Để dạy học với sự hỗ trợ của CNTT và truyền thông và khai thác hiệu quả của GAĐT thì một trong các biện pháp khả thi là kết hợp giữa các phương pháp truyền thông, phương pháp dạy học [r]
Trang 1GVHD: NCS DƯƠNG HUY CẨN SVTH: LÊ VĂN CHÁNH
Trang 31 Lí do chọn đề tài :
Trong chiến lược phát triển giáo dục
2001 – 2010 của Chính phủ đã nhận định: Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở qui mô toàn cầu tạo cơ hội tốt để phát triển giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những cơ sở lí luận, phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế
để đổi mới và phát triển.
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 4Chỉ thị số 58 – CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) khẳng định: ứng dụng và phát triển CNTT là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để
đi tắt đoán đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển
so với các nước đi trước Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT để phát triển.
1 Lí do chọn đề tài :
Trang 5CNTT và truyền thông là một phần tất yếu của cuộc sống chúng ta Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục nêu rõ: CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong hệ thống quản
lí giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng
về phương pháp dạy và học.
1 Lí do chọn đề tài :
Trang 6Việc đưa BGĐT vào giảng dạy đang là một phương tiện hỗ trợ tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng bài lên lớp Việc sử dụng BGĐT kết hợp với phương pháp truyền thống đang được nghiên cứu và triển khai ứng dụng, bước đầu đã mang lại hiệu quả trong công tác dạy học hoá học ở trường THPT.
1 Lí do chọn đề tài :
Trang 7BGĐT vừa duy trì được ưu điểm của phương pháp dạy học hoá học truyền thống là phát huy vai trò chủ đạo của người thầy, vừa sử dụng hình ảnh động, mô phỏng hoạt động “như thật” của các thí nghiệm thực hành hoá học ảo, hay sử dụng những dụng những đoạn phim thí nghiệm đối với những hoá chất độc hại (như tiến hành thí nghiệm với khí Clo, dung dịch Brom, hiện tượng hoà tan, hiện tượng lai hoá, …) nhằm tăng cường thông tin cho HS học tập và nắm được bài học nhanh chóng, chính xác.
1 Lí do chọn đề tài :
Trang 8BGĐT được sự trợ giúp của máy tính sẽ cho phép người sử dụng mô phỏng được những nội dung phức tạp của bài giảng như những khái niệm trừu tượng về cấu tạo chất và phản ứng hoá học, thể hiện một cách sinh động mối quan hệ giữa cấu trúc và hoạt tính của các chất Ngoài ra, GV có thể
sử dụng các màu sắc khác nhau đánh dấu để phân biệt các nội dung quan trọng, đặc biệt là âm thanh trong BGĐT sẽ gây được sự hứng thú và lưu lại kiến thức trong trí nhớ của HS Những yếu tố trên sẽ làm cho bài học thêm sinh động, hấp dẫn hơn và HS tiếp thu bài giảng hiệu quả hơn Hơn nữa, toàn bộ bài giảng sẽ được trình bày bằng máy tính nên GV tiết kiệm được thời gian làm thiết bị dạy học Chính vì thế mà
tôi chọn đề tài “Sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học
hóa học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt
nghiệp.
1 Lí do chọn đề tài :
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng phối hợp BGĐT trong dạy học hóa học phổ thông theo hướng dạy học tích cực
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu sách giáo khoa hoá học lớp 10
và những tài liệu có liên quan đến BGĐT
Nghiên cứu, thiết kế một số bài dạy hóa học phối hợp với BGĐT
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu sách giáo khoa Hóa học 10 và các tài liệu có liên quan
Nghiên cứu thực tiễn: dùng phiếu phỏng vấn
GV và HS, trao đổi kinh nghiệm với GV THPT.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: để kiểm tra và đánh giá sơ bộ tính khả thi của đề tài khi áp dụng vào thực tiễn thông qua dự giờ, dạy mẫu
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 115 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Các bài học trong chương trình hoá học phổ thông
Đối tượng nghiên cứu: BGĐT và các phần mềm có liên quan
6 Giả thuyết khoa học
Nếu tìm hiểu đúng khả năng ứng dụng về cách sử dụng BGĐT sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hóa học ở trường THPT
Tạo hứng thú, tăng lòng yêu thích môn hóa học cho
HS THPT
Làm tài liệu tham khảo cho GV và HS THPT
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 12Khái niệm BGĐT: Theo PGS TS Lê Công
Triêm: “BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà
ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được thực hiện qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra”
Trang 13Multimedia hoá kiến thức
Xây dựng các thư viện tư liệu
Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Trang 14PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : TỔNG QUAN CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.3 Ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học
Dạy và học sử dụng công nghệĐổi mới PPDH theo quan niệm CNTT và truyền thông
Dạy học theo quan điểm CNTTCNTT với vai trò phương tiện, thiết bị dạy học
1.4 Hoạt động trên lớp với BGĐT
Một số yêu cầu cần lưu ý về điều kiện dạy học
Chuẩn bị phương tiện kĩ thuật dạy học
Tổ chức lớp học có ứng dụng CNTT
Triển khai trên lớp
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 2: SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TRONG
DẠY HỌC HÓA HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Một số điểm cần lưu ý khi thiết kế và sử dụng bài giảng có ứng dụng CNTT
2.2 Yêu cầu chung của thiết kế bài dạy hóa học Word
Trang 16Sử dụng phương tiện dạy học
Trang 17PHẦN NỘI DUNG Chương 2: SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TRONG
DẠY HỌC HÓA HỌC PHỔ THÔNG
2.3 Yêu cầu thiết kế BGĐT
Yêu cầu về nội dung:
Nội dung trình bày phần lí thuyết cô đọng và các minh họa sinh động có tính tương tác
Yêu cầu về phần câu hỏi – giải đáp
Trong BGĐT cần thể hiện một số câu hỏi với mục đích:
- Giới thiệu một chủ đề mới
- Liên kết một chủ đề đã dạy trước với chủ đề hiện tại hay kế tiếp
- Kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức của người học từng phần và toàn bộ bài học
Trang 18Yêu cầu phần thể hiện khi thiết kế:
- Đầy đủ: có đủ nội dung bài học
- Chính xác: không có sự sai sót về thông tin
- Trực quan: âm thanh, hình vẽ, phim ảnh cần sinh động
2.3 Yêu cầu thiết kế BGĐT
Trang 19PHẦN NỘI DUNG Chương 2: SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TRONG
DẠY HỌC HÓA HỌC PHỔ THÔNG
2.4 Các ý tưởng phối hợp cho bài Word
Thí nghiệm
Sử dụng thí nghiệm hóa học trong DH
Sử dụng thí nghiệm rất tích cực khi nhóm HS
nghiên cứu thí nghiệm
- HS nắm được mục đích của thí nghiệm
- HS quan sát, mô tả hiện tượng thí nghiệm
- HS giải thích hiện tượng
- HS rút ra kết luận (tính chất của chất, quy luật
hoặc kết luận về khả năng phản ứng)
Trang 202.4 Các ý tưởng phối hợp cho bài Word
Thí nghiệm
Vận dụng:
Ví dụ: Bài 43: Lưu huỳnh, phần tính chất hóa học ta
có thể phối hợp như sau:
GV chiếu 3 thí nghiệm về tính chất hóa học của lưu huỳnh
Thí nghiệm 1: Lưu huỳnh bột tác dụng với nhôm bộtThí nghiệm 2: Lưu huỳnh bột tác dụng với khí hiđrôThí nghiệm 3: Lưu huỳnh bột tác dụng với khí oxi
Yêu cầu HS hoàn thành phiếu học tập sau:
GV quan sát và giúp đỡ HS hoàn thành phiếu học tập
Trang 23 Sử dụng hình vẽ và sơ đồ trong dạy học
Trang 24Ví dụ: Bài 45: Hợp chất có oxi
của lưu huỳnh ta có thể cho bài
tập củng cố như sau:
Hãy dẫn ra những phương trình
hóa học minh chứng cho các
phương trình ghi bên dưới (ghi
rõ điều kiện phản ứng).
3 4
5 6
7
8 9
10
11 12
Trang 25PHẦN NỘI DUNG Chương 3: MỘT VÀI KHẢO SÁT BAN ĐẦU
3.1 Khảo sát HS
Qua bài kiểm tra
Khảo sát HS lớp 10T trường THPT Thành Phố Cao Lãnh tại thời điểm các em vừa học xong bài 43: Lưu huỳnh (lần 1) và bài 45: Hợp chất có oxi của lưu huỳnh phần III Axit sunfuric (lần 2)
Thông qua số liệu ta nhận thấy: sau khi học xong với BGĐT thì các em làm bài kiểm tra rất tốt Qua 2 lần kiểm tra không có em nào đạt dưới điểm trung bình mà trái lại điểm giỏi rất cao Ở lần kiểm tra 1 chỉ có 1 HS điểm 6 và 1 HS điểm 7, còn lại là điểm 8 trở lên (điểm giỏi); còn ở lần 2 cũng
có 1 HS điểm 6 và 4 HS điểm 7, còn lại là điểm giỏi Nhìn chung, các em nắm được bài, vận dụng kiến thức tốt để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Trang 26Thông qua phiếu phỏng vấn thì đa số các em rất thích học với BGĐT Khi học với BGĐT, 45,16% HS cho rằng hiểu nhất là phần ứng dụng và điều chế vì phần này
GV đưa những hình ảnh minh họa, những sơ đồ sản xuất, liên quan đến thực tế trong đời sống Bên cạnh đó, phần tính chất hóa học được mô phỏng bằng những hình ảnh, hiệu ứng, thí nghiệm ảo, sinh động nên khi học HS tiếp thu bài nhanh và dễ hiểu (35,48%) Còn nội dung công thức cấu tạo và tính chất vật lí là những kiến thức mang tính chất thực nghiệm, chuyên sâu, trừu tượng, đòi hỏi HS phải chấp nhận vì thế khả năng tiếp thu bài còn hạn chế khi học nội dung này (19,35%)
3.1 Khảo sát HS
Qua phiếu phỏng vấn
Trang 27Qua kết quả khảo sát, ta nhận xét thấy đa số HS hiểu bài (93,55%), trong đó 29,03% HS có thể vận dụng để làm bài tập tại lớp Tuy nhiên bên cạnh đó, một phần nhỏ HS vẫn chưa hiểu bài là do khả năng tiếp cận thông tin của các em chưa tốt
và các em chưa biết cách học với BGĐT
Khi học với BGĐT, đa số các em thích GV đưa hình ảnh, những đoạn phim thí nghiệm, để các em quan sát thảo luận và từ đó lĩnh hội được kiến thức (chiếm 90,32%) Một phần nhỏ khoảng 3,23% HS thích GV dựa vào thông tin trên máy, GV đặt câu hỏi cho em trả lời Tuy nhiên, vẫn còn một
số HS vẫn còn thích học với lối “đọc chép” nên chỉ thích GV chiếu thông tin cho các em chép bài (chiếm 6,45%).
3.1 Khảo sát HS
Qua phiếu phỏng vấn
Trang 28PHẦN NỘI DUNG Chương 3: MỘT VÀI KHẢO SÁT BAN ĐẦU
3.2 Khảo sát GV
Khảo sát trên phiếu phỏng vấn:
Qua quá trình nghiên cứu tôi đã tìm hiểu được cách sử dụng BGĐT trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông Để giúp cho việc giảng dạy tốt môn Hóa học
ở trường phổ thông và để tăng tính thiết thực của đề tài, tôi đã tiến hành khảo sát qua phiếu phỏng vấn để thăm
dò ý kiến của các Thầy (Cô) giảng dạy môn Hóa học ở các trường: THPT Thành Phố Cao Lãnh, THPT Tân Hồng, THPT Lai Vung 2, THPT Cao Lãnh 1 và một số học viên Cao học chuyên đề Hóa vô cơ 16 Hóa thông qua phiếu phỏng vấn GV (mẫu phiếu ở phụ lục 1)
Trang 29Đa số GV cho rằng: chỉ thỉnh thoảng mới sử dụng BGĐT trong dạy học hóa học Và khó khăn mà các Thầy (Cô) thường gặp phải là tốn nhiều thời gian để soạn giáo
án và kinh phí thực hiện Nhưng khi giảng dạy thì HS rất hứng thú, tích cực tham gia xây dựng bài, hiểu bài và
có thể vận dụng để giải bài tập tốt
3.2 Khảo sát GV
Khảo sát trên phiếu phỏng vấn:
Trang 30Qua trò chuyện với các GV nhận thấy:
- Do điều kiện cơ sở vật chất của các trường còn thiếu nên việc sử dụng BGĐT còn hạn chế.
- HS rất thích học khi GV giảng dạy có liên hệ thực tế, cho xem những thí nghiệm ảo, những công nghệ sản xuất, những hình ảnh ứng dụng trong thực tế, cơ chế phản ứng,
- Để phối hợp sử dụng tốt BGĐT có hiệu quả, cần tốn rất nhiều thời gian và kinh phí thực hiện.
Bên cạnh đó GV còn cho biết những lỗi thường mắc phải khi mới dạy học với BGĐT
+ Lỗi ở khâu chuẩn bị:
+ Lỗi ở khâu thiết kế:
+ Lỗi ở khâu dạy trên lớp:
3.2 Khảo sát GV
Qua trò chuyện:
Trang 31PHẦN NỘI DUNG Chương 3: MỘT VÀI KHẢO SÁT BAN ĐẦU
3.3 Kết luận:
Thông qua dạy mẫu, thăm dò ý kiến GV thấy rằng không phải bài nào sử dụng BGĐT cũng mang lại hiệu quả cao Do đó nên cân nhắc, chọn lựa các bài có nội dung có thể khai thác được các thế mạnh của công nghệ
đa phương tiện và khả năng tính toán của máy tính và
các phần mềm tiện ích để thiết kế và sử dụng BGĐT
Thông qua dự giờ, dạy mẫu và phỏng vấn HS thì thấy rằng các em vẫn quen với cách học theo kiểu GV giảng – đọc, HS chép, thì nay HS được học với cường độ
và tốc độ nhanh Nhiều HS chưa kịp hiểu rõ những chữ trên màn hình có nghĩ gì thì những dòng chữ đó đã trôi mất
Trang 32PHẦN NỘI DUNG Chương 3: MỘT VÀI KHẢO SÁT BAN ĐẦU
3.3 Kết luận:
Để dạy học với sự hỗ trợ của CNTT và truyền thông và khai thác hiệu quả của GAĐT thì một trong các biện pháp khả thi là kết hợp giữa các phương pháp truyền thông, phương pháp dạy học tích cực và dạy học có sử dụng CNTT và truyền thông như một yếu tố không thể tách rời Có như vậy mới đạt mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy ở các trường phổ thông hiện nay.
Qua các kết quả khảo sát, chúng ta có thể nhận thấy việc
sử dụng BGĐT trong dạy học Hóa học ở trường THPT là rất có hiệu quả Khi học với BGĐT HS được hoạt động nhiều hơn, nắm
kĩ và hiểu sâu bài, vận dụng được kiến thức để giải bài tập Tuy nhiên, hiện nay có nhiều GV chưa thực hiện thường xuyên Do vậy chúng ta cần phổ biến để thực hiện sâu rộng hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
Trang 33PHẦN KẾT LUẬN
1 Kết luận
Sau thời gian nghiên cứu đề tài: “Sử dụng BGĐT trong dạy học Hóa học ở trường THPT” của tôi đã hoàn thành So với mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra,
tôi đã thực hiện được các công việc sau:
- Trình bày cơ sở lý luận của khóa luận như: PPDH là gì? PPDH được phân loại như thế nào? Những phương pháp dạy học thường được GV sử dụng là những phương pháp nào? Qui trình thiết kế BGĐT ra sao? Ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học như thế nào? Một số yêu cầu cần lưu ý về điều kiện dạy học là gì?
Trang 34PHẦN KẾT LUẬN
1 Kết luận
- Qua nghiên cứu, tôi đã xác định được cơ sở lí luận và một số biện pháp phối hợp sử dụng BGĐT trong dạy học Hóa học ở trường THPT như: Sử dụng thí nghiệm, sử dụng phiếu học tập, sử dụng hình vẽ, sơ đồ, bản đồ, tổ chức hoạt động học tập “cộng tác” theo nhóm nhỏ, tổ chức cho HS làm việc độc lập tại lớp Các biện pháp này được vận dụng qua một số mẫu ví dụ minh họa của mỗi biện pháp của các mục trong sách giáo khoa Hóa học 10
- Thiết kế được một số giáo án word và powerpoint phối hợp sử dụng để đạt hiệu quả cao
Trang 35PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1 Kết luận
- Bước đầu, tôi đã khảo sát và thu nhận những ý kiến
đánh giá thực tế của GV và HS ở các trường THPT Đây là cơ sở để tôi bổ sung và hoàn thiện đề tài
Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp và kinh nghiệm còn yếu, do vậy các ví dụ và các giáo án minh họa chưa sâu sắc và đặc biệt là việc vận dụng vào thực tiễn để kiểm chứng kết quả nghiên cứu lại đòi hỏi nhiều thời gian nên kết quả thực nghiệm đề tài chỉ là sơ bộ ban đầu, mang tính chủ quan Nhưng theo tôi, việc vận dụng các kết quả trên của đề tài vào dạy học Hóa học THPT là rất cần thiết
Trang 363.2 Đề xuất
Qua quá trình nghiên cứu đề tài, tôi có một số ý kiến
đề xuất nhỏ như sau:
Đối với nhà trường Đại Học Sư Phạm
Phải có hình thức đào tạo đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu dạy học hiện đại nhất: như có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, có khả năng sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, và quan trọng hơn cả là năng lực tự học, tự nghiên cứu khoa học Vì đó là nền tảng quan trọng để người GV không bị tụt hậu so với thời đại
PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Trang 37Đối với sinh viên Đại Học Sư Phạm
Sinh viên Đại Học Sư Phạm khi đang trên giảng đường đại học, ngoài việc phải tích cực học tập kiến thức chuyên môn, phải chú ý bồi dưỡng kiến thức thực tế, tích cực nghiên cứu khoa học, cập nhật công nghệ, xây dựng quỹ phần mềm và tư liệu dạy học, phải luôn đề cao yêu cầu cho bản thân là làm sao trở thành GV dạy giỏi, đào tạo HS đáp ứng yêu cầu cao của xã hội tương lai – xã hội của nền kinh tế tri thức
PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT