Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay cần chú ý những vấn đề gì Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay cần chú ý những vấn đề gì Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay cần chú ý những vấn đề gì Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay cần chú ý những vấn đề gì Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay cần chú ý những vấn đề gì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
GVHD: Vũ Thị Thu Hà
LHP: 2125HCMI0111
Nhóm 10
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 3
PHẦN 2: NỘI DUNG 4
Chương 1: Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động 4
1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ 4
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động 5
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất giai cấp của Nhà nước 8
1.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước pháp quyền 9
1.5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước trong sạch, vững mạnh 11
Chương 2: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 16
2.1 Tình hình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 16
2.1.1 Thành tựu 16
2.1.2 Hạn chế 21
2.2 Những phương hướng cơ bản xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 25
2.2.1 Những phương hướng cơ bản góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 25
2.2.2 Liên hệ thực tiễn vai trò của sinh viên trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 29
PHẦN 3: KẾT LUẬN 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Dân chủ là khát vọng sâu xa, cũng là thành tựu của cuộc đấu tranh lâu dàicủa các dân tộc và của loài người Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóngdân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, đã để lại choĐảng, đất nước ta di sản tư tưởng quý báu với nhiều nội dung cốt lõi và sinh động,trong đó có vấn đề dân chủ Dân chủ là mục tiêu, là động lực của cách mạng xã hộichủ nghĩa Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, trong nhân dân là nhiệm vụquan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Do đó, Hồ Chí Minh coi trọng việcxây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, của dân, do dân, vì dân
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nước lấy dân làm gốc Địa vị cao nhất là dân;mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Dân là quý nhất, mạnh nhất "Côngviệc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân" "Đem tài dân, sức dân, của dân đểlàm lợi cho dân" Trong di sản tư tưởng quý giá, Người có những điều tâm huyết:
"Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những gì đã cũ kỹ,
hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi, cần phải động viên toàn dân, tổ chứcvà giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân"
Bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một nhiệm vụ rất quantrọng của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì vậy Hiến pháp nước taquy định rất cụ thể vai trò làm chủ của nhân dân lao động Vai trò làm chủ củanhân dân lao động được thể hiện trong Hiến pháp - một đạo luật cơ bản, giữ địa vịtối cao trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trên những nội dung
cơ bản: "Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức."
Trang 4PHẦN 2: NỘI DUNG Chương 1: Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước thể
hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động 1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ vàdân làm chủ Người chỉ rõ, địa vị của nhân dân là người chủ đối với xã hội, đấtnước và nhân dân là chủ thể của quyền lực Đây là nội dung cốt lõi trong tư tưởngdân chủ Hồ Chí Minh, phản ánh giá trị cao nhất, chung nhất của dân chủ là quyềnlực thuộc về nhân dân: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân làchủ”, “chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân làm chủ” Điều này khẳng định giá trịxã hội đích thực của dân chủ là ở chỗ giành về cho đại đa số nhân dân lao độngnhững quyền lực của chính họ thông qua đấu tranh cải tạo xã hội cũ và xây dựng xãhội mới của chính bản thân quần chúng nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ cómột “ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho nước nhà được độc lập, nhân dânđược tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” Người đãphấn đấu không mệt mỏi, làm tất cả để thực hiện Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cho
Tổ quốc, cho dân tộc và nhân dân Người đã rút ra một chân lý không chỉ cho dântộc mà còn cho cả nhân loại “không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minhđặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng chế độ dân chủ, thể chế chính trị vàthể chế nhà nước dân chủ, nhà nước của dân, do dân và vì dân Người khẳngđịnh: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việcđổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc làcông việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lựclượng đều ở nơi dân” Nhà nước ta là nhà nước của dân; coi nhân dân là chủ thểquyền lực; nhà nước là công cụ của nhân dân, là hình thức để tập hợp, quy tụ sức
Trang 5mạnh của toàn dân tộc vào sự nghiệp chung chứ nhà nước không phải là nơiđể “thăng quan, phát tài”, chia nhau quyền lực, lợi ích và bổng lộc.
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động
1.2.1 Nhà nước của nhân dân
Nhà nước của dân, là Nhà nước trong đó dân là chủ, dân làm chủ; dân làngười có địa vị cao nhất, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đấtnước Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêuquyền hạn là của dân; mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
Trong nhà nước ta, dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, do đó người cầmquyền, cán bộ công chức nhà nước chỉ là người được dân ủy quyền có điều kiện vàcó thời hạn để gánh vác, giải quyết những công việc chung của đất nước, do đótheo Hồ Chí Minh cán bộ công chức nhà nước là công bộc, đầy tớ của dân Và vìvậy bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân
Trong nhà nước dân chủ Nhân dân thực thi quyền lực thông qua hai hìnhthức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp Dân chủ trực tiếp là hình thức dân chủtrong đó nhân dân trực tiếp quyết định mọi vấn đề liên quan đến vận mệnh củaquốc gia, dân chủ và quyền lợi của dân chúng Hồ Chí Minh coi trọng dân chủ trựctiếp, đồng thời sử dụng rộng rãi dân chủ gián tiếp Theo HCM, dân chủ gián tiếpbao gồm:
Nhà nước do dân còn thể hiện ở vai trò tham gia quản lý nhà nước, phê bình,kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, các đại biểu dân cử.Nhân dân có quyền thực hiện chế độ bãi miễn theo 3 mức độ từ thấp đến cao, bãimiễn đại biểu, bãi miễn các cơ quan nhà nước, bãi miễn nội các Chính phủ nếu cácđại biểu đó, các cơ quan nhà nước và nội các chính phủ không còn phù hợp vớinhân dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, và sự bãi miễn đó là bất cứ lúc nào
Trang 6Luật pháp dân chủ và là công cụ quyền lực cúa nhân dân Luật pháp đó làcủa công dân thực thi quyền lực của nhân dân, là phương tiện để kiểm soát quyềnlực nhà nước.
1.2.2 Nhà nước do nhân dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước do nhân dân trước hết là nhà nước
do nhân dân lập nên sau thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc dướisự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Nhà nước do nhân dân còn có nghĩa “dân làm chủ”, tính chất dân chủ nhândân là đặc trưng nổi bật của chính quyền nhà nước kiểu mới Trong nước ta, nhândân là người nắm giữ mọi quyền lực, còn các cơ quan nhà nước do nhân dân tổchức ra, nhân viên nhà nước là người được ủy quyền, thực hiện ý chí nguyện vọngcủa nhân dân, trở thành công bộc của nhân dân Thể chế dân chủ cộng hòa đã làmthay đổi tận gốc quan hệ quyền lực chính trị và thực hiện quyền lực, nhân dân đượcđặt ở vị trí cao nhất, nhà nước không còn là công cụ thống trị, nô dịch dân nhưtrong thời phong kiến, tư bản Là người làm chủ Nhà nước, nhân dân có quyền,thông qua cơ chế dân chủ thực thi quyền lực, nhưng đồng thời nhân dân phải cónghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Nhà nước, làm cho Nhà nước ngày càng hoàn thiện,trong sạch, vững mạnh Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi với tư cách là chủ nhân của mộtnước độc lập, tự do, quyền và nghĩa vụ công dân gắn bó chặt chẽ với nhau
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân, do dân là Nhà nước dânchủ, thể hiện quyền lực của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là bảo đảm thực thiquyền lực của nhân dân lao động Quan điểm này của Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏxuyên suốt tất cả các quá trình xây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam Trongcông cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là một nộidung trọng yếu của việc kiện toàn, đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà nước ta
Nhà nước do nhân dân cần coi trọng việc giáo dục nhân dân, đồng thời nhândân cũng phải tự giác phấn đấu để có đủ năng lực thực hiện quyền dân chủ của
Trang 7mình Động viên nhân dân chuẩn bị tốt năng lực làm chủ, quan điểm đó thể hiên tưtưởng dân chủ triệt để của Hồ Chí Minh khi nói về nhà nước do nhân dân.
1.2.3 Nhà nước vì nhân dân
Nhà nước vì dân là một nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làmmục tiêu, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ một lợi íchnào khác Đó là một nhà nước trong sạch, không có bất kỳ một đặc quyền, đặc lợinào Trên tinh thần đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh: mọi đường lối chính sách đều chỉnhằm đưa lại quyền lợi cho dân; việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm,việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh Dân là gốc của nước Hồ Chí Minhluôn tâm niệm: phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dâncó chỗ ở, phải làm cho dân được học hành Cả cuộc đời Người “chỉ có một mụcđích phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân” Hồ Chí Minhviết: “khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểmnghèo – là vì mục đích đó Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chínhquyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cốgắng – cũng vì mục đích đó” Một nhà nước vì dân, theo quan điểm của Hồ ChíMinh, là từ chủ tịch nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làmđầy tớ cho nhân dân chứ không phải “làm quan cách mạng” để “đè đầu cưỡi cổnhân dân” như dưới thời đế quốc thực dân Ngay như chức vụ Chủ tịch nước củamình, Hồ Chí Minh cũng quan niệm là do dân ủy thác cho và như vậy phải phục vụnhân dân, tức là đầy tớ cho nhân dân Hồ Chí Minh nói: “tôi tuyệt nhiên không hammuốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh chức chủ tịch là vì đồng bàoủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh củaquốc dân ra trước mặt trận Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui…Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá,trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em tre chăn trâu, không dínhlíu gì với vòng danh lợi”
Trang 81.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất giai cấp của nhà nước
Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc của Nhànước:
Tính dân tộc và tính nhân dân
Tính nhân dân của nhà nước ta biểu hiện tập trung ở chỗ đó là nhà nước củadân, do dân, vì dân Tính nhân dân biểu hiện cụ thể trong cơ cấu tham chính, với sựcó mặt rộng rãi của mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội, từ nông dân, công nhân, tríthức, phụ nữ, tôn giáo, dân tộc, kể cả công chức, quan lại cũ tiến bộ, không phânbiệt nguồn gốc, miễn là thành thật hợp tác, vì quyền lợi của dân tộc
Tính dân tộc của nhà nước ta được thể hiện trước hết ở chỗ Nhà nước thaymặt nhân dân thực thi chủ quyền dân tộc, đấu tranh cho lợi ích của dân tộc, đấutranh với mọi xu hướng đi ngược lại lợi ích của dân tộc
Tính dân tộc còn thể hiện sâu sắc ở chỗ, nguồn gốc sức mạnh của Nhà nước
ta là khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạocủa Đảng; Nhà nước luôn hoạt động vì lợi ích quốc gia, của dân tộc, kế thừa vàphát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và có chính sách đúng đắnđể giải quyết vấn đề dân tộc
Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc củaNhà nước:
Cơ sở khách quan đảm bảo tính thống nhất này chính là ở chỗ giai cấp côngnhân lãnh đạo Nhà nước, mà "quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng và của cả dân tộc là một" Giai cấp công nhân không có lợi ích nào khác lợiích của dân tộc, của nhân dân và chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng đượcgiai cấp công nhân một cách triệt để
Hồ Chí Minh là người giải quyết rất thành công mối quan hệ giữa các vấn đềgiai cấp – dân tộc trong xây dựng nhà nước Việt Nam mới Người đã giải quyết hài
Trang 9hòa, thống nhất giữa bản chất giai cấp với tính nhân dân, tính dân tộc là được biểuhiện rõ trong những quan điểm sau:
Nhà nước ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của rấtnhiều thế hệ người Việt Nam Cuối thế XIX đầu thế kỷ XX dân tộc Việt Nam rơivào khủng hoảng đường lối cách mạng Trong cuộc đấu tranh trường kỳ chống thựcdân Pháp của dân tộc ta, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của các nhàcách mạng tiền bối rất oanh liệt, tô thắm cho truyền thống yêu nước chống ngoạixâm của dân tộc nhưng độc lập, tự do cho dân tộc vẫn chưa thành hiện thực Từđầu năm 1930, Đảng ta ra đời lớn mạnh của giai cấp công nhân với đội tiên phongcủa nó là Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua được tất cả các hạn chế và đã lãnhđạo thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đấu tranh giành chính quyền, lậpnên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á
Tính thống nhất còn biểu hiện ở chỗ Nhà nước tự bảo vệ lợi ích của nhândân, lấy lợi ích của dân tộc làm cơ bản Bản chất của vấn đề này là ở chỗ Hồ ChíMinh khẳng định lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động vàcủa toàn dân tộc là một Nhà nước ta không những thể hiện ý chí của giai cấp côngnhân mà còn thể hiện ý chí của nhân dân và của toàn dân tộc
Nhà nước ta đã đứng ra làm nhiệm vụ của cả dân tộc giao phó, đã lãnh đạonhân dân tiến hành các cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc.Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình Thống nhất, độc lập, dân chủ và giàumạnh, góp phần tích cực vào sự phát triển tiến bộ của thế giới Con đường quá độlên chủ nghĩa xã hội và đi đến chủ nghĩa cộng sản là con đường mà Hồ Chí Minhvà Đảng ta đã xác định, cũng là sự nghiệp của chính Nhà nước ta
1.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước pháp quyền
1.4.1 Nhà nước hợp hiến, hợp pháp
Hồ Chí Minh luôn chú trọng vấn đề xây dựng nền tảng pháp lý cho Nhànước Việt Nam mới Người đã sớm thấy rõ tầm quan trọng của Hiến pháp và pháp
Trang 10luật trong đời sống chính trị – xã hội Điều này thể hiện trong bản Yêu sách củanhân dân An Nam của nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp do Ngườithay mặt nhóm gửi đến Hội nghị Vecxay năm 1919.
2/9/1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với đồng bào cả nướcvới đồng bào cả nước và nhân dân thế giới về sự khai sinh ra Nhà nước mới là nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa Sau khi trở thành người đứng đầu Nhà nước Việt Nammới, Hồ Chí Minh càng quan tâm sâu sắc hơn việc bảo đảm cho Nhà nước được tổchức và vận hành phù hợp với pháp luật, đồng thời, căn cứ vào pháp luật để điềuhành xã hội, làm cho tinh thần pháp quyền thấm sâu và điều chỉnh mọi quan hệ vàhoạt động trong Nhà nước và xã hội
Chính vì thế, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trong phiênhọp đầu tiên của chính phủ (3/9/1945), Hồ Chí Minh đã đề nghị tổ chức Tổng tuyển
cử để lập Quốc hội rồi từ đó lập ra Chính phủ và các cơ quan, bộ máy chính thứckhác của Nhà nước mới
Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành thắng lợi ngày 6/1/1946 với chế độ phổthông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín Lần đầu tiên trong lịch sử hàng nghìnnăm của dân tộc Việt Nam cũng như lần đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tất cả mọingười dân từ 18 tuổi trở lên đều đi bỏ phiếu bầu những đại biểu của mình tham giaQuốc hội
Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã họpphiên đầu tiên, lập ra các tổ chức, bộ máy và các chức vụ chính thức của Nhà nước
1.4.2 Nhà nước thượng tôn pháp luật
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước quản lý bằng bộ máy và bằng nhiềubiện pháp khác nhau, nhưng quan trọng nhất là quản lý bằng Hiến pháp và bằngpháp luật nói chung Muốn vậy, trước hết, cần làm tốt công tác lập pháp Để thựchiện tốt, theo Hồ Chí Minh cần phải:
Trang 11Làm tốt công tác lập pháp, chú trọng đưa pháp luật vào trong cuộc sống, bảođảm cho pháp luật được thi hành và có cơ chế chế giám sát việc thi hành pháp luật.Nêu cao tính nghiêm minh của pháp luật, đông thời khuyến khích nhân dân phêbình, giám sát công việc của Nhà nước, giám sát quá trình Nhà nước thực thi phápluật Cán bộ các cấp, các ngành phải gương mẫu trong tuân thủ pháp luật, trước hếtlà cán bộ thuộc ngành hành pháp và tư pháp
1.4.3 Pháp quyền nhân nghĩa
Pháp quyền nhân nghĩa tức là trước hết Nhà ngước phải tôn trọng, bảo đảmthực hiện đầy đủ các quyền con người, chăm lo đến lợi ích của mọi người Hồ ChíMinh tiếp cận đến các quyền tự nhieenn của con người, trong đó quyền cao nhất làquyền sống; đồng thời cũng đề cập đến cả quyền chính trị - dân sự, quyền kinh tế,văn hóa, xã hội của con người Người chú trọng quyền của công dân nói chung,đồng thời cũng chú trọng đến quyền của những nhóm người cụ thể như phụ nữ, trẻ
em, người dân tộc thiểu số,…
Trong pháp quyền nhân nghĩa, pháp luật có tính nhân văn, khuyến thiện.TÍnh nhân văn của hệ thống pháp luật được thể hiện ở việc ghi nhận đầy đủ và bảovệ quyền con người; ở tính nghiêm minh nhưng khách quan và công bằng, tuyệt đốichống đối xử với con người một cách dã man Đặc biệt , hệ thống pháp luật có tínhkhuyến thiện, bảo vệ cái đúng, cái tốt lấy mục đích giáo dục, cảm hóa thức tỉnh conngười làm căn bản
1.5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước trong sạch, vững mạnh
1.5.1 Kiểm soát quyền lực Nhà nước
Để giữ vững bản chất của Nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước hoạt động cóhiệu quả, phòng chống thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ Nhà nước, Hồ ChíMinh rất chú trọng vấn đề kiểm soát nhà nước
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, kiểm soát quyền lực nhà nước là tất yếu.Các cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước, dù ít hay nhiều đều nắm giữ quyền lực
Trang 12trong tay Quyền lực này là do nhân dân ủy thác cho Nhưng một khi đã nắm giữquyền lực, cơ quan nhà nước hay cán bộ nhà nước đều có thể trở nên lạm quyền Vìvậy, để đảm bảo tất cả mọi quyền lực thuộc về nhân dân, cần kiểm soát quyền lựcnhà nước.
Về hình thức kiểm soát quyền lực Nhà nước, theo Hồ Chí Minh, trước hết,cần phát huy vai trò, trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng là đội tiềnphong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, là Đảng cầmquyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chính vì vậy, Đảng có quyền và có tráchnhiệm kiểm soát quyền lực Nhà nước Để kiểm soát có kết quả tốt, theo Hồ ChíMinh, cần có hai điều kiện là việc kiểm soát phải có hệ thống và người đi kiểm soátphải là những người rất có uy tín Người còn nêu rõ hai cách kiểm soát là từ trênxuống và từ dưới lên Người nhấn mạnh, phải “khéo kiểm soát”
Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước dựa trên cách thức tổ chức bổ máy nhànước và việc phân công, phân niệm giữa các cơ quan thực thi quyền lực nhà nướcbước đầu cũng đã được Hồ Chí Minh đề cập đến Hiến pháp năm 1946 do Hồ ChíMinh ghi rõ một số hình thức kiểm soát bên trong Nhà nước, trong đó nổi bật làkiểm soát của Nghị viện nhân dân đối với Chính Phủ, chẳng hạn, Nghị viện nhândân có quyền “Kiểm soát và phê bình Chính phủ”, “Bộ trưởng nào không đượcNghị viên tín nhiệm thì phải từ chức”,v.v…
Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, vì thế, nhân dân cóquyền kiểm soát quyền lực Nhà nước Đay là hình thức được Hồ Chí Minh đề cậprất cụ thể, Người nhấn mạnh: “Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúngthì cũng phải có quần chúng giúp mới được” Đảng cầm quyền cần chú ý phát huyvai trò kiểm soát quyền lực của nhân dân, bởi so với số nhân dân thì số đảng viênchỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một đảng viên Nếu không có nhân dângiúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết đối với Nhà nước, là công bộ của
Trang 13dân, “mọi công tác phải dựa hẳn vào quần chúng, hoan nghênh quần chúng đôn đônđúc và kiểm tra”.
1.5.2 Phòng, chống tiêu cực trong Nhà nước
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng Nhà nước Việt Nam, Hồ Chí Minhthường nói đến những tiêu cực sau đây và nhắc nhở mọi người đề phòng và khắcphục:
Đặc quyền, đặc xá Xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh đòi hỏi phảitẩy trừ những thói cậy mình là người trong cơ quan chính quyền để sửa quyền, hạchdịch với dân, lạm quyền, đồng thời để vơ vét tiền của, lợi dụng chức quyền để trụclợi cho cá nhân mình, làm nư thế tức là sa vào chủ nghĩa cá nhân
Tham ô, lãng phí, quan liêu Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí, quan liêu là
“giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, thứ giặc nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.Người thường phê bình những người “lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanhliêm, đạo đức” Quan điểm của Hồ Chí Minh là: “Tham ô, lãng phí và bệnh quanliêu, dù có ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến … Tộilỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”
Lãng phí là một căn bệnh mà Hồ Chí Minh lên án gay gắt Chính bản thânNgười luôn làm gương, tích cực thực hành chống lãng phí trong cuộc sống và côngviệc hàng ngày Người luôn quý trọng từng đồng xu, bát gạo do dân đóng góp chohoạt động của bộ máy nhà nước Lãng phí ở đây được Hồ Chí Minh xác định là ãngphí sực lao động, lãng phí thời giờ, lãng phí tiền của Chống lãng phí là biện phápđể tiết kiệm, là quốc sách của mọi quốc gia
Bệnh quan liêu không những có ở cấp trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyệnmà còn có ở cả cấp cơ sở Hồ Chí Minh phê bình những người và các cơ quan lãnhđạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáodục cán bộ, không gần gũi quần chúng Đối với công việc thì trọng hình thức màkhông xem xét khắp mọi mặt, không đi sâu từng vấn đề Bệnh quan liêu làm cho
Trang 14chúng ta chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm trađến nơi đến chốn… thành thử có mắt mà không thấy suốt có tai mà không nghethấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững… Thế là bệnhquan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí Vì vậy, đây là bệnhgốc sinh ra các bệnh tham ô, lãng phí, muốn trừ sạch bệnh tham ô, lãng phí thìtrước hết phải tẩy sạch bệnh quan liêu.
“Tư túng”, “chia rẽ”, “kiêu ngạo” Những căn bệnh trên gây mất đoàn kết,gây rối cho công tác Hồ Chí Minh kịch liệt lên án tệ kéo bè, béo cánh, tệ nạn bàcon bạn hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ Người có tàicó đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài Trong chình quyền, còn hiệntượng gây mất đoàn kết, không biết cách làm cho mọi người hòa thuận với nhau,còn có người “bênh vực lớp này, chống lại lớp khác” Ngoài bệnh cậy thế, có ngườicòn kiêu ngạo, “ tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi… cử chỉlúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng”, làm mất uy tín của Chính phủ
Để tìm ra biện pháp phòng, chống tiêu cực trong bộ máy nhà nước, Hồ ChíMinh đã dày công luận giải nguyên nhân nảy sinh tiêu cực Những nguyên nhânnày được Hồ Chí Minh tiếp cận rất toàn diện Trước hết là nguyên chủ quan, bắtnguồn từ căn “bệnh mẹ” là chủ nghĩa cá nhân, tự sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện củabản thân cán bộ Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân khách quan, từ gần đến
xa, là do công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước chưa tốt; do cách tổ chức, vậnhành khoa học, hiệu quả; do trình độ phát triển còn thấp của đời sống xã hội; do tàn
dư của những chính sách phản động của chế độ thực dân, phong kiến; do âm mưuchống phá của các lực lượng thù địch, v.v… Các nguyên nhân này không tồn tạibiệt lập với nhau, mà sự kết hợp với nhau, tiến công vào đội ngũ cán bộ
Phòng, chống tiêu cực trong nhà nước là nhiệm vụ hết sức khó khăn Trongnhiều tác phẩm khác nhau, ở nhiều thời điểm khác nhau, Hồ Chí Minh đã nêu lênnhiều biện pháp khác nhau Khái quát lại như sau:
Trang 15Một là, nâng cao trình độ dân chủ trong xã hội, thực hành dân chủ rộng rãi,phát huy quyền làm chủ của nhân dân đó là giải pháp căn bản và có ý nghĩa lâu dài.Hai là, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh Công táckiểm tra phải thường xuyên Cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc và tự giác tuân thủpháp luật, kỷ luật
Ba là, phạt nghiêm minh, nghiêm khắc, đúng người đúng tội là cần thiết,song việc gì cũng xử phạt là không đúng Cần coi trọng giáo dục, lấy giáo dục,cảm hóa là chủ yếu
Bốn là, cán bộ phải đi trước làm gương, cán bộ chức vụ càng cao tráchnhiệm nêu gương càng lớn Cán bộ, người đứng đầu có ý thức nêu gương tu dưỡngđạo đức, chống tiêu cực, sẽ có tác động rất mạnh mẽ đến cấp dưới, đến nhân dân,góp phần gây nên những đức tính tốt trong nhân dân Đây là một nét đặc sắc trongvăn hóa chính trị Việt Nam
Năm là, phải huy dộng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước vào cuộc chiếnchống lại tiêu cực trong con người, trong xã hội và trong bộ máy Nhà nước Bất kỳcon người Việt Nam nào có lòng tự hào, tự tôn dân tộc, thì dù là người dân bìnhthường, hay cán bộ, đảng viên, thì đều phải có trách nhiệm tu dưỡng và thực hànhđạo đức cách mạng
Trang 16Chương 2: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay 2.1 Tình hình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Thành tựu
Qua 30 năm đổi mới, cùng với những thành tựu về kinh tế, xã hội, quốcphòng, an ninh và đối ngoại việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyềnxã hội chủ nghĩa cũng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đánh dấu một giaiđoạn phát triển mới của sự nghiệp xây dựng Nhà nước kiểu mới – một Nhà nướccủa nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Trong việc thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
+ Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đã có một bước điều chỉnhtheo yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, baocấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Có thể nói, việc thay đổi mô hình kinh tế đã làm thay đổi vai trò, vị trí vàchức năng của Nhà nước nói chung, của bộ máy nhà nước nói riêng trong các mốiquan hệ với đời sống kinh tế của đất nước
+ Các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy nhà nước đã dần được cơcấu lại theo hướng mở rộng xã hội hóa, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cộngđồng, Nhà nước chỉ đảm nhiệm những công việc thực sự cần thiết để đảm bảo lợiích chung của toàn xã hội, vì sự phát triển của toàn xã hội hoặc những gì mà mỗi cánhân công dân không thể tự mình giải quyết nếu thiếu sự can thiệp, điều tiết củaNhà nước
+ Trong mối quan hệ với công dân, bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức nhànước đang dần chuyển từ tư duy lãnh đạo, quyền uy - phục tùng sang tư duy về nhànước phục vụ, cán bộ, công chức có nghĩa vụ, trách nhiệm phục vụ nhân dân,
Trang 17+ Trong lĩnh vực kinh tế, đã phân định rõ nhiệm vụ quản lý, định hướng củaNhà nước với vai trò sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, thành phần kinh
tế
+ Trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môitrường, với việc phát huy nhân tố con người, coi con người là trung tâm của sự pháttriển, Nhà nước đã xây dựng và thực hiện chính sách về các lĩnh vực này phù hợpvới mục tiêu phát triển kinh tế; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triểnvăn hóa, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chấtvà tinh thần của nhân dân
+ Trong lĩnh vực đối ngoại, nước ta tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoạiđộc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với các nước trên thế giới.Đồng thời, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước theo nguyên tắc bìnhđẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹnlãnh thổ của nhau, bảo đảm ổn định và phát triển
Về tổ chức bộ máy nhà nước
+ Quốc hội được giao quyền lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyếtđịnh những vấn đề quan trọng của đất nước
Đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành các quy định của Nhànước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Hoạt động này ngày càng được đổi mới,tăng cường cả về số lượng lẫn chất lượng
+ Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại:
Trong công tác đối nội, Chủ tịch nước đã giữ được mối quan hệ chặt chẽ vớicác cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các đoàn thể xã hội, thống lĩnh lực lượng vũ trang, là Chủ tịch Hội đồngquốc phòng và an ninh
Trang 18Trong công tác đối ngoại, Chủ tịch nước đã thể hiện rõ vai trò của người đạidiện cho quốc gia, góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác về nhiều mặt giữa ViệtNam với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
+ Chính phủ đã có một bước đổi mới căn bản cả về tổ chức và phương thứchoạt động, từ Chính phủ tập thể (Hội đồng Chính phủ trong Hiến pháp năm 1959,Hội đồng Bộ trưởng trong Hiến pháp năm 1980) sang kết hợp giữa chế độ tráchnhiệm của tập thể Chính phủ và vai trò cá nhân của Thủ tướng Chính phủ
Vì vậy, trong thời gian qua, chức năng của Chính phủ và các cơ quan tronghệ thống hành chính nhà nước từng bước được đổi mới, điều chỉnh, bảo đảm sựphù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện cơ chế kinh tế mới và chủđộng hội nhập kinh tế và mở rộng hợp tác quốc tế Chính phủ tập trung nhiều hơnvào thực hiện chức năng quản lý nhà nước, điều hành vĩ mô trên các lĩnh vực đờisống kinh tế - xã hội theo pháp luật trong phạm vi cả nước
+ Tòa án nhân dân được xác định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, cơquan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Việc xét xử các vụ án hình sự,giải quyết các vụ việc dân sự và các vụ án hành chính của Tòa án bảo đảm đúngpháp luật, cơ bản bảo đảm đúng người, đúng tội trong vụ án hình sự và bảo vệ kịpthời các quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong vụ việc dân sự, vụ án hànhchính; yêu cầu tranh tụng đã bước đầu được thực hiện trong hoạt động tố tụng, quađó các quyền con người, quyền công dân ngày càng được đề cao, tôn trọng và đảmbảo
+ Viện kiểm sát nhân dân với chức năng thực hành quyền công tố và kiểmsát hoạt động tư pháp ngày càng được đổi mới cả về nhận thức và tổ chức thựchiện
Kết quả thực hiện chức năng của Viện kiểm sát đã góp phần bảo đảm cácmục tiêu, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phầnvào việc hình thành và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, tránh sự