết kế và Xây dựng Kiến Hào,…) Chúng tôi đã ngộ ra được một điều: mọi vướng mắt của đa số các doanh nghiệp đều là hợp đồng!
Trang 9Trong hơn hai năm qua kể từ khi quyết định lựa chọn đề tài này, chúng tôi đã dùng mọi cách để tiếp cận với các doanh nghiệp nhằm hy vọng sau này sẽ thu thập được những hợp đồng “sống” (là hợp đồng đang vận hành ở các công ty) Cụ thể như luôn sẵn sàng nhận dạy các lớp học tại các công ty, thậm chí còn đăng ký học những lớp ngoại khóa (học phí rất cao) ở trường doanh nhân PACE để thiết lập mối quan hệ thuận tiện cho việc nghiên cứu sau này Thế nhưng thời gian đầu đã gặp nhiều khó khăn bởi vì hợp đồng là bí mật của công ty nên ai cũng ngại cung cấp, ngoại trừ những người rất thân Nếu chỉ thu thập dữ liệu từ những người thân thì không thể nào đủ dữ liệu được Có lúc chúng tôi gần như tuyệt vọng vì không sao tìm được đủ số liệu để thực hiện đề tài Nhưng rồi mọi nổ lực cũng được đền bù, cộng với nhiều sự may mắn mà chúng tôi cũng không ngờ rằng chẳng những một
số công ty và bạn bè đã tin tưởng giao những hợp đồng của họ cho mình nghiên cứu mà họ còn đặt hàng nếu nghiên cứu thành công!
7 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Với tựa đề của luận văn “Thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong văn bản hợp đồng kinh tế”, nên mục tiêu nghiên cứu chính trong luận văn này là tiếp cận ngôn ngữ học ngữ liệu để phân tích khảo sát thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
về phương diện ngữ nghĩa và ngữ pháp trong văn bản hợp đồng kinh tế Ngoài
ra, nghiên cứu và xây dựng kho ngữ liệu song ngữ Anh-Việt nhằm thống kê để tìm ra những thuật ngữ về hợp đồng kinh tế có thể phục vụ cho công việc
nghiên cứu và soạn thảo văn bản hợp đồng kinh tế sau này
8 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 10Luận văn này nghiên cứu một số vấn đề về thuật ngữ hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt trong văn bản dựa trên cách tiếp cận ngôn ngữ học ngữ liệu
Do đó cần thu thập và nghiên cứu những vấn đề sau:
- Thu thập và xây dựng kho ngữ liệu về hợp đồng kinh tế từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau như: hợp đồng kinh tế đang sử dụng tại các công ty, hợp đồng kinh
tế mẫu trên mạng Internet, hợp đồng kinh tế trích từ các sách giáo khoa chuyên ngành kinh tế và luật,…Sau đó, thông qua kho ngữ liệu này tìm ra những thuật ngữ hợp đồng kinh tế Việc thu thập ngữ liệu ở đây bao gồm việc xác định những tiêu chí nhất quán trong việc chọn mẫu ngữ liệu cũng như xác định tỉ lệ và khối lượng của các mẫu ngữ liệu Việc xử lý ngữ liệu ở đây sẽ giới hạn ở mức chuẩn hóa ngữ pháp và ngữ nghĩa
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc khai thác kho ngữ liệu song ngữ , bao gồm: tìm kiếm, thống kê theo hình thái của từ / ngữ , từ pháp của từ và ngữ nghĩa của từ Khai thác đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt ở cấp độ từ / ngữ trên phương diện hình thái, từ pháp và ngữ nghĩa
- Nghiên cứu những vấn đề thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học hay các ngành có liên quan đến ngôn ngữ học như ngôn ngữ học ngữ liệu , ngữ nghĩa từ vựng
- Nghiên cứu các ngữ liệu chỉ có trong văn bản hợp đồng kinh tế Vì văn phong trong văn bản hợp đồng kinh tế đơn giản, rõ ràng, ít mơ hồ, không giàu ngôn ngữ tượng hình Do đó, trong việc liên kết từ cho ngữ liệu song ngữ, chúng tôi chỉ xét đến trật tự từ trên phương diện bình thường và không xét các trường hợp đặc biệt như: các biện pháp tu từ, nhấn mạnh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân cách hóa,…
- Nghiên cứu các yếu tố thuộc về hình thái, cú pháp và ngữ nghĩa ở cấp độ từ /ngữ không xét các yếu tố về ngữ âm hay các yếu tố ngữ dụng, tâm lý, giới tính, xã hội ,…
- Chỉ xét đến ngôn ngữ đồng đại, không xét ngôn ngữ lịch đại
Trang 11Tuy phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn trong các văn bản thuộc lĩnh vực hợp đồng kinh tế , nhưng việc mở rộng ra cho các văn bản thuộc lĩnh vực kinh tế là điều hoàn toàn khả thi mà không phải thay đổi về nguyên tắc xây dựng
9 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu việc xây dựng và khai thác ngữ liệu song ngữ Anh-Việt về hợp đồng kinh tế:
- Phương pháp so sánh đối chiếu hai chiều trong ngôn ngữ học so sánh đối
chiếu giữa tiếng Anh với tiếng Việt Việc so sánh đối chiếu được thực hiện trên nhiều mặt khác nhau (hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa) ở cấp độ từ/ngữ
- Phương pháp thống kê để xác định một số thông số cần thiết trong quá trình xây dựng và khai thác ngữ liệu để tìm ra thuật ngữ hợp đồng kinh tế
- Phương pháp dựa trên ngữ liệu: tất cả các giá trị, các thông số đều được rút ra
từ những nguồn ngữ liệu Đối tượng xử lý chính cũng là ngữ liệu
10 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
10.1 Ý NGHĨA KHOA HỌC
Đề tài có ý nghĩa khoa học:
- Góp phần vào việc xây dựng hệ thống thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong văn bản hợp đồng kinh tế
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để tiến hành làm từ điển chuyên ngành hợp
đồng
10.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Trang 12- Trong thời đại hội nhập kinh tế toàn cầu, văn bản hợp đồng kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất khi các quốc gia, các công ty hợp tác với nhau
- Hệ thống thuật ngữ là đặc trưng quan trọng trong văn bản chuyên ngành, đặc biệt là hợp đồng kinh tế Nếu hiểu không trọn vẹn sẽ dẫn tới tổn thất rất lớn cho doanh nghiệp
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích trong công tác giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành kinh tế-thương mại tại các trường đại học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ hỗ trợ cho công tác dịch thuật, soạn thảo văn bản hợp đồng hữu hiệu hơn
- Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất việc biên soạn “từ điển giải thích thuật ngữ học trong hợp đồng kinh tế” góp phần vào công tác giảng dạy
và nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ THUẬT NGỮ
VÀ CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC NGỮ LIỆU
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ THUẬT NGỮ
1.3.1 KHÁI NIỆM THUẬT NGỮ
- Trong cuốn Ngữ Pháp Tiếng Việt, tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh phát
biểu:“Thuật ngữ khoa học là một từ, cụm từ biểu thị một khái niệm trong chuyên ngành khoa học (khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật) Thông thường một thuật ngữ có vỏ âm thanh nhất định và biểu đạt một khái niệm đơn nhất không trùng lặp với thuật ngữ khác” [33]
- Theo Nguyễn Thiện Giáp khi viết về phương pháp so sánh-đối chiếu với dịch thuật và biên soạn từ điển, tác giả có nêu : “ Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các ngôn ngữ khác nhau Nếu chú ý đến mặt nội dung của thuật ngữ thì phải thừa nhận rằng , tính quốc tế của thuật ngữ là một đặc trưng quan trọng, phân biệt thuật ngữ với những bộ phận từ vựng khác: thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau, trong khi đó, phạm vi biểu hiện của các lớp từ khác nằm trong khuôn khổ của từng dân tộc
Vì thế, khi biên soạn từ điển đối chiếu thuật ngữ , người ta không cần phải giải thích gì thêm ngoài việc nêu ra những thuật ngữ tương ứng trong mỗi ngôn ngữ Những thuật ngữ tương ứng trong các ngôn ngữ là sự hiện thực hóa của một khái niệm chung có trong các ngôn ngữ [26]
Trang 14- Ngoài ra trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp viết: “Thuật
ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ
cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng”
- Nhìn chung các tác giả đều quan niệm rằng thuật ngữ là những từ ngữ biểu thị khái niệm khoa học công nghệ, chủ yếu để dùng trong các văn bản khoa học công nghệ Thuật ngữ khác với từ ngữ phổ thông, mỗi thuật ngữ thuộc một lĩnh vực khoa học công nghệ chỉ biểu thị một khái niệm và ngược lại mỗi khái niệm trong lĩnh vực đó chỉ được biểu hiện bằng một thuật ngữ
1 2 NGUỒN GỐC CỦA THUẬT NGỮ
Ngôn ngữ nào trên thế giới, ngoài nguồn thuật ngữ bản địa, cũng có hiện tượng vay mượn từ để mở rộng và làm giàu vốn từ vựng của mình, cũng như đáp ứng tính chính xác và tính quốc tế trong thuật ngữ Ví dụ, trong tiếng Anh, ngoài nguồn thuật ngữ bản địa, thuật ngữ tiếng Anh được vay mượn từ nhiều nguồn khác nhau như từ tiếng Latinh, Hi Lạp, Pháp, Sanskrit, Bồ Đào Nha, Scandinavia, Tây Ấn Độ, Arập…, ví dụ:
nguồn gốc tiếng Latinh: Alluvium (bồi phù sa)
nguồn gốc tiếng Hy lạp: Meteor ( sao băng, thiên thạch)
nguồn gốc tiếng Pháp: Motion (sự chuyển động)
nguồn gốc tiếng Ả rập: Moonson (gió mùa )
1 2.1 Nguồn gốc thuật ngữ tiếng Việt:
Trang 15Trong tiếng Việt, thuật ngữ cũng không nằm ngoài quy luật nói trên Nguồn gốc thuật ngữ tiếng Việt rất đa dạng, chúng ta có thể nhận ra những thuật ngữ với nguồn gốc thuần Việt, Hán Việt, Ấn Âu…
1 2.2 Thuật ngữ thuần Việt
Thuật ngữ được tận dụng vốn từ của tiếng Việt, những từ thông dụng nhưng vẫn đảm bảo tính khoa học
ngữ rườm rà, không ngắn gọn, không dễ hiểu Việc mượn yếu tố Hán Việt cũng
là một cách góp phần làm giàu vốn thuật ngữ của dân tộc ta, tránh được các hiện tượng đơn điệu nghèo nàn, biết vận dụng linh hoạt các yếu tố bên ngoài để đặt thuật ngữ Hơn nữa tiếng Hán cũng giống tiếng Việt nên khi đưa vào tiếng Việt được phát âm theo âm Hán Việt Trong vốn từ tiếng Việt chung hiện nay
có một tỷ lệ lớn là từ Hán Việt mà chủ yếu là các thuật ngữ khoa học (Theo số liệu thống kê của Lưu Vân Lăng) Những thuật ngữ mang yếu tố Hán Việt
thường ngắn gọn, có độ chính xác cao Thuật ngữ là từ Hán Việt như : lũ mùa thu , nhiệt độ lạnh…; thuật ngữ là từ Hán Hán: giản đồ nhiệt, thuỷ lực…; thuật ngữ là từ Việt Hán: gió lục địa, mưa đối lưu…; thuật ngữ là từ Ấn Âu Hán/ Hán
Ấn Âu: biểu đồ syno, khí ôzôn…
1 2.4 Thuật ngữ gốc Ấn Âu
Trang 16Việc mượn thuật ngữ Ấn Âu là để đảm bảo mức độ chính xác khoa học cần thiết cho việc nghiên cứu các vấn đề khoa học Chúng ta mượn yếu tố Ấn Âu để tạo từ, có thể mượn yếu tố Ấn Âu qua phiên âm hay mượn mà vẫn giữ nguyên
cả âm và cách viết Việc mượn yếu tố Ấn Âu góp phần làm phong phú các hệ thuật ngữ tiếng Việt
- Phiên âm Ấn Âu:
Những thuật ngữ tiếng Việt mô phỏng Ấn Âu thường mượn vỏ ngữ âm của ngôn ngữ Ấn Âu Những thuật ngữ loại này thường là tên của những chất hoá học hoặc các thuật ngữ chuyên sâu, ví dụ:
- Mượn nguyên dạng âm và chữ viết
Ngoài cách dùng những yếu tố Ấn Âu đặt thuật ngữ, để đảm bảo mức chính xác tuyệt đối trong khoa học, các hệ thuật ngữ tiếng Việt không tránh khỏi việc vay mượn nguyên một số thuật ngữ châu Âu vốn gốc Hi lạp, La tinh đã được nhiều nước trên thế giới dùng Đây là vấn đề mượn thuật ngữ quốc tế Những thuật ngữ loại này thường là các hiện tượng được mang tên các nhà bác học tìm ra hoặc các đơn vị đo áp suất, các đơn vị đo kích cỡ ví dụ:
Trang 17và từ phái sinh chủ yếu là từ tiếng La tinh và Hi Lạp Thuật ngữ tiếng Việt vay
mượn các yếu tố từ vựng chủ yếu từ tiếng Hán để tạo tương đương như: phi, vô, hoá lực, bất, hạt, hoá, kế… ví dụ: lực quay của Trái Đất (corriolis),lực hút (gravity)
Về cấu tạo, thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt đều đuợc cấu tạo bởi từ hoặc cụm
từ
- Khác nhau:
Do sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt nên thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có sự khác biệt rất lớn về mặt hình thức Thuật ngữ tiếng Anh là thuật ngữ biến đổi hình thái còn thuật ngữ tiếng Việt là thuật ngữ không biến đổi hình thái Tiếng Việt không vay mượn căn tố và phụ tố nhưng vay mượn các yếu tố từ vựng tiếng Hán để tạo nghĩa tương đương Chính do đặc điểm này mà phương thức cấu tạo từ của hệ thuật ngữ tiếng Anh ngắn gọn
và thuận lợi hơn tiếng Việt Trong thuật ngữ tiếng Việt nhiều khi chưa phải là thuật ngữ, có nhiều ngữ đoạn chỉ là dịch để đảm bảo ý, có những ngữ đoạn chưa đảm bảo độ thuật ngữ Hệ thống của thuật ngữ tiếng Việt chưa hoàn chỉnh
Trang 18Các thuật ngữ đa số là dịch, trực dịch, dịch ý (giải thích), chưa bảo đảm tính hệ thống ngắn gọn, tính cố định, tính thuật ngữ còn yếu Ví dụ:
liên quan đến kỹ thuật (tiếng Việt)= technical (tiếng Anh) (trích bảng
1 3 CÁCH SỬ DỤNG THUẬT NGỮ
- Muốn thống nhất việc dùng thuật ngữ và hiểu cho chính xác thì phải có định nghĩa hoặc giải thích thuật ngữ trong lĩnh vực khoa học công nghệ tương ứng và có lưu ý đến văn cảnh sử dụng thích hợp
- Trong văn bản bên ngoài lĩnh vực, nếu việc dùng một thuật ngữ có thể gây nhập nhằng (vì có nghĩa khác ở lĩnh vực khác) thì phải chú thích, ít nhất cũng cần lưu ý bằng cách in nghiêng hoặc đặt vào ngoặc kép
- Thuật ngữ không được biểu hiện những sắc thái xúc cảm gây mâu thuẫn về giới tính, sắc tộc, tôn giáo, chính trị, giai cấp, địa vị, tuổi tác
- Khác với từ ngữ văn chương, việc công nhận thuật ngữ cần có cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và ban hành
1 4 TIÊU CHÍ CHỌN THUẬT NGỮ
Mỗi thuật ngữ cần đạt được một số tiêu chí dưới đây:
Trang 19- Tính khoa học: Thuật ngữ là phải chính xác, khách quan Mức chính xác khoa
học yêu cầu thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung khái niệm khoa học một cách rõ ràng, rành mạch Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai hoặc nhầm từ khái niệm này qua khái niệm khác Do đó, muốn bảo đảm mức độ chính xác thì khi đặt một hệ thống thuật ngữ , trong cùng một lĩnh vực chuyên môn, nên cố gắng tránh những hiện tượng đồng âm đồng nghĩa Muốn thế trong mỗi hệ thống thuật ngữ khoa học, trong những trường hợp có thể và cần thiết ; phải cố gắng tiến tới nguyên tắc: Mỗi khái niệm
có một thuật ngữ và mỗi thuật ngữ chỉ một khái niệm [31]
- Tính chính xác: Nói chung, mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm,
nhưng các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường khác với các khái niệm được biểu hiện trong thuật ngữ Các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường chỉ là các khái niệm thông thường, còn các khái niệm được biểu hiện trong thuật ngữ là các khái niệm chính xác của một khoa học nào đó Trong nhiều công trình nghiên cứu người ta không áp dụng khái niệm “ý nghĩa
từ vựng” cho các thuật ngữ, mà chỉ nói “nội dung của các thuật ngữ” mà thôi
Do sự tác động lẫn nhau ý nghĩa từ vựng của các từ thông thường có thể thay đổi trong những trường hợp sử dụng khác nhau, còn nội dung của thuật ngữ là thuộc vào một lĩnh vực thuần túy về trí tuệ, chúng không bị thay đổi như thế Trong ngữ cảnh khác nhau cũng như khi đứng một mình, thuật ngữ không thay đổi về nội dung Số phận của thuật ngữ phụ thuộc vào sự phát triển của bản thân khoa học Nó chỉ thay đổi khi nào xuất hiện những biểu tượng mới, những quan niệm mới, chỉ thay đổi khi nào các khái niệm mà nó diễn đạt được xác lập lại
- Tính hệ thống: Mỗi thuật ngữ đều bị quy định bởi hai trường: trường từ vựng và
trường khái niệm Trường từ vựng là những liên hệ của thuật ngữ với các từ khác trong ngôn ngữ nói chung Tất cả các từ không phải thuật ngữ cũng nằm
Trang 20trong cái trường như vậy Nhưng đối với thuật ngữ trường khái niệm có tính chất tất yếu hơn và cũng chỉ thuật ngữ mới quy định bởi cái trường này Mỗi lĩnh vực khoa học đều có tính hệ thống các khái niệm chặt chẽ, hữu hạn, được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ của mình Như vậy, mỗi thuật ngữ đều chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm, đều nằm trong hệ thống thuật ngữ nhất định Giá trị của mỗi thuật ngữ được xác định bởi mối quan hệ của nó với những thuật ngữ khác cùng hệ thống Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ thống thì nội dung thuật ngữ của nó không còn nữa Trường đối với thuật ngữ , đó chính là hệ thống thuật ngữ trong ngành khoa học nào đó.Các thuật ngữ không thể đứng biệt lập một mình mà bao giờ cũng là yếu tố của một hệ thống thuật ngữ nhất định Tính hệ thống về nội dung của thuật ngữ kéo theo tính hệ thống
về hình thức của nó Muốn thuật ngữ không cản trở đối với cách hiểu , lại thể hiện được vị trí của nó trong hệ thống thuật ngữ thì qua hình thức của thuật ngữ phải có thể khu biệt nó về chất với các thuật ngữ khác loạt, đồng thời có thể khu biệt nó về mặt quan hệ so với những khái niệm khác cùng loạt
- Tính quốc tế: Thuật ngữ là một bộ phận từ ngữ đặc biệt biểu hiện những khái
niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này
đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ Thông thường, nói tới tính quốc tế của thuật ngữ , người ta chỉ chú ý tới biểu hiện hình thức cấu tạo của chúng: các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau, cùng xuất phát một gốc
chung Ví dụ: các thuật ngữ điện thoại, điện tín, radio, điện khí học,… nhiều
ngôn ngữ tương tự nhau Thực ra, về hình thức cấu tạo tính quốc tế của thuật ngữ chỉ có tính tương đối Dường như không có thuật ngữ nào có sự thống nhất
ở tất cả các ngôn ngữ Mức độ thống nhất của các thuật ngữ là khác nhau, có thuật ngữ thống nhất trên một phạm vi rộng, có thuật ngữ thống nhất trên một phạm vi hẹp hơn Do truyền thống hình thành các khu vực văn hóa khác nhau
Trang 21Tính thống nhất của thuật ngữ thể hiện trước hết ở sự thống nhất trong phạm vi các khu vực như vậy Các ngôn ngữ Ấn-Âu chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hi
La cho nên thuật ngữ của chúng thường bắt nguồn từ tiếng Latin và Hi Lạp Các dân tộc Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và các ngôn ngữ Á Phi khác có truyền thống văn hóa chung là nền văn hóa Ả Rập Cho nên, tiếng Ả Rập cũng có vai trò nhất định trong việc cấu tạo thuật ngữ ở những ngôn ngữ này Tiếng Việt và nhiều tiếng khác ở Đông Nam Á như Nhật Bản, Triều Tiên,… xây dựng thuật ngữ phần lớn dựa trên cơ sở các yếu tố gốc Hán cũng là do các dân tộc này cũng có quan hệ lâu đời với Trung Quốc Có lẽ sự thống nhất tương đối trong hình thức cấu tạo của thuật ngữ giữa các ngôn ngữ mà nhiều người đã coi nhẹ tính quốc tế của thuật ngữ Nếu chú ý tới mặt nội dung của thuật ngữ , thì phải thừa nhận rằng tính quốc tế của thuật ngữ là một đặc trưng quan trọng, phân biệt thuật ngữ với những bộ phận từ vựng khác: thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói những thứ tiếng khác nhau , trong khi đó phạm
vi biểu hiện của lớp từ vựng khác nằm trong khuôn khổ của từng dân tộc Nếu hiểu tính quốc tế của thuật ngữ chỉ ở khía cạnh hình thức biểu hiện thì nó sẽ mâu thuẫn với yêu cầu về tính dân tộc, dễ hiểu trong hình thức cấu tạo của thuật ngữ Cần phân biệt những tính chất với tư cách là đặc trưng phân biệt thuật ngữ với những lớp từ vựng khác và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ Tính dân tộc, tính dễ hiểu, tính ngắn gọn,… không phải là đặc trưng riêng của thuật ngữ mà những từ ngữ thông thường cũng phải có , càng phải có Khi xây dựng thuật ngữ chẳng những phải đảm bảo tính chất riêng của thuật ngữ mà còn phải đảm bảo cả những tính chất chung của thuật ngữ với những lớp từ vựng khác.[25]
1 5 NGHĨA CỦA TỪ VÀ NGHĨA CỦA THUẬT NGỮ
1 5.1 Nghĩa của từ:
Trang 22Hiện tượng chuyển hóa chức năng trong ngôn bản là cơ sở để tìm hiểu những vấn đề ngữ nghĩa trong lời nói Hiện nay, ngữ nghĩa học cho rằng cái gọi là ý nghĩa của từ không phải là một khối phân hóa mà là một tập hợp một số thành phần nhất định Tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có những thành phần ý nghĩa sau:
- Ý nghĩa từ vựng gồm có:
Ý nghĩa biểu vật ứng với các chức năng biểu vật Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp
1 5.1.1 Ý nghĩa biểu vật:
Sự vật, hiện tượng, đặc điểm…ngoài ngôn ngữ được từ biểu thị, tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ Ý nghĩa biểu vật không phải là sự vật, hiện tượng… y như chúng có trên thực tế Chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi Ý nghĩa biểu vật là
sự phản ánh sự vật, hiện tượng… trong thực tế vào ngôn ngữ Đó là những phần của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế Ý nghĩa biểu vật tuy bắt nguồn từ sự vật, hiện tượng khách quan, song do chịu sự tác động qua lại của các từ khác, do chịu sự khái quát hóa và chịu tác động của những quy tắc cấu tạo từ, cho nên trở thành sự kiện ngôn ngữ, chứ không còn là sự kiện ngoài ngôn ngữ
1 5.1.2 Ý nghĩa biểu niệm:
Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào tư duy thành các khái niệm, được phản ánh vào ngôn ngữ thành các ý nghĩa biểu vật và từ các ý nghĩa biểu vật có các ý nghĩa biểu niệm tương ứng
Trang 23Các ý nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các ý nghĩa biểu vật mà liên hệ với thực tế khách quan, mặt khác lại có liên hệ với khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với sự vật, hiện tượng ngoài ngôn ngữ Các ý nghĩa biểu niệm của những từ trong một từ loại có tổ chức giống nhau Những nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm chung cho nhiều từ không chỉ có tính từ vựng mà cũng có tính ngữ pháp Để xác định các ý nghĩa biểu niệm thực của từ, không thể không chú
ý đến các giá trị ngữ pháp, đến hoạt động ngữ pháp của nó trong câu.Ý nghĩa biểu niệm và khái niệm vừa thống nhất, vừa độc lập tương đối với nhau
1 5.1.3 Ý nghĩa biểu thái:
Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái là những nhân tố đánh giá (to, nhỏ, mạnh, yếu…), nhân tố cảm xúc (dễ chịu, khó chịu, sợ hãi…), nhân tố thái độ (trọng, khinh, yêu, ghét…) mà từ gợi ra cho người nói và người nghe
Tiểu kết:
Nghĩa của từ, nói chung phản ánh thực tế khách quan và có khả năng mang nghĩa biểu cảm Từ là thể thống nhất, nên mỗi thành phần ý nghĩa của nó chỉ là những phương diện khác nhau của cái thể thống nhất đó Sự hiểu biết đầy đủ về
ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng
1 5.2 Nghĩa của thuật ngữ:
Nghĩa của thuật ngữ là các khái niệm khoa học không có tính biểu cảm Thuật
ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng hòan tòan với sự vật, hiện tượng… có thực trong thực tế, đối tượng của ngành khoa học tương ứng Ý nghĩa biểu niệm của thuật ngữ cũng là những khái niệm về các sự vật, hiện tượng này đúng như chúng tồn
Trang 24tại trong tư duy Về mặt nội dung, ở các thuật ngữ không xảy ra sự chia cắt thực thể khách quan theo cách riêng của ngôn ngữ
Nằm trong các đặc điểm chung của thuật ngữ Ngữ nghĩa của thuật ngữ cũng mang tính chính xác, tính quốc tế, tính hệ thống Thuật ngữ mang tính chính xác về mặt ngữ nghĩa Nhờ đó, thuật ngữ không mang nghĩa biểu thái, ngoại trừ hiện tượng đồng nghĩa Bên cạnh đó, tính quốc tế về ngữ nghĩa của các thuật ngữ cũng là điều hiển nhiên bởi vì các khái niệm khoa học mà chúng hiển thị là tài sản chung của toàn thể nhân loại Thuật ngữ cũng mang tính hệ thống về mặt ngữ nghĩa vì nó cũng là tính hệ thống (hoặc phản ánh tính hệ thống) của bản thân sự vật, hiện tượng, đối tượng của khoa học Tính hệ thống về mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ là do tính hệ thống của bản thân đối tượng và khái niệm trong ngành khoa học đó quyết định
1 5.3 Phân biệt thuật ngữ và các từ thường:
Như đã trình bày ở phần khái niệm về thuật ngữ, thuật ngữ có khi là một từ, ngữ
làm tên gọi cho các khái niệm, các đối tượng được xác định Như vậy, thuật ngữ, về mặt cấu tạo nó hoàn toàn giống như các từ thường, nó có đầy đủ tiêu chuẩn của một đơn vị ngôn ngữ Cả thuật ngữ và các từ thường đều có hệ thống
ký hiệu để biểu đạt và các khái niệm được biểu đạt Thuật ngữ không phải là
những từ vựng biệt lập mà cũng như các từ thường khác chúng là những bộ phận riêng trong từ vựng của một ngôn ngữ thống nhất Giống với từ thường, thuật ngữ không làm thành một ngôn ngữ riêng mà cũng tuân theo những quy luật ngữ âm, ngữ pháp của ngôn ngữ nhất định Thuật ngữ cũng nằm trong một lớp từ trong hệ thống từ vựng Nói một cách khác, về mặt hình thức, thuật ngữ
và các từ thường hoàn toàn giống nhau
Tuy nhiên, xét về mặt nội dung thì thuật ngữ và các từ thường có nhiều điểm khác nhau Thuật ngữ, tuy về mặt cấu trúc cũng là những từ thường nhưng nó
Trang 25đòi hỏi sự biểu đạt khái niệm mang tính chính xác cao vì nó buộc phải mang tính khoa học, biểu hiện đúng khái niệm khoa học Đặc trưng của thuật ngữ là tính đơn nghĩa trong giới hạn một lĩnh vực khoa học nhất định Thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng… có thực trong thực tế,
đối tượng của ngành khoa học tương ứng Đặc điểm của thuật ngữ là từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế theo từng ngành.[40]
Như vậy, khác với từ thường, mỗi thuật ngữ dùng để chỉ một khái niệm, gọi tên khái niệm và không có yếu tố biểu thái Bên cạnh đó, về mặt biểu đạt, thuật ngữ cũng không giống như các từ thường, nó thường bị bó buộc theo tiêu chuẩn nhất định Ý nghĩa biểu niệm của chúng là những khái niệm về các sự vật, hiện tượng… đúng như chúng tồn tại trong tư duy Về mặt nội dung, ở các thuật ngữ không xảy ra sự chia cắt thực thể khách quan theo cách riêng của ngôn ngữ Khác với các từ thường, thuật ngữ luôn đảm bảo ngắn gọn, súc tích nhưng phải
dễ hiểu, dễ sử dụng Tính quốc tế trong thuật ngữ khoa học cũng được chú trọng, trong khi các từ thường chỉ được “quốc tế hóa” khi có nhu cầu diễn đạt cần thiết Nói chung, các từ thường ít bị bó buộc trong cách biểu đạt còn thuật ngữ luôn lệ thuộc vào các đặc tính của nó
Tóm lại: Thuật ngữ trong văn bản hợp đồng kinh tế có thể được phát biểu một cách giản dị như sau:
Thuật ngữ trong văn bản hợp đồng kinh tế là những từ và những cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của những khái niệm và những đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn về hợp đồng kinh tế
1.2 CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC NGỮ LIỆU
1.2.1 KHÁI NIỆM VỀ NGỮ LIỆU
Trang 26Thuật ngữ “ngữ liệu” ở đây được tạm dịch từ tiếng Anh “corpus” (danh từ số nhiều là “corpora”) Từ “corpus” này xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là
“thân thể” Nghĩa của từ “corpus” được hiểu là phần thân của văn bản và là tập hợp của nhiều văn bản Hiện nay, từ “corpus” được dịch là “kho dữ liệu” ,
“kho sưu tập tài liệu” (theo từ điển Anh-Việt, Đại học Ngoại ngữ, NXB 1997); “khối liệu” (theo Đào Hồng Thu) [39]; “ngữ liệu” (theo Đinh Điền) [17] Trong luận văn này chúng tôi thống nhất sử dụng dịch từ “corpus” là “ngữ liệu”
tế Ngữ liệu này có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như dạng giấy (hardcopy), dạng điện tử (softcopy) Và ở đây chúng tôi tập hợp cả hai dạng
trên Như ta đã biết, ngữ liệu chỉ gồm các văn bản của một ngôn ngữ được gọi
là ngữ liệu đơn (monolingual corpus) và ngữ liệu của nhiều ngôn ngữ gọi là ngữ liệu đa ngữ (multilingual corpus) Trong ngữ liệu đa ngữ có loại ngữ liệu gồm hai ngôn ngữ được gọi là ngữ liệu song ngữ (bilingual corpus) Trong luận
văn này chúng tôi chỉ xét đến ngữ liệu song ngữ trong văn bản hợp đồng kinh
tế
Trong ngữ liệu song ngữ này, các bản dịch tương ứng của mỗi ngôn ngữ phải
được đặt song song với nhau hay còn được gọi là liên kết với nhau (alignment) Mức độ liên kết này có thể ở cấp độ văn bản với nhau (text alignment), đến cấp
Trang 27độ đoạn (paragraph alignment), cấp độ ngữ (phrase alignment) và sâu nhất là cấp độ từ (word alignment) Muốn liên kết ở cấp độ sâu hơn, ta phải đi qua các
liên kết ở cấp độ nông trước Nghĩa là, muốn liên kết được cấp độ từ, ta phải có liên kết ở cấp độ văn bản, ngữ và câu
Trong luận văn này chúng tôi đi sâu tới cấp độ liên kết từ /ngữ (“ thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong văn bản hợp đồng kinh tế”) nghĩa là phải thông qua ngữ liệu là những văn bản hợp đồng kinh tế
1.2.3 KHÁI NIỆM VỀ NGÔN NGỮ HỌC NGỮ LIỆU
“Corpus-linguistics” đang dược tạm dịch ở các tạp chí , báo chí hay những công trình khoa học được nghiên cứu về ngôn ngữ là “ ngôn ngữ học khối liệu” [39],
“ngôn ngữ học ngữ liệu” [17],…
Theo Đinh Điền, “Corpus-linguistics” là ngôn ngữ học ngữ liệu Ngôn ngữ học ngữ liệu không hoàn toàn là một phân ngành độc lập nếu xét theo nghĩa như các phân ngành: cú pháp học, ngữ nghĩa học, ngữ dụng học,… của ngành ngôn ngữ học Bởi vì tất cả những phân ngành này đều tập trung mô tả, giải thích một khía cạnh , phương diện nào đó của việc sử dụng ngôn ngữ Trong khi đó ngôn ngữ học ngữ liệu được biết như là một phương pháp luận, một cách tiếp cận trong việc nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của ngôn ngữ , hơn là một phân ngành thuần túy của ngôn ngữ học như các phân ngành khác Thật vậy, cách tiếp cận dựa trên ngữ liệu có thể áp dụng để nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của ngôn ngữ như: khía cạnh cú pháp học, khía cạnh ngữ nghĩa học, và khía cạnh ngữ dụng học,… Thật ra, cách tiếp cận ngôn ngữ học ngữ liệu này không chỉ áp dụng cho tất cả các phân ngành của ngôn ngữ học; như: ngôn ngữ học máy tính, ngôn ngữ học tâm lý, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học địa lý,… Tuy nhiên, chính ngôn ngữ học ngữ liệu đã khiến trên thực tế hình thành một trường phái mới cho các phân ngành của ngôn ngữ học cũng như các liên
Trang 28ngành của nó Cụ thể là trường phái nghiên cứu cú pháp dựa trên ngữ liệu (corpus-based syntax) bên cạnh các trường phái nghiên cứu cú pháp không dựa trên ngữ liệu (non-corpus based syntax); nghiên cứu ngữ nghĩa dựa trên ngữ liệu (corpus – based semantics); và nghiên cứu ngữ nghĩa không dựa trên ngữ liệu (non-corpus – based semantics); nghiên cứu ngữ dụng dựa trên ngữ liệu (corpus-based pragmatics) và nghiên cứu ngữ dụng không dựa trên ngữ liệu (non-corpus-based pragmatics),…Tình hình cũng tương tự cho các phân ngành của liên ngành ngôn ngữ học máy tính và các liên ngành khác của ngôn ngữ học Khi so sánh phân biệt giữa cách tiếp cận dựa trên ngữ liệu với cách tiếp cận không dựa trên ngữ liệu người ta còn dùng các thuật ngữ khác như:
- Nghiên cứu dựa trên ngữ liệu (Corpus-based study):
+ Nghiên cứu theo chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricsm)
+ Nghiên cứu theo dữ liệu thực tiễn (data-driven)
+ Nghiên cứu theo phương pháp xác suất thống kê (probabilistics, statistics, deductive)
- Nghiên cứu không dựa trên ngữ liệu (Non-corpus-based study):
+ Nghiên cứu theo chủ nghĩa lý luận (rationalism)
+ Nghiên cứu theo mô hình lý thuyết (theory-driven)
+ Nghiên cứu theo phương pháp luật suy diễn (rules, inductive)
Với tư cách là một phân ngành mới của ngôn ngữ học , ngôn ngữ học ngữ liệu chuyên nghiên cứu về việc thu thập ngữ liệu, các tiêu chí chọn lựa ngữ liệu, cách thức chuẩn hóa, xử lý ngữ liệu (gán nhãn ngôn ngữ) và khai thác kho ngữ liệu đó để phục vụ các bài toán có liên quan đến ngôn ngữ
Trong thời đại tin học hiện nay, các kho ngữ liệu thường được hiểu ngầm là kho ngữ liệu dạng điện tử Vì vậy, ngôn ngữ học ngữ liệu hiện đại còn nghiên cứu
Trang 29về cấu trúc, định dạng, cách gán nhãn trong ngữ liệu để máy tính có thể xử lý tự động nhanh chóng được.[17]
1.2.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGÔN NGỮ HỌC NGỮ LIỆU
Việc nghiên cứu của ngôn ngữ học ngữ liệu dựa trên một số cơ sở lý luận sau: dựa trên ngữ liệu (corpus-based study), nghiên cứu theo chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricism), hay còn gọi là chủ nghĩa thực nghiệm Theo chủ nghĩa kinh nghiệm, chúng ta phải nghiên cứu đối tượng vật lý có thật, những đối tượng mà
có thể “cân đo đong đếm” được Vì chỉ có dựa trên những thực thể vật lý có thật, chúng ta mới tin được những điều mà chúng ta rút ra được từ chúng Trong luận văn này, ngữ liệu mà chúng tôi thu thập được hoàn toàn đáng tin cậy, bởi
vì những hợp đồng kinh tế mà chúng tôi nhận được từ rất nhiều công ty (khoảng hơn 100 công ty thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau) Ngoài ra, cũng có một số hợp đồng mẫu trích được từ những sách giáo khoa , từ những văn phòng luật sư , từ những văn phòng tư vấn pháp luật, hợp đồng mẫu của nhiều công ty trên mạng Internet, Tuy nhiên, tất cả những nguồn tài liệu trên đều có thể được xem là “những thực thể vật lý có thật” Vì chúng đã được vận hành theo đúng chức năng của “hợp đồng kinh tế”
1.2.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU LÀ NGỮ LIỆU THỰC TẾ
Ngôn ngữ học ngữ liệu đã chọn đối tượng nghiên cứu là những câu có thật trong thực tế Chính từ những câu này mới là ngôn ngữ đang hành chức, là sự phản ánh trung thực hoạt động của ngôn ngữ Đây chính là cơ sở ban đầu của ngôn ngữ học ngữ liệu, trường phái ngôn ngữ học ngữ liệu theo hướng chức năng luận thì làm ngược lại: từ cứ liệu ngôn ngữ thực tế mà họ thu được, họ rút
ra được các qui luật chung nhất, rồi áp dụng các qui luật đó vào cho các câu thực tế khác Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng “hợp đồng kinh tế song
Trang 30ngữ Việt-Anh” là ngữ liệu thực tế Từ cứ liệu thực tế này, thông qua phần mềm máy tính chúng tôi sẽ lọc ra những “thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong hợp đồng kinh tế ” nhằm lập ra được bảng từ vựng chuyên lĩnh vực hợp đồng
để thuận tiện cho việc soạn thảo hợp đồng tiếng Anh cũng như tiếng Việt sau này
TIỂU KẾT
Chương này tóm tắt một số vấn đề lý thuyết cơ sở như: Thế nào là thuật ngữ? Nguồn gốc của thuật ngữ? Cách sử dụng thuật ngữ trong văn bản khoa học kỹ thuật hoặc văn bản kinh tế? Thông qua lý thuyết này, chúng ta rút ra được nét khu biệt giữa từ thường và thuật ngữ Ngoài ra, trong luận văn này chủ yếu khai thác và thống kê những thuật ngữ hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt mà
cơ sở lý luận là ngôn ngữ học ngữ liệu Do đó, việc tìm hiểu những vấn đề liên quan đến ngữ liệu là phần bắt buột Ở chương này chúng tôi chỉ nêu khái quát một vài khái niệm như: Ngữ liệu là gì? Các loại ngữ liệu? Ngôn ngữ học ngữ liệu là gì? Cơ sở lý luận của ngôn ngữ học ngữ liệu? Đối tượng nghiên cứu là ngữ liệu nào? Có thể nói đây là chương quan trọng vì nó là tiền đề cho những chương sau Mọi cứ liệu cần phân tích ở những chương sau đều phải dựa vào lý luận của chương lý thuyết cơ bản Trong khuôn khổ của luận văn này, mục tiêu
của chúng tôi là khảo sát thuật ngữ trong văn bản hợp đồng kinh tế Vì vậy, để
nắm được những chi tiết có thể có trong hợp đồng chúnng ta phải nắm được những khái niệm chung nhất về hợp đồng kinh tế để xem xét tần số xuất hiện thuật ngữ hợp đồng kinh tế trong những loại hợp đồng này diễn ra như thế nào Ngoài ra, chương này còn mang lại những lợi ích thiết thực cho việc soạn thảo hợp đồng sau này
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG TRONG VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ
2.1 KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG KINH TẾ [30]
Trong khoa học pháp lý, hợp đồng kinh tế thường được hiểu theo hai nghĩa Đó
là nghĩa khách quan và chủ quan
2.1.1 Theo nghĩa khách quan
Hợp đồng kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các tổ chứ kinh tế (còn gọi là chế độ hợp đồng kinh tế, chế định hợp đồng kinh tế hay pháp luật về hợp đồng kinh tế) Là một chế định pháp luật đặc thù của pháp luật XHCN, chế độ hợp đồng kinh tế bao gồm các quy phạm pháp luật về nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cũng như các nguyên tắc và nội dung thực hiện hợp đồng kinh tế, các điều kiện và giải quyết hậu quả của việc thay đổi, hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng kinh tế, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sự thay đổi của các quan hệ kinh tế, chế
độ hợp đồng kinh tế được Nhà nước quy định cũng thay đổi và phát triển theo
2.1.2 Theo nghĩa chủ quan
Hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên
ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích
Trang 32kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình
Theo điều luật 388 của Bộ Luật Dân sự của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam năm 2005 (sau đây gọi tắt là Bộ Luật dân sự), thì : “ Hợp đồng dân
sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền
và nghĩa vụ các chủ thể trong những quan hệ cụ thể.”
Tuy nhiên cũng có một số điểm khác nhau về hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Sự khác nhau về tư cách chủ thể , về mục đích, về hình thức ký kết ,…
2.2 PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG KINH TẾ
Dựa trên những căn cứ khác nhau, mà người ta phân hợp đồng kinh tế thành nhiều loại khác nhau
2.2.1 Căn cứ thời hạn thực hiện hợp đồng
Hợp đồng kinh tế được chia làm 2 loại:
2.2.1.1 Hợp đồng kinh tế ngắn hạn là những hợp đồng có thời gian thực hiện từ
một năm trở xuống Hay nói cách khác là thời gian có hiệu lực của hợp đồng trong vòng một năm
2.2.1.2 Hợp đồng kinh tế dài hạn là những hợp đồng có thời gian thực hiện từ một
năm trở lên Tùy theo đối tượng của hợp đồng, tính chất của mối quan hệ, giá cả thị
trường,… mà các đơn vị ký kết dài hạn hay ngắn hạn
2.2.2 Căn cứ vào tính chất quan hệ của hợp đồng
Hợp đồng kinh tế gồm các loại sau:
2.2.2.1 Hợp đồng kinh tế mang tính chất đền bù
Đây là hợp đồng mà quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia Đây là hợp đồng phản ánh mối quan hệ hàng hóa-tiền tệ trong quan hệ hợp đồng, một bên có nghĩa vụ giao
Trang 33hàng hóa hoặc kết quả công việc, dịch vụ đã thỏa thuận, còn bên kia có nghĩa vụ nhận hàng hóa hoặc kết quả đó và thanh toán tiền cho bên kia
2.2.2.2 Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức
Đây là loại hợp đồng xác lập trên cơ sở đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chủ thể của hợp đồng kinh tế thỏa thuận thành lập ra một tổ chức kinh tế mới để mưu cầu lợi ích chung Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức không phản ánh mối quan
hệ hàng hóa-tiền tệ, nó được ký kết nhằm thực hiện các mục tiêu liên kết kinh tế Chủ thể của hợp đồng này buộc phải có tư cách pháp nhân đầy đủ, không phân biệt quan hệ
sở hữu và quan hệ quản lý Tùy theo tính chất của tổ chức loại hợp đồng này không chỉ
có hai bên chủ thể mà có nhiều bên chủ thể cùng tham gia
2.2.3 Căn cứ vào nội dung giao dịch của mối quan hệ hợp đồng
Có nhiều loại hợp đồng kinh tế:
2.2.3.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng kinh tế được thỏa thận bằng văn bản, theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa và quyền sở hữu đối với hàng hóa đó cho bên mua theo đúng các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng, còn bên mua có nghĩa
vụ nhận hàng hóa và thanh toán tiền mặt
2.2.3.2 Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên vận tải và bên thuê vận chuyển Theo đó, bên vận tải có nghĩa vụ chuyển một số lượng hàng hóa nhất định đến địa điểm đã ấn định đúng thời gian và giao số hàng đó cho người nhận hàng, còn bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ phải trả cho bên vận tải một khoản tiền công gọi
là cước phí vận chuyển
2.2.3.3 Hợp đồng nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật
Hợp đồng nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật là hợp đồng được hình thành giữa các đơn vị và cá nhân trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật với nhau, hoặc với các doanh nghiệp khác nhằm triển khai, ứng dụng thiết kế, thử nghiệm, lắp ráp, vận hành,
Trang 34điều chỉnh,…và giải quyết mọi vấn đề khoa học kỹ thuật khác Theo đó bên nhận hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện các tác nghiệp đúng số lượng, chất lượng và bàn giao cho bên giao hợp đồng đúng thời gian, địa điểm mọi nội dung cam kết
2.2.3.4 Các loại hợp đồng kinh tế dịch vụ
Hợp đồng kinh tế dịch vụ là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các chủ thể của hợp đồng kinh tế Theo đó, bên nhận dịch vụ tiến hành những hoạt động nhất định bằng chính lao động và công nghệ của mình, nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của bên thuê dịch vụ và được nhận một khoản tiền công gọi là dịch vụ phí
Bên thuê dịch vụ có trách nhiệm cung ứng những điều kiện vật chất cần thiết và các yêu cầu để thực hiện dịch vụ đó, đồng thời có nghĩa vụ tiếp nhận các kết quả dịch vụ
2.3 CƠ CẤU CỦA VĂN BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ
2.3.1 Khái niệm văn bản hợp đồng kinh tế và các loại văn bản hợp đồng kinh tế 2.3.1.1 Khái niệm văn bản hợp đồng kinh tế
Văn bản hợp đồng kinh tế là một loại tài liệu đặc biệt do các chủ thể của các hợp đồng kinh tế tự xây dựng trên cơ sở những qui định của pháp luật về hợp đồng kinh tế, văn bản này có giá trị pháp lý bắt buộc các bên phải có trách nhiệm thực hiện các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận và ký kết trong hợp đồng kinh tế Nhà nước thực hiện
sự kiểm soát và bảo hộ quyền lợi cho các bên khi cần thiết và dựa trên cơ sở nội dung của hợp đồng kinh tế đã ký kết
2.3.1.2 Các loại văn bản hợp đồng kinh tế sản xuất kinh doanh
- Hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 35- Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
- Hợp đồng kinh tế giao nhận thầu trong xây dựng cơ bản
- Hợp đồng gia công đặt hàng
- Hợp đồng kinh tế dịch vụ
- Hợp đồng nghiên cứu khoa học – triển khai kỹ thuật
- Hợp đồng liên doanh, liên kết
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu
- Hợp đồng thương mại quốc tế…
2.3.2 Cơ cấu chung của một văn bản hợp đồng kinh tế
2.3.2.1 Phần mở đầu
Bao gồm các nội dung sau:
- Quốc hiệu: Đây là tiêu đề cần thiết cho những văn bản mà nội dung của nó có
tính chất pháp lý, trong hợp đồng thương mại quốc tế không ghi quốc hiệu vì các chủ
thể hợp đồng thường có quốc tịch khác nhau
- Số và ký hiệu hợp đồng: Thường ghi ở dưới tên văn bản hoặc ở góc trái của văn
bản hợp đồng kinh tế, nội dung này cần thiết cho việc lưu trữ, tra cứu khi cần thiết, phần ký hiệu hợp đồng thường là những chữ viết tắt của tên chủng loại hợp đồng Ví dụ: 18/HĐMBS-NSKT (Số 18, hợp đồng mua bán sách, NSKT: là tên viết tắt của nhà
sách kinh tế Ở đây đơn vị bán là Nhà sách Kinh tế.)
- Tên hợp đồng: Thường lấy tên hợp đồng theo chủng loại cụ thể ghi chữ to đậm
ở chính giữa phía dưới quốc hiệu Ví dụ: Hợp đồng mua bán sách, Hợp đồng mua bán
vật liệu xây dựng, Hợp đồng mua bán đồ gỗ,…
- Những căn cứ xác lập hợp đồng: Khi lập hợp đồng phải nêu những văn bản quy
phạm pháp luật của nhà nước điều chỉnh lĩnh vực hợp đồng kinh tế đó như Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định, Thông tư,…Phải nêu cả văn bản hướng dẫn của các cấp, các ngành, của chính quyền địa phương , có thể phải nêu cả sự thỏa thuận được ghi
Trang 36trong Bản ghi nhớ của các bên chủ thể trong các cuộc họp bàn về nội dung hợp đồng trước đó
- Thời gian, địa điểm ký kết hợp đồng: Phải ghi nhận rõ vấn đề này vì nó là cái
mốc quan trọng đánh dấu sự thiết lập hợp đồng kinh tế xảy ra trong một thời gian, không gian cụ thể để chứng minh sự giao dịch của các bên, khi cần thiết Nhà nước sẽ thực hiện sự xác nhận hoặc kiểm soát, đồng thời nó cũng là căn cứ quan trọng dựa vào
đó các chủ thể ấn định thời hạn của hợp đồng được bắt đầu và kết thúc lúc nào, thông thường thời gian ký kết là thời điểm để các thỏa thuận ấn định cho hợp đồng bắt đầu
có hiệu lực Ví dụ: “Hợp đồng này có hiệu lực 18 tháng kể từ ngày ký…”, hoặc “Hợp
đồng này có hiệu lực kể từ ngày 01-06-2009 đến 01-06-2010” và đây cũng là căn cứ
để các cơ quan tài phán xem xét nếu có tranh chấp xảy ra sau này
2.3.2.2 Phần thông tin về chủ thể hợp đồng
Bao gồm các nội dung sau:
- Tên tổ chức, đơn vị hoặc cá nhân tham gia hợp đồng kinh tế (gọi chung là tên doanh nghiệp)
Để loại trừ khả năng bị lừa đảo các bên phải kiểm tra lẫn nhau về tư cách pháp nhân hoặc giấy phép đăng ký kinh doanh của đối tác, kiểm tra sự hoạt động thực tế của tổ chức này xem có danh sách các tổ chức bị chính quyền thông báo đang lâm vào tình trạng phá sản, vỡ nợ, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể không
- Địa chỉ doanh nghiệp: Trong hợp đồng phải ghi rõ địa chỉ nơi đặt trụ sở pháp
nhân hoặc cá nhân Khi cần các bên có thể tìm đến nhau để liên hệ, giao dịch hoặc tìm hiểu kỹ trước khi ký kết hợp đồng kinh tế, yêu cầu các bên phải ghi rõ số nhà, đường phố, xóm ấp, phường xã , quận huyện Nếu thực tâm có ý thức phối hợp làm ăn lâu
dài, đàng hoàng, họ sẽ khai đúng và đầy đủ
- Điện thoại, email, fax: Đây là những phương tiện thông tin quan trọng Thông
thường mỗi chủ thể hợp đồng có số đặc định cho phương tiện của mình để giao dịch
Trang 37Khi cần có thể liên hệ với nhau, giảm bớt chi phí đi lại, trừ những trường hợp bắt buột
phải gặp mặt
- Tài khoản mở tại ngân hàng: Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề này được các
bên đặc biệt quan tâm, khi đối tác biết được số tài khoản , lượng tiền hiện có trong tài khoản mở tại ngân hàng nào, họ tin tưởng ở khả năng được thanh toán sòng phẳng để yên tâm ký kết và thực hiện hợp đồng, cũng cần đề phòng trường hợp đối tác chỉ đưa
ra những số tài khoản đã cạn tiền nhằm ý đồ chiếm dụng vốn hoặc lừa đảo Muốn nắm vững số lượng tiền trong tài khoản , cần có biện pháp kiểm tra tại ngân hàng mà đối
tác có mở tài khoản trước khi ký kết
- Người đại diện ký kết: Về nguyên tắc phải là người đứng đầu pháp nhân hoặc
người đứng tên trong giấy phép đăng ký kinh doanh, nếu là doanh nghiệp tư nhân, nhưng pháp luật hợp đồng kinh tế vẫn cho phép họ được ủy quyền cho người khác với
điều kiện họ phải viết giấy ủy quyền
- Giấy ủy quyền: Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký
kinh doanh có thể ủy quyền cho người khác thay mình để ký hợp đồng kinh tế (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, phải ghi rõ số lưu, thời gian viết ủy quyền, chức vụ người ký giấy ủy quyền , đồng thời phải ghi rõ họ tên, chức vụ, số chứng minh nhân dân của người được ủy quyền, nội dung phạm vi công việc ủy quyền và thời hạn ủy quyền, pháp luật bắt buộc người ký giấy ủy quyền đó phải chịu mọi trách nhiệm như chính bản thân họ đã ký hợp đồng , nhưng dù sao thì bên đối tác vẫn cần phải kiểm tra kỹ những điều kiện trên của giấy ủy
quyền trước khi đồng ý ký kết hợp đồng
Theo quy định của pháp luật , những đơn vị có tư cách pháp nhân không đầy đủ (thiếu một trong bốn điều kiện của pháp nhân nêu tại mục 2.4, phần 2.4.3) nhưng lại có quan
hệ kinh tế thường xuyên với nhiều đơn vị kinh tế khác hoặc người đứng đầu pháp nhân kiêm nhiệm công việc khác không có mặt thường xuyên ở doanh nghiệp thì có thể áp dụng việc ủy quyền thường xuyên cho người quản lý đơn vị kinh tế trực thuộc hoặc
Trang 38người cấp phó của mình Mỗi lần giao dịch trong quan hệ hợp đồng kinh tế, trường hợp ủy quyền thường xuyên giống như trong trường hợp ủy quyền không thường xuyên, thì người được ủy quyền phải xuất trình văn bản ủy quyền thường xuyên hoặc cung cấp bản sao (photocopy) đó
2.3.2.3 Phần nội dung của văn bản hợp đồng kinh tế
Nội dung của văn bản hợp đồng kinh tế là toàn bộ những điều khoản do các bên đã thỏa thuận và cùng nhau xây dựng nên.Những điều khoản đó làm phát sinh chấm dứt quyền và nghĩa vụ các bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh tế
Thông thường một văn bản hợp đồng kinh tế có các điều khoản sau đây:
- Điều kiện nghiệm thu, giao nhận;
- Phương thức thanh toán;
Trang 39- Những điều khoản chủ yếu : Đây là những điều khoản bắt buột phải có để hình
thành nên một chủng loại hợp đồng cụ thể được các bên quan tâm thỏa thuận trước tiên, nếu thiếu một trong các điều kiện căn bản của chủng loại hợp đồng đó thì văn bản hợp đồng kinh tế chưa hình thành Như vậy điều khoản chủ yếu này giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và tồn tại của hợp đồng kinh tế.Chẳng hạn,trong hợp đồng mua bán hàng hóa ,số lượng,chất lượng,quy cách hàng hóa,giá cả,điều kiện bảo hành,phương thức giao nhận,thanh toán là những điều khoản chủ yếu của hợp đồng
mua bán hàng hóa
- Những điều khoản thường lệ: Là những điều khoản mà nội dung của nó đã
được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.Các bên có thể ghi hoặc không ghi điều khoản này vào văn bản hợp đồng kinh tế.Nếu không ghi vào vào văn bản hợp đồng kinh tế thì coi như các bên mặc nhiên công nhận là phải có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ phát sinh.Nếu các bên thỏa thuận ghi vào hợp đồng thì nội dung không được trái với những điều pháp luật đã quy định.Ví dụ: điều khoản về phạt vi phạm,
điều khoản về thuế…
- Những điều khoản tùy nghi: Là những điều khoản do các bên tự thỏa thuận với
nhau khi chưa có quy định của Nhà nước nhưng các bên được phép vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh thực tế của các bên mà không trái với pháp luật Ví dụ: điều khoản về thưởng vật chất khi thực hiện hợp đồng xong trước thời hạn, điều khoản về thanh toán
bằng vàng thay cho tiền mặt hoặc hàng đổi hàng…
- Theo quy định của pháp luật các bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh tế có quyền đưa vào hợp đồng kinh tế những điều thỏa thuận khác không trái pháp luật, với mục đích để thực hiện hợp đồng kinh tế một cách nghiêm túc, hiệu quả Chẳng hạn:
“Các bên ký kết hợp đồng kinh tế có quyền thỏa thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế: thế chấp tài sản, cầm cố, bảo lãnh tài sản theo quy định của pháp luật” Điều đó có nghĩa là trong khi xác lập quan hệ hợp đồng kinh tế các bên thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế thì
Trang 40các bên có quyền không áp dụng Trong trường hợp nếu một bên yêu cầu, bên kia các quyền chấp thuận hoặc không chấp thuận, nếu không chấp thuận thì hợp đồng kinh tế
có thể không hình thành, hay việc lựa chọn cơ quan tài phán để giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra
2.3.2.4 Hình thức của hợp đồng kinh tế
Theo quy định của pháp luật thì hợp đồng kinh tế bắt buột phải xác lập bằng văn bản
Đó là sự ghi nhận về quyền và nghĩa vụ các bên đã thỏa thuận với nhau, là cơ sở để kiểm tra thẩm quyền ký kết, trách nhiệm ký kết của thủ trưởng cơ quan, tổ chức kinh
tế , là cơ sở pháp lý để các bên tiến hành thực hiện các điều khoản đã cam kết Đó còn
là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế nếu có xảy
2.3.3 Văn bản phụ lục và biên bản bổ sung hợp đồng kinh tế
2.3.3.1 Văn bản phụ lục hợp đồng kinh tế
- Việc lập và ký kết văn bản phụ lục hợp đồng kinh tế được áp dụng trong trường hợp các bên hợp đồng cần chi tiết và cụ thể hóa các điều khoản của hợp đồng kinh tế
mà khi ký kết hợp đồng kinh tế các bên chưa cụ thể hóa được
- Nguyên tắc chung khi xây dựng văn bản phụ lục hợp đồng kinh tế là không được trái với nội dung của văn bản hợp đồng kinh tế đã ký kết
- Thủ tục và cách thức ký kết phụ lục hợp đồng kinh tế tương tự như thủ tục và cách thức ký kết hợp đồng kinh tế