1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở việt nam (state administration for child labour prevention in vietnam)

195 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ, nhằm góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 9

6 Những đóng góp mới của luận án 9

7 Ý nghĩa của luận án 10

8 Kết cấu của luận án 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 12

1.1 Các công trình nghiên cứu về lao động trẻ em 12

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 12

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 14

1.2 Các công trình nghiên cứu về phòng ngừa lao động trẻ em 21

1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới 21

1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 25

1.3 Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 30

1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới 30

1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 31

1.4 Nhận xét về kết quả nghiên cứu tổng quan và vấn đề đặt ra cho đề tài luận án 35

1.4.1 Những nội dung liên quan đến luận án 35

1.4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 36

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA LAO ĐỘNG TRẺ EM 40

2.1 Những khái niệm và lý thuyết liên quan đến đề tài luận án 40

2.1.1 Trẻ em và quyền trẻ em 40

2.1.2 Lao động trẻ em và trẻ em tham gia lao động 45

Trang 2

2.1.3 Phòng ngừa lao động trẻ em 52

2.1.4 Quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 54

2.1.5 Lý thuyết về quyền con người, quyền trẻ em và sàn an sinh xã hội 56

2.2 Nội dung quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 60

2.2.1 Xây dựng và hoàn thiện thể chế về phòng ngừa lao động trẻ em 60

2.2.2 Xây dựng và thực hiện chính sách phòng ngừa lao động trẻ em 61

2.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ công chức, viên chức quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 62

2.2.4 Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất để phòng ngừa lao động trẻ em 64

2.2.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về phòng ngừa lao động trẻ em 65

2.2.6 Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về trẻ em 66

2.2.7 Hợp tác quốc tế về phòng ngừa lao động trẻ em 67

2.3 Vai trò và các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 68

2.3.1 Vai trò của quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 68

2.3.2 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 73

2.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em của một số quốc gia và giá trị tham khảo cho Việt Nam 81

2.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 81

2.4.2 Giá trị tham khảo cho Việt Nam 86

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM 90

3.1 Thực trạng lao động trẻ em ở Việt Nam 90

3.1.1 Quy mô lao động trẻ em 90

3.1.2 Cơ cấu lao động trẻ em 91

3.1.3 Thực trạng lao động trẻ em trong một số khu vực kinh tế 95

3.1.4 Mức độ lao động trẻ em 100

3.1.5 Nguyên nhân của thực trạng lao động trẻ em 104

3.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam 108

Trang 3

3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện thể chế về phòng ngừa lao động trẻ em 108 3.2.2 Xây dựng và thực hiện chính sách phòng ngừa lao động trẻ em 111 3.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ công chức, viên chức quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 115 3.2.4 Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất để phòng

ngừa

lao động trẻ em 118 3.2.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về phòng ngừa lao động trẻ em 119 3.2.6 Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về phòng ngừa lao động trẻ em 121 3.2.7 Hợp tác quốc tế về phòng ngừa lao động trẻ em 123

3.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam 127

3.3.1 Kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

ở Việt Nam 127 3.3.2 Hạn chế trong quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt

Nam 130 3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 134

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM141

4.1 Quan điểm và định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam 141

4.1.1 Quan điểm của Đảng về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa lao động trẻ

em 141

4.1.2 Định hướng quản lý nhà nước về bảo vệ trẻ em, phòng ngừa lao động trẻ

em 146

4.1.3 Quan điểm của luận án đối với quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động

trẻ em ở Việt Nam hiện nay 148

4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

ở Việt Nam 150

4.2.1 Sửa đổi, bổ sung và triển khai thực hiện kịp thời hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật về phòng ngừa lao động trẻ em 150

4.2.2 Bổ sung, cụ thể hóa và thúc đẩy việc triển khai các chính sách phòng ngừa lao động trẻ em 155

4.2.3 Xây dựng và phát triển đội ngũ công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu

quản lý và thực hiện phòng ngừa lao động trẻ em 160

Trang 4

4.2.4 Tăng mức hỗ trợ, phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính

cho hoạt động phòng ngừa lao động trẻ em 162

4.2.5 Tiến hành thường xuyên hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về phòng ngừa lao động trẻ em 163

4.2.6 Hỗ trợ việc triển khai hệ thống quản lý thông tin và cơ sở dữ liệu về phòng ngừa lao động trẻ em 164

4.2.7 Sửa đổi và bổ sung quy chế phối hợp liên ngành quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em 166

4.3 Một số khuyến nghị đối với cơ quan trung ương và chính quyền địa phương 170

4.3.1 Đối với cơ quan trung ương 170

4.3.2 Đối với chính quyền địa phương 172

KẾT LUẬN 176

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 179

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 180

PHỤ LỤC 190

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước Đểphát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trongmôi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương, được tiếp cậnvới một nền giáo dục thân thiện và có chất lượng Trẻ em luôn nhận được sựquan tâm, chăm sóc của gia đình và xã hội không bị bạo hành, lạm dụng và bóclột sức lao động chính là thông điệp mà chúng ta gửi tới tương lai Mặt khác, trẻ

em là nguồn nhân lực của quốc gia Một quốc gia muốn phát triển bền vững vàcường thịnh đòi hỏi phải có nguồn nhân lực dồi dào, mạnh mẽ về thể chất, tâm lý

và phải có trí tuệ cao, bởi vậy quốc gia đó phải có trách nhiệm và quan tâm đến

sự phát triển bình thường và toàn diện của trẻ em, nhất là đối tượng trẻ em trong

độ tuổi dễ bị lạm dụng Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi bảo vệ trẻ

em, phòng ngừa lao động trẻ em là một nhiệm vụ trọng tâm của đất nước, là mộttrong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển con người, góp phần tạo

ra nguồn nhân lực cho quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Bảo đảm các quyền cơ bản củatrẻ em, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất

và trí tuệ Chú trọng bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em giađình nghèo, trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn, ngăn chặn vàđẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em” [39]

Vấn đề lao động trẻ em đã và đang là mối quan tâm của tất cả các quốcgia trên thế giới Với rất nhiều những nỗ lực được thực hiện bởi các quốc gia, các

tổ chức quốc tế, rất nhiều các công ước quốc tế đã ra đời thể hiện sự cam kếtmạnh mẽ của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ trẻ em, phòng ngừa, giảmthiểu lao động trẻ em Đó là Công ước số 138 năm 1973 của Tổ chức Lao độngquốc tế về “Tuổi tối thiểu được đi làm việc”, với mục đích là xóa bỏ hiệu quả laođộng trẻ em - là những công việc gây nguy hiểm cho sức khỏe, an toàn hoặc đạođức của trẻ, ảnh hưởng đến giáo dục bắt buộc của trẻ hoặc đơn giản những

Trang 6

công việc mà trẻ con quá nhỏ để làm [96] Công ước số 182 năm 1999 của Tổchức Lao động quốc tế về “Nghiêm cấm và những hành động khẩn cấp để xóa

bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” đưa ra danh sách những côngviệc tồi tệ nhất và cần những hành động tức thời của các quốc gia để ngănchặn lao động trẻ em tồi tệ nhất Mặc dù vậy, trên thế giới vẫn còn 152 triệulao động trẻ em [127] và “ở mọi quốc gia trên thế giới, vẫn còn trẻ em sốngtrong các điều kiện đặc biệt khó khăn và những trẻ em đó cần nhận được sựquan tâm đặc biệt” [64]

Là quốc gia đầu tiên trong khu vực châu Á và quốc gia thứ hai trên thếgiới phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em, Việt Nam đã đạtđược những tiến bộ nhanh chóng về mặt phát triển con người và tăng trưởngkinh tế trong suốt những năm vừa qua Để đảm bảo trẻ em không bị bóc lộtsức lao động, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước 138, Công ước 182 và camkết thực hiện các biện pháp giải quyết tình trạng lao động trẻ em thông quaviệc xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, thiết lập một khuôn khổ pháp lýmạnh mẽ, phù hợp với bối cảnh quốc gia và hài hòa với luật pháp quốc tế.Các chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, chương trình bảo vệ trẻ em,chương trình phòng ngừa lao động trẻ em đã được ra đời, với sự vào cuộc củacác cơ quan, tổ chức và cá nhân Vì vậy, lao động trẻ em ở Việt Nam năm

2018 đã giảm xuống chỉ còn 1.031.944trẻ em [21, tr 9] trong khi năm 2012 là1.754.000 trẻem lao động [16, tr13]

Tuy nhiên, cũng theo Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2012,trong số lao động trẻ em có 1.315.000 (chiếm 75% tổng số lao động trẻ em) đanglàm các công việc mà công việc đó có những công đoạn điều kiện làm việc thuộcdanh mục cấm sử dụng lao động trẻ em hoặc môi trường làm việc có ảnh hưởngxấu đến sự phát triển của trẻ [16, tr13] Con số này tại Điều tra quốc gia về laođộng trẻ em năm 2018 [21] là 519.805 em (chiếm gần 50,4% tổng số lao độngtrẻ em) Lao động trẻ em tồn tại dưới nhiều hình thức, diễn ra

ở nhiều vùng nhất là những vùng miền có khó khăn về các điều kiện tự nhiên,kinh tế, xã hội và khó bị phát hiện, kiểm soát, quản lý [21, tr 4] Lao động trẻ

Trang 7

em ở Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều thách thức, dễ bị lạm dụng, xâmhại, bạo lực, dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, dịch bệnh,

đô thị hóa, đói nghèo, tệ nạn xã hội Lao động trẻ em phải đối mặt với nhiềurủi ro, dễ bị lạm dụng, kéo dài thời gian làm việc, tiền công thấp, dễ bị cưỡngbức và dụ dỗ vào con đường phạm tội hoặc tệ nạn xã hội Phải tham gia laođộng sớm và làm những công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm để lại nhữnghậu quả nặng nề ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển bình thường vềthể chất và tâm sinh lý của trẻ, hạn chế cơ hội tiếp cận với giáo dục của trẻ em

và ảnh hưởng đến cơ hội việc làm bền vững của trẻ em trong tương lai Đồngthời, lao động trẻ em cũng tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước và chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến lao động trẻ em,nhưng một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do công tác quản lýnhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em còn hạn chế, pháp luật chưa có sự đồng

bộ, nhận thức của xã hội về lao động trẻ em chưa toàn diện nên việc phòng ngừa,giảm thiểu tiến tới xóa bỏ lao động trẻ em dưới mọi hình thức trong bối cảnh hộinhập quốc tế vẫn là thách thức lớn đối với Việt Nam Chính vì vậy, nghiên cứu

sinh chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ, nhằm góp phần hoàn thiện quản lý nhà

nước về phòng ngừa lao động trẻ em, thực hiện thành công mục tiêu phát triểnbền vững số 8.7 của Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững củaLiên Hợp Quốc “cấm và xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, baogồm tuyển dụng và sử dụng binh lính trẻ em, và đến năm 2025 chấm dứt laođộng trẻ em dưới mọi hình thức” [65]

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về phòngngừa lao động trẻ em, luận án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lýnhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

Trang 8

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

- Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quản

lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

- Phân tích, đánh giá thực trạng phòng ngừa lao động trẻ em và quản lýnhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam

- Nghiên cứu, tổng hợp các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu nội dung quản lý nhànước về phòng ngừa lao động trẻ em: xây dựng và hoàn thiện thể chế về phòngngừa lao động trẻ em; xây dựng và thực hiện chính sách phòng ngừa lao động trẻem; kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước vềphòng ngừa lao động trẻ em; hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính và cơ sở vậtchất để phòng ngừa lao động trẻ em; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm vềphòng ngừa lao động trẻ em; xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về phòng ngừalao động trẻ em, hợp tác quốc tế về phòng ngừa lao động trẻ em

Trang 9

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,nghiên cứu sinh luận giải các hoạt động quản lý nhà nước về phòng ngừa laođộng trẻ em theo tư duy logic biện chứng mang tính khách quan trong mốiliên hệ phổ biến, không phiến diện đối với vấn đề nghiên cứu Luận án nghiêncứu hoạt động quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em trong sự vậnđộng và chịu ảnh hưởng của bối cảnh trong nước và quốc tế, của điều kiệnkinh tế - xã hội Luận án cũng đồng thời nghiên cứu các hoạt động quản lýnhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em trong mối quan hệ mang tính hệthống giữa các yếu tố tạo thành hoạt động quản lý, trên cơ sở hướng tới mụctiêu là phòng ngừa, giảm thiểu tiến tới xóa bỏ lao động trẻ em Dựa trên quanđiểm, đường lối định hướng của Đảng và Nhà nước, của ngành về phòng ngừalao động trẻ em, nghiên cứu sinh luận giải, xem xét, đánh giá và định hướngcác nội dung nghiên cứu của luận án

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở sử dụng kết hợp một sốphương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

4.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Luận án kế thừa các tài liệu về thể chế, chính sách pháp luật quốc gia

và quốc tế có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các báo cáo, số liệu thống kê,các lý luận từ các nguồn sau:

+ Các công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận

án trong và ngoài nước

+ Các báo cáo của các cơ quan quản lý, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ về lao động trẻ em trong và ngoài nước

+ Các kết quả điều tra về lao động trẻ em, kết quả khảo sát mức sống dân cư.

Trong quá trình nghiên cứu, các tài liệu này liên tục được cập nhật, bổsung và được phân tích một cách chi tiết để tìm ra các nội dung phù hợp, cầnthiết cho luận án Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu tại các

Trang 10

chương: chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhànước về phòng ngừa lao động trẻ em; chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhànước về phòng ngừa lao động trẻ em; chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước

về phòng ngừa lao động trẻ em

4.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài các số liệu, thông tin có được

từ nguồn tài liệu thứ cấp, nghiên cứu sinh đã thu thập thông tin sơ cấp thôngqua các phương pháp nghiên cứu xã hội học, bao gồm các phương phápnghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để phục vụ cho việc đánh giánguyên nhân lao động trẻ em và thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừalao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay

- Nghiên cứu định tính: Được thực hiện thông qua phương pháp phỏngvấn sâu trực tiếp và gián tiếp Để tìm hiểu quan điểm của các cán bộ lãnh đạo quản

lý trong việc triển khai các hoạt động quản lý nhà nước về phòng ngừa

lao động trẻ em Việt Nam hiện nay đã thực sự hiệu quả hay chưa, những khókhăn trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ emcũng như đề xuất những giải pháp trong thời gian tới, tác giả đã tiến hành phỏngvấn các nhà lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan của Đảng, Quốc Hội, Chính phủ,các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ, với tổng số 10 cuộc phỏngvấn, thời gian 15 – 20 phút phỏng vấn qua điện thoại trong khoảng thời gian từtháng 3 đến tháng 4 năm 2020 (do giãn cách xã hội vì dịch Covid -19)

Để xác định nguyên nhân của tình trạng lao động trẻ em cũng như mức

độ, thời gian, điều kiện làm việc của các em, tác giả trực tiếp phỏng vấn các emđánh giày, phục vụ trong các nhà hàng, bán hàng rong ở một số tỉnh, thành như

Hà Nội, Nha Trang, Lạng Sơn, Hải Phòng, với tổng số 12 cuộc, mỗi cuộc từ 5– 10 phút, vào tháng 8, 9, 10 năm 2019

- Nghiên cứu định lượng: Được tiến hành thông qua điều tra nhằm thuthập thông tin, số liệu về lao động trẻ em, đánh giá về thực trạng lao động trẻ

em, xác định những biện pháp phòng ngừa lao động trẻ em có hiệu quả, xácđịnh trách nhiệm trong phòng ngừa lao động trẻ em của các cơ quan quản lý 6

Trang 11

nhà nước ở địa phương và trung ương Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án,trên cơ sở điều kiện thời gian và kinh phí, nghiên cứu sinh đã lựa chọn phươngpháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên, có chủ đích để tiến hành điều tra xã hội học.

Nghiên cứu sinh đã xây dựng 01 mẫu phiếu khảo sát cho 02 nhóm đốitượng cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý của trung ương và địa phươngthông qua đó tìm ra những khác biệt hoặc tương đồng của nhóm cán bộ lãnhđạo quản lý các cấp khi nhìn nhận về vấn đề lao động trẻ em Trên cơ sở đó sẽđưa ra những giải pháp phòng ngừa lao động trẻ em cho phù hợp với thựctiễn Đối tượng khảo sát ở cấp trung ương là cán bộ, công chức lãnh đạo cơquan Đảng, Quốc hội, các bộ, học viện, tổ chức chính trị - xã hội Ở địaphương là cán bộ, công chức làm công tác trẻ em hoặc làm việc tại UBND cáccấp, các tổ chức chính trị xã hội

+ Các mẫu phiếu được thiết kế trên ứng dụng Google Biểu mẫu củaDrive, gồm 3 phần: Phần 1 giới thiệu về mục đích khảo sát; Phần 2 nội dung khảosát; Phần 3 thông tin cá nhân Các câu hỏi được thiết kế dưới dạng nhiều lựa chọntrả lời và bắt buộc, riêng câu hỏi ở phần 3 không bắt buộc đối với thông tin về họtên, người trả lời phiếu khảo sát có thể để trống ở câu hỏi này Phiếu này được trựctiếp gửi qua email, zalo bằng việc chia sẻ đường link,

người tham gia khảo sát trả lời trực tiếp qua email, zalo và gửi lại cho ngườikhảo sát Mẫu nghiên cứu được chọn: 250 phiếu dành cho các cán bộ, côngchức lãnh đạo quản lý ở các Bộ, ngành trung ương và 450 phiếu dành cho cán

bộ, công chức lãnh đạo quản lý ở chính quyền địa phương Thời gian khảo sát

từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2020

Với phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên, có chủ đích, đối với cán

bộ, công chức lãnh đạo quản lý ở Trung ương, nghiên cứu sinh lựa chọn vàtiến hành in, phát phiếu điều tra trực tiếp với các cán bộ, công chức quản lýlãnh đạo cấp Vụ, chuyên viên cao cấp các Bộ ngành đang theo học tại các lớpbồi dưỡng chuyên viên cao cấp, lớp bồi dưỡng lãnh đạo quản lý cấp Vụ được

tổ chức tại Học viện Hành chính Quốc gia, các bộ và 1 số tỉnh thuộc 03 miền:miền Bắc (gồm Hà Nội, Lạng Sơn, Hòa Bình), miền Trung (Thừa Thiên Huế,

Trang 12

Đắc Lắc), miền Nam (Sóc Trăng, An Giang, Đồng Tháp); lớp bồi dưỡng củaHội liên hiệp Phụ nữ tổ chức tại Trường Cán bộ Lê Hồng Phong Mẫu nghiêncứu được chọn chủ đích với số lượng 250 phiếu dành cho cán bộ, công chứclãnh đạo quản lý ở các Bộ, ngành Với cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý ởchính quyền địa phương, nghiên cứu sinh phát phiếu tại các lớp cử nhân hànhchính (học viên chủ yếu là cán bộ, công chức cấp xã) hoặc gửi phiếu điều traqua email, zalo về các địa phương thông qua Văn phòng Đoàn đại biểu quốchội, Sở Lao động Thương binh và Xã hội các tỉnh hoặc UBND các huyện, xã.+ Kết quả thu về 192 phiếu dành cho các cán bộ, công chức lãnh đạoquản lý ở các bộ, ngành trung ương và 408 phiếu dành cho cán bộ, công chứclãnh đạo quản lý ở chính quyền địa phương.

4.2.3 Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp

Phương pháp này nghiên cứu sinh sử dụng trong suốt quá trình nghiêncứu của luận án Thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, nghiên cứusinh sử dụng phương pháp này để hệ thống hóa, làm cơ sở khoa học của quản

lý nhà nước đối với việc phòng ngừa lao động trẻ em Trên cơ sở đó, đề xuấtcác giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với việc phòng ngừa laođộng trẻ em ở Việt Nam

4.2.4 Phương pháp so sánh

Để có những nhận định khách quan, trong quá trình phân tích, tác giảtiến hành phương pháp so sánh khi phân tích, đánh giá lao động trẻ em vàphòng ngừa lao động trẻ em ở một số quốc gia trên thế giới, các khuyến nghịcủa công ước quốc tế và các tổ chức quốc tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệmcho Việt Nam trong quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

4.2.5 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã trực tiếp tham khảo ý kiến các nhàquản lý thuộc lĩnh vực nghiên cứu, các nhà khoa học, các giảng viên, nhữngngười có kinh nghiệm liên quan đến đề tài luận án Việc lấy ý kiến chuyên giagiúp cho tác giả có được cách tiếp cận đa chiều khi nhìn nhận vấn đề lao động trẻ

em, quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em cũng như trong việc

Trang 13

luận giải các giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em mộtcách khoa học và gắn với thực tiễn, hướng tới xóa bỏ tình trạng lao động trẻ

em, phù hợp với mục tiêu chung của Liên hợp quốc

4.2.6 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu

Để xử lý số liệu thu được qua các phiếu khảo sát đã thực hiện trong quátrình nghiên cứu, tác giả sử dụng công cụ Google Biểu mẫu và Google Trangtính của Drive

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đã có những công trình nghiên cứu nào về quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em?

- Quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em được dựa trên cơ sởkhoa học nào?

- Thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

- Để hoàn thiện quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em cần

có những giải pháp nào?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong những năm qua nhưng laođộng trẻ em ở Việt Nam vẫn đang là một vấn đề nan giải Việc ban hành vàtriển khai các văn bản pháp luật, chính sách phòng ngừa lao động trẻ em,tham gia các công ước quốc tế về lao động trẻ em đã cho thấy Việt Nam đã rất

nỗ lực để giảm thiểu lao động trẻ em và cũng đã đạt được một số kết quả nhấtđịnh Nếu hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ

em, cùng với sự quyết tâm của toàn xã hội, Việt Nam sẽ giảm thiểu và tiến tớixóa bỏ lao động trẻ em trong thời gian tới

6 Những đóng góp mới của luận án

Một là, luận án nghiên cứu, tổng quan được một số nội dung có liên quan đến luận án từ một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trang 14

Hai là, luận án làm rõ nội hàm lao động trẻ em, bổ sung về mặt họcthuật khái niệm quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em.

Ba là, luận án phân tích các nguyên nhân dẫn đến hạn chế của thựctrạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

Bốn là, luận án đưa ra một số quan điểm quản lý nhà nước về phòng ngừalao động trẻ em để giảm thiểu lao động trẻ em ở Việt Nam trong thời gian tới

Năm là, đề xuất được các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước vềphòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam trong thời gian tới

Sáu là, luận án đưa ra các khuyến nghị để thực hiện quản lý nhà nước

về phòng ngừa lao động trẻ em hiệu quả

7 Ý nghĩa của luận án

Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận quản lý nhànước về phòng ngừa lao động trẻ em

Thứ hai, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng lao động trẻ em vàthực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam thôngqua các số liệu, báo cáo từ các công trình đã công bố và khảo sát của nghiêncứu sinh, luận án đưa ra những nhận định khách quan, đánh giá những mặtđược, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt độngquản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam

Thứ ba, luận án đã làm rõ vai trò của chính sách, pháp luật, của các cơquan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong phòng ngừa lao động trẻ em, sựcần thiết phải hoàn thiện quản lý nhà nước và đề xuất một số giải pháp cơ bảnphòng ngừa lao động trẻ em, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn lao động trẻ em ở ViệtNam

Thứ tư, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơquan quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc trẻ em, cơ quan quản lý nhà nước vềlao động, việc làm, giáo dục đào tạo, y tế trong hoạt động quản lý nhà nước,trong hoạch địch chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em và có thể làm tài liệu thamkhảo cho các nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, phòng

Trang 15

ngừa lao động trẻ em và xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật

có liên quan

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án được kết cấu 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em.Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

ở Việt Nam

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phòngngừa lao động trẻ em ở Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Các công trình nghiên cứu về lao động trẻ em

Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá thực trạng,nguyên nhân và hậu quả của lao động trẻ em (LĐTE), những công việc mà trẻ

em đang phải thực hiện, những nguy hiểm lao động trẻ em phải đối mặt vànhững yếu tố tác động đến LĐTE

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Với sứ mệnh đấu tranh cho công bằng xã hội, Liên Hợp Quốc và Tổ chức

Lao động quốc tế (ILO) đã phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em năm 1989, Công ước 138 của ILO về “Tuổi tối thiểu được đi làm việc”, Công ước 182 của ILO về “Nghiêm cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất” Các Công ước trên là kết quả của công trình nghiên cứu của

các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc và ILO, cùng với sự tham vấn củanhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế khác đã đề cập khá toàn diện đến quyền trẻ

em, xác định vai trò, vị trí của trẻ em đối với tương lai của nhân loại, của thếgiới Hướng tới mục đích là xóa bỏ tình trạng LĐTE – là những công việc gâynguy hiểm cho sức khỏe, an toàn hoặc đạo đức của trẻ, ảnh hưởng đến giáo dụcbắt buộc của trẻ hoặc đơn giản những công việc mà trẻ còn quá nhỏ để làm, độtuổi tối thiểu được đưa ra là 15 tuổi [96] và đưa ra những hành động tức thời cầnphải loại bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất Cụ thể: (i) các hình thức nô lệ vàtương tự, lao động cưỡng bức, (ii) sử dụng và lôi kéo trẻ em vào hoạt động mạidâm, (iii) các hoạt động bất hợp pháp, các hoạt động sản xuất và vận chuyển matúy, (iv) những công việc mà tính chất và điều kiện của nó có thể xâm hại đếnsức khỏe, an toàn và đạo đức cho trẻ em [98]

Thông qua Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 1987, Children at work: special health risks (Trẻ em tại nơi làm việc: rủi ro sức khỏe đặc biệt)

[103], nhóm nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới đã tổng hợp, phân tích, đánhgiá và đề xuất những khuyến nghị cần phải thực hiện tại các cộng đồng, cấp

Trang 17

quốc gia và cấp quốc tế Ở cấp độ cộng đồng, nhóm nghiên cứu đề nghị chămsóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em tại nơi làm việc; lập danh sách các bé gái khôngnên làm việc Ngoài ra, các quốc gia cần đảm bảo để trẻ em tại nơi làm việc đượcnhận một nền giáo dục đầy đủ; tuyên truyền để cả nhà tuyển dụng và cha mẹ trẻ

em đều hiểu đầy đủ những rủi ro của vấn đề trẻ em tại nơi làm việc Kết quảnghiên cứu có giá trị cho luận án khi đánh giá hậu quả của LĐTE

Trong cuốn An Overview of Child Domestic Workers in Asia (Tổng quan về lao động trẻ em giúp việc gia đình ở châu Á) [115] năm 2002 của Bharati Plug, tác giả đã xác định nguyên nhân, hậu quả, những mặt tiêu cực

của trẻ em lao động giúp việc gia đình, đồng thời đề xuất những khuyến nghịnhằm hoàn thiện pháp luật về LĐTE giúp việc gia đình ở 3 quốc gia:Indonesia, Nepal, Thái Lan Mặc dù nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vilao động giúp việc gia đình nhưng kết quả nghiên cứu được thực hiện ở cácquốc gia trong khu vực, có những sự tương đồng với Việt Nam Tài liệu cógiá trị tham khảo đối với nghiên cứu của luận án

Năm 2002, trong một báo cáo cáo tổng quan A Future without child labour (Một tương lai không có lao động trẻ em)[122], ILO đã đưa ra tuyên

bố đối với các nguyên tắc về quyền cơ bản trong lao động và một tương lai

không có LĐTE Nội dung của báo cáo có liên quan đến cơ sở lý luận và cóthể tham khảo để giải quyết các nội dung hoàn thiện chính sách, pháp luật củaViệt Nam về phòng ngừa LĐTE

Những kết quả được ILO công bố năm 2014 thông qua bản báo cáo,

Questions and answers on forced labour (Những câu hỏi và lời đáp cho vấn

đề lao động cưỡng bức) [126] cho thấy: hơn một nửa trên tổng số lao động cưỡng bức toàn cầu là phụ nữ và bé gái, chủ yếu trong hoạt động bóc lột tình

dục với mục đích thương mại và giúp việc gia đình, trong khi nam giới và bétrai thường bị bóc lột lao động về kinh tế trong nông nghiệp, xây dựng và khaithác mỏ Báo cáo của ILO chỉ ra những hình thức cơ bản của LĐTE bị bóclột, qua đó cảnh báo và khuyến cáo các quốc gia phải có những biện phápphòng ngừa LĐTE

Trang 18

Tác giả Wendy Herumin trong cuốn Child labour today: a human rights issue (Lao động trẻ em ngày nay: vấn đề nhân quyền) [138] xuất bản năm 2012 đã trình bày khái quát về LĐTE, tình hình trẻ em lao động trên toàn

thế giới, mô tả các công việc trẻ em đang bị bắt buộc phải làm và chỉ ra hậuquả mà trẻ em đang phải gánh chịu Tài liệu đã khái quát về LĐTE trên toànthế giới, là một phần đối tượng nghiên cứu của luận án Những mô tả côngviệc mà trẻ em đang bị bắt buộc phải làm việc cũng như hệ lụy của nó có giátrị tham khảo trong giải quyết vấn đề của luận án

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Cuốn sách Vấn đề lao động trẻ em năm 1998 của tác giả Vũ Ngọc Bình

[23] là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về một vấn đề rộng lớn và phứctạp là LĐTE trên thế giới và ở Việt Nam một cách khái quát với nhiều thông tinphong phú, hữu ích từ nhiều góc độ khác nhau và những kinh nghiệm, giải phápthiết thực

Tác giả cuốn sách đã khái quát, hệ thống hóa và nêu ra một số khía cạnh

cơ bản nhất của vấn đề LĐTE Cuốn sách chia làm ba phần: phần I và II tậptrung nêu vấn đề LĐTE trên toàn cầu và vấn đề LĐTE ở Việt Nam giai đoạn1995-1997 như thế nào, các giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề LĐTE ViệtNam trong nền kinh tế thị trường Phần III và phần Phụ lục, với Chương trìnhhành động của Hội nghị quốc tế Ôxlô về LĐTE và Danh mục các công việccấm sử dụng lao động là người chưa thành niên

Một phần thời lượng quan trọng cuốn sách phân tích vấn đề LĐTE ởViệt Nam Tác giả đánh giá: tăng trưởng kinh tế và nghèo đói là hai yếu tốảnh hưởng, liên quan và tác động quan trọng đến LĐTE trong nền kinh tế thịtrường Có nhiều trẻ em ở nông thôn ra các vùng đô thị kiếm sống bằng cácnghề khác nhau mà chủ yếu là ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Hầu hếtcác em lang thang kiếm sống với nhiều cách: đi làm thuê như thợ nề, đónggạch, khuân vác, bán vé số, bán hàng rong, bán báo, bán nước chè, đánh giầy,lượm nhặt đồ phế thải Trong đói nghèo lại thiếu vốn sống, các em dễ gặp trắctrở, rủi ro và dễ bị lạm dụng, bóc lột về thể xác, kinh tế và tinh thần

Trang 19

Trước thực trạng đó, cuốn sách đề xuất 7 nhóm biện pháp cần áp dụng,tiến hành để giải quyết vấn đề LĐTE ở Việt Nam: i) Thu thập và phân tíchnhững thông tin, số liệu về LĐTE, xác định những khu vực có lao động độc hại

và bóc lột trẻ em để nhanh chóng cứu giúp, phục hồi và giúp đỡ; ii) Phổ biếnthông tin và nâng cao nhận thức đúng đắn về LĐTE; iii) Sửa đổi, hoàn thiện cácvăn bản quy phạm pháp luật liên quan đến LĐTE và thực hiện đầy đủ các vănbản này; iv) Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và đổi mới các chương trìnhgiáo dục cho trẻ em; v) Đào tạo, tập huấn và nâng cao năng lực cho những ngườitrực tiếp tham gia cuộc đấu tranh chống lại sự bóc lột LĐTE; vi) Nâng cao đờisống kinh tế - xã hội của cộng đồng; vii) Tăng cường hợp tác quốc tế

Tác giả Nguyễn Trọng An với bài viết Vấn đề lao động trẻ em – Thực trạng và giải pháp [1] (2008) đã nêu vấn đề thực trạng LĐTE ở Việt Nam, xác định nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn việc

lạm dụng LĐTE Tác giả nhận định có hiện tượng gia tăng trẻ em lao độngtrước độ tuổi tối thiểu, tình trạng bóc lột, lạm dụng trẻ em làm thuê giúp việcgia đình, bị lôi kéo vào sử dụng vận chuyển, buôn bán trái phép chất ma túy.Nguyên nhân chủ yếu do đói nghèo và do nhận thức không đúng đắn về táchại của LĐTE, sự kém hiệu quả hoặc thiếu sự hiện diện của tổ chức côngđoàn ở khu vực kinh tế tư nhân, thiếu hệ thống thu thập và quản lý thông tin

về LĐTE, những hạn chế của cơ sở vật chất và chất lượng giáo dục

Bài viết Trẻ em lao động sớm – nguyên nhân và hậu quả [48] của tác giả

Trần Ái Hoa (2004) lại đi sâu phân tích tình trạng trẻ em bỏ học sớm để đi làm

ở cấp tiểu học và trung học cơ sở ở Việt Nam; chỉ ra các loại hình lao độngkhác nhau như: trẻ em lao động trong kinh tế hộ gia đình, trẻ em lao động tự kiếm sống, trẻ em làm thuê trong các thành phần kinh tế khác nhau, trẻ em đi

ở trong các gia đình Qua thực trạng như vậy, bài viết tìm hiểu nguyên nhânchủ yếu của vấn đề là do: nhận thức của các bậc cha mẹ cũng như xã hội chưathấy được lợi ích và tầm quan trọng của giáo dục; vấn đề trẻ em lao động sớmtrong giáo dục Việt Nam chưa được chú ý; chương trình học chưa đa dạng; nhànước chưa có chính sách cụ thể cho nhóm đối tượng là trẻ em lao động sớm

Trang 20

Bài viết Phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em – Pháp luật

và thực tiễn [22] của Đỗ Ngân Bình năm 2009 tập trung phân tích nguyên nhân trẻ em bị bóc lột về sức lao động, bị đánh đập, chà đạp về nhân phẩm,

danh dự chủ yếu là do hạn chế về nhận thức, do tuổi tác và thiếu sự quan tâmcủa gia đình Tác giả khuyến nghị: Nhà nước và toàn xã hội cần quan tâm hơnđến các biện pháp phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và LĐTE, cũng như tổchức thực hiện tốt các quy định này là một nhân tố quan trọng

Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội ( LĐ - TB - XH), Tổng cục Thống

kê, ILO (2014), Điều tra quốc gia về tình hình lao động trẻ em 2012 – Các kết quả chính [16] Đây là báo cáo đầu tiên của Việt Nam về vấn đề này Báo cáo đã đưa ra những số liệu cụ thể về số lượng lao động trẻ em, thời gian và

công việc mà những trẻ em trong độ tuổi từ 5 -17 tuổi đang phải làm việc, khuvực tập trung lao động trẻ em đang sinh sống cũng như lĩnh vực mà trẻ emtham gia lao động nhiều nhất Kết quả của báo cáo điều tra toàn quốc vềLĐTE cung cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về LĐTE, góp phần thực hiện mục tiêutoàn cầu về xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, ILO (2020),

Điều tra quốc gia về tình hình lao động trẻ em 2018 – Các kết quả chính [21].

Báo cáo đã cập nhật thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động trẻ em, diễnbiến tình hình lao động trẻ em trong thời gian qua, cung cấp cơ sở khoa học,bằng chứng thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách và thiết kế các chươngtrình can thiệp lao động trẻ em phù hợp và hiệu quả trong bối cảnh hội nhậpquốc tế Báo cáo đã cho thấy quy mô và xu hướng lao động trẻ em ở Việt Nam

đã có những chuyển biến tích cực khi mà có sự giảm mạnh về số lao động trẻ

em, lao động trẻ em trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm Tuy nhiên lao độngtrẻ em ở Việt Nam vẫn tồn tại và khu trú ở những nơi mà pháp luật khó có thểcan thiệp hiệu quả để giải quyết tận gốc vấn đề lao động trẻ em

Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại

học Quốc gia Hà Nội đã thực hiện một nghiên cứu mang tên Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội vào năm 2000 [62] Đây là một trong những nội

Trang 21

dung cơ bản nhất trong Chương trình nghiên cứu của Khoa Tâm lý, trườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Tổ chức Cứu trợ trẻ em của ThụyĐiển tại Việt Nam (Save the Children Sweden) Mục tiêu nghiên cứu là nhằmphát hiện những nguyên nhân, đặc điểm và ảnh hưởng của LĐTE dưới 18 tuổiđang giúp việc cho các gia đình ở Hà Nội đối với sự phát triển cá nhân của trẻ

em Các kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả được sử dụng để: Một là, cungcấp thông tin, làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức chính phủ và phi chínhphủ trong việc hoạch định chương trình hành động, nhằm tiến tới loại bỏnhững hình thức và điều kiện lao động gây thiệt hại cho sự phát triển tâm lý –

xã hội của trẻ em ở Việt Nam; Hai là, góp phần nâng cao nhận thức của cộngđồng về tình hình LĐTE Đây là công tác truyền thông giúp các nhà hoạchđịnh chính sách, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ có khả năng cải thiệntình hình LĐTE vì quyền và lợi ích của trẻ em

Qua chín chương của cuốn sách đã tập trung vào: i) Tìm hiểu các loạihình lao động giúp việc cho gia đình; ii) Mô tả các đặc điểm, tính chất LĐTEgiúp việc cho gia đình; iii) Xem xét các yếu tố gia đình, xã hội và quan hệgiữa trẻ em và gia chủ thuê mướn, sử dụng lao động; iv) Phân tích tình hình,chế độ trả công, sinh hoạt; v) Thăm dò ý kiến, thái độ của trẻ em đối với hoàncảnh sống, lao động và những người xung quanh; vi) Đánh giá sự hiểu biết vềquyền trẻ em Thông qua giới thiệu những nguyên nhân, đặc điểm và ảnhhưởng của LĐTE dưới 18 tuổi đang giúp việc cho các gia đình ở Hà Nội đốivới sự phát triển cá nhân của trẻ em Cuốn sách cũng đề xuất một số kiến nghị

và giải pháp góp phần cải thiện tình hình LĐTE làm thuê cho các gia đình.Nội dung của cuốn sách có giá trị nhất định với việc nghiên cứu luận án trêngóc độ lý luận và thực tiễn

Cũng nghiên cứu về trẻ em làm thuê giúp việc gia đình, hai tác giả PhạmThị Huệ và Lê Việt Nga (2008) lại tập trung khai thác khía cạnh thái độ và cách

ứng xử của cộng đồng với nhóm đối tượng này thông qua bài viết Trẻ em làm thuê giúp việc: gia đình và thái độ của cộng đồng [55] Thông qua việc khảo sát

ở một số gia đình có trẻ em đi làm giúp việc và bản thân trẻ đang làm giúp

Trang 22

việc ở Hà Nội, bài viết tập trung phân tích nguyên nhân khiến trẻ đi làm thuê

từ góc độ gia đình và thái độ của cộng đồng Kết quả cho thấy, nếu yếu tố banđầu khiến trẻ đi làm giúp việc là kinh tế gia đình khó khăn thì nguyên nhânsâu xa lại không phải như vậy Có những gia đình kinh tế khá cũng có con đilàm thuê giúp việc Các tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đếnquyết định di cư của các em là nhận thức của cha mẹ cũng như quan niệm củacộng đồng Nhìn chung, việc trẻ đi làm thuê giúp việc chủ yếu nhằm đáp ứngmong muốn của cha mẹ chứ không xuất phát từ bản thân trẻ Tuy nhiên, trẻ ởnhóm tuổi càng lớn thì việc tự quyết định càng cao

Cung cấp thêm một số nguyên nhân dẫn đến LĐTE là giúp việc gia đình

ở các thành phố lớn, tác giả Chu Mạnh Hùng (2005) tập trung vào nhóm đối

tượng trẻ em gái trong bài viết Vấn đề trẻ em gái giúp việc gia đình tại các thành phố lớn [56] đã phân tích sâu sắc nguyên nhân của hiện trạng này, đó là: kinh tế gia đình khó khăn; tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn; động cơ

đi làm giúp việc của trẻ em gái chịu tác động bởi tâm lý lứa tuổi Bài viết đưa

ra đánh giá: trẻ em gái giúp việc cho các gia đình là một hình thức lao động cónhững nét đặc trưng riêng nên dễ bị lạm dụng, phân biệt đối xử làm ảnhhưởng đến phát triển nhân cách Vì vậy, để các em được hưởng các quyền củatrẻ em cũng như quyền của phụ nữ thì cần thiết phải được sự quan tâm củatoàn xã hội với những giải pháp có hiệu quả

Đối với LĐTE là trẻ em trong các gia đình nông dân, hai tác giả Nguyễn

Đức Chiện, Nguyễn Thị Hồng Thúy (2005) đã có nghiên cứu Trẻ em tham gia lao động ở gia đình nông dân hiện nay - Qua 3 quan điểm nghiên cứu [25] Dựa

trên nguồn tư liệu về LĐTE trong gia đình nông dân được rút ra từ kết quả cuộckhảo sát xã hội học đánh giá nhanh về trẻ em do Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

và Bộ Y tế Việt Nam phối hợp thực hiện tháng 11/2003 tại ba cộng đồng thuộc 3vùng của Việt Nam, bài viết tìm hiểu và phân tích chênh lệch về kinh tế và khácbiệt xã hội dẫn đến khác biệt mức độ tham gia LĐTE giữa các cộng đồng thuộc

ba vùng đất nước Bài viết khẳng định: kinh tế là yếu tố mấu chốt liên quan đến

sự tham gia các hoạt động kinh tế của trẻ trong các gia đình, cộng

Trang 23

đồng nông thôn Qua đó, vấn đề đặt ra là cần phải có những giải pháp canthiệp hiệu quả để nhanh chóng phát triển kinh tế ở các gia đình, có như vậymới giải quyết vấn nạn LĐTE ở các cộng đồng nghèo.

Tác giả Nguyễn Đình Hòa (2008) tiếp cận ở ngành nghề mà trẻ em lao

động, đó là Lao động trẻ em trong du lịch tại Việt Nam - Vấn đề cần được quan tâm đúng mức [50] Theo tác giả, ở Việt Nam và một số nước, trẻ em đã

và đang phải tham gia vào lao động trong du lịch, xuất phát từ nhiều nguyên

nhân khác nhau Điều đó đã có những tác động không nhỏ tới hoạt động dulịch, ảnh hưởng xấu tới các em và ảnh hưởng tới hình ảnh du lịch của địaphương, của quốc gia Chính vì vậy nghiên cứu về LĐTE trong du lịch để cóthể giúp các em là một nhu cầu cấp thiết không chỉ của một ngành, một cấp

mà là trách nhiệm của toàn xã hội

Trong bài viết Trẻ em và sự tham gia lao động đóng thu nhập cho gia đình [66] của Trần Quý Long (2009), tác giả tập trung xem xét thực tế mức độ

tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh tạo thu nhập cho gia đình của trẻ emViệt Nam và những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tham gia đó Tác giả đánhgiá: trẻ em có thể đóng góp tích cực kinh tế cho gia đình bằng các công việctrong và ngoài gia đình; Không có sự khác biệt giữa trẻ em nam và nữ trongviệc tham gia lao động; Học vấn và nghề nghiệp của bố mẹ là những biến giảithích quan trọng; Mức sống của gia đình có ảnh hưởng rõ rệt; Tác động củacác yếu tố kinh tế - xã hội (nơi cư trú, vùng địa lý) cũng có ảnh hưởng đếnkhả năng tham gia lao động của trẻ em

Giáo trình Lý luận về Pháp luật về quyền con người của các tác giả

Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên [35] xuấtbản 2009 đề cập đến một số nội dung đến quyền của trẻ em theo pháp luật quốc

tế và Việt Nam Ngoài những nhóm quyền cơ bản của trẻ em, cuốn sách còn đềcập đến quyền của những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có LĐTE phảilàm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, trẻ em phải làm việc

xa gia đình Mặt khác trong thực tế, nghiên cứu đã chỉ ra vẫn còn hiện tượng

Trang 24

những LĐTE vẫn tiếp tục phải chịu sự đối xử không công bằng, thậm chí bịxâm hại.

Nghiên cứu của Lê Thu Hương, Empirical essays on development economics the case of Vietnam – Bài luận về sự phát triển kinh tế, trường hợp của Việt Nam [131], luận án Tiến sỹ Triết học, Đại học Quốc gia Australia năm

2011 Trong chương 4 của luận án này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu tác động củaLĐTE đến thành tích học tập của trẻ em ở nông thôn Việt Nam năm 1998 Tácgiả mô hình hóa các yếu tố quyết định LĐTE và hiệu quả giáo dục của trẻ em,trong đó nổi bật là biến được quan sát ở cá nhân, hộ gia đình, trường học, cấp xã

và cấp khu vực Kết quả cho thấy LĐTE có tác động tiêu cực đáng kể đến thànhtích học tập của học sinh Điều kiện kinh tế hộ gia đình là một trong những yếu

tố quyết định quan trọng nhất của LĐTE và thành tích học tập của trẻ em Tácgiả khẳng định có tồn tại phân biệt đối xử về giới tính với trẻ em gái trong gánhnặng của LĐTE, trẻ em dân tộc thiểu số phải làm việc nhiều hơn

Tác giả Đỗ Thị Dung tiếp cận ở một khía cạnh nhức nhối khác, đó là

vấn đề vi phạm pháp luật đối với LĐTE Bài viết Lao động trẻ em và vấn đề

vi phạm pháp luật đối với lao động trẻ em (2012) [36] đã phân tích tình trạng

LĐTE đang diễn ra phức tạp, trong đó các hành vi vi phạm pháp luật đối vớiLĐTE khá phổ biến, nghiêm trọng và đang là vấn đề báo động khẩn cấp đốivới các nước trên thế giới và ở Việt Nam Qua đó, tác giả đề xuất các giảipháp phòng chống vi phạm pháp luật đối với LĐTE trên hai khía cạnh: hoànthiện pháp luật và tổ chức thực hiện

Như vậy, những nghiên cứu về LĐTE trong và ngoài nước đã xác định

các yếu tố cơ bản dẫn đến LĐTE, hậu quả của LĐTE và các giải pháp cầnthiết để cải thiện tình trạng LĐTE ở Việt Nam cũng như trên thế giới Nhữngnghiên cứu về LĐTE đã đưa ra nhiều góc độ tiếp cận và cách xử lý với cácloại hình LĐTE khác nhau, những ngành nghề khác nhau ở các khu vực nôngthôn - thành thị giúp cho việc nghiên cứu của luận án đa dạng, đa chiều hơn

Trang 25

1.2 Các công trình nghiên cứu về phòng ngừa lao động trẻ em

1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới

Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Viện nghiên cứu lao động

Philippin mang tựa đề, Coprehensive Study on Child Labour in the Philippines (Nghiên cứu tổng hợp về lao động trẻ em ở Philippin) năm 1994 [130], nhữngnguyên nhân và chính sách, pháp luật để loại bỏ việc tuyển dụng trái phép trẻ emdưới 15 tuổi hoặc tuyển dụng những người dưới 18 tuổi làm công việc độc hại đãđược phân tích một cách khá toàn diện Tuy nhiên, những đề xuất chỉ mang tínhđịnh hướng, chưa đưa ra những đề xuất cụ thể về quy định pháp luật

Trong cuốn Trade unions and child labour, a guide to action (Các tổ chức công đoàn và lao động trẻ em, hướng dẫn hành động) [114] được xuất bản bởi

ILO năm 1997, tác giả A Fyfe và M Jankanish cho rằng, trẻ em lao động hoàntoàn khác với trẻ em lao động vài giờ để kiếm thêm tiền tiêu vặt Trẻ em laođộng sớm là một trong những nguồn thu nhập chính của gia đình Các em phảilàm việc nhiều giờ trong ngày dưới những điều kiện nguy hiểm, gây tổn hạinghiêm trọng tới sức khỏe, tinh thần và thể chất của chính các em Trẻ lao độngsớm luôn phải đối mặt với hàng loạt các nguy cơ, trong đó phải kể đến nguy cơ

bị lạm dụng, bị bóc lột cả về thể chất lẫn tinh thần Góp phần giải quyết triệt đểvấn đề LĐTE, các tác giả đã đưa ra vai trò của các tổ chức công đoàn, coi đó làcầu nối giữa chính quyền và xã hội nhằm chung tay giải quyết vấn đề một cáchhiệu quả nhất Thông qua các ví dụ cụ thể về mô hình hoạt động của các côngđoàn khác nhau ở một số nước như: Mỹ, Brazil, Bangladesk, Tanzania, cácchuyên gia đề xuất một khung lý thuyết mô tả 10 hoạt động trọng tâm cần có củabất cứ một công đoàn nào như: điều tra tình hình, mở rộng các chính sách hỗ trợ,nâng cao nhận thức cho cộng đồng và bản thân trẻ lao động nhằm phát huy vaitrò tham gia của công đoàn trong hoạt động ngăn chặn, đẩy lùi hiện tượng LĐTEđang ngày một trở nên nhức nhối

Tác giả Nelien Haspels và Michele Jankanish trong tài liệu Action against child labour (Hành động chống lại lao động trẻ em) năm 2000 [133]

đã đề cập đến các chiến lược, công cụ, phương pháp và thông tin cần thiết để

Trang 26

lập kế hoạch và thực hiện các hành động chống LĐTE có hiệu quả Các tácgiả cũng đề xuất các chiến lược ngăn ngừa và loại bỏ nô lệ trẻ em Cácchương trình trong cuốn sách được thiết kế để hỗ trợ các chính phủ, các tổchức của người sử dụng lao động và lao động, các tổ chức phi chính phủ vàtất cả những người muốn đóng góp vào việc loại bỏ LĐTE.

Cuốn sách của tác giả Burns H Weston (2005) với tiêu đề Child labour and human rights, making children matter (Lao động trẻ em và nhân quyền, làm cho trẻ em quan trọng hơn ) [116] của Nhà xuất bản Lynne Rienner, Luân

Đôn, đã cung cấp một cái nhìn tổng quan, toàn diện về vấn đề LĐTE từ góc

độ nhân quyền Tác giả xem xét các mối liên hệ giữa quyền con người và lạmdụng LĐTE; những ưu và nhược điểm của phương pháp tiếp cận thông quanhân quyền với vấn đề LĐTE Tác giả thông qua đó thể hiện nỗ lực mongmuốn xóa bỏ việc lạm dụng và bóc lột LĐTE

Luận án tiến sĩ triết học của Gitanjali Dutta (2002), Đại học Missouri,

Columbia với chủ đề Child labour in VietNam: the relative importance of poverty Returns to education, labor mobility, and credit constraints (Lao động trẻ em ở Việt Nam: mối liên hệ quan trọng với đói nghèo Trở lại giáo dục, dịch chuyển lao động và hạn chế tín dụng) [117] đã phân tích một số yếu tố quyết

định LĐTE bằng cách giải quyết bốn câu hỏi liên quan Một là, tác giả cố gắngtìm một ngưỡng nghèo, nếu có, ảnh hưởng đến quyết định LĐTE của gia đình.Kết quả từ các đặc điểm kỹ thuật mô hình khác nhau hỗ trợ ý tưởng rằng trẻ emvui chơi, giải trí (hoặc học tập) là một điều tốt đẹp Hai là, tác giả khám phá mốiquan hệ giữa lợi nhuận với giáo dục và LĐTE Các chi tiết kỹ thuật khác nhaucủa mô hình trong phần này chỉ ra rằng lợi nhuận có thể không quan trọng trongviệc xác định giờ làm việc của trẻ em Mô hình thứ ba không thể tìm thấy sự hỗtrợ cho giả thuyết rằng sự gia tăng lợi nhuận trong giáo dục ở các khu vực đô thị

có thể làm giảm LĐTE ở khu vực nông thôn do tính di động lao động Cuốicùng, mô hình thứ tư không thể tìm thấy bất kỳ mối quan hệ nào có thể hỗ trợcho giả thuyết rằng người nghèo có nhiều tín dụng hơn, khả năng trở lại giáo dục

có thể không quan trọng đối với họ trong quyết định LĐTE của họ

Trang 27

Qua nghiên cứu, tác giả đánh giả: xóa đói giảm nghèo nên là chính sách quantrọng nhất để giảm thiểu LĐTE; trong khi chính sách cải thiện lợi nhuận chogiáo dục có thể không giúp giảm bớt LĐTE ở Việt Nam.

Các báo cáo của ILO qua các năm với các nghiên cứu chuyên sâu vềtừng khía cạnh của LĐTE và phòng ngừa LĐTE trong mối liên hệ với việchoạch định chính sách của các quốc gia, bao gồm:

Hai bản báo cáo của ILO năm 2010 là Accelerating action against child labour (Tích cực hành động chống lại lao động trẻ em) [121] và Stopping forced labour and slavery – like practices - The ILO Strategy (Chấm dứt lao động cưỡng bức qua một số nghiên cứu thực tế - Chiến lược của Tổ chức lao động quốc tế) năm 2013 [125] đã cập nhật xu hướng toàn cầu và đưa

ra tiến độ trong việc phê chuẩn các tiêu chí của ILO Nội dung quan trọng

nhất của báo cáo đó là: xem xét tiến độ thực hiện Kế hoạch hành động toàncầu về loại bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất vào năm 2016 và đánh giánhững thách thức, khoảng trống chính còn lại và cách giải quyết những vấn đềnày Bên cạnh đó cũng đã chỉ ra cưỡng bức lao động ảnh hưởng đến nhữngngười dễ bị tổn thương nhất và ít bảo vệ Phụ nữ, lao động nhập cư có taynghề thấp, trẻ em, người dân bản địa và các nhóm khác bị phân biệt đối xửtrên cơ sở khác nhau có ảnh hưởng không cân xứng Chiến lược ILO là tìmcách giải quyết nguyên nhân gốc rễ lao động cưỡng bức bằng cách trao quyềncho người lao động dễ bị tổn thương để chống lại áp bức tại nơi làm việc vàgiải quyết các yếu tố cho phép người sử dụng lao động lợi dụng để khai thác,bóc lột lao động Báo cáo khẳng định loại bỏ lao động cưỡng bức là đóng gópquan trọng để đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Trong đó, mụctiêu tổng thể của chiến lược của ILO là giảm toàn cầu về lao động cưỡng bức

Báo cáo của ILO (2012) Towards the elimination of hazardous child labour: Practices with good potential (Hướng tới loại bỏ lao động trẻ em độc hại

- Thực hành với tiềm năng tốt) [124] Báo cáo đã đưa ra những ý tưởng để

phòng ngừa lao động trẻ em độc hại như phòng ngừa thông qua thay đổi quan điểm của công chúng đối với lao động trẻ em; phòng ngừa bằng cách cảm hóa

Trang 28

trẻ em còn đang đi học; phòng ngừa thông qua cải thiện sinh kế của các gia đình gặp căng thẳng về tài chính.

Năm 2018, bản báo cáo của ILO Ending child labour by 2025: A review

of policies and programmes (Chấm dứt lao động trẻ em vào năm 2025 - Bản đánh giá về chính sách và chương trình) [123] đã chỉ ra cách tiếp cận chính sách

nhằm loại bỏ LĐTE như: thúc đẩy cam kết hợp pháp đối với xóa bỏ LĐTE trẻ

em và vai trò trung tâm của đối thoại xã hội; thúc đẩy việc làm tốt cho người lớn

và thanh niên trong độ tuổi lao động hợp pháp, đặc biệt là ở khu vực lao độngkhông chính thức; xây dựng và mở rộng hệ thống bảo trợ xã hội, bao gồm cáctầng, để giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của các hộ gia đình về kinh tế; mở rộngkhả năng tiếp cận với nền giáo dục công chất lượng, miễn phí như một giải phápthay thế hợp lý cho LĐTE; giải quyết vấn đề LĐTE trong chuỗi cung ứng; bảo

vệ trẻ em trong các tình huống mong manh và khủng hoảng

Chuỗi cung ứng toàn cầu có tiềm năng tạo ra tăng trưởng, việc làm, pháttriển kỹ năng và công nghệ chuyển giao logic nhưng việc giảm sút công việc,

vi phạm nhân quyền, bao gồm cả lao động trẻ em, lao động cưỡng bức và buônngười đều có liên quan vào chuỗi cung ứng toàn cầu là khẳng định của ILO

(2019) trong bản báo cáo Ending child labour, fource labour and human traficking in global supply chains (Chấm dứt lao động trẻ em, lao động cưỡng bức và buôn người trong chuỗi cung ứng toàn cầu) [129] Phần mộtcủa báocáonêu những hiểu biết về LĐTE, lao động cưỡng bức và buôn người trong chuỗicung ứng toàn cầu và phân tích các nguy cơ của nó Phần hai đưa ra những quanđiểm về ứng phó với LĐTE, cưỡng bức lao động và buôn người trong chuỗicung ứng toàn Hai quan điểm chính sách bao gồm: thứ nhất, khẳng định Nhànước có nhiệm vụ quy định và thực hiện khung pháp lý- hoạt động để bảo vệ trẻ

em, người lao động và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương thông qua các công cụchính sách; thứ hai, đưa ra những chính sách thông minh cần thiết để tạo điềukiện và khuyến khích hành vi kinh doanh có trách nhiệm của các doanh nghiệptrong chuỗi cung ứng trên toàn cầu Thông qua bản báo cáo, ILO mong muốnthông báo cho công chúng và doanh nghiệp các chính sách và cách

Trang 29

thức thực hành nhằm ngăn ngừa LĐTE, lao động cưỡng bức và buôn ngườitrong chuỗi cung ứng toàn cầu.

1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Trong cuốn sách Các văn bản quốc tế về bảo vệ trẻ em [24] năm 1998

của Vũ Ngọc Bình tuyển chọn đã giới thiệu những văn bản cơ bản nhất củaLiên Hợp quốc liên quan đến việc bảo vệ trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn,gia nhập và một số những văn kiện khác được thông qua tại các hội nghị quốc

tế mà Việt Nam đã cam kết thực hiện, hoặc có ý nghĩa thực tiễn đối với côngtác bảo vệ trẻ em ở nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong nhữngthập kỷ tới Những văn bản này đã và đang được đông đảo các quốc gia trênthế giới, trong đó có Việt Nam hưởng ứng, nghiên cứu và áp dụng vào phápluật và chính sách quốc gia về bảo vệ trẻ em

Trong hệ thống văn bản quốc tế về bảo vệ trẻ em hiện nay có nhữngvăn bản có hiệu lực và ràng buộc về mặt pháp lý với các quốc gia thành viênsau khi đã phê chuẩn hay gia nhập Đó là những “công ước” và “nghị địnhthư” của Liên hợp quốc hay của các tổ chức, cơ quan của Liên hợp quốc như

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc, ILO, các côngước La Hay, các công ước Chữ thập đỏ Giơnevơ Ngoài ra còn có những vănbản khác như “tuyên ngôn”, “tuyên bố” “kế hoạch hành động”, “qui tắc”

“hướng dẫn”, “nguyên tắc”, “qui ước”, “tiêu chuẩn”, “khuyến nghị”, “nghịquyết” Tuy không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý và không qui địnhnhững nghĩa vụ cụ thể nào đối với các quốc gia thành viên, song các văn bảnnày vẫn có giá trị đạo đức và chính trị Đó là các văn bản của Liên hợp quốc

và các tổ chức quốc tế khác hoặc các tuyên bố được thông qua tại các hội nghịquốc tế, thể hiện sự nhất trí cao về những vấn đề nhất định để định hướng và

có giá trị chỉ đạo chung Bên cạnh đó, trong cuốn sách này còn tuyển chọnmột số văn bản được thông qua tại các hội nghị khu vực có giá trị tham khảothiết thực về một số vấn đề có liên quan

Tinh thần cao cả xuyên suốt những văn bản được tập hợp trong cuốnsách này là tất cả người lớn hãy làm hết sức mình để bảo vệ trẻ em

Trang 30

Cuốn sách Nghiên cứu về lao động trẻ em ở Việt Nam 1992 – 1998 [106]

là kết quả tổng kết của dự án Tăng cường năng lực đánh giá và hưởng ứng chínhsách về LĐTE ở Việt Nam do Viện Khoa học Lao động và các vấn đề Xã hộiphối hợp với Trường Tổng hợp Wollongong thực hiện với sự hỗ trợ về tài chínhcủa Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan Các nghiên cứu này đã đóng góp bước đầunhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng đề án về phòng ngừa vàkhắc phục LĐTE ở Việt Nam trong giai đoạn 1992-1998

Những nội dung quan trọng của cuốn sách: 1) LĐTE ở Việt Nam đã giảmmột cách đáng kể những vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc tiếp tục phải giải quyết,nhất là ở vùng nông thôn; 2) Có những sự khác biệt giữa các vùng khác nhau vềLĐTE Ở vùng nông thôn vấn đề LĐTE đối với các trẻ em gái cần chú ý hơn đốivới trẻ em trai; 3) Nhóm trẻ em ở độ tuổi 11-14 cần có sự giám sát và quản lýchặt chẽ của Chính phủ; 4) Nhóm trẻ em làm việc ở độ tuổi 15-17 có sự gia tănglớn nhất; 5) Việt Nam luôn có tỷ lệ số học sinh đi học ở cấp tiểu học cao;

6) LĐTE chủ yếu thường thấy ở các doanh nghiệp hộ gia đình và các doanhnghiệp nhỏ ở nông thôn; 7) Số lượng trẻ em làm thuê trong các ngành côngnghiệp, xây dựng, dịch vụ không lớn Không có bằng chứng nào về LĐTEtrong các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu; 8) LĐTE thường haytập trung nhiều nhất ở những hộ nghèo; 9) Chiến lược quốc gia về xóa đóigiảm nghèo cần tập trung chú ý đến vấn đề LĐTE và việc học hành của trẻem; 10) LĐTE đang giảm một cách nhanh chóng trong số trẻ em nam, trongkhi mức giảm ở trẻ em nữ là thấp hơn; 11) Luật pháp của Việt Nam có liênquan tới LĐTE là phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và đã đưa ra được mộtkhuôn khổ pháp lý toàn diện cho việc quản lý vấn đề LĐTE

Các khuyến nghị chính của cuốn sách bao gồm: i) Cần tiếp tục theo dõivấn đề LĐTE; ii) Tiếp tục chiến lược xóa đói giảm nghèo; iii) Các nỗ lực đặcbiệt cần được dành cho những địa phương có tỷ lệ tăng dân số ở mức cao; iv)Cần theo dõi tỷ lệ học sinh đi học để giảm số trẻ em thuộc diện “không ở đâu”;v) Tập trung giúp đỡ đối tượng trẻ em thuộc nhóm dễ bị tổn thương; vi) Cóchiến lược giáo dục dành cho trẻ em nữ trên cấp tiểu học; vii) Cần tăng thêm

Trang 31

giờ học tại trường ở nông thôn nhằm giảm số trẻ em làm việc biên; viii) Cầnthực thi luật pháp tốt hơn về LĐTE để giảm các vấn đề liên quan tới LĐTEbất hợp pháp; ix) Cần có thêm các nghiên cứu về các nguyên nhân của LĐTE

Hữu với Giải pháp cơ bản nhằm giảm thiểu tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay [59] (2009), Phan Thị Lan Phương với Phòng, chống lạm dụng lao động trẻ em góp phần thúc đẩy việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam [70] (2014) đã đề xuất các giải pháp để giảm thiểu LĐTE Theo đó, để ngăn

ngừa và giải quyết tình trạng LĐTE, giáo dục và dạy nghề là một trong số cácgiải pháp quan trọng và chủ yếu

Qua bài viết, Lao động trẻ em - Thực trạng và kiến nghị [47; tr 2-7] tác

giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) đánh giá: LĐTE không chỉ giới hạn trongphạm vi các vấn đề đạo đức, xã hội, pháp lý ở mỗi quốc gia mà đã trở thành mộtyếu tố ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế Tác giả bài viết đưa ra 7 nhóm khuyếnnghị nhằm giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ tình trạng LĐTE Cũng theo tác giả,Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định quốc tế vào pháp luật và chính sách củaViệt Nam, nhiều chương trình quốc gia liên quan đến xóa bỏ LĐTE được thựchiện như: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo; Chươngtrình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam (2001-2010); Chương trình quốcgia ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tìnhdục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm (2004

- 2010) Bên cạnh đó, cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong hoạt động này,đồng thời đề xuất kiến nghị và 8 nhóm giải pháp cụ thể

Trang 32

Để những giải pháp phòng ngừa LĐTE thực sự hiệu quả và khả thi thìquan trọng chúng ta phải nhận diện được LĐTE, phân biệt LĐTE với trẻ emtham gia lao động để phát triển thể chất cũng như ý thức được vai trò của laođộng trong cuộc sống Tám tiêu chí nhận diện LĐTE ở Việt Nam để giúp choviệc thống kê LĐTE thuận lợi và chính xác, từ đó giúp các nhà quản lý cóđược những biện pháp phòng ngừa và tiến tới xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi

tệ nhất nói riêng và xóa bỏ LĐTE nói chung được thể hiện trong Một số đề xuất các tiêu chí để nhận diện lao động trẻ em ở Việt Nam [61], Tạp chí Lao động và Xã hội năm 2012 của tác giả Nguyễn Hải Hữu

Phòng ngừa LĐTE dưới cách tiếp cận của tác giả Lê Thanh Hà (2009)

thông qua bài viết Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với vấn đề lao động trẻ em và lao động chưa thành niên [46] gắn LĐTE với trách nhiệm xã

hội của doanh nghiệp Tác giả đánh giá thực trạng việc thực hiện các quy định

về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong vấn đề LĐTE và lao động chưathành niên thông qua số liệu cuộc điều tra xã hội học đối với 75 doanh nghiệpthuộc 5 ngành, gồm da giầy – dệt may, khai thác mỏ, thủy sản, xây dựng vàdịch vụ - thương mại trên địa bàn Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng

và Quảng Ninh Qua đó tác giả bài viết đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể đểcác doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, tuân thủ các quy định pháp luật

về LĐTE

Cùng với đó, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối

hợp với ILO đã ban hành Quy tắc ứng xử của chủ sử dụng lao động về phòng ngừa và xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất trong các lĩnh vực da giầy và may mặc; chế biến thủy hải sản; chế tác đá và gỗ; và thủ công mỹ nghệ (mây tre đan, chiếu cói, thêu ren) [68] năm 2013; Hướng dẫn phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em dành cho doanh nghiệp [69] năm 2019 Quy tắc ứng xử này

được xây dựng trên cơ sở các ý kiến đóng góp xây dựng và cùng thống nhấtthông qua của một số các chủ sử dụng lao động trên địa bàn 07 huyện tại 04 tỉnh,thành phố và ngành LĐ - TB – XH (Đồng Nai, Quảng Nam, Ninh Bình và HàNội) với sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO và VCCI trong khuôn khổ hợp tác

Trang 33

giữa ILO và VCCI Quy tắc ứng xử này khuyến khích các chủ sử dụng laođộng trong 04 lĩnh vực ngành nghề (da giầy và may mặc; chế biến thủy hảisản; chế tác đá – gỗ và thủ công mỹ nghệ: mây tre đan, chiếu cói, thêu ren),các địa phương tán thành và triển khai thực hiện, không mang tính pháp lý,không áp đặt bắt buộc đối với các doanh nghiệp Tài liệu giúp doanh nghiệp

có góc nhìn tổng quan lợi ích của việc phòng ngừa và giảm thiểu LĐTE trongkinh doanh Đồng thời, tài liệu cung cấp những kiến thức cơ bản để nhận biếtthế nào là LĐTE, gợi ý những hành động thiết thực của doanh nghiệp để loạitrừ những nguy cơ và hậu quả khi sử dụng LĐTE

Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội và ILO (2011) ban hành Tài liệu tập huấn về phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em [9] Bộ tài liệu góp phần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác liên quan đến phòng

ngừa và xóa bỏ LĐTE thông qua việc đưa ra các bài học với các chủ đề: (i)Khái niệm và cách xác định lao động trẻ em, (ii) Thực trạng, nguyên nhân vàhậu quả của lao động trẻ em, (iii) Pháp luật quốc tế về phòng ngừa, giảm thiểulao động trẻ em, (iv) Chính sách, pháp luật Việt Nam về phòng ngừa, giảmthiểu lao động trẻ em, (v) Khảo sát, lập kế hoạch hành động phòng ngừa, giảmthiểu lao động trẻ em, (vi) Phối hợp, lồng ghép hành động phòng ngừa, giảmthiểu lao động trẻ em, (vii) Can thiệp, trợ giúp lao động trẻ em, (viii) Giámsát, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về lao động trẻ em

Bài viết “Phòng ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em trong pháp luật quốc tế vàpháp luật Việt Nam” [44] của tác giả Vũ Công Giao, Nguyễn Hoàng Hà đã phântích, đánh giá tính tương thích giữa các quy định trong pháp luật quốc tế và phápluật Việt Nam liên quan đến lao động trẻ em cũng như đòi hỏi thực tiễn của côngtác phòng ngừa và xoá bỏ lao động trẻ em ở Việt Nam Theo các tác giả, tuy đãtương thích với những quy định cơ bản của luật quốc tế, hệ thống pháp luật ViệtNam về lao động trẻ em hiện còn một số hạn chế, bất cập, đặc biệt là thiếu cácquy định về khung pháp lí đối với người sử dụng lao động và người lao động làtrẻ em ở các khu vực phi kết cấu, kinh tế hộ gia đình và ở

Trang 34

nông thôn Trong bài viết, các tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiệnpháp luật phòng ngừa và xoá bỏ LĐTE ở Việt Nam trong những năm tới đây.

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về phòng ngừa LĐTE của các tổ chức quốc tế, các tác giả trong và ngoài nước nêu trên tiếp cận vấn đề LĐTE

ở các góc độ xác định nguyên nhân, tác động của chính sách, pháp luật đếnLĐTE, qua đó đưa ra các khuyến nghị mang tính chất định hướng để phòngngừa, xóa bỏ LĐTE Nhiều giải pháp đã được đề xuất dưới các góc độ nghiêncứu, trong đó đặc biệt là những giải pháp về đảm bảo cơ sở vật chất và chấtlượng giáo dục Các nghiên cứu cũng đề cập đến vai trò của của các tổ chức,

cá nhân có thể tác động đến phòng ngừa LĐTE hiệu quả hơn Đây là nhữnggợi ý có giá trị tham khảo cho việc thực hiện nghiên cứu của luận án

1.3 Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về phòng ngừa lao động trẻ em

1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới

Với bản báo cáo The end of child labour (Hồi kết lao động trẻ em: mục tiêu trong tầm tay) [100] vào năm 2006 ILO đã đưa ra một bức tranh tổng thể

về tình hình LĐTE ở nhiều khu vực trên thế giới cũng như chỉ ra những nỗlực của nhiều quốc gia trong việc ngăn chặn và loại bỏ các hình thức LĐTEtồi tệ Báo cáo cũng kiến nghị các quốc gia thực hiện các chính sách kinh tế,giáo dục, xóa đói giảm nghèo cần thiết nhằm loại bỏ LĐTE Tuy nhiên, báocáo chủ yếu mang tính kinh tế, xã hội và mới chỉ dừng lại ở việc khuyến nghịxây dựng các chương trình hành động chung ở cấp quốc gia, chưa đi sâu vàokhía cạnh quản lý nhằm loại bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ

Ấn phẩm Ending child labour by 2025: A review of policies and programmes (Chấm dứt lao động trẻ em vào năm 2025 – Đánh giá các chính sách và chương trình ) [123] của ILO năm 2018 đã khẳng định việc chấm dứt

LĐTE vào năm 2025 phụ thuộc chủ yếu vào chính sách tích cực của Chínhphủ mỗi quốc gia, được hỗ trợ bởi người lao động và người sử dụng lao động,các tổ chức quốc tế và rộng lớn hơn là cả cộng đồng cùng giải quyết cácnguyên nhân của LĐTE

Trang 35

1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Tác giả Phạm Thúy Hương với cuốn sách, Lao động trẻ em khu vực nông thôn [57] năm 2009 đã đưa ra bức tranh tổng thể về LĐTE nông thôn giai đoạn 1993-2006 Tác giả tổng kết: trẻ em nông thôn luôn chiếm khoảng

80% tổng số trẻ em của cả nước Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế là hiệntượng khá phổ biến, khoảng 28% Ba vùng có tỷ lệ trẻ em tham gia hoạt độngkinh tế cao nhất là Tây Bắc (43,9%), Đông Bắc (35,2%) và Tây Nguyên(30,7%) Cuốn sách phân tích rõ một số nguyên nhân dẫn đến tình trạngLĐTE nông thôn như: bỏ học sớm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu nơi vuichơi giải trí/hoạt động tập thể cần thiết cho trẻ, bạn bè lôi kéo, cần có tiền tiêuriêng Trên cơ sở đó, tác giả cuốn sách đưa ra 3 quan điểm và đề xuất 8 biệnpháp nhằm ngăn ngừa và hạn chế LĐTE khu vực nông thôn:

Quan điểm 1: cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan ban ngành,chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư ở địa phương, người sử dụng laođộng, đặc biệt là gia đình và bản thân trẻ em Quan điểm 2: LĐTE phải đượcgiải quyết dần từng bước, tập trung ưu tiên cho những vùng có tỷ lệ LĐTEcòn cao và nhóm tuổi 10-14 tuổi Quan điểm 3: LĐTE cần có sự hỗ trợ mangtính chất lâu dài và kết hợp các biện pháp động viên, giáo dục

Các giải pháp chính cần thực hiện là: 1) Hoàn thiện hệ thống pháp luật vềLĐTE và tăng cường hiệu quả của hệ thống này ở khu vực kinh tế tư nhân, kinh

tế hộ gia đình; 2) Tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo và nâng cao mức sốngcho các hộ gia đình nông thôn, đặc biệt là ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc và TâyNguyên; 3) Phân bổ nguồn lực ưu tiên theo vùng, nhóm tuổi; 4) Phát triển hệthống giáo dục đào tạo và dạy nghề tại chỗ; 5) Tiếp tục thực hiện chính sáchgiảm sinh một cách bền vừng ở khu vực nông thôn; 6) Nâng cao nhận thức vàgắn trách nhiệm về vấn đề LĐTE cho cán bộ các ngành chức năng có liên quan,cán bộ chính quyền địa phương, người sử dụng lao động, gia đình và chính cácem; 7) Tiến hành điều tra, nghiên cứu về LĐTE một cách toàn diện; 8) Mở rộngquan hệ hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ nguồn lực, kỹ thuật và kinh nghiệm giảiquyết vấn đề LĐTE ở những vùng có nguy cơ cao

Trang 36

Trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác Việt Nam – Tây Ban Nha trong lĩnh

vực lao động và xã hội giai đoạn 2008 - 2009, dự án: Dịch vụ xã hội đối với nhóm yếu thế và người lao động góp phần hoàn thiện khung chính sách về lao động – xã hội [33] đánh giá: ở Việt Nam nhóm yếu thế bao gồm: người cao

tuổi, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Mục tiêu của dự án nhằmđánh giá thực trạng xã hội đối với người lao động và nhóm yếu thể trongkhung chính sách về an sinh xã hội; hỗ trợ hoàn thiện chính sách về đào tạonghề và bảo hiểm xã hội, thúc đẩy các dịch vụ về dạy nghề và bảo hiểm xãhội cho những đối tượng này; từ đó xây dựng mô hình phù hợp với tình hìnhthực tiễn trong nước và tiếp cận được xu thế phát triển của quốc tế

Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phòng

ngừa LĐTE, các bài viết Giải quyết vấn đề lao động trẻ em và trẻ em lang thang trong chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em [71] của tác giả Quách Thị Quế năm 2013; Hiện trạng lao động trẻ em ở Việt Nam [87] năm

2001 của tác giả Nguyễn Thị Thiềng; Khó khăn trong quản lý, phòng ngừa lao động trẻ em – các giải pháp đề ra [34] (2009) của tác giả Đăng Doanh đã khẳng định đây là một công việc đòi hỏi kết hợp sự nỗ lực của gia đình, nhà

trường và xã hội Nhà nước cần đẩy mạnh chính sách trợ giúp xã hội đối vớitrẻ em, chính sách an sinh xã hội, tăng cường hoạt động truyền thông, tổ chức

và quản lý tốt công tác dạy nghề, gắn trách nhiệm gia đình và xã hội trongviệc giải quyết vấn đề LĐTE Cùng với đó là đề xuất 6 nhóm giải pháp tăngcường công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em: hoàn thiện hệ thống luật pháp, chínhsách, quy định về trẻ em và LĐTE; Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy làmcông tác này từ trung ương đến cơ sở; Xây dựng mạng lưới bảo vệ trẻ em dựavào cộng đồng; Tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật vềLĐTE; Tăng ngân sách cho các hoạt động ngăn chặn, giải quyết LĐTE; Cóchính sách hỗ trợ việc làm cho lao động bị mất đất ở các vùng ven đô nhằmhạn chế lao động di cư ra các thành phố lớn

Đề tài nghiên cứu Một số giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện các cam kết quốc tế về lao động [18] của Bộ LĐ – TB - XH (2015) đã đi sâu nghiên cứu

Trang 37

các vấn đề liên quan tới LĐTE trong Công ước Quyền trẻ em cũng như cácCông ước của ILO, đặc biệt là Công ước số 29 về Lao động cưỡng bức; Côngước số 138 về Tuổi tối thiểu được đi làm việc; Công ước số 182 về Các hìnhthức LĐTE tồi tệ nhất Mặt khác, đề tài cũng tìm hiểu các nội dung trọng tâmliên quan tới tiêu chuẩn lao động và LĐTE trong các hiệp định Thương mại tự

do (FTA), nhất là trong Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương(TPP) Đề tài cũng tìm tòi, nghiên cứu về bối cảnh, qui trình xây dựng, cácnguy cơ tiềm ẩn trong các Danh sách LĐTE và lao động cưỡng bức (TVPRA

và EO 13126) của Bộ Lao động Hoa Kỳ từ khi bắt đầu có danh sách này vàonăm 2009 cho tới năm 2012 khi Việt Nam có 02 hàng hóa bị tđưa vào danhsách này, cũng như cập nhật tình hình chko tới 2015 Bên cạnh đó, đề tài đã đisâu rà soát, phân tích thực trạng của việc thực hiện các cam kết quốc tế và yêucầu của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Đề tài đưa ra một số giảipháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện các cam kết liên quan tới phòng ngừa vàgiảm thiểu LĐTE nói chung, trong đó có việc xây dựng một số nội dung chínhtrong quy trình để có thể đưa các mặt hàng của Việt Nam ra khỏi danh sáchLĐTE của Bộ Lao động Hoa Kỳ và hạn chế các mặt hàng khác không bị đưavào các danh sách này

Luận án tiến sĩ Luật học Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế [67] của tác giả Trần Thắng Lợi năm 2012

là công trình chuyên khảo cấp tiến sĩ nghiên cứu pháp luật về người lao độngchưa thành niên Đóng góp của Luận án bao gồm: (1) Góp phần luận giải hệthống lý luận về lao động chưa thành niên và pháp luật điều chỉnh đối tượng nàytrong bối cảnh hội nhập quốc tế Cụ thể: chỉ rõ cơ sở để xác định khái niệmngười lao động chưa thành niên, xác định các đặc điểm riêng của đối tượng này

để phân biệt với các loại lao động khác, đồng thời làm căn cứ cho việc hoànthiện các quy định riêng đối với họ; Chỉ rõ mục đích, ý nghĩa của việc điều chỉnhpháp luật đối với người lao động chưa thành niên; Nêu ra những nguyên tắc điềuchỉnh pháp luật riêng đối với người lao động chưa thành niên; Xác định các tácđộng chủ yếu của quá trình hội nhập quốc tế đối với pháp luật về người

Trang 38

lao động chưa thành niên (2) Phân tích, chỉ ra những kinh nghiệm của một sốnước khi điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên Đây làmột trong những cơ sở tham khảo quan trọng nhằm so sánh và hoàn thiệnpháp luật về người lao động chưa thành niên ở nước ta (3) Đánh giá toàn diện

về thực trạng pháp luật đối với người lao động chưa thành niên ở Việt Nam vàchỉ ra những vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung trong hệ thống pháp luật (4)Xác định những yêu cầu cần thiết của việc hoàn thiện các quy định hiện hành

về người lao động chưa thành niên, đề xuất thêm một số giải pháp kèm theoluận giải cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về người lao động chưa thành niên

Luận án tiến sĩ Luật học Pháp luật về chống lao động cưỡng bức nhìn từ góc độ phát triển toàn diện [81] của tác giả Phan Thị Nhật Tài (2016) giúp cho

người lao động, chủ thể có liên quan nâng cao nhận thức về lao động cưỡng bức

để chống nguy cơ bị cưỡng bức lao động Luận án bổ sung và đưa ra những kiếnnghị, cũng như một vài giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật chống laođộng cưỡng bức đối với một số quy định pháp luật lao động trên cơ sở phù hợpluật pháp quốc tế, chiến lược phát triển kinh tế đất nước giai đoạn 2011-2020

Luận án tiến sĩ Luật học Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay [88] của tác giả Tăng Thị Thu Trang (2016) đã phân tích một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về quyền của trẻ em có hoàn cảnh

đặc biệt, làm rõ nội dung của các quyền và trách nhiệm của các chủ thể khácnhau trong việc bảo đảm quyền của các em Luận án phân tích và làm sáng tỏcác khái niệm công cụ và phân loại các nhóm quyền trẻ em theo pháp luậtquốc tế và pháp luật Việt Nam, từ đó thấy rằng quyền trẻ em ở Việt Nam đãhầu hết được phủ kín trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngoài ra, tácgiả còn chỉ ra các yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền của trẻ em có hoàncảnh đặc biệt Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các quanđiểm, giải pháp về bảo đảm quyền cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở ViệtNam hiện nay Đề xuất đổi mới về nhận thức, vai trò, trách nhiệm của các chủthể khác nhau trong xã hội và sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các chủ thể trongviệc bảo đảm các quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Trang 39

Ngoài ra, đã có nhiều bài báo, bài viết chuyên đề trên các báo, tạp chí vàcác cổng thông tin điện tử của các địa phương, các cơ quan, tổ chức nhà nướccũng như tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam từ các góc độ, phương diện khácnhau, tạo nên một cái nhìn đa chiều, toàn diện về vấn đề phòng ngừa LĐTE.

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về phòng ngừaLĐTE đã khẳng định được vai trò của nhà nước trong phòng ngừa LĐTEnhưng mới chỉ đề cập đến từng công cụ quản lý riêng lẻ (như chính sách, phápluật, tổ chức bộ máy) hoặc nhóm những công cụ quản lý nhưng lại ở một khuvực hay phạm vi hẹp Tuy nhiên đó cũng là những tiền đề để nghiên cứu củaluận án dựa vào và làm sáng tỏ hơn

1.4 Nhận xét về kết quả nghiên cứu tổng quan và vấn đề đặt ra cho đề tài luận án

1.4.1 Những nội dung liên quan đến luận án

Các công trình nghiên cứu đã giải quyết được những điểm sau:

Thứ nhất, về lý luận, các công trình nghiên cứu đã đưa ra khái niệm,

những dấu hiệu nhận biết về LĐTE dựa theo các tiêu chí về độ tuổi, loại hìnhcông việc và thời gian mà trẻ em phải lao động gây tổn hại nghiêm trọng đến

sự phát triển về mặt thể chất, tinh thần và các cơ hội học tập của trẻ em

Các nghiên cứu cũng đã đánh giá được các nguy hại của LĐTE và đưa

ra những hành động tức thời để xóa bỏ LĐTE; cung cấp những cơ sở nềntảng, quy tắc và tiêu chuẩn có tính quốc tế mang tính tham chiếu đối với hànhđộng của các quốc gia trên thế giới về xóa bỏ LĐTE

Thứ hai, các nghiên đã đưa ra thực trạng LĐTE trên thế giới cũng như

ở Việt Nam ở một số mốc thời gian Rất nhiều nguyên nhân dẫn đến LĐTE

được đề cập đến nhưng trong đó nổi bật là do nghèo đói, do nhận thức Cùngvới việc chỉ ra những hậu quả, những mặt tiêu cực của LĐTE, các nghiên cứu

đã khẳng định tính tất yếu khách quan của việc ngăn ngừa, giảm thiểu vàchấm dứt LĐTE Bên cạnh đó, cần có sự nhận thức đúng đắn về trách nhiệmcủa gia đình, nhà trường và toàn xã hội trong việc phòng ngừa sử dụng LĐTE,hướng tới đảm bảo quyền trẻ em

Trang 40

- Thứ ba, các nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp, khuyến nghị thiếtthực để hiện thực hóa những mục tiêu chăm sóc và bảo vệ trẻ em, đảm bảoquyền trẻ em.

Qua các nghiên cứu và phân tích đánh giá một số công trình nghiên cứutrong và ngoài nước cho thấy, đến nay chưa có một công trình nghiên cứuchuyên sâu nào về QLNN về phòng ngừa LĐTE ở Việt Nam ở cấp độ tiến sĩquản lý công Các công trình nghiên cứu đã công bố tùy theo khía cạnh tiếpcận về LĐTE mà đưa ra các biện pháp chung hoặc ở góc độ pháp luật, haygiải quyết các hiện tượng cụ thể trong từng lĩnh vực chứ chưa đưa ra một hệthống giải pháp có tính đồng bộ, vĩ mô, bền vững nhằm chấm dứt hoàn toànviệc sử dụng LĐTE

Những nghiên cứu này chưa dựa trên hệ thống lý thuyết của quản lýcông để phân tích thực trạng QLNN về phòng ngừa LĐTE Vì vậy, những vấn

đề cốt yếu như: vai trò của QLNN trong ban hành chính sách, pháp luật; tổchức thực hiện; giám sát thực hiện đối với phòng ngừa LĐTE ở các cấp,ngành, địa phương cũng chưa được các nghiên cứu đánh giá để rút ra nhữngnhận định về kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân củanhững hạn chế, bất cập này

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nói trên rất có ý nghĩa cả về lýluận và thực tiễn, gợi mở hướng nghiên cứu và rất hữu ích cho nghiên cứusinh tham khảo, xây dựng và hoàn thiện luận án của mình

1.4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt những kết quả đáng ghi nhậntrong nỗ lực phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE Tuy nhiên, dưới tác động của kinh

tế thị trường và tác động trái chiều của tiến trình hội nhập, LĐTE vẫn tồn tạidưới các hình thức ngày càng tinh vi, đòi hỏi cần phải tăng cường công tácQLNN đối với lĩnh vực này Như vậy, việc nghiên cứu một cách cụ thể, chuyênsâu và bám sát vấn đề QLNN về phòng ngừa LĐTE là công việc còn để ngỏ vàđặt ra nhiều thách thức cho các nhà nghiên cứu, các nhà chuyên môn Chính vìvậy, việc nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về LĐTE

Ngày đăng: 16/05/2021, 06:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w