Trên cơ sở đặc điểm sinh học, thời tiết khí hậu khu vực, tính chất đất đai và từ những ưu thế vốn có của Paspalum atratum.cv, từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất và kết quả thử nghiệm ban
Trang 1đại học thái nguyên trường đại học nông lâm
*****
Nguyễn Văn Lợi
ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật đến năng
suất và chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv
trồng tại khu vực Sông Công, Thái Nguyên
Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Thái Nguyên, 11 - 2006
Trang 2đại học thái nguyên trường đại học nông lâm
*****
Nguyễn Văn Lợi
ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật đến năng
suất và chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv
trồng tại khu vực Sông Công, Thái Nguyên
Trang 3lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và ch−a hề sử dụng cho một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đ3 đ−ợc cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đ3 đ−ợc ghi rõ nguồn gốc trong phần phụ lục
Tác giả
Nguyễn Văn Lợi
Trang 4Lời cảm ơn
Sau quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đ3 hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- T.S Nguyễn Đức Thạnh, T.S Nguyễn Thị Mùi đ3 đầu tư công sức và
thời gian hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình triển khai nghiên
cứu và hoàn thành luận văn
- Ban Giám đốc Trung tâm NC&PT chăn nuôi Miền núi, đặc biệt là
Giám đốc Đặng Đình Hanh, tập thể CBCNV Trạm Nghiên cứu, sản xuất
chế biến thức ăn chăn nuôi, phòng kỹ thuật và chuyển giao công nghệ,
các phòng ban chức năng đ3 hết sức giúp đỡ và tạo mọi điều kiện giúp tôi
hoàn thành luận văn này
- Bộ môn Đồng cỏ - Viện chăn nuôi, Bộ môn phân tích khoa Địa chính
– Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đ3 trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá
trình nghiên cứu, phân tích và sử lý số liệu
- Khoa sau Đại học Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, TS Đặng
Văn Minh đ3 quan tâm, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
bảo vệ luận văn
- Sự đóng góp to lớn trong đào tạo của tập thể các thầy cô giáo, sự
góp ý chân thành của các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp đ3 giúp tôi
nâng cao được trình độ trong thời gian qua
- Ngoài ra, tôi cũng nhận được sự quan tâm, động viên, tạo điều kiện và
giúp đỡ của gia đình, người thân
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước những sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2006
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi
Trang 5Môc lôc
Trang
1.1.1 Nguån gèc vµ ph©n bè cña cá Paspalum atratum.cv 14
1.1.2 §Æc ®iÓm sinh vËt vµ sinh th¸i häc cña cá Paspalum
Trang 61.3.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 25 1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 29
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phưong pháp
nghiên cứu
32
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Điều kiện thời tiết, đất đai khu vực thí nghiệm 43
3.2 Một số đặc tính sản xuất và phát dục của cỏ Paspalum
atratum.cv
47
3.3 ảnh hưởng của yếu tố thời vụ đến đặc tính phát dục, khả năng
sinh trưởng và cho năng suất, chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv
Trang 73.7 Kh¶ n¨ng s¶n xuÊt h¹t gièng cá Paspalum atratum.cv trong hé
Phô lôc 1: mét sè h×nh ¶nh minh häa
Phô lôc 2: Quy tr×nh kü thuËt s¶n xuÊt h¹t gièng cá Paspalum
Trang 8Danh môc tõ viÕt t¾t
Trang 9Danh mục các Bảng
Bảng 3.1: Diễn biến thời tiết khí hậu trung bình 3 năm của Thái Nguyên năm 2003-2005
Bảng 3.2 Thành phần hoá học của đất trước thí nghiệm
Bảng 3.3 Khả năng sinh trưởng và năng suất của cỏ Paspalum atratum.cv Bảng 3.4 Đặc tính phát dục của giống cỏ Paspalum atratum.cv
Bảng 3.5 ảnh hưởng của thời vụ trồng đến đặc tính phát dục của cỏ
Paspalum atratum.cv
Bảng 3.6 ảnh hưởng của thời vụ trồng đến một số yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất, chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv
Bảng 3.7 ảnh hưởng của phân bón đến một số chỉ tiêu về sinh trưởng của cỏ
Paspalum atratum.cv
Bảng 3.8 ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về sinh trưởng của
cỏ Paspalum atratum.cv
Bảng 3.9 ảnh hưởng của mức phân bón, mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về
sinh trưởng của cỏ Paspalum atratum.cv
Bảng 3.10 ảnh hưởng của mức phân bón đến năng suất chất lượng hạt cỏ
Bảng 3.14 Năng suất hạt cỏ Paspalum atratum.cv trong hộ gia đình
Bảng 3.15: Hiệu quả đồng vốn khi sản xuất hạt giống ở các mô hình
Bảng 3.16: Kết quả mở rộng diện tích giống cỏ Paspalum atratum.cv ra
sản xuất
Trang 10Danh mục các hình minh hoạ
Hình 3.1 Diễn biến nhiệt độ trung bình, tổng lượng mưa/tháng trung bình 2 năm tại 2004-2005 Thái nguyên năm
Hình 3.2: ảnh hưởng của thời vụ trồng, thu cắt lứa cuối đến thời gian bắt đầu
ra hoa, thời gian ra hoa rộ và thu hoạch của cỏ Paspalum atrayum.cv
Hình 3.3: ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất hạt cỏ Paspalum atratum.cv
Hình 3.4: ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ hạt chắc và tỷ lệ nẩy mầm hạt
chắc, tỷ lệ nẩy mầm của hạt cỏ Paspalum atratum.cv
Biểu đồ 3.8: ảnh hưởng của phương pháp thu hạt đến năng suất hạt Paspalum atratum.cv
Trang 11Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Những năm gần đây, nhờ chủ trương chuyển đổi cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi nước ta đ3 có những khởi sắc đáng
kể, nhất là chăn nuôi gia súc ăn cỏ Chính sách giao đất cho người dân của Nhà nước đ3 tạo điều kiện cho việc phát triển những mô hình chăn nuôi gia súc tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá tại các hộ gia đình;
xu hướng này cũng diễn ra ở các tỉnh vùng núi (đây vốn là vùng có khả năng về đất đai canh tác, nhưng tập quán sản xuất của người dân lại rất lạc hậu)
Theo số liệu thống kê, đàn gia súc ăn cỏ của nước ta không ngừng tăng lên về số lượng, ví dụ đàn trâu tăng từ 2,84 triệu con năm 2003 lên 2,95 triệu con năm 2005, đàn bò tăng từ 4,39 triệu con năm 2003 lên 4,91 triệu con năm 2005, đàn ngựa hiện tại của nước ta 132.000 con (Nguyễn Đăng Vang, 1999) [21], bò sữa tăng với tốc độ 31-40% so với năm
2000 (Đỗ Kim Tuyên, 2004)[19]
Khi đàn gia súc không ngừng tăng lên về số lượng và cần phải cải thiện về chất lượng, chúng đòi hỏi nguồn thức ăn thô xanh cũng phải tăng lên một cách đồng bộ để đáp ứng nhu cầu Hiện nay thức ăn thô xanh cho gia súc có 3 nguồn chính: từ đồng cỏ tự nhiên, từ phế - phụ phẩm nông, công nghiệp và nguồn cỏ trồng Trên thực tế, người chăn nuôi gia súc thường có tâm lý dựa vào tự nhiên, nhất là ở vùng núi, chăn thả trên đồng cỏ tự nhiên là chính; thức ăn cho gia súc vì thế không ổn
định, dẫn đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi không có sức cạnh tranh và ngành chăn nuôi khó phát triển mở rộng
Qua quan sát, chúng ta đều nhận thấy rằng: diện tích đồng cỏ tự nhiên đang ngày càng bị thu hẹp lại, nhường chỗ cho các loại cây trồng
Trang 12khác và các công trình xây dựng, các công trường khai thác… Mặt khác
“việc chăn thả một cách bừa b i tuỳ tiện không có kỹ thuật đ làm cho một số b i chăn trở thành đất trống, không còn khả năng khai thác” (Nguyễn Thiện – Lê Hoà Bình – 1994) [16] Hàng năm, trên phạm vi toàn quốc, hàng chục vạn ha đồng cỏ tự nhiên trở thành đất trống, đồi núi trọc, không còn khả năng khai thác dẫn đến thiếu thức ăn cho gia súc, nhất là vào mùa đông
Nguồn thức ăn từ phế - phụ phẩm nông, công nghiệp, thực tế chỉ cung cấp cho gia súc trong một thời gian ngắn và theo mùa thu hoạch như: lá ngô, lá lạc, rơm rạ nên cũng rất hạn chế
Giải pháp mang tính chiến lược đ3 được đặt ra từ những năm 80 của thế kỷ 20, đó là trồng các giống cỏ có năng suất cao, chất lượng tốt
để cung cấp cho gia súc Song chúng ta đều biết đặc điểm cơ bản của kỹ
thuật đồng cỏ là “ tính hệ thống”, ngoài chế độ chăn thả, kỹ thuật chăn
thả (như đối với đồng cỏ tự nhiên) còn có các yếu tố khác như: điều kiện
tự nhiên, điều kiện sản xuất (giống, phân bón, chăm sóc…); Mục tiêu
kinh tế (lấy thịt, sữa hay cải tạo đất, sản xuất giống…) Chính “việc quan tâm chưa toàn diện các yếu tố này cũng là một trong những nguyên nhân làm cho diện tích đồng cỏ chưa phát triển và đáp ứng yêu cầu như mong muốn.” (Harmphray.L.R, 1980) [3] Bên cạnh đó, việc phát triển cỏ trồng hiện nay còn mang tính nhỏ lẻ, tốc độ phát triển chậm Nguyên nhân một phần do tập quán sản xuất, song một phần nữa là do người dân thiếu vốn, thiếu giống, thiếu kỹ thuật
Mười lăm năm trở lại đây, với mục tiêu mở rộng diện tích cỏ trồng nhằm tăng nguồn thức ăn thô xanh có năng suất cao, chất lượng tốt cho
đàn gia súc, chúng ta đ3 nhập trên 100 giống cỏ hoà thảo và họ đậu các loại thông qua các chương trình hợp tác Quốc tế và trao đổi công nghệ
Trang 13Trong bộ giống cỏ có năng suất cao, chất lượng tốt đ3 được nhập
vào nước ta, giống cỏ Paspalum atratum.cv là một trong những giống cỏ
đ3 được nghiên cứu và đưa vào sử dụng rộng r3i ở các tỉnh miền núi phía Bắc do đặc điểm phù hợp với điều kiện vùng, miền và ưu điểm nổi trội về tính ngon miệng đối với gia súc Giống cỏ này có nguồn gốc từ Brazil; có khả năng chịu được độ ẩm ướt, ngập nước, đất kém mầu mỡ và đất chua
tại khu vực phía Bắc Thái Lan Paspalum atratum.cv cũng được khẳng
định là giống có “phản ứng ánh sáng ngày dài trong quá trình sinh trưởng sinh thực và phản ứng ánh sáng ngày ngắn trong giai đoạn ra hoa, kết hạt” (Hare và CS, 2001) [30] Cỏ sinh trưởng và phát triển tốt hơn cỏ lông Para trong điều kiện khô hạn cũng như ẩm ướt (Hare và CS,
1999) [34] Cỏ Paspalum atratum.cv phát triển thích hợp dưới tán cây ăn quả và cho năng suất khá cao (Nguyễn văn Quang và cs, 2003[11],
Nguyễn Văn Lợi và CS, 2003) [4] Là giống cỏ có chất lượng dinh dưỡng cao; có thể trồng thâm canh tốt, có phản ứng rõ với việc bón phân đạm (Hare và CS, 1999) [35]
Hiện nay việc sản xuất giống Paspalum atratum.cv đ3 được nhiều
nước nghiên cứu để phục vụ việc phát triển mở rộng như: Thái Lan, Indonexia, ấn Độ … ở Việt Nam chúng ta mới chỉ nhân rộng diện tích bằng khóm là chủ yếu, do vậy sẽ gặp khó khăn khi cần mở rộng diện tích, nhất là đối với vùng xa nguồn giống, giao thông không thuận lợi
Vấn đề đặt ra là, cần phải chủ động sản xuất hạt giống cỏ Paspalum atratum.cv để phục vụ nhu cầu của sản xuất
Trong khi đ3 có một số giống cỏ như: cỏ Barachiaria ruziziensis, keo dậu, Ghinê TD58 đ3 có các nghiên cứu về hạt giống và sản xuất hạt giống thì Paspalum atratum.cv mới chỉ có những thử nghiệm bước đầu
trong nông hộ tại Thị x3 Sông Công, Tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên các
Trang 14thử nghiệm bước đầu tại một số hộ gia đình về sản xuất hạt giống cỏ
Paspalum atratum.cv đ3 thu được một số kết quả song cũng còn rất hạn chế
Trên cơ sở đặc điểm sinh học, thời tiết khí hậu khu vực, tính chất
đất đai và từ những ưu thế vốn có của Paspalum atratum.cv, từ nhu cầu
của thực tiễn sản xuất và kết quả thử nghiệm ban đầu về sản xuất hạt
giống Paspalum atratum.cv trong nông hộ, chúng tôi tiến hành đề tài
“ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật đến năng suất và chất lượng hạt
cỏ Paspalum atratum.cv trồng tại khu vực Sông Công, Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định biện pháp kỹ thuật thời vụ, phân bón, mật độ, trồng và
phương pháp thu hạt đến năng suất, chất lượng hạt cỏ giống Paspalum atratum.cv
Trang 15Chương 1 tổng quan tài liệu
1.1: Đặc tính sinh học của cỏ thí nghiệm
1.1.1.Nguồn gốc và phân bố của cỏ Paspalum atratum.cv
Cỏ Paspalum atratum.cv có nguồn gốc á nhiệt đới của Bắc Brazil,
Argentina và Urugoay Hiện nay được trồng nhiều nơi trên thế giới, nhất
là ở các nước vùng Đông Nam á như Thái Lan
Đây là giống cỏ mới nhập vào nước ta, qua thời gian thử nghiệm và
đưa vào thực tiễn sản xuất đ3 tỏ rõ là giống cỏ thích nghi tốt, cho năng suất và chất lượng cao hơn hẳn với các giống địa phương
1.1.2.Đặc điểm sinh vật và sinh thái học của cỏ Paspalum atratum.cv
Cỏ Paspalum atratum.cv là loài cỏ lâu năm dạng búi, thân mọc
thành bụi, khóm, chiều cao tối đa có thể tới >1m, nhiều lá, tỷ lệ thân/lá
là 1/9; bản lá dầy, chắc, ngon miệng với gia súc (Chip-pendall.L.K.A & Crook.A.O, 1976) [24]
Hoa dạng chùm, mỗi bông có từ 5 chùm hoa, mỗi hoa dài từ
3-5mm, kết hạt hình bầu dục (oval), mùa ra hoa là mùa hạ, nhiệt độ thích
hợp cho việc ra hoa và kết hạt là 25,5 – 270C (Bennett.H.J, 1959)[23]
Mùa sinh trưởng: mùa Xuân và mùa Hạ Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 30 - 320C (Mitchell.K.J, 1956)[44]
Môi trường sống: cỏ có khả năng thích ứng với môi trường thường
xuyên bị ngập nước hay khô hạn kéo dài “ cỏ có thể sinh trưởng ở các loại đất nghèo dinh dưỡng và chua, nhưng cỏ cho năng suất cao ở những nơi đất ẩm, đất thịt, màu mỡ, đất bazan” (Hare.M.D, 1995) [29], có thể trồng trên đất ngập nước ngoài đê (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2006)[7]
Trang 16Nhu cầu lượng mưa hàng năm: khoảng 750 mm, lượng mưa phù hợp nhất là khoảng 1250mm/năm, lượng mưa tối đa có thể chịu đựng là
1650mm/năm (Skerman.P.J & Riveros – 1990) [53], Cỏ Paspalum atratum.cv có khả năng chịu được ngập úng trong 48 giờ liên tục
(Colman.R.L và Lazenby.G.P.M – 1970)[25]
Nhu cầu về độ ẩm của cỏ giảm dần qua các giai đoạn phát triển (nẩy mầm-lên nhánh, phát triển nhánh và cuối thời kỳ sinh trưởng) (Trịnh Văn Thịnh và CTV,1974) [15]
Paspalum atratum.cv là loài cỏ có khả năng nhân thảm tự nhiên bằng hạt tại những vùng ẩm phù hợp với điều kiện cho hạt nẩy mầm Là
loại cỏ có khả năng cho hạt, Paspalum atratum.cv có thể được gieo trồng
từ các nhánh có rễ Paspalum atratum.cv có sức sống cao và khả năng
tăng trưởng mạnh, có thể phục hồi một cách nhanh chóng sau thu cắt và thậm chí sau khi bị dẫm đạp bởi người và gia súc Việc thu cắt có thể làm
giảm năng suất của lứa cỏ sau so với lứa cỏ trước, song điều này có thể
khắc phục bằng cách cung cấp thêm đạm cho đồng cỏ (Colman.R.L và Lazenby.G.P.M – 1970) [26}
1.1.3.Đặc điểm hạt cỏ Paspalum atratum.cv và cơ chế nẩy mầm
Hạt cỏ Paspalum atratum.cv hình bầu dục, hạt kết theo bông và khi
chín, hạt sẽ chín từ đầu bông đến cuống bông Ngay sau khi hạt chín sẽ tách mày, đặc điểm này ảnh hưởng đến việc thu cắt cũng như năng suất
và chất lượng hạt cỏ
Điều kiện tốt nhất để sản xuất hạt giống cỏ Paspalum atratum.cv:
- Về giờ chiếu sáng: Từ 14-16giờ/ngày
- Về nhiệt độ: từ 30-350C, nhiệt độ dưới 130C thì không có khả năng
sản xuất hạt Paspalum atratum.cv giống, vì trong điều kiện này việc vào
chắc diễn ra rất chậm (Russell & Webb, 1976) [51]
Trang 17Việc thu cắt bắt đầu khi 60-80% đầu hạt chuyển sang màu nâu, việc bảo quản hạt giống phải đảm bảo hạt khô với tỷ lệ ngậm nước là 7-10%
Thời điểm gieo hạt tốt nhất là vào mùa Xuân, nhiệt độ khoảng
20-250C, trong điều kiện thích hợp, hạt Paspalum atratum.cv sẽ nẩy mầm
trong khoảng 4-7 ngày sau khi gieo Hạt giống trước khi gieo được xử lý bằng KN03 Trong điều kiện dưới 130C, sẽ xảy ra quá trình ngủ đông của hạt Hạt sẽ ngủ đông cho đến khi có đủ điều kiện nẩy mầm
1.2 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật
Như chúng ta đều biết cơ thể thực vật và ngoại cảnh có mối quan
hệ mật thiết với nhau, khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi quá trình trao đổi chất của cơ thể thực vật, từ đó làm ảnh hưởng
đến sự tăng trưởng của cây, đối với cây cỏ được trồng với mục đích lấy giống thì sự trao đổi với điều kiện ngoại cảnh và các yếu tố như khí hậu,
đất đai, phân bón… có ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hạt giống
1.2.1 Điều kiện khí hậu
Khí hậu bao gồm lượng mưa và sự phân bố lượng mưa, ẩm độ không khí, đất; cường độ chiếu sáng, thời gian chiếu sáng trong năm và nhiệt độ môi trường trong năm Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng cây trồng
ẩm độ đất và không khí liên quan chặt chẽ đến lượng mưa, nó ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bộ rễ cỏ và khả năng hút các chất dinh dưỡng, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, điều hoà nhiệt độ lá, hoạt
động của các enzim Ngoài ra nó còn quyết định đến sự phát triển của
vi sinh vật đất và độ tơi xốp của đất
ánh sáng cung cấp năng lượng để cỏ quang hợp Cường độ ánh sáng
và thời gian chiếu sáng ảnh hưởng quyết định tới số năng lượng nhận được
Trang 18của cỏ Do sự phản ứng của cây với thời gian chiếu sáng người ta chia ra làm 2 loại: cây ngày dài (mùa Hè) và cây ngày ngắn (mùa Đông)
Do sự phản ứng của cây với cường độ chiếu sáng người ta chia ra 2
loài: cây chịu cường độ chiếu sáng mạnh và yếu Paspalum atratum.cv là
loại thực vật ưa ngày dài trong quá trình sinh trưởng
Nhiệt độ cần cho sự sinh trưởng phát triển của cỏ Nhiệt độ quá cao làm cho quá trình thoát hơi nước trong cây xảy ra mạnh, mất cân đối giữa lượng nước hút vào qua rễ và thoát ra qua lá làm cây bị héo Nhiệt độ cao làm quá trình hô hấp tăng, quá trình phân giải chất hữu cơ mạnh dẫn đến phẩm chất cây trồng giảm Nhiệt độ cao làm thui mầm hoa, mất sức nẩy mầm của hạt phấn gây nên hiện tượng lép của hạt Nhiệt độ thấp làm cho hàm lượng nước trong nguyên sinh chất tế bào bị giảm, nồng độ dịch bào tăng, mất tính linh động của nguyên sinh chất, quá trình vận chuyển nước, dinh dưỡng trong cây bị cản trở gây ảnh hưởng xấu đến các quá trình sinh lý của cây
Như vậy điều kiện khí hậu có ảnh hưởng lớn đến các quá trình sinh hoá, diễn biến trong thực vật, như sự hấp thụ nước, hấp thụ các chất dinh dưỡng, sự trao đổi các chất khí, quang hợp, cuối cùng sẽ ảnh hưởng tới
sự tích luỹ các chất hữu cơ và chất khoáng của thực vật
1.2.2 Điều kiện đất đai
Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, do đó, tính chất vật lý cấu tượng đất sẽ ảnh hưởng đến độ ẩm đất, sự hấp thụ các chất dinh dưỡng, sự phát triển của các hệ vi sinh vật trong đất và ảnh hưởng tới năng suất cây trồng
Đất giầu mùn, tỷ lệ cát, sét, sỏi thấp, rễ cỏ sẽ phát triển nhanh, mạnh, hệ vi sinh vật hoạt động tốt cỏ sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt
Trang 19Đất có hạt sét quá nhiều thì dí chặt, yếm khí, bộ rễ cỏ hoạt động kém, mặt khác chất độc tích luỹ trong đất nhiều làm cho cỏ phát triển kém, năng suất, chất lượng thấp
Đất có tỷ lệ cát quá cao, sét quá ít < 5% thì không giữ được nước
và các chất dinh dưỡng cũng không đảm bảo cho sự sinh trưởng phát triển của cỏ
1.2.3 Điều kiện phân bón
Phân bón là nguồn bổ sung cung cấp chất mầu cho đất Lượng phân bón cho cây trồng nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển, quá trình trao đổi chất của cây trồng Từ đó sẽ dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành
phần dinh dưỡng Các nhà khoa học đ3 khẳng định “ Phân bón quyết định trên 50 % việc tăng năng suất cây trồng” (FAO, Rome, 1984.tr3-5) [2]
* Phân chuồng
Phân chuồng (phân hữu cơ) là loại phân không thể thiếu đối với cây trồng Bón phân hữu cơ là biện pháp quan trọng cải thiện tính chất, tăng độ phì của đất, tạo tiềm năng cho năng suất cao
Thành phần phân chuồng có chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng bao gồm dinh dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng, giúp cho cây trồng phát triển cân đối hơn Để đảm bảo năng suất cây trồng tăng, đất không
bị suy kiệt dinh dưỡng và nền sản xuất bền vững thì sử dụng phân chuồng
là điều hết sức cần thiết
* Phân đạm
Đạm trong cây thường chiếm tỷ lệ 1 - 3% trọng lượng vật chất khô
Đạm có nhiều nhất lúc cây còn non và giảm đi khi cây ra hoa do khả năng hút chất dinh dưỡng lúc này của cây bị giảm đi
Trang 20Trong cây đạm ở dạng Prôtít đơn (các Amino axít), Prôtít kép (Prôtêin) các Alcaloid và Glucozit (Nguyễn Xuân Trường và CTV, 2000) [18] Đạm là thành phần chính của diệp lục, nguyên sinh chất, các loại men cần thiết cho quá trình trao đổi chất trong cây Khi cây trồng thiếu
đạm sẽ bị cằn cỗi, lá kém xanh, ra hoa kém và thưa thớt, ít quả Khi cây quá nhiều đạm sẽ làm cho bộ rễ kém phát triển, phần trên mặt đất phát triển um tùm, cây yếu, hay đổ lốp, dễ mắc bệnh
Đạm trong đất có tỷ lệ trung bình từ 0,02 - 0,4% Trong tổng số
đạm trong đất, có khoảng 95% ở dạng hữu cơ, còn 5% ở dạng vô cơ gồm Amoniac, Nitrat, Nitric (NH3, NO3-, NO2 ) và được gọi là đạm dễ tiêu vì cây hút đạm trong đất chủ yếu ở dạng này
Đạm hữu cơ trong đất chủ yếu là do vi sinh vật phân giải các Prôtít thực vật, còn đạm vô cơ được phân giải từ đạm hữu cơ Cho nên khi đánh giá hàm lượng đạm trong đất người ta đánh giá chủ yếu thông qua hàm lượng đạm tổng số và đạm dễ tiêu
*Phân lân
Lân là loại phân bón cần thiết bậc nhất cho quá trình trao đổi chất của cây Có tác dụng điều hoà phản ứng của cây khi điều kiện môi trường
đột ngột thay đổi, tăng cường sự phát triển của bộ rễ, kích thích cây bộ
đậu hình thành nốt sần Ngoài ra lân còn làm tăng phẩm chất nông sản
Lân trong cây chiếm tỷ lệ khoảng 0,3 - 0,4% vật chất khô, trong hạt tỷ lệ lân cao hơn trong thân lá và rơm rạ rất nhiều Các dạng lân trong cây là Nucleoprotit, Phosphoprotit, Lexithin, Sacarophophat, Photphatide (Nguyễn Xuân Trường và CTV, 2000) [18]
Cây trồng hút lân vô cơ, chủ yếu dưới dạng ion H2PO2-, HPO4- - Ngoài ra cây có thể hút lân ở dạng hữu cơ được nhưng rất ít và chậm Chất Magie có tác dụng rất mạnh đến việc hút và vận chuyển lân trong cây do vậy khi bón Magie thì việc hút lân của cây sẽ dễ dàng hơn
Trang 21Độ di chuyển của lân trong cây cũng nhanh hơn nhiều sự di chuyển lân trong đất, do trong đất có nhiều yếu tố có khả năng kết tủa hoặc kìm h3m sự di động của lân thực tế mà cây cần sử dụng
Lân trong đất chiếm tỷ lệ 0,02 - 0,08%, lân ở lớp đất mặt thường cao hơn so với lớp đất dưới Các dạng lân trong đất gồm dạng lân hữu cơ
và dạng vô cơ Dạng lân hữu cơ chủ yếu có trong thành phần của mùn, dạng này cây ít hút; dạng lân vô cơ chủ yếu ở dạng phốt phát can xi và phốt phát sắt, nhôm (FePO4,AlPO4 )
Trong cây, Kali chiếm từ 0,5 - 1% vật chất khô Hạt ngũ cốc chiếm nhiều hơn rơm rạ Tro bếp có tỷ lệ Kali rất cao Tỷ lệ Kali ở trên mặt đất thường cao hơn phần dưới mặt đất và có chủ yếu trong dịch tế bào (80%), một phần bị chất keo của tế bào hấp thụ, khoảng ≤ 1% được giữ lại trong nguyên sinh chất
Trong đất Kali chiếm tỷ lệ 0,2 - 0,4% Đất nhiệt đới chứa Kali thấp hơn đất ôn đới vì vùng nhiệt đới mưa nhiều, các ion K+ lại dễ bị rửa trôi
Kali trong đất tồn tại 3 dạng sau: kali không trao đổi, Kali trao đổi, Kali hoà tan Trong đó kali không trao đổi > Kali trao đổi > Kali hoà tan
Kali là yếu tố dinh dưỡng cây hút được từ đất nhiều hơn Can xi và Magiê, cho nên việc bón nhiều các nguyên tố khoáng Ca++, Mg++, Na+
vào trong đất sẽ gây ảnh hưởng đến việc hút Kali của cây và ngược lại
Trang 22Khi độ pH thấp hoặc đất thiếu oxi thì việc hút Kali của cây càng trở ngại Cường độ hút của cây khác nhau trong từng giai đoạn sinh trưởng và khác nhau tuỳ theo loại cây trồng
1.2.4 Thời vụ gieo trồng
ảnh hưởng của mùa vụ là ảnh hưởng tổng hợp của ánh sáng, nhiệt
độ, ẩm độ Mùa mưa thời gian chiếu sáng dài và cường độ chiếu sáng lớn, nhiệt độ cao, ẩm độ đất, ẩm độ không khí cao, cây cỏ sinh trưởng nhanh Sản lượng cỏ mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm 75% sản lượng cỏ cả năm Mùa khô thì ngược lại, thời gian, cường độ chiếu sáng
ít, ẩm độ thấp sản lượng cỏ chỉ chiếm 25%
Thời vụ trồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, “nếu trồng sớm cỏ sẽ
bị già trước khi bước vào kỳ trổ bông, nếu trồng muộn cỏ sẽ chưa có đủ thời gian để tích luỹ dinh dưỡng để nuôi cây” (Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Trần Trang Nhung, 1995) [9]
1.2.5 Mật độ trồng
Quan hệ giữa năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất thể hiện bởi mối quan hệ giữa quần thể và các cá thể, nên có tính sinh học rõ ràng, số bông/m2 có quan hệ tới quần thể, số hạt chắc/bông và khối lượng
1000 hạt quan hệ với cá thể
Trong sản xuất để đạt được năng suất, chất lượng cao thì phải tìm biện pháp để đạt được quần thể có kết cấu hợp lý mà tại đó, tích của các yếu tố là cao nhất Một trong những biện pháp quan trọng là bố trí quần
thể hợp lý, nó ảnh hưởng đến số nhánh tối đa và số nhánh hữu hiệu Nếu mật độ thưa, số nhánh/m2 thấp, gây l3ng phí đất, năng suất quần thể thấp, nếu mật độ quá dầy, ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng, ánh sáng, quần thể rậm rạp, dễ đổ, tỷ lệ hạt lép nhiều, năng suất thấp
Trang 231.2.6 Phương pháp thu hạt
Thu hạt là khâu cuối cùng của một chu kỳ sản xuất, mỗi loại cây trồng đều có kiểu ra hoa, kết quả riêng Có loại ra hoa kết hạt và chín tập trung nhưng có loại lại ra hoa kết hạt và chín kéo dài Chính vì vậy mỗi một loại cây trồng đều phải có những biện pháp thu hạt thích hợp mới có thể thu được năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng cao, đồng thời biện pháp thu hạt đó phải phù hợp với điều kiện sản xuất Đặc điểm chín
của hạt Paspalum atratum.cv là kéo dài trong một thời gian, chín bắt đầu
từ đầu bông dần đến cuống bông, sau khi hạt chín vẩy lá dưới mày sẽ tách ra Đặc điểm này có ý nghĩa đến việc người sản xuất quyết định lựa chọn phương pháp thu hạt nào phù hợp
1 3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trên thế giới ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển vấn đề cây thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như : úc, Mỹ, Brazin, ấn Độ Các nước ở khu vực Châu Nam á cũng đ3 có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này, ví dụ như: Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Malaisia v.v
ở Indônexia: Trong thành phần thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là
cỏ hoà thảo, 21% là rơm, 16% là cây khác, 7% là phụ phẩm Một trong 4 giải pháp về thức ăn cho bò là thâm canh trồng giống cỏ tốt trong điều kiện canh tác tại nông hộ (Sochodji,1994)[12]
- ở Thái Lan: Với 70% dân liên quan đến sản xuất nông nghiệp, sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa chưa đủ cung cấp theo nhu cầu tiêu dùng Năm 1992 sản phẩm sữa nhập vào Thái Lan 114.012 tấn, chi phí mất 2.222,81 triệu USD Chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của người nông dân bằng giải pháp: Giảm trồng lúa, sắn
Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại Nông dân
Trang 24nuôi bò trong dự án được cấp hạt giống cỏ để trồng Thái Lan đ3 sản xuất
được 418 tấn hạt cỏ (1991) và 1.336,6 tấn(1994) (Nguồn: Thông tin khoa học chăn nuôi số 4,1998,tr.12)[13]
Giống Paspalum atratum.cv nhập vào Thái Lan năm 1995 được
đánh giá trong mục tiêu là cây thức ăn cho đất thấp đ3 thể hiện là giống tốt, chịu đất chua, ngập nước, sản xuất chất xanh và khả năng sản xuất hạt cao Bên cạnh đó, năng suất chất xanh thu được rất thuận tiện cho
người sử dụng do thích hợp để ”ủ chua hoặc phơi khô”(Levitt và cs,
1962)[42] Năm 1999 Thái Lan sản xuất 21,8 tấn hạt để phục vụ cho phát triển cây thức ăn chăn nuôi bò thịt và bò sữa ở trong nước (Phai Kaew.C,2002) [47]
Tại Samford, Queenland năng suất hàng năm của giống cỏ
Paspalum atratum.cv 15.000kg VCK (Davies, 1970)[27]
Theo Liu Quadao, Hare, (1995) ở Trung Quốc cây thức ăn gia súc
được chú ý phát triển ở khu vực phía Nam đ3 xác định được các giống cỏ Stylo, Brachiaria, Pennisetum, Panicum sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hàng năm còn sản xuất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước (Thông tin KHKT chăn nuôi,1999) [14]
ở Philippin với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các
trang trại nhỏ, nông dân đ3 trồng các giống Panicum maximum, Paspalum atratum.cv , Brachiaria brizantha, Stylosanthes CIAT 184
chúng đều phát triển tốt, cung cấp nguồn thức ăn xanh cho gia súc Ngoài ra các giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả Hàng năm sản xuất được > 1 tấn hạt cỏ
Ngoài ra một số nước khác như Malaysia, Lào trong khu vực cũng
đ3 chú trọng, đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm
Trang 251985 Cho đến nay một số cỏ hoà thảo và cỏ họ đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả trong sản xuất Hàng năm sản xuất được 2 -3 tấn hạt
cỏ các loại
Như vậy, có thể thấy phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc được nhiều nước quan tâm Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển
Paspalum atratum.cv là giống cỏ nhiệt đới, lưu niên, có nguồn gốc
từ Brazin và gần đây được du nhập vào Việt Nam (1995) qua chương trình hợp tác chuyển giao giữa Thái Lan và Việt Nam Nó còn có tên gọi
khác là Ubon Paspalum (Thái Lan), hay Suerte Paspalum atratum.cv (Swallen) Các nghiên cứu về Paspalum atratum.cv trên thế giới đ3 bắt
đầu từ năm 1951 ở Mỹ, australia, Brazil Song phải đến năm 1993 trở đi, các nghiên cứu mới nhiều và chuyên sâu
Các nghiên cứu khẳng định: “Paspalum atratum.cv là loại cỏ có giá trị nông nghiệp cao ở Mỹ ” (Kalmbacher và cs 1998) [40]; ở Brazin và
ở 5 nước Đông Nam Châu á (Hare và cs 1999) [31] Đây là loài cỏ phù
hợp với vùng đất ướt, bạc mầu và chua So sánh với loại cỏ khác là
Brachiaria mutica thì nó có ưu thế hơn hẳn ở các vùng đất trũng (Hare
và cs 1997) [33]
Paspalum atratum.cv có khả năng sản xuất hạt cao (Phaikaew và
cs, 1999) [48], (Hare, 1995) [29] Khả năng nẩy mầm từ hạt là rất tốt
Điều này rất có ý nghĩa với người sản xuất nhỏ vì nó đơn giản, rẻ và dễ làm hơn là trồng bằng khóm (Phaikaew, 2002) [46] Nhu cầu về hạt cỏ giống đang tăng lên hàng năm, nhưng những vùng đất để phù hợp với
việc sản xuất giống lại không nhiều (Phaikaew và cs, 2002) [49]
ở Việt Nam các nghiên cứu về Paspalum atratum.cv chưa nhiều và hoàn toàn mới tập trung nghiên cứu khả năng thích nghi của Paspalum
Trang 26atratum.cv đối với các vùng miền Còn vấn đề sản xuất hạt cỏ thì chưa có
đề tài nghiên cứu nào, mặc dù nhu cầu hạt cỏ đối với thực tiễn sản xuất
là rất lớn
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Năm 1994, các nhà khoa học nông nghiệp Mỹ thuộc trường Đại
học Florida đ3 có công trình nghiên cứu “Sự ảnh hưởng của khoáng Dolomite và tỷ lệ gieo hạt đến mật độ cây và giá trị dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum.cv” Nghiên cứu này đ3 chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa năng suất, mật độ cỏ với lượng khoáng Dolomite được cung cấp trong điều kiện độ pH = 4,5 và khả năng trao đổi ion Ba+++ Sự tập trung
Ca, Mg ở tế bào mô của cỏ và khả năng hấp thụ tăng lên khi tăng tỷ lệ khoáng Dolomite Nếu gieo v3i 6 kg hạt chắc/ha thì mật độ cây sẽ là 25 cây/m2 (Kalmbacher và CS, 1998) [40]
Năm 1999, M.D.Hare và các cộng sự ở trường Đại học Nông
Nghiệp Băng KốK Thái Lan đ3 tiến hành đề tài nghiên cứu “Thử nghiệm trồng Brachiaria mutica và Paspalum atratum.cv trên đất ẩm ở Thái Lan ” [34] Kết quả cho thấy: Paspalum atratum.cv là loại cỏ thích hợp
với vùng đất cằn cỗi, thấp, và ngập úng ở vùng Đông Bắc Thái Lan Hare
cũng chỉ ra rằng cỏ Paspalum atratum.cv trồng từ cụm thì thuận lợi hơn
song thường thì người dân chỉ mua giống năm đầu và họ tự sản xuất hạt giống cho vụ sau
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng so với Brachiaria mutica thì Paspalum atratum.cv có khả năng tái sinh, phát triển sau thu cắt nhanh hơn và chịu được tần suất thu cắt cao Năng suất của cỏ sau mỗi lần thu cắt có thể bị giảm xuống, song do là giống cỏ có phản ứng tốt và tương
đối rõ với phân đạm nên có thể hạn chế điều này bằng việc cung cấp đạm cho cỏ sau mỗi lần thu cắt
Trang 27Ngoài công trình trên, Hare và cs cũng thực hiện đề tài “ Nghiên cứu sự ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất chất xanh của cỏ Paspalum atratum.cv trên vùng đất ướt theo mùa ở Đông Bắc Thái Lan”
(1999) [35] Hare và CS đ3 chỉ ra rằng năng suất vật chất khô tăng khi
tăng bón đạm cho cỏ; đối với cỏ Paspalum atratum.cv được gieo trồng ở
vùng đất ẩm ướt theo chu kỳ của Thái Lan thì lượng đạm nên cung cấp ở mức độ thấp, khoảng 25 kg N/ha/lứa thu cắt Lượng cung cấp này là mức
độ tối ưu nhất giúp tăng năng suất chất xanh thô và sự tập trung Protêin thô của cỏ
Nghiên cứu về hiện tượng ngủ của hạt Paspalum atratum.cv, nhóm
tác giả Kalmbacher.R.S, West.S.H và Martin.F.G (1999)[41], của trường
Đại học Florida, Mỹ đ3 công bố hiện tượng ngủ của hạt phụ thuộc vào thời gian, môi trường bảo quản hạt; phụ thuộc vào lớp vỏ bọc bao gồm:
bộ mày dưới của hạt (Lemmas) và vẩy lá ở cuống bám theo thân hạt (Pelea) Hạt ngủ trong điều kiện môi trường nhiệt độ là 30C thì sự diễn ra
sự trao đổi chất rất ít Người bán hạt có thể không cần quan tâm đến hiện tượng ngủ của hạt, vì thời gian từ lúc thu hoạch đến lúc gieo hạt ít nhất
là 4 tháng Tuy nhiên, nếu muốn cất giữ hạt giống trong vài năm thì cần phải đảm bảo môi trường chuẩn (nhiệt độ, ẩm độ thấp)
Theo Jone,R.J, (1973) thì ngăng suất hạt cỏ Paspalum atratum.cv
có thể đạt từ 50 – 500 kg/ha Hạt cỏ có khả năng nẩy mầm sau 2 năm cất trữ (Jone, R.J, 1973)[37]
Năm 2002, nhà nghiên cứu nông nghiệp Nhật Bản Glen Fukumoto,
đ3 khẳng định: Paspalum atratum.cv là giống cỏ có chất lượng dinh
dưỡng cao với hàm lượng protein biến động từ 6,5 đến 12,34 % (mùa
Đông và mùa Hè), hàm lượng ADF trong vật chất khô thấp (Glen Fukumoto, 2002) [28]
Trang 28Năm 2003, Kalmbacher.R.S và cs cũng công bố một nghiên cứu vai trò của sự rụng lá đến sự phát triển của nhánh cỏ và mật độ cỏ Thí nghiệm được tiến hành từ năm 1997 tại Mỹ Tuy nhiên, vào năm đầu tiên của thí nghiệm đ3 xảy ra cơn b3o El – Nino, đ3 có ảnh hưởng nhất định
đến kết quả thí nghiệm kết luận của nghiên cứu phần lớn được dựa vào số liệu của 2 năm 1998 và 1999 Phát hiện chính của công trình này là ý nghĩa quan trọng của sự rụng lá đến lịch bón thúc cho cỏ Khuyến nghị
được đưa ra là vào mùa Đông có sương giá tán lá dầy sẽ bảo vệ khóm cỏ, nhưng vào mùa Hạ nên có lịch thu cắt thường xuyên để giảm sự che bóng giúp nhánh phát triển nhanh, sau mỗi lần thu cắt sẽ cung cấp đạm cho cỏ
Paspalum atratum.cv (Kalmbacher.R.S và cs, 2003)[39]
ở các nước vùng Đông Nam á, đi đầu trong nghiên cứu về hạt cỏ
nói chung và hạt cỏ Paspalum atratum.cv nói riêng, phải kể đến C.Phaikaew Hầu như tất cả các đề tài nghiên cứu về hạt Paspalum atratum.cv ở Thái Lan đều do Phaikaew và cs thực hiện
Năm 1996 – 1998, PhaiKaew và cs thực hiện nghiên cứu tìm ra
phương pháp thu hạt cho năng suất và chất lượng hạt Paspalum atratum.cv cao nhất Đây là công trình nghiên cứu có sự hợp tác giữa trường Đại học Băng KốK – Thái Lan và trường Đại học tổng hợp Miyazaki Nhật Bản
Nghiên cứu được thực hiện trong 3 năm tại 3 địa phương khác nhau của Thái Lan Kết quả cho thấy phương pháp thu hạt bằng cách bao túi nilon cho năng suất hạt cao nhất (1000 kg/ha trong năm đầu), chất lượng tốt, tỷ lệ nẩy mầm cao, tỷ lệ hạt chắc trên 90% Trong năm thứ 2 và thứ 3 năng suất đạt thấp hơn, sấp xỉ 500 kg hạt/ha (Hare và cs, 1999)[32]
Các năng suất này được coi là rất cao với các thí nghiệm trước đó của Hare(1995) với phương pháp bao túi nilon (230 kg/ha) và của
Trang 29Kalmbacher (266kg/ha) bằng phương pháp gặt máy (Phaikaew và CS, 2002) [47]
PhaiKaew cũng cho biết năng suất hạt còn phụ thuộc vào yếu tố thời tiết Thí nghiệm được tiến hành vào 3 năm 1996 – 1998, năm 1997
do ảnh hưởng của b3o El – nino, lượng mưa lớn làm năng suất giảm
Cũng trong chương trình hợp tác nghiên cứu giữa các trường Đại học Nông Nghiệp của Thái Lan và Nhật Bản, nhóm nghiên cứu của PhaiKaew đ3 thực hiện 3 nghiên cứu tiếp theo về các yếu tố ảnh hưởng
đến năng suất, chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv
*Thứ nhất: Nghiên cứu sự ảnh hưởng của khoảng cách trồng và thời gian gieo hạt đến năng suất, chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv
(Phaikaew và CS, 2002) [47]
Nghiên cứu đ3 chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa khoảng cách trồng, thời gian gieo hạt và năng suất, chất lượng hạt cỏ: khoảng cách trồng có khuynh hướng cho năng suất cao nhất, chất lượng hạt tốt nhất là khoảng cách 125 * 100 cm Tác giả cũng phân tích rằng với khoảng cách rộng, sẽ gặp khó khăn khi làm cỏ, dọn b3i, song người thu hạt có thể dễ dàng đi vào giữa các hàng cỏ để chăm sóc và thu hoạch Đồng thời, khi trồng thưa ta sẽ có những bông hoa dài hơn và dễ dàng sử dụng phương pháp bao túi nilon Số lượng bông thưa cũng không đòi hỏi nhiều bao nilon và không tốn nhiều lao động
Ngoài ra, Phaikaew cũng có nghiên cứu riêng về sự ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến năng suất và chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv, kết luận cũng cho thấy khoảng cách trồng thưa có ưu thế hơn
khoảng cách trồng dầy (Phaikaew và cs, 2002) [46]
Trang 30Về thời gian gieo hạt, PhaiKaew khẳng định thời gian gieo có ý nghĩa rất quan trọng vì nó liên quan đến thời tiết khí hậu của vùng miền (Phaikaew và CS, 1999) [47]
*Thứ 2: Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thời điểm cắt cuối đến năng suất, chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv ở Thái Lan (Phaikaew và
CS, 2002) [50]
Nghiên cứu này khẳng định lại kết quả nghiên cứu của Hare (1999) ở vùng Đông Bắc Thái Lan và của Kalmbacher(1995 - 1997) ở Florida – Mỹ
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thời điểm cắt cuối cùng ảnh hưởng
đến “năng suất giới hạn” của hạt cỏ Paspalum atratum.cv
Để có được năng suất hạt cao, thời điểm cắt hợp lý là cuối tháng 6
đầu tháng 7 bởi vì nếu cắt sớm hơn cây cỏ lúc ra hoa sẽ cao, và dễ bị đổ hàng loạt; còn nếu cắt muộn hơn cỏ sẽ không ra hoa hoặc ra hoa nhưng kết hạt kém
*Thứ 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ phì đất và tỷ lệ phân đạm
đến năng suất, chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv (Phaikaew và CS,
Như vậy, giống cỏ Paspalum atratum.cv đ3 nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học nông nghiệp trên thế giới từ rất lâu Các khảo nghiệm sản xuất chất xanh cũng như những nghiên cứu về sản xuất hạt
Trang 31đ3 được áp dụng làm mở rộng phạm vi phân bố của cỏ Paspalum atratum.cv trên toàn thế giới
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong thời gian 10 năm trở lại đây thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau chúng ta đ3 nhập trên 100 giống cây thức ăn hoà thảo và họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, CIAT, Philippin, Inđônêsia, Thái Lan) nhằm tăng khả năng sản xuất thức ăn xanh cho chăn nuôi, cụ thể:
Năm 1990 chương trình bò thịt VIE 86/008 nhập 17 giống cây thức
ăn họ đậu, hoà thảo khác nhau từ Oxtrâylia
Năm 1995 chương trình cây thức ăn xanh cho nông hộ nhập vào 70 giống (51 giống đậu và 19 giống hoà thảo) từ CSIRO và CIAT Chương trình cây keo dậu nhập 22 giống keo dậu từ Oxtrâylia
Năm 1997 thông qua hoạt động hợp tác quốc tế đ3 nhập 10 giống Stylo từ Trung Quốc và Philippin
Năm 1998 chương trình "Phát triển bò thịt một cách có hiệu quả ở Việt Nam - ACIAR Project as2/97/18" nhập 55 loại cây thức ăn gồm 15 loại cây họ đậu và 40 loại hoà thảo
Paspalum atratum.cv là một giống cỏ mới được đưa vào nước ta, các nghiên cứu chính thức về nó còn ít và mới chỉ tập trung ở mức độ nghiên cứu sự thích nghi đối với các điều kiện vùng miền và khả năng sản xuất chất xanh của cỏ trong các điều kiện canh tác khác nhau
Năm 2002, trong công trình nghiên cứu về khả năng sản xuất và các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất của một số loại cỏ hoà thảo nhập
nội, trong đó có cỏ Paspalum atratum.cv tại Thái Nguyên và chỉ ra năng
suất của một số giống cỏ cụ thể
Trang 32* Giống cỏ Brachiaria decumben năng suất Prôtêin thô đạt 2,43
tấn/ha/năm, năng suất VCK đạt 25,71 tấn/ha/năm
* Giống cỏ Setaria splendida năng suất Prôtêin thô đạt 1,71
tấn/ha/năm, năng suất VCK đạt 19,48 tấn/ha/năm
* Panicum maximum.TD58 năng suất Prôtêin thô đạt 1,25
tấn/ha/năm, năng suất VCK đạt 14,84 tấn/ha/năm
* Panicum maximum tây Nghệ An năng suất Prôtêin thô đạt 1,16
tấn/ha/năm, năng suất VCK đạt 13,57 tấn/ha/năm
Trên cơ sở các kết quả thực nghiệm, tác giả đ3 đưa ra một quy trình
kỹ thuật sản xuất thức ăn đối với các giống cỏ này (Nguyễn Văn Quang và
CS, 2003) [11]
Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Quang: Paspalum atratum.cv là
giống cỏ có khả năng sinh trưởng cao nhất trong số những cỏ được đưa vào nghiên cứu (1,7-1,8 cm/ngày); đây cũng là giống cỏ có tính ngon
miệng cao (sau Brachiaria decumben) Nghiên cứu cũng cho biết: năng suất của Paspalum atratum.cv đạt 157,41 tấn/ha/năm (Nguyễn Văn
Quang, 2002) [10]
Paspalum atratum.cv được khẳng định là loại cỏ thích hợp trồng dưới tán cây ăn quả và cho năng suất khá cao (Nguyễn Văn Quang và CS; 2002) [11]
Trong mô hình xen canh với các loại cây ăn quả và cỏ như Ghinê TD58, voi, lông Para v.v năng suất cỏ Paspalum atratum.cv đạt 138,5
tấn/ha/năm, thấp hơn so với điều kiện trồng thuần (179 tấn) (Nguyễn Thị Mùi và CS; 2004) [5]
Năm 2004, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đ3 triển khai Dự án “Trồng thử nghiệm tập đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò”
tại Bến Tre Kết quả thực nghiệm khẳng định: Paspalum atratum.cv là
Trang 33một trong các giống cỏ nhập nội thích nghi tốt và phát triển mạnh trong
điều kiện môi trường và thổ nhưỡng tại Bến Tre Năng suất chất xanh đạt
giống Brachiaria ruziziensis đ3 chỉ ra rằng phương pháp rung bông là
phương pháp cho năng suất và chất lượng hạt cỏ cao nhất (Dương Quốc Dũng và cs, 1999) [1]
Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Phần và cs về tính năng sản xuất
và một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất chất xanh và hạt của
cỏ Panicum maximum TD58 Kết quả cho thấy để thu hạt cỏ Panicum maximum TD58 trồng mới cần 130 – 150 ngày và 90 – 110 ngày đối với
cỏ tái sinh; phương pháp thu hạt là phương pháp rung bông thu hạt chín cho năng suất hạt cao nhất (Phan Thị Phần và cs, 1999) [7]
Như vậy có thể thấy rằng: việc nghiên cứu ở Việt Nam về Paspalum atratum.cv mới chỉ tập trung vào các nghiên cứu khảo nghiệm thích nghi và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sinh khối của các giống cỏ Việc nghiên cứu về sản xuất hạt giống cỏ trong vài năm gần đây mới bắt đầu được nghiên cứu đ3 có một vài thí nghiệm về sản xuất hạt cỏ
giống như cỏ Brachiaria ruziziensis, Panicum maximum TD58, Cỏ Sylosanthes, Flemingia congesta, còn nghiên cứu về sản xuất hạt cỏ Paspalum atratum.cv vẫn chưa được thực hiện
Trang 34chương 2
Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng (vật liệu) nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là giống cỏ Paspalum atratum.cv
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển
chăn nuôi Miền núi và trong hộ nông dân tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1 năm 2003 đến tháng 12 năm
2005
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung sau:
- Một số đặc điểm sản xuất của cỏ Paspalum atratum.cv (thí
nghiệm 1)
- ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất, chất lượng hạt cỏ
Paspalum atratum.cv (thí nghiệm 2)
- ảnh hưởng của mức phân bón, mật độ trồng đến năng suất, chất
lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv (thí nghiệm 3)
- ảnh hưởng của một số phương pháp thu hoạch đến năng suất,
chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv (thí nghiệm 4)
- Xây dựng mô hình phát triển mở rộng ra sản xuất
2.3.1.1 Thí nghiệm 1: “ Khảo sát một số đặc điểm sản xuất của
cỏ Paspalum atratum.cv”
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được tiến hành trên 4 ô, mỗ ô 100 m2, trong mỗi ô lại để 1 ô nhỏ (20 m2) để theo dõi đặc tính phát dục của cỏ
Trang 35Sơ đồ 1: Thí nghiệm khảo sát một số đặc điểm sản xuất của cỏ Paspalum atratum.cv
Chỉ tiêu theo dõi:
+ Tốc độ sinh trưởng (cm/ngày)
+ Độ cao thảm khi thu hoạch (cm)
+ Số lứa cắt trong năm (lứa)
+ Năng suất chất xanh, vật chất khô/năm và theo mùa (tấn/ha)
2.3.1.2: Thí nghiệm 2: “ ảnh hưởng của thời vụ trồng đến đặc điểm phát dục, năng suất, chất lượng hạt cỏ Paspalum atratum.cv”
Thí nghiệm được tiến hành theo khối ngẫu nhiên 3 công thức 3 lần lặp lại, trong đó các thời vụ được bố trí theo sơ đồ 2 Diện tích theo dõi thí nghiệm mỗi ô là 50 m2
Điều kiện thí nghiệm: thí nghiệm tiến hành đồng đều về đất đai, trồng với mật độ: 20400 khóm/ha (hàng x hàng:70cm; Cây x cây:70 cm),
Cỏ trồng bằng hom 4 – 5 dảnh/khóm, phân hữu cơ (phân chuồng) là 20
Trang 36tấn/ha/năm, phân N:P205:K20 tương ứng là 160 kgN, 160 kg P2O5, 160 kg
K2O kg/ha/năm
Thời vụ 1 trồng vào tháng 2 năm 2003, sau đó thu cắt chất xanh 2 lứa trước khi để thu hạt, lứa cắt cuối cùng vào ngày 5 tháng 7 năm 2003
Thời vụ 2 trồng vào ngày 5 tháng7 năm 2003
Thời vụ 3 trồng vào ngày 15 tháng 8 năm 2003
Phương pháp thu hạt: túm bông thu cắt toàn bộ và ủ 2 – 3 ngày, dùng que đập và sàng, sẩy tách hạt chắc Hạt được phơi ở nơi râm, mát, khô đến khi còn ≤13% độ ẩm, đem cân và xác định năng suất
Sơ đồ 2: ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất, chất lượng hạt
Ghi chú: TV1 = thời vụ 1, TV2 = thời vụ 2, T3 = thời vụ 3
Các chỉ tiêu theo dõi:
1 Một số chỉ tiêu về sinh trưởng
- Số nhánh/m2 (nhánh)
- Số nhánh hữu hiệu (%)
- Thời gian từ khi trồng, thu cắt đến khi cỏ bắt đầu ra hoa (ngày)
- Thời gian từ khi bắt đầu ra hoa đến ra hoa rộ (ngày)
- Thời gian từ khi ra hoa rộ đến thu hạt lứa đầu (ngày)
- Thời gian từ thu hoạch lứa đầu đến kết thúc thu hạt (ngày)
Trang 37- Năng suất chất xanh tận thu (tấn/ha)
2 Một số chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Thí nghiệm đ−ợc tiến hành theo thiết kế ngẫu nhiên 2 nhân tố có lặp lại Trong đó mức phân bón là yếu tố chính, mật độ trồng là yếu tố phụ Các công thức thí nghiệm đ−ợc bố trí theo sơ đồ 3 trên diện tích
2000 m2 (diện tích theo dõi TN mỗ ô 50 m2)
Trang 38Thí nghiệm được tiến hành đồng đều về đất, phân bón hữu cơ (20 tấn/ha/năm) Diện tích mỗi ô thí nghiệm 50 m2 Cỏtrồng bằng hom 4 – 5
dảnh/khóm
Phương pháp thu hạt: túm bông thu cắt toàn bộ và ủ 2 – 3 ngày, dùng que đập và sàng, sẩy tách hạt chắc Hạt được phơi ở nơi râm, mát, khô đến khi còn ≤13% độ ẩm, đem cân và xác định năng suất
Trang 39* Các chỉ tiêu theo dõi
1 Một số chỉ tiêu về sinh trưởng
- Số nhánh/m2(nhánh)
- Số nhánh hữu hiệu (%)
- Năng suất chất xanh tận thu (tấn/ha)
3 Một số chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt cỏ
2.3.1.4 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phương
pháp thu hạt đến năng suất hạt Paspalum atratum.cv”
Các phương pháp:
1 Rung bông khi hạt chín (R): xác định khi cây bắt đầu có hạt chín rụng, rung bông để hạt chín rụng vào thúng Thời gian rung theo chu kỳ 2 – 3 ngày/lần cho đến khi thu hết hạt
Trang 40Sơ đồ 4: Thí nghiệm theo dõi phương pháp thu hạt
1
Rung bông 3 ngày
1 lần
3 Bao túi lưới nilon
2 Thu cắt 1 lần
3
Bao túi lưới nilon
2 Thu cắt 1 lần
1 Rung bông 3 ngày 1 lần
2
Thu cắt 1 lần
1 Rung bông 3 ngày 1 lần
3 Bao túi lưới nilon Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp khối ngẫu nhiên 3 công thức, 3 lần nhắc lại, trong đó các phương pháp thu hạt được bố trí theo sơ đồ 4 trên diện tích 5000 m2 Diện tích theo dõi thí nghiệm mỗi lô thí nghiệm là 100 m2 x 9 = 900 m2
Điều kiện thí nghiệm: thí nghiệm tiến hành đồng đều về đất đai, trồng với mật độ: 14.285 khóm/ha (hàng x hàng: 100 cm; Cây x cây: 70 cm), phân hữu cơ (phân chuồng) là 20 tấn/ha/năm, phân N:P205:K20 tương ứng là 160 kgN, 160 kg P2O5, 160 kg K2O kg/ha/năm
* Các chỉ tiêu theo dõi