1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát Triển Các Mô Hình Quản Lý Trạm Cấp Nước Sinh Hoạt

121 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một chương trình mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, không chỉ góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao nhận thức của người

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

––––––––––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ MINH HƯƠNG

PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ

TRẠM CẤP NƯỚC SINH HOẠT TẬP TRUNG

NÔNG THÔN TỈNH HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN ĐÌNH THAO

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa sau đại học, trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Phó GS.TS Trần Đình Thao, người thầy đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ công nhân viên Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Hưng Yên, các nhà máy nước đã tạo điều kiện cung cấp những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn

Qua đây tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Hương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ TRẠM CẤP NƯỚC SINH HOẠT TẬP TRUNG NÔNG THÔN 5

1.1 Cơ sở lý luận về mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn 5

1.1.1 Một số khái niệm 5

1.1.2 Vai trò của công tác quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn 8

1.1.3 Các yêu cầu khi lựa chọn mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn 10

1.1.4 Các loại mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt nông thôn ở nước ta 11

1.1.5 Nôi dung nghiên cứu phát triển các mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn 12

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển mô hình quản lý các trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh 12

1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn 13

1.2.1 Kinh nghiệm về quản lý cấp nước sinh hoạt nông thôn của một số nước trên thế giới 13

Trang 5

1.2.2 Kinh nghiệm và bài học về quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông

thôn ở nước ta 19

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 30

2.2 Phương pháp nghiên cứu 30

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 30

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 32

2.2.3 Phương pháp phân tích đánh giá 32

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 32

Chương 3: THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ TRẠM CẤP NƯỚC SINH HOẠT TẬP TRUNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN 34

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43

3.2 Thực trạng các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 50

3.2.1 Hệ thống quản lý các đơn vị cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn tỉnh Hưng Yên 50

3.2.2 Tổng quan về công trình cấp nước tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh 50

3.2.3 Các loại hình cấp nước 51

3.2.4 Tình hình đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung nông thôn tỉnh Hưng Yên thời gian qua 55

3.2.5 Đánh giá thực trạng các mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 56

3.2.6 Đánh giá của người sử dụng nước về các mô hình quản lý trạm cấp nước 70

3.2.7 Phân tích SWOT về các mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn tỉnh Hưng Yên 76

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh 78

Trang 6

3.3.1 Công tác tổ chức chỉ đạo, lập kế hoạch, xây dựng và quản lý xây

dựng công trình 78

3.3.2.Cơ chế chính sách chủ trương của nhà nước, của tỉnh 78

3.3.3 Huy động vốn 79

3.3.4 Điều kiện văn hoá, xã hội 80

3.3.5 Khả năng của người dân 80

3.3.6 Các yếu tố khác 81

3.4 Đánh giá chung về các mô hình quản lý các trạm cấp nước 82

3.4.1 Mô hình do UBND xã quản lý 82

3.4.2 Mô hình do doanh nghiệp tư nhân quản lý 84

3.4.3 Mô hình Công ty TNHH MTV cấp nước 85

3.4.4 Mô hình do Trung tâm Nước sạch và VSMT nông thôn quản lý 86

Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ TRẠM CẤP NƯỚC SINH HOẠT TẬP TRUNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN THỜI GIAN TỚI 88

4.1 Định hướng 88

4.1.1 Định hướng công tác đầu tư xây dựng các trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn đến năm 2020 88

4.1.2 Định hướng công tác quản lý sau đầu tư các trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn 92

4.2 Giải pháp 92

4.2.1 Giải pháp tăng cường quản lý chất lượng xây dựng, vận hành bảo dưỡng 93

4.2.2 Giải pháp phân cấp quản lý đối với các trạm cấp nước 94

4.2.3 Giải pháp về cơ chế tài chính 95

4.2.4 Giải pháp phát triển, hoàn thiện các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn hoạt động hiệu quả bền vững 95

4.2.5 Giải pháp về đào tạo nâng cao năng lực và truyền thông vận động xã hội 97

4.3 Kiến nghị 97

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 103

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

SH & VSMTNT Sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn

TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tỷ lệ dân số nông thôn trong toàn quốc được CNSH 20

Bảng 1.2: Kết quả huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình CNSH 21

Bảng 1.3: Tổng hợp tình hình quản lý khai thác các công trình trên toàn quốc 22

Bảng 2.1: Bảng điều tra 31

Bảng 3.1: Số đơn vị hành chính của tỉnh có đến 31/12/2014 35

Bảng 3.2: Một số chỉ số khí tượng trung bình năm của tỉnh 36

Bảng 3.3: Lượng mưa trung bình năm của tỉnh 38

Bảng 3.4: Tình hình sử dụng đất đai tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2012-2014 45

Bảng 3.5: Tình hình lao động tỉnh Hưng Yên năm 2012 – 2014 47

Bảng 3.6: Phân loại các mô hình quản lý trạm cấp nước SHNT trên địa bàn tỉnh (chia theo huyện) 56

Bảng 3.7 : Tình hình hoạt động công trình cấp nước tập trung nông thôn tỉnh 57

Bảng 3.8: Trình độ của công nhân vận hành các trạm cấp nước SHNT phân theo mô hình quản lý 61

Bảng 3.9: Độ tuổi của công nhân vận hành các trạm cấp nước SHNT phân theo loại hình quản lý 62

Bảng 3.10: Số lượng các trạm cấp nước đạt tiêu chuẩn chất lượng phân theo loại hình quản lý 63

Bảng 3.11: Phương pháp tính tổng chi phí sản xuất, kinh doanh nước sạch 65

Bảng 3.12: Phân loại các trạm cấp nước của từng mô hình theo tỷ lệ thất thoát nước 67

Bảng 3.13: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các mô hình tại các điểm khảo sát 68

Bảng 3.14: Phân loại các trạm cấp nước của từng mô hình theo hồ sơ quản lý công trình 70

Bảng 3.15: Hiểu biết của chủ hộ về nước sạch và nước hợp vệ sinh 71

Bảng 3.16: Đánh giá của người dân về giá nước và chất lượng nước 73

Bảng 3.17: Đánh giá của người dân về chất lượng dịch vụ 74

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 1.1: Các chức năng cơ bản của quản lý 6

Hình 1.2: Mô hình bền vững 10

Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Hưng Yên 34

Hình 3.2: Bản đồ vị trí và các thông số quan trắc 41

Hình 3.3: Biểu đồ sử dụng nước HVS từ các nguồn hiện tại ở Hưng Yên 52

Sơ đồ 3.1: Dây chuyền công nghệ xử lí cho các loại nguồn nước ngầm 53

Sơ đồ 3.2: Dây chuyền công nghệ xử lí cho các loại nguồn nước mặt 54

Sơ đồ 3.3: Mô hình UBND xã quản lý, vận hành 58

Sơ đồ 3.4: Mô hình doanh nghiệp tư nhân quản lý, vận hành 59

Sơ đồ 3.5: Mô hình Công ty TNHH MTV cấp nước 60

Sơ đồ 3.6: Mô hình Trung tâm Nước sạch & VSMTNT quản lý, vận hành 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước sạch là một yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo sức khoẻ cho con người Nước sạch không chỉ có giá trị nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt cá nhân như ăn, uống, tắm, giặt v.v mà còn tác động rất lớn, trực tiếp đến môi trường sống

của con người, sức khoẻ của cộng đồng

Việt Nam hiện có khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số) đang

sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử

lý, theo thống kê của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

Tính đến hết năm 2014, cả nước đã có 84,5% người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh Tuy nhiên, trong đó, chỉ khoảng 32% hộ dân được

sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung, còn lại là từ các công trình nhỏ

lẻ như giếng đào, giếng khoan, bể chứa nước mưa…

Theo thống kê của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên - Môi trường, trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém Cũng theo đánh giá tổng hợp của Bộ Y tế, hằng năm có gần 200.000 người mắc bệnh ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn

từ ô nhiễm môi trường nước

Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một chương trình mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, không chỉ góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao nhận thức của người dân khu vực nông thôn mà còn góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước vì vậy từ năm 2000 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh nông thôn với mục tiêu đến năm 2020 tất cả cư dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60lit/người/ngày, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

và thực hiện vệ sinh cá nhân, giữ sạch vệ sinh môi trường làng xã Trong đó Chương trình MTQG Nước sạch và VSMT nông thôn là công cụ để thực hiện Chiến lược Quốc gia đã được Chính phủ phê duyệt Mục tiêu của Chương trình cũng là mục tiêu của Chính phủ Việt Nam đã cam kết với cộng đồng Quốc tế và là một

Trang 11

trong những tiêu chí quan trọng của Chương trình MTQG Xây dựng Nông thôn mới đến năm 2020

Tuy nhiên trong những năm qua các công trình cấp nước sinh hoạt (CNSH) tập trung nông thôn được quan tâm tăng cường đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau nhưng thực tế cho thấy công tác quản lý các công trình này sau đầu tư vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập, thiếu đồng bộ, làm giảm hiệu quả hoạt động của các công trình

Tỉnh Hưng Yên cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý các công trình CNSH tập trung nông thôn Hiện tại trên địa bàn tỉnh đã có một số mô hình quản lý các trạm CNSH tập trung nông thôn và có các ý kiến khác nhau trong việc nên hay không nên phát triển các mô hình quản lý đang tồn tại

Bên cạnh đó tỉnh Hưng yên đang thực hiện Chương trình nước sạch và VSMT dựa trên kết quả 8 tỉnh đồng bằng sông hồng, giai đoạn này sẽ chú trọng vào việc nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, nâng cao tính bền vững của quá trình quản

lý các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn Như vậy cả về mặt thực tiễn và lý luận đều đang đặt ra cho tỉnh Hưng yên việc tìm ra và phát triển được các

mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn phù hợp, hiệu quả Đó

chính là lý do tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phát triển các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn tỉnh Hưng Yên" làm đề tài nghiên cứu cho

luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn tỉnh Hưng yên, từ đó đề xuất phát triển các mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn phù hợp và có hiệu quả cho tỉnh Hưng Yên

* Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển mô hình

quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

- Đánh giá thực trạng các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển các mô hình này trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

Trang 12

- Đề xuất định hướng và giải pháp lựa chọn phát triển mô hình phù hợp nhằm

nâng cao hiệu quả quản lý khai thác các trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng yên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: là phát triển các mô hình quản lý Trạm cấp nước

sinh hoạt tập trung nông thôn tỉnh Hưng Yên

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu các mô hình quản lý cấp nước

sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

- Phạm vi về thời gian: Thu thập số liệu về các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng các mô hình

quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn, từ đó đề xuất phát triển các

mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn phù hợp và có hiệu quả cho

tỉnh Hưng yên

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về nước sạch nông thôn và mô hình quản lý nước sạch nông thôn, luận văn phân tích thực trạng mô hình quản lý cấp nước sạch cho nông thôn, đặc biệt tập trung đánh giá các nguyên tắc, nội dung, phương thức hoạt động của các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn Từ những phân tích này, luận văn sẽ đóng góp hệ thống các biện pháp khả thi mang ý nghĩa thực tiễn cao nhằm phát triển các mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung cho nông thôn tại tỉnh Hưng Yên nói riêng và các địa phương khác nói chung, góp phần làm tăng hiệu quả của các mô hình này, đồng thời cải thiện môi trường sống cho người dân trên địa bàn, nâng cao chất lượng cuộc sống tại nông thôn

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,

luận văn được cấu trúc bao gồm 4 chương:

Trang 13

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình quản lý trạm cấp nước sinh

hoạt tập trung nông thôn

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập

trung nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

Chương 4: Giải pháp phát triển các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt

tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời gian tới

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ TRẠM CẤP

NƯỚC SINH HOẠT TẬP TRUNG NÔNG THÔN 1.1 Cơ sở lý luận về mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Nước sinh hoạt

- Nước sinh hoạtlà nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người (Luật số 17/2012/QH13 của Quốc hội : Luật tài nguyên nước)

- Nước sạch: Là nước hợp vệ sinh và đạt giới hạn cho phép tất cả các chỉ tiêu

theo quy định tại QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, ban hành kèm theo thông tư số 05/2009/TT- BYT ngày 17/06/2009 của Bộ Y tế

- Nước hợp vệ sinh: Là nước được sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn các

yêu cầu chất lượng: Không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có

thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi

(Quyết định 51/2008/QĐ-BNN ngày 14/4/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Ban hành bộ chỉ số theo dõi - đánh giá Nước sạch và VSMTNT, tiêu chí đánh giá nước

hợp vệ sinh)

Như vậy có thể hiểu cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn như sau:

- Nước sinh hoạt được cấp ở vùng nông thôn Nông thôn là khu vực có trên 50% dân cư sống dựa vào nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở ở mức độ nhất định và có dân số không quá 30.000 người Bao gồm các làng xã và đô thị nhỏ loại 5

- Nước được cung cấp đã qua xử lý, sau hệ thống phân phối dùng trong sinh

hoạt gọi là nước sinh hoạt nông thôn

1.1.1.2 Trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

Trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn: là một hệ thống gồm các công

trình khai thác, xử lý nước, mạng lưới đường ống cung cấp nước sạch đến nhiều hộ gia đình hoặc cụm dân cư sử dụng nước ở nông thôn và các công trình phụ trợ có liên (Thông tư 54/2013/TT-BTC ngày 04/5/2013- Bộ tài chính)

Trang 15

1.1.1.3 Quản lý trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ như:

Henrry Fayol: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát ấy”

F.W Tailor: " Làm quản lý là bạn phải biết rõ: Muốn người khác làm việc gì

và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm", " Quản lý là một nghệ thuật, biết rõ chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, re nhất"

Peter F Druker: “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích”

 Các chức năng cơ bản của quản lý:

Hoạt động quản lý là quá trình đạt mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý Những chức năng này hoạt động tương đối độc lập và được phân chia từ hoạt động quản lý Sự phân chia này có nhiều cách nhưng các nhà quản

lý đều thống nhất quản lý có bốn chức năng cơ bản là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ

đạo và kiểm tra (hình 1.1) Trong quá trình quản lý thì Thông tin đóng vai trò trung

tâm vận hành các chức năng quản lý

Hình 1.1: Các chức năng cơ bản của quản lý

Chức năng kế hoạch có nhiệm vụ đề ra chiến lược và phương thức thực hiện;

Kế hoạch

Kiểm tra

Chỉ đạo

Tổ chức Thông tin

Trang 16

chức năng tổ chức có nhiệm vụ tổ chức ra cơ cấu để thực hiện các chiến lược đó; chức năng chỉ đạo có nhiệm vụ điều chỉnh, kết hợp các nhân tố liên quan để thực hiện kế hoach còn chức năng kiểm tra có trách nhiệm đánh giá mức độ hoàn thành của các tổ chức, doanh nghiệp, từ đó phát hiện ra để khắc phục, sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với chiến lược và kế hoạch

Các chức năng này móc nối với nhau tạo ra sự vận động của các tổ chức, doanh nghiệp, nó làm cho guồng máy đó vận động đúng quỹ đạo và hướng tới mục tiêu đã định

Nếu tách rời các chức năng này ra thì chúng không có ý nghĩa, không có tác dụng và không có vai trò gì trong quản lý

Quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn: là công tác quản lý,

vận hành trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn đảm bảo chất lượng và số lượng nước cung cấp cho người dân, đảm bảo thu chi tài chính

1.1.1.4 Mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

Khái niệm về mô hình: Có nhiều quan niệm khác nhau về mô hình Theo Tiến sỹ Dương Văn Hiểu: "Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, được diễn đạt hết sức ngắn gọn, phản ánh được những đặc trưng cơ bản nhất và giữ

nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu" (Dương Văn Hiểu, 2001)

Trong kinh tế học, mô hình được hiểu là hình ảnh mang tính chất quy ước của đối tượng nghiên cứu, diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố của

một hệ thống thực tế trong tự nhiên, xã hội ( Bách khoa toàn thư Việt Nam)

Như vậy, mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn là hình mẫu về công tác quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn có thể hiểu là hình ảnh ( Hình tượng, sơ đồ, sự mô tả ) mang tính chất quy ước của một hệ thống quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn cụ thể trong thực tiễn

1.1.1.5 Phát triển mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

* Khái niệm phát triển: Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn

Trang 17

Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn ( Giáo trình triết học Mác - Lênin, nxb Giáo Dục)

* Phát triển các mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

là sự tăng lên về mặt số lượng, quy mô, dịch vụ của các trạm cấp nước

1.1.2 Vai trò của công tác quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

1.1.2.1 Vai trò của các trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

Một là, trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn là mô hình cấp nước sạch tiên tiến so với các công trình cấp nước nhỏ lẻ phổ biến như: giếng đào, giếng khoan, bể, lu chứa nước mưa, nước mặt từ ao hồ sông suối Chất lượng nước cấp qua hệ thống cấp nước dễ quản lý và kiểm soát hơn về mặt vệ sinh

Hai là, trạm cấp nước là một “kênh” phù hợp nhất để Chính phủ và các tổ chức Quốc tế hỗ trợ cộng đồng dân cư khu vực nông thôn, sao cho đảm bảo các nguyên tắc “tất cả mọi người đều được bình đẳng tiếp cận đến dịch vụ công chất lượng cao” Mặt khác, nước sạch gắn với vấn đề vệ sinh và sức khỏe; không có nước sạch sẽ ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai trong gia đình Gia đình nghèo, thiếu nước sạch sẽ rất khó thoát nghèo và dễ tái nghèo do thiếu nước sạch

Ba là, trạm cấp nước sinh hoạt còn giảm gánh nặng cho phụ nữ, giải phóng sức lao động nông thôn Ở nông thôn, đặc biệt là những vùng kinh tế hộ phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, phụ nữ là lao động chính trong gia đình Nhưng theo thiên chức, phụ nữ cũng là người chịu trách nhiệm chăm sóc gia đình và con cái, là người đi lấy nước, sử dụng nước nhiều nhất trong sinh hoạt Về mặt xã hội, cấp nước tại vòi từng hộ gia đình sẽ giảm gánh nặng đáng kể khối lượng việc nhà của phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các hoạt động văn hóa xã hội, góp phần đem lại bình đẳng giới ở nông thôn

1.1.2.2 Vai trò của công tác quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

Cấp nước sạch nông thôn gắn liền với sự nghiệp xóa đói giảm nghèo và xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn Nước sạch cho sinh hoạt là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống Cung cấp nước sạch là một phần quan trọng trong cuộc chiến chống đói nghèo tại khu vực nông thôn Thiếu

Trang 18

nước sạch và sự tồn tại dai dẳng của những thói quen sống thiếu vệ sinh đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế tại khu vực nông thôn và tạo thành "gánh nặng quá tải" đè lên hệ thống y tế Đối với những người dân và cộng đồng dân cư không có

đủ nước sạch và vẫn giữ thói quen sinh hoạt mất vệ sinh cho dù điều kiện kinh tế, thu nhập có tăng lên thì chất lượng cuộc sống vẫn rất thấp Chính vì vậy cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được Đảng, nhà nước quan tâm đặc biệt và xác định là một bộ phận trong chính sách phát triển nông thôn, xem việc đảm bảo cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường là tiêu chí để phát triển nông thôn văn minh, hiện đại, là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước, của các ngành, các cấp và chính quyền địa phương Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã tham gia từ rất sớm và ký hàng loạt cam kết và tuyên bố quốc tế về xóa đói giảm nghèo

và cải thiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường như: Chương trình nước uống và

vệ sinh môi trường thế giới, Mục tiêu thiên niên kỷ, Chính vì lẽ đó, việc phát triển các mô hình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn được xác định có những vai trò,

vị trí quan trọng sau:

- Đối với kinh tế: Phát triển và quản lý có hiệu quả các trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn sẽ góp phần nâng cao điều kiện sống, đảm bảo sức khỏe, nâng cao thể chất cho người dân nông thôn Từ đó đảm bảo nguồn lao động dồi dào cho phát triển kinh tế, góp phần thức đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

- Đối với xã hội: Quản lý có hiệu quả các trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn

sẽ giúp người dân nông thôn được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh trong sinh hoạt, góp phần tăng cường sức khỏe cho người dân nông thôn thông qua việc giảm thiểu các loại bệnh do sử dụng nước nhiễm bẩn gây ra ( như bệnh tiêu chảy, đường ruột, sỏi thận, ung thư ) Qua đóa góp phần nâng cao ý thức, cải thiện hành vi của người dân nông thôn theo hướng thực hiện vệ sinh trong mọi sinh hoạt của cá nhân

và cộng đồng

- Đối với môi trường: Chống nguy cơ suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo vệ chất lượng nguồn nước, chống ô nhiễm môi trường và các yếu tố tác động từ biến đổi khí hậu

Trang 19

1.1.3 Các yêu cầu khi lựa chọn mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

Một trong những yếu tố quan trọng nhất khi lựa chọn mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt nông thôn là phải đảm bảo hoạt động có hiệu quả và bền vững Để

có cơ sở đánh giá khách quan về hiệu quả bền vững của một mô hình cấp nước sạch nông thôn cần quan tâm một số yếu tố sau:

- Đối với các ngành dịch vụ công ích, hiệu quả được đánh giá trên các khía cạnh xã hội, kinh tế và môi trường, trong đó hiệu quả xã hội được đặt lên hàng đầu

và là tiêu chuẩn đánh giá cao nhất Hiệu quả xã hội được xem xét trên khía cạnh sự

ra đời công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn có đảm bảo được sự hưởng ứng, đón nhận và sử dụng nước sạch ở mức có chất lượng dịch vụ theo yêu cầu Tránh việc đơn giản hóa đánh giá hiệu quả công trình thành đánh giá hiệu quả kinh tế

- Nhân tố bền vững của trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn là phần giao thoa của các yếu tố bền vững về mặt văn hóa – xã hội, bền vững về mặt công nghệ kỹ thuật và bền vững về mặt kinh tế - tài chính của Mariela Garcia Vargas

Hình 1.2: Mô hình bền vững

+ Bền vững về mặt văn hóa – xã hội đảm bảo sự hình thành và vận hành trạm cấp nước có gây ra những vấn đề tiêu cực như mâu thuẫn nội bộ, bất bình đẳng tiếp cận dịch vụ nước sạch… hay những tác động tích cực như: nâng cao trình độ dân trí, nâng cao hiểu biết về sức khỏe, vệ sinh môi trường…

Trang 20

+ Bền vững về mặt kinh tế - tài chính đối với cấp nước nông thôn, đạt được khi “thu đủ bù chi” cho các khoản quản lý hành chính, vận hành, sửa chữa và nâng cấp Sau khi chi trả chi phí thường xuyên và trích quỹ phát triển sản xuất, nếu lợi nhuận bằng không thì đấy cũng là đã có hiệu quả kinh tế và đảm bảo bền vững về tài chính

+ Bền vững về mặt công nghệ kỹ thuật được đo bằng khả năng làm chủ công nghệ, thể hiện mối quan hệ tương quan giữa môi trường và trình độ công nghệ áp dụng Bền vững về mặt công nghệ đạt được khi công nhân làm chủ được kỹ thuật vận hành trạm cấp nước, các sự cố kỹ thuật được khắc phục kịp thời, tuổi thọ công trình đạt trung bình chuẩn

1.1.4 Các loại mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt nông thôn ở nước ta

Góc độ quản lý các mô hình:

Hàng năm, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổng hợp danh mục các công trình cấp nước sạch nông thôn theo quy hoạch cần đầu tư hoặc thay đổi mô hình quản lý trên địa bàn báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, niêm yết công khai hoặc công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm kêu gọi các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư hoặc quản lý vận hành

Đối với trường hợp có 01 tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia đầu tư hoặc quản lý, khai thác công trình cấp nước mới hoặc cải tạo, nâng cấp theo danh mục công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì thực hiện các thủ tục chỉ định thầu theo quy định hiện hành của pháp luật về đấu thầu

Đối với những công trình cấp nước đã có tổ chức, cá nhân đang thực hiện dịch vụ cấp nước nhưng yêu cầu phải đầu tư, cải tạo, nâng cấp hoặc phải thay đổi mô hình quản lý để công trình cấp nước đáp ứng nhu cầu phục vụ tốt hơn, xử lý như sau:

- Trường hợp đầu tư cải tạo, nâng cấp:

Tổ chức, cá nhân đang quản lý tốt công trình, có đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì được giao làm chủ đầu tư thực hiện công trình

- Trường hợp thay đổi mô hình quản lý thì cơ quan có thẩm quyền quyết định lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để quản lý khai thác công trình

Trang 21

- Trường hợp cần thay đổi mô hình quản lý để đảm bảo quản lý có hiệu quả hơn, cần lựa chọn tổ chức, cá nhân có năng lực quản lý, khai thác cung cấp dịch vụ cấp nước sạch tham gia Tổ chức, cá nhân tham gia quản lý phải có phương án tổ chức lại sản xuất, quản lý cung cấp nước sạch, ký kết với cơ quan có thẩm quyền các thỏa thuận

về yêu cầu quản lý mới đảm bảo khai thác, cung cấp nước sạch nông thôn

Hiện nay, công tác quản lý các mô hình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn ở nước ta đang áp dụng rất nhiều mô hình quản lý khác nhau tùy điều kiện thực tế của từng địa phương như: Tổ tự quản; nhóm sử dụng nước; tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp, cụ thể chia thành các nhóm sau:

- Mô hình UBND xã, HTX quản lý vận hành

- Mô hình đơn vị sự nghiệp công lập quản lý vận hành

- Mô hình tư nhân quản lý, vận hành

- Mô hình doanh nghiệp quản lý, vận hành

1.1.5 Nôi dung nghiên cứu phát triển các mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

- Đánh giá tình hình nguồn nước khai thác, sử dụng trên địa bàn, tình hình dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh

- Tình hình về quản lý đầu tư xây dựng công trình cấp nước

- Đánh giá hiệu quả công tác quản lý vận hành sau đầu tư :

+ Chất lượng nước cấp, giá nước của từng mô hình

+ Tỷ lệ giữa công suất khai thác thực tế và công suất thiết kế (CSTT/CSTK)

và tỷ lệ về số hộ sử dụng nước thực tế và số hộ sử dụng nước theo thiết kế (SHTT/SHTK)

+ Tỷ lệ thất thoát nước

+ Khả năng quản lý vận hành

+ Lợi nhuận

+ Khả năng mở rộng dịch vụ của mô hình

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển mô hình quản lý các trạm cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh

- Công tác tổ chức chỉ đạo, lập kế hoạch, xây dựng và quản lý xây dựng công trình

Trang 22

- Cơ chế chính sách, chủ trương của Nhà nước

- Huy động vốn

- Điều kiện văn hóa- xã hội

- Khả năng của người dân

- Các yếu tố khác

1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn

1.2.1 Kinh nghiệm về quản lý cấp nước sinh hoạt nông thôn của một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Kinh nghiệm quản lý cấp nước sinh hoạt ở Trung Quốc

Hiện nay, vấn đề nước sạch ở khu vực nông thôn đang là mối lo ngại lớn của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển và Trung Quốc không phải là một ngoại lệ Tính đến cuối năm 2010, Trung Quốc có khoảng 300 triệu người dân ở khu vực nông thôn phải sống trong cảnh thiếu nước hoặc chỉ được

sử dụng nguồn nước ô nhiễm, chứa nhiều chất độc hại như florua, asen Trước thực trạng nói trên, Chính phủ Trung Quốc đã coi việc cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn là điều kiện tiên quyết trong quá trình xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa

- Xây dựng kế hoạch và các văn bản liên quan đến công tác cấp nước sạch

cho khu vực nông thôn

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001-2005) của mình, Chính phủ nước này đã dành ra 10,5 tỷ nhân dân tệ trong số 11,5 tỷ nhân dân tệ thu được từ việc bán trái phiếu để giải quyết vấn đề nước sạch cho 67,22 triệu người dân nông thôn Số tiền đầu tư vào việc cấp nước sạch cho 218 triệu người dân sống ở khu vực nông thôn đã tăng lên tới 105, 3 tỷ nhân dân tệ trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006-2010), trong đó ngân sách nhà nước cấp là 59 tỷ nhân dân tệ; 43,9 tỷ nhân dân tệ được lấy từ ngân sách địa phương; 2,4 tỷ nhân dân tệ còn lại được huy động từ các nguồn vốn xã hội Dự kiến, Chính phủ Trung Quốc sẽ tiếp tục đầu tư mạnh tay hơn nữa vào các dự án nước sạch với tổng vốn lên tới 170 tỷ nhân dân tệ (chủ yếu lấy từ ngân sách Nhà nước) trong giai đoạn 2011-2015 nhằm giải quyết cho 298 triệu người dân sống ở khu vực nông thôn Bên cạnh đó, ngày 31/01/2011, Ban chấp

Trang 23

hành trung ương Đảng Cộng sản và Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã ban hành Văn kiện số 1 , trong đó, Chính phủ tập trung vào công tác phát triển, bảo vệ nguồn nước sạch cung cấp cho khu vực nông thôn Chính phủ Trung Quốc sẽ đầu tư 4 nghìn tỷ nhân dân tệ trong vòng 10 năm (kể từ năm 2011) cho các dự án bảo tồn nguồn nước sạch ở nông thôn, đồng thời khuyến khích sự tham gia của tất cả các đối tượng từ người dân cho đến các tổ chức xã hội và các nhà đầu tư tư nhân

- Xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành từ trung ương đến địa phương

Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở Trung Quốc được bắt đầu

từ những năm 80 của thế kỷ XX sau khóa họp lần thứ 35 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (phát động thập kỷ nước sạch) Chìa khóa thành công của Trung Quốc trong việc cấp nước sạch cho khu vực nông thôn chính là việc xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành từ Trung ương đến địa phương

+ Ủy ban chiến dịch y tế quốc gia là đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện chương trình cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn ở Trung Quốc Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, cơ quan này đã phối hợp với nhiều bộ, ngành từ cấp trung ương đến địa phương tham gia vào việc quy hoạch, xây dựng và quản lý các công trình cấp nước sạch cho khu vực nông thôn như: Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp, Bộ Tài nguyên nước, Cục bảo vệ môi trường Nhà nước…

+ Ủy ban Cải cách và Phát triển chịu trách nhiệm phê chuẩn các quy hoạch quốc gia trong đó có quy hoạch về đảm bảo nước sạch ở khu vực nông thôn;

+ Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến cấp ngân sách, cấp vốn và quản lý các khoản vay nước ngoài liên quan đến vấn đề cấp nước sạch ở khu vực nông thôn;

+ Bộ Hợp tác kinh tế và ngoại thương chịu trách nhiệm quản lý các dự án tài trợ song phương cũng như đa phương;

+ Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm quản lý hạ tầng cấp nước ở cả khu vực thành thị và nông thôn;

+ Bộ Nông nghiệp có trách nhiệm trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, đồng thời hỗ trợ cho việc xây dựng các hệ thống cấp nước sạch cho khu vực nông thôn;

Trang 24

+ Bộ Tài nguyên nước chịu trách nhiệm quản lý các chương trình phát triển nguồn nước; quản lý hệ thống cấp nước sạch ở những vùng nông thôn thiếu nước trầm trọng;

+ Ủy ban bảo vệ môi trường quốc gia chịu trách nhiệm tăng cường bảo vệ nguồn nước cũng như chất lượng nước;

+ Bộ Y tế chịu trách nhiệm dự thảo các kế hoạch, chương trình trung và dài hạn; hướng dẫn thực hiện giám sát, kiểm tra, đánh giá chất lượng nước; chủ trì các cuộc hội thảo liên quan đến cấp nước sạch nông thôn;

+ Ủy ban Chiến dịch y tế địa phương chịu trách nhiệm tổ chức, điều phối hệ thống cấp nước sạch nông thôn dưới sự chỉ đạo của Ủy ban chiến dịch y tế trung ương và chính quyền địa phương;

+ Các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương giám sát việc thực hiện các dự án cấp nước sạch nông thôn đồng thời đảm bảo thực hiện tốt các chỉ thị và

kế hoạch do Chính phủ và Ủy ban chiến dịch y tế quốc gia đề ra;

- Hợp tác công tư (PPP)

Trong những năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong công tác cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, một trong những yếu tố tạo nên sự thành công đó là mô hình hợp tác công – tư (PPP) giữa Nhà nước, Chính phủ với các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân Trong mô hình nói trên, Nhà nước hoặc Chính phủ sẽ hỗ trợ về cơ sở hạ tầng (cấp đất để xây dựng nhà xưởng…); đưa ra các chính sách ưu đãi về thuế, giá đầu vào (ưu đãi giá điện…); đảm bảo nguồn thu cho các tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân tham gia vào quá trình cấp nước sạch ở khu vực nông thôn Các tổ chức, doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm xây dựng, giám sát, duy trì hệ thống cấp nước sạch Hình thức hợp tác công tư được sử dụng phổ biến là BOT (xây dựng – hoạt động và chuyển giao)

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn ít nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực cấp nước sạch ở khu vực nông thôn nhưng đây được coi là điểm khởi đầu và có tác động tích cực tới sự phát triển của lĩnh vực này

- Quản lý chất lượng nước

Trung Quốc đã thiết lập hệ thống phân loại chất lượng nước dựa trên mục đích sử dụng, mục tiêu bảo tồn và Tiêu chuẩn chất lượng môi trường GB3838-2002, cụ thể là:

Trang 25

+ Mức I: nguồn nước dự trữ và bảo tồn;

+ Mức II: nguồn nước được sử dụng trong sinh hoạt (loại A); nuôi các loại thủy sản quý hiếm;

+ Mức III: nguồn nước được sử dụng trong sinh hoạt (loại B); nuôi các loại thủy sản thông thường;

+ Mức IV: nguồn nước phục vụ cho sản xuất công nghiệp;

+ Mức V: nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp;

+ Mức VI: nguồn nước ô nhiễm (không thể sử dụng được)

Dựa trên những mức phân loại nói trên, các cơ quan giám sát chất lượng nước cấp quốc gia cũng như địa phương thường xuyên thực hiện việc giám sát tại các lưu vực sông ở các khu vực bị ô nhiễm nặng như lưu vực sông ở phía Bắc và Tây Bắc Trung Quốc

Bên cạnh đó, để bảo vệ nguồn nước, Chính phủ Trung Quốc cũng đã đưa ra một loạt chính sách như: ban hành hệ thống thuế ô nhiễm ; Luật chống ô nhiễm nguồn nước (ban hành năm 1984) sửa đổi bổ sung năm 1996

Từ những kinh nghiệm của Trung Quốc có thể rút ra một số bài học góp phần giúp Việt Nam thực hiện thành công việc quản lý cấp nước sạch cho người dân ở khu vực nông thôn như sau:

Một là, xây dựng kế hoạch và các chương trình hành động thúc đẩy việc

cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn Công tác lập kế hoạch và các chương trình hành động theo từng giai đoạn và gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc được coi là một trong những thành công trong quá trình thực hiện mục tiêu cung cấp nước sạch ở khu vực nông thôn Mỗi giai đoạn thực hiện đều có mục tiêu và phương án khác nhau, tùy thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội Kinh nghiệm của các nước đã chỉ rõ đi đôi với việc xây dựng các chương trình hành động phải đảm bảo nguồn tài chính bền vững nhằm thực hiện hoàn chỉnh các kế hoạch đã

đề ra Nguồn tài chính được huy động từ nhiều nguồn như ngân sách nhà nước, từ các tổ chức xã hội trong và ngoài nước, sự đóng góp của nhân dân…

Hai là, phân cấp, xác định rõ trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền

và các ngành từ trung ương đến địa phương Hiện nay, việc phân cấp trách nhiệm

Trang 26

trong vấn đề cung cấp nước sạch ở khu vực nông thôn vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, nhiều lúc trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp chính quyền còn chồng chéo dẫn đến hiệu quả không như mong đợi Việc phân trách nhiệm rõ ràng tới từng bộ, ngành của Trung Quốc, trong đó Chính phủ và Nhà nước chỉ đạo trực tiếp và các bộ, ngành, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương thực hiện những nhiệm vụ, trách nhiệm được giao là kinh nghiệm đáng để chúng ta học tập và áp dụng

Ba là, bảo tồn nguồn nước và quản lý chất lượng nước Trước thực trạng

nguồn nước ngày càng cạn kiệt và bị ô nhiễm nghiêm trọng do các loại hóa chất độc hại thải ra trong quá trình sản xuất công nghiệp cũng như dư lượng hóa chất (thuốc trừ sâu, bảo vệ thực vật…) trong sản xuất nông nghiệp, Việt Nam cần xem xét học tập kinh nghiệm của Trung Quốc trong vấn đề bảo tồn, quản lý chất lượng nước ở khu vực nông thôn Chẳng hạn như, Chính phủ Việt Nam lập ra các cơ quan quản lý chất lượng nước; thành lập các phòng thí nghiệm ở từng địa phương để kiểm tra chất lượng nước định kỳ, nếu chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn thì sẽ lên phương án xử lý Bên cạnh đó, việc đưa ra một số chế tài phòng, xử lý các vi phạm liên quan đến nguồn nước như Luật chống ô nhiễm nguồn nước, hệ thống thuế ô nhiễm… của Trung Quốc cũng đáng để Việt Nam tham khảo và áp dụng vào thực tiễn trong nước

Bốn là, hợp tác công – tư (PPP) Trong thời gian tới đây, cùng với việc tăng

dân số, công nghiệp hóa- hiện đại hóa ngày càng cao nhu cầu sử dụng nước trong sản xuất cũng như sinh hoạt của người dân ở khu vực nông thôn sẽ tăng đáng kể

Do đó, nguồn lực của Nhà nước sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu với khoảng thiếu hụt lớn giữa khả năng đầu tư của Nhà nước và nhu cầu thực tế sử dụng nước Kinh nghiệm thực tiễn của Trung Quốc cho thấy, để hoàn thành tốt mục tiêu cấp nước sạch cho khu vực nông thôn trong khi nguồn lực của Nhà nước có hạn thì việc áp dụng mô hình PPP là vô cùng hiệu quả

Trong những năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong công tác cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, một trong những yếu tố tạo nên sự thành công đó là mô hình hợp tác công – tư (PPP)

Trang 27

giữa Nhà nước, Chính phủ với các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân Trong mô hình nói trên, Nhà nước hoặc Chính phủ sẽ hỗ trợ về cơ sở hạ tầng (cấp đất để xây dựng nhà xưởng…); đưa ra các chính sách ưu đãi về thuế, giá đầu vào (ưu đãi giá điện…); đảm bảo nguồn thu cho các tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân tham gia vào quá trình cấp nước sạch ở khu vực nông thôn Các tổ chức, doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm xây dựng, giám sát, duy trì hệ thống cấp nước sạch Hình thức hợp tác công tư được sử dụng phổ biến là BOT (xây dựng – hoạt động và chuyển giao)

Bên cạnh đó, để bảo vệ nguồn nước, Chính phủ Trung Quốc cũng đã đưa ra một loạt chính sách như: Ban hành hệ thống thuế ô nhiễm; Luật chống ô nhiễm nguồn nước (ban hành năm 1984) sửa đổi bổ sung năm 1996

1.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý nước sinh hoạt của Indonesia

Trong những năm 1980, Indonesia tập trung vào những giải pháp kỹ thuật giải quyết nhu cầu cấp bách cho vấn đề cung cấp nước và vệ sinh cho nông thôn theo cách truyền thống, theo phương pháp kế hoạch hoá từ cấp cao (trung ương) đến cấp thấp (địa phương)

Đến năm 1990, Indonesia đã phát hiện phương pháp kế hoạch hoá từ trên xuống dưới không hiệu quả và nhiều hệ thống cấp nước không được sử dụng hoặc bảo dưỡng kém Chính phủ đã quyết định chuyển giao trách nhiệm dần cho cấp tỉnh

và địa phương thực hiện, vận hành và bảo dưỡng gắn với sử dụng trong đó sự tham gia của người dân đóng vai trò quan trọng

Ví dụ về thực hiện các dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn của Ban cấp nước CARE tại 4 tỉnh ở Indonesia đã thay đổi rõ rệt kể từ khi bắt đầu công việc tại nước này Ban đầu, CARE kiểm soát và quản lý tất cả các giai đoạn của các dự án Tuy nhiên, sau một thời gian người ta nhận thấy rằng nếu không có sự tham gia của cộng đồng vào việc kiểm soát và chịu trách nhiệm về tài chính và quản lý các hệ thống cấp nước thì không thể có được sự bền vững Các dự án sau đó, bao gồm cả dự án hiện nay về cấp nước và

vệ sinh dựa trên sự tài trợ của cộng đồng, tập trung vào nhu cầu của cộng đồng và coi đó

là tiêu chuẩn lựa chọn chủ yếu với sự kiểm soát được chuyển cho cộng đồng

Một chỉ thị quan trọng của sự thành công của phương pháp tiếp cận mới là dịch chuyển trong nguồn đóng góp tiền mặt trong thời kỳ hơn 11 năm, 1979-1990 Các cộng đồng đã cung cấp tất cả những đóng góp tiền mặt cho xây dựng các công trình đối với hơn ¾ của các dự án Thêm vào đó là nhiều cộng đồng được CARE hỗ

Trang 28

trợ đó giúp các cộng đồng lân cận xây dựng các hệ thống cấp nước của họ (Trung tâm Quốc gia nước sạch & VSMTNT, 2010)

Chiến lược thực thi dự án gồm 6 giai đoạn:

- Lựa chọn cộng đồng: Phối hợp chọn các huyện có tiềm năng, tuyên truyền về

dự án, và tiếp xúc với các lãnh đạo địa phương Tổ chức các cuộc họp với các cộng đồng được lựa chọn để giải thích và thảo luận chi tiết về các điều kiện của dự án Thành lập hội đồng và thương thuyết, ban này sẽ thảo luận với chính quyền và

CARE về trách nhiệm của họ

- Lập kế hoạch: Ban này sẽ thiết kế và tính toán giá thành của hệ thống cấp nước sau đó họ sẽ đệ trình các thiết kế và các kế hoạch này cho cộng đồng, chính phủ và CARE sẽ ký kết một hợp đồng chính thức

- Thực hiện: CARE đào tạo nhân lực cho ban công tác về nước về kế toán và

các hệ thống kiểm soát, xây dựng các điều kiện thuận lợi cho công việc Phương

pháp phổ biến để huy động tiền mặt từ bên ngoài là tín dụng từ những nhà cung cấp đường ống và các ngân hàng địa phương

- Vận hành và bảo dưỡng: Ban vận hành và bảo dưỡng công trình này sẽ xây

dựng ngân sách, hệ thống kế toán và kế hoạch đào tạo CARE cung cấp việc đào tạo

Trang 29

phức tạp làm suy giảm nghiêm trọng rừng phòng hộ đầu nguồn đã làm xuất hiện nguy cơ cạn kiệt nguồn nước

- Tình hình sử dụng nguồn nước: Phần lớn các hộ dân sử dụng 2 nguồn nước, một nguồn dùng để ăn uống thường là nước mưa và một nguồn để tắm giặt Các hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung bằng đường ống dùng cho xã, liên xã chưa phổ biến.các hộ thường có công trình riêng như giếng đào, bể chứa nước mưa

- Chất lượng nước nói chung không đạt tiêu chuẩn hợp vệ sinh, một số vùng còn thiếu cả nước dùng cho sinh hoạt với số lượng tối thiểu chứ chưa nói đến chất lượng nước như: vùng bị nhiễm mặn ở ven biển, hải đảo, vùng núi cao, các vùng sâu vùng xa, vùng biên giới và trong thời gian gần đây là vùng bị hạn hán như Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Cao Bằng, Hà Giang

- Tình hình đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước ở nước ta

Từ năm 2000, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn với mục tiêu đến năm 2020: Tất cả cư dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60lits/ người/ ngày, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và thực hiện vệ sinh cá nhân, giữ sạch vệ sinh môi trường làng, xã Trong đó: Chương trình là công cụ để thực hiện chiến lược quốc gia Chương trình đã thực hiện qua 02 giai đoạn: 2000-2005, 2006-2010

Ngày 31/3/2012, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình MTQG Nước sạch

và VSMTNT giai đoạn 2012-2015 tại quyết định số 366/QĐ-TTg với mục tiêu đến hết năm 2015 đảm bảo : 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước đạt tiêu quy chuẩn QCVN 02-BYT với số lượng ít nhất là 60 lít/ người/ ngày

Theo báo cáo của Trung tâm nước sạch và VSMT NT Quốc gia, kết quả thực hiện chương trình nước sạch và VSMTNT đến năm 2014 thể hiện tại bảng sau:

Bảng 1.1: Tỷ lệ dân số nông thôn trong toàn quốc được CNSH

tính

Mục tiêu theo QĐ

- Lũy tích tỷ lệ dân nông thôn được

(Nguồn: Trung tâm Quốc gia nước sạch và VSMT nông thôn, năm 2014)

Trang 30

- Tình hình huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng công trình

Tổng kinh phí huy động thực hiện chương trình 2012-2014 đạt 75,6% so với quyết định 366/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Trong đó cơ cấu nguồn vốn 2012-2014 như sau: Ngân sách trung ương chiếm 11,5% thấp hơn so với quyết định

366 ( 14,9%); ngân sách địa phương chiếm 8,1% thấp hơn so với quyết định 366 ( 11,2%); Viên trợ quốc tế 18,5% thấp hơn so với quyết định 366 ( 29,7%); Dân đóng góp 7,2% thấp hơn sơ với quyết định 366 ( 11,2%) và vốn vay tín dụng chiếm 53,5% cao hơn so với quyết định 366 (33,0%)

Bảng 1.2: Kết quả huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình CNSH

( Nguồn Trung tâm Quốc gia nước sạch và VSMTNT, năm 2014)

- Tình hình quản lý khai thác hệ thống cấp nước nông thôn ở nước ta

Theo tổng hợp báo cáo, toàn quốc hiện có khoảng 15.093 công trình cấp nước tập trung với các mô hình quản lý khác nhau: Cộng đồng 48%; Trung tâm Nước sạch & VSMTNT tỉnh 19%; Tư nhân 11%; UBND xã 12%; Doanh nghiệp 5%; Hợp tác xã 3% và Ban quản lý 2% Kết quả về tính bền vững của các công trình như sau:

Trang 31

Bảng 1.3: Tổng hợp tình hình quản lý khai thác các công trình trên toàn quốc

Không hoạt động

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

(Nguồn: Trung tâm quốc gia nước sạch và VSMTNT, năm 2014)

Qua số liệu báo cáo cho thấy mức độ bền vững của các công trình của các vùng miền khác nhau, tỷ lệ công trình hoạt động kém và không hoạt động chủ yếu ở các tỉnh vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên Đồng thời, các công trình hoạt động kém hiệu quả chủ yếu thuộc các công trình thuộc vùng miền núi, vùng sâu vùng xa từ nhiều nguồn vốn đầu tư có quy mô nhỏ,

từ 30 - 100 hộ do UBND xã và cộng đồng quản lý

1.2.2.1 Kinh nghiệm về quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn ở Hải Dương

Thực hiện xã hội hóa đầu tư cấp nước sạch vùng nông thôn, đến nay, tỉnh Hải Dương có 67% số dân nông thôn với 206/229 xã được dùng nước sạch; phấn đấu cấp nước sạch đến các xã còn lại vào cuối năm nay

Xác định nước sạch là tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, năm 2010, Tỉnh ủy Hải Dương ban hành Nghị quyết số 15, phấn đấu đến hết năm

2013, sẽ có 93% số dân nông thôn trong tỉnh được dùng nước hợp vệ sinh, trong đó 55% được dùng nước sạch; bình quân 97,1% số công trình công cộng, nhà trẻ, trạm

y tế, trường học được sử dụng nước sạch Làm thế nào để thực hiện được mục tiêu này trong khi ngân sách tỉnh có hạn, các doanh nghiệp không mặn mà, bởi địa bàn

Trang 32

nông thôn rộng, dân cư thưa, không ít người dân vẫn quen dùng nước chưa hợp vệ sinh (nước giếng khoan, nước mưa sau lắng lọc) Bằng nhiều giải pháp, nhất là áp dụng chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi để các thành phần kinh tế cùng tham gia, Hải Dương đã xã hội hóa hiệu quả việc cấp nước sạch cho vùng nông thôn Hiện 206/229 xã với 67% số dân nông thôn trong tỉnh được dùng nước sạch Trong

đó, Công ty TNHH một thành viên Kinh doanh nước sạch Hải Dương cấp cho 64

xã, Công ty Cổ phần Nước sạch và Vệ sinh nông thôn cấp cho 42 xã, các trạm cấp nước đầu tư từ chương trình mục tiêu quốc gia cấp cho 63 xã, các doanh nghiệp tư nhân cấp cho 37 xã Để khắc phục tình trạng nước mặt sông nội đồng bị ảnh hưởng

do cạn kiệt và ô nhiễm, các doanh nghiệp đã chuyển đổi khai thác, thay thế việc nước sông nội đồng qua lấy từ các sông Thái Bình, sông Kinh Thày, sông Luộc hoặc nâng cấp, hiện đại dây chuyền, công nghệ xử lý Việc sản xuất nước sạch, lấy mẫu xét nghiệm, đều có sự quản lý, giám sát chặt chẽ của Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh

Đến Cẩm Hoàng, xã xa nhất của huyện Cẩm Giàng chín năm trước, xã này được đầu tư một trạm cấp nước lấy từ sông nội đồng, Công ty (lúc đó là HTX Điện Cẩm Hoàng) nhận lại của UBND xã để khai thác, phục vụ nhân dân, sau một năm thì nguồn nước bị ô nhiễm nặng Năm 2009, HTX chi gần hai tỷ đồng để khoan hai giếng 150 m và 200 m, lắp đặt ống dẫn nhưng cũng chỉ được vài tháng là nước nhiễm mặn Hai năm trước, họ phải mua buôn nước sạch của Công ty TNHH một thành viên Kinh doanh nước sạch Hải Dương, nay cấp ổn định cho gần 2.000 hộ trong và ngoài xã, với giá 6.600 đồng/m 3nước sinh hoạt và 10.300 đồng/m 3nước sản xuất

Công ty TNHH một thành viên Kinh doanh nước sạch Hải Dương đang quản

lý 26 nhà máy và trạm phục vụ cấp nước 24/24 cho hơn 71 nghìn hộ dân ở 51 xã thuộc 11 huyện trong tỉnh (chiếm tới hơn 53% tổng số hộ dân nông thôn của tỉnh được dùng nước sạch) Hiện nay Nhà máy sản xuất nước sạch Việt Hòa của công ty

đã được cải tạo, nâng sản lượng cấp nước của Nhà máy từ 10.200 m3 /ngày đêm lên hơn 30.000 m 3/ngày đêm, Xí nghiệp không những bảo đảm cấp nước cho cư dân

Trang 33

phía tây thành phố Hải Dương mà còn chủ động cấp thường xuyên cho hầu hết các

xã của huyện Bình Giang và Cẩm Giàng, cấp đến một số khu công nghiệp và cụm công nghiệp

Được biết, năm 2010, sau khi tham gia nghiên cứu, xây dựng quy hoạch cấp nước trên địa bàn toàn tỉnh, công ty tập trung hoàn thành các dự án ORET, WB; cải tạo, nâng công suất cấp nước lên gấp ba, bốn lần ở những nhà máy hiện có; xây dựng các nhà máy tập trung có công suất lớn; lấy nước nguồn từ các sông có trữ lượng dồi dào, tốc độ dòng chảy cao để sản xuất Đồng thời nâng cấp các trạm cấp nước công suất nhỏ thành những trạm bơm tăng áp, lắp đặt hệ thống truyền tải liên vùng, đấu nối bán buôn nước sạch về khu vực nông thôn theo "chuỗi" Nhờ đó việc phục vụ nước sản xuất, mở rộng dịch vụ cấp nước trên địa bàn nông thôn của Hải Dương ngày càng được tốt hơn

Công ty đã tự nghiên cứu và ứng dụng thành công việc quản trị tự động hoàn toàn hệ thống cấp nước Nhờ việc lắp các van thông minh tại các nhánh đầu nguồn, công ty luôn cập nhật chính xác các thông tin về lưu lượng, áp lực và chất lượng nước ở từng vị trí, từ đó kịp thời điều chỉnh cấp nước từng nơi, bảo đảm phù hợp, đồng đều Được biết, ứng dụng này đã được chia sẻ với nhiều đơn vị, bởi tiết kiệm đáng kể chi phí sản xuất, quản lý, bảo đảm an toàn đường ống, chất lượng nước thương phẩm và uy tín với khách hàng

1.2.2.2 Kinh nghiệm quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn tại tỉnh Thái Bình

Thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, từ năm 1998 đến hết tháng 12/2015, tỉnh Thái Bình đã đầu tư 152,573 tỷ đồng xây dựng 46 công trình, có tổng công suất 20.520 m3 nước/ngày đêm Trong đó, 33 công trình đang hoạt động cấp nước sạch cho 37 xã, 2 trường học và 1 bệnh viện

Từ nguồn vốn của Ngân hàng Thế giới (WB), tính đến tháng 12/2015, toàn tỉnh đã hoàn thành 20 công trình, với tổng công suất 24.700 m3 nước/ngày đêm, tổng vốn đầu tư trên 463 tỷ đồng, cung cấp nước sạch cho 50 xã, thuộc 7 huyện

Tuy nhiên, các công trình này có quy mô nhỏ lại sử dụng nguồn nước nhiễm mặn và nhiễm sắt, nên chất lượng, hiệu quả cấp nước chưa cao, tỷ lệ thất thoát nước lớn (khoảng 25%)

Trang 34

Bên cạnh đó, từ năm 2000 đến 2011, các doanh nghiệp đã đầu tư 4 công trình phục vụ cấp nước sạch cho 6.880 hộ dân, đạt hiệu quả cao, đảm bảo tính bền vững,

9 công trình nước sạch được đầu tư từ nguồn vốn đề tài khoa học của các bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Quốc phòng Trong đó, 3 công trình đang hoạt động, nhưng hiệu quả chưa cao do gặp khó khăn về nguồn nước, 4 công trình ngừng hoạt động do không bố trí được kinh phí sửa chữa và 1 công trình đang xây dựng

Trước tình hình cung cấp nước sạch chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng tăng của người dân, đáp ứng tiêu chí xây dựng nông thôn mới, ngày 2/8/2012, thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh, UBND tỉnh Thái Bình đã ban hành Quyết định số 12/2012/QĐ-UBND về chính sách khuyến khích đầu tư và quản

lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn giai đoạn 2012 - 2015

Sau hơn 3 năm ra đời và đi vào cuộc sống, cơ chế này đã khẳng định tính đúng đắn, thu hút được 20 doanh nghiệp đăng ký đầu tư xây dựng 23 công trình nước sạch, với tổng công suất 138.350 m3/ngày đêm, tổng vốn đầu tư 1.384,311 tỷ đồng, cấp nước cho gần 1 triệu dân của 137 xã khu vực nông thôn

Đến nay, đã có 5 công trình đi vào hoạt động, 13 công trình đang xây dựng, trong đó có một số dự kiến cấp nước ngay trong năm 2016, 5 công trình đang triển khai các thủ tục đầu tư Hiện các nhà đầu tư đang tích cực đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu đến năm 2015, tất cả các công trình được đưa vào hoạt động

Tập trung vào 3 giải pháp lớn:

Để thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2015 hoàn thành mục tiêu 100%

xã trên địa bàn có nước sạch, Thái Bình đang tập trung hoàn thành vào các giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực đầu tư, quản lý, khai thác, kinh doanh các công trình nước sạch nông thôn để thu hút các doanh nghiệp, người dân tham gia;

Thứ hai, thực hiện tái cấu trúc đầu tư đối với công trình cấp nước đã và đang xây dựng bằng nguồn vốn Chương trình Mục tiêu quốc gia và nguồn vốn vay WB, bằng cách chuyển đổi mô hình quản lý theo hướng chuyển giao cho doanh nghiệp

Trang 35

ngoài Nhà nước tiếp nhận và khai thác để phát huy hiệu quả đầu tư cũng như chất lượng sản phẩm;

Thứ ba, tỉnh tiếp tục tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về các thủ tục hành chính để nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án, nhất là các thủ tục liên quan đến đất đai, đê điều, khai thác nước mặt và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình tổ chức thi công các công trình nước sạch

Ông Trần Xuân Thành, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Bình cho biết, Chương trình Nước sạch nông thôn của Thái Bình đã thu hút được các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, từng bước hình thành thị trường kinh doanh nước sạch ở khu vực nông thôn; thu hút đông đảo các hộ dân tham gia, cam kết sử dụng nước sạch, thay đổi thói quen dùng nước mưa, giếng khoan Đặc biệt, các hộ nghèo cũng dần được tiếp cận nguồn nước sạch; từ đó, chất lượng cuộc sống người dân vùng nông thôn được cải thiện, sức khỏe được nâng cao, góp phần xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững

Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp tham gia đầu tư các công trình cấp nước nông thôn ở nông thôn ngày càng được khẳng định

Chỉ sau hơn 3 năm ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư, Thái Bình đã thu hút được 20 doanh nghiệp đầu tư xây dựng 23 công trình cung cấp nước sạch cho

137 xã, với gần 1 triệu người dân Với đà này, tỉnh phấn đấu đến hết năm 2015, tất

cả các xã trên địa bàn được cung cấp nước sạch

1.2.2.3 Kinh nghiệm quản lý cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn tại tỉnh Bắc Ninh

Được sự quan tâm đầu tư của Trung ương và tỉnh, nhiều công trình cung cấp nước sạch tập trung cho khu vực nông thôn tỉnh Bắc Ninh hoàn thành, đưa vào sử dụng, góp phần nâng cao tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch, cải thiện sức khỏe cộng đồng

Tuy nhiên, do chưa có sự quan tâm đúng mức đến mô hình quản lý, vận hành sau đầu tư, hoặc sự lựa chọn mô hình quản lý vận hành sau đầu tư chưa thực sự phù hợp dẫn đến hiệu quả hoạt động của các công trình cung cấp nước sạch nông thôn còn hạn chế Từ năm 2010 đến nay, Trung tâm Nước sạch & Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bắc Ninh trực tiếp quản lý vận hành sau đầu tư đối với một số công

Trang 36

trình, bước đầu khẳng định hiệu quả tích cực trong cung cấp nước sạch đến người dân nông thôn

Đến hết tháng 12/2015, toàn tỉnh đầu tư xây dựng 46 công trình cung cấp nước sạch nông thôn, trong đó 39 công trình hoàn thành, đưa vào sử dụng và 7 công trình đang triển khai thi công Các công trình hoàn thành, đưa vào sử dụng tại các

xã, cung cấp lượng nước sinh hoạt đạt quy chuẩn 02 của Bộ Y tế cho 50% dân số nông thôn, nâng tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng các nguồn nước hợp vệ sinh lên hơn 98%

Từ năm 2010 trở về trước, hầu hết các công trình cấp nước sạch tập trung đều được bàn giao lại cho UBND xã, thôn quản lý và vận hành theo mô hình Ban hoặc Tổ quản lý vận hành gồm 3-5 người Ưu điểm của mô hình này là quản lý, bảo

vệ thuận lợi, việc tuyên truyền, vận động và giải đáp thắc mắc cho người dân kịp thời, quá trình thu tiền sử dụng nước thuận lợi, đơn giá bán nước thấp do chỉ bao gồm tiền chi trả lương, điện, hoá chất và các vật tư xử lý, sửa chữa nhỏ nên phù hợp với thu nhập thấp của người dân nông thôn

Trên thực tế mô hình này cũng bộc lộ nhiều hạn chế như: Không được xét nghiệm, kiểm tra và giám sát của cơ quan chuyên môn về chất lượng nước; Tổ chức hoạt động và quyền tự chủ về tài chính không rõ ràng; Quyền lợi và trách nhiệm của ban quản lý vận hành không cụ thể; Kinh phí hoạt động không được hạch toán độc lập; Hầu hết công nhân quản lý, vận hành chưa qua đào tạo chuyên môn; Thiếu công

cụ và phương tiện kiểm tra, xử lý các sự cố xảy ra trong quá trình vận hành; Mức lương công nhân thấp (trung bình 1,5 triệu đồng/ người/tháng) nên không gắn bó trách nhiệm, khuyến khích công nhân học tập nâng cao tay nghề; Giá bán nước thấp, nên thu hồi vốn đầu tư khó thực hiện, không khuyến khích được các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác đầu tư vốn vào các dự án cấp nước sạch nông thôn…

Tìm hiểu thực tế tại công trình cung cấp nước sạch tập trung thôn Quan Độ,

xã Văn Môn, một trong những công trình do địa phương quản lý, vận hành được biết, với giá bán nước hiện nay 4.000 đồng/m3 mỗi tháng doanh thu của Trạm đạt khoảng 27-28 triệu đồng, trong khi chi phí hóa chất, điện, lương cho công nhân vận

Trang 37

hành khoảng 25 triệu đồng Do không có kinh phí nên nhiều năm nay, Trạm chưa được duy tu, bảo dưỡng mặc dù hầu hết các thiết bị đều xuống cấp

Khắc phục những hạn chế đó, Trung tâm Nước sạch & Vệ sinh môi trường nông thôn thành lập Ban quản lý công trình sau đầu tư có nhiệm vụ quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các công trình cấp nước tập trung Đến nay, mô hình quản lý vận hành này đang được Trung tâm áp dụng tại 11 công trình cấp nước sinh hoạt thuộc các xã: An Bình, Song Hồ (Thuận Thành), Tân Chi, Cảnh Hưng, Tri Phương- Hoàn Sơn (Tiên Du), Văn Môn, Tam Giang-Đông Thọ (Yên Phong), Xuân Lai-Đại Lai (Gia Bình), Phù Lãng (Quế Võ), Phú Hòa (Lương Tài) Có thể khẳng định đây là mô hình có ưu điểm hơn mô hình quản lý cũ về tính ổn định, chuyên nghiệp; Có nhiều điều kiện thuận lợi để cải tiến công nghệ, nâng cấp thiết bị và kiểm tra chất lượng nước; Được trang bị đầy đủ công cụ và phương tiện kiểm tra, xử lý kịp thời sự cố xảy ra trong quá trình vận hành; Chất lượng nước được xét nghiệm định kỳ tại Phòng xét nghiệm nước của Trung tâm Nước sạch & Vệ sinh môi trường nông thôn, chịu sự giám sát của người dân và các cơ quan chuyên môn; Công tác duy tu bảo dưỡng được thực hiện thường xuyên, máy móc thiết bị được bảo dưỡng định kỳ;

có định mức chi phí sản xuất và bảo dưỡng hệ thống đường ống…

Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch & vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2011- 2015, tầm nhìn 2020, tỉnh Bắc Ninh đề ra mục tiêu đến hết năm 2016 nâng tỷ lệ dân số nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 100%, trong đó 70% trở lên được sử dụng nước sinh hoạt đạt quy chuẩn 02 của Bộ Y tế

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, bên cạnh sự tăng cường đầu tư của Nhà nước, tỉnh trong xây dựng các công trình cung cấp nước tập trung để khuyến khích sự tham gia của nhân dân và các thành phần kinh tế vấn đề quan trọng là phải thay đổi mô hình vận hành theo hướng bàn giao các công trình cho Trung tâm quản lý nhằm khai thác

Trang 38

phát triển nông nghiệp và nông thôn Bên cạnh đố chú trọng liên kết, lồng ghép các Chương trình, dự án phát triển nông thôn với các dự án cụ thể để thực hiện mục tiêu cấp nước sinh hoạt và VSMTNT

+ Thực hiện đồng bộ các giải pháp về công nghệ, tài chính và thông tin giáo dục truyền thông mang lại chất lương, hiệu quả và sự bền vững của các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thô

+ Quy hoạch là công cụ quan trọng để thực hiện công tác quản lý nước sinh hoạt Vì vậy phải luôn luôn coi trọng công tác lập quy hoạch, rà soát lại các quy hoạch CNS & VSMTNT không chỉ ở cấp tỉnh, mà cần triển khai quy hoạch đến cấp huyện, xã Sự tham gia đầy đủ của cộng đồng gắn với thực hiện cơ chế dân chủ trong việc lập kế hoạch, triển khai thực hiện, quản lý và giám sát xây dựng là nền tảng vững chắc để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các công trình cấp nước

và vệ sinh nông thôn

+ Đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực đầu tư, quản lý, khai thác, kinh doanh các công trình nước sạch nông thôn để thu hút các doanh nghiệp, người dân tham gia;

+ Tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về các thủ tục hành chính để nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án, nhất là các thủ tục liên quan đến đất đai, đê điều, khai thác nước mặt và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình tổ chức thi công các công trình nước sạch

Trang 39

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Có các mô hình quản lý cấp nước sinh hoạt nông thôn nào?

- Thực trạng quản lý các mô hình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay ra sao? Mô hình quản lý còn tồn tại những hạn chế gì?

- Giải pháp nào nhằm phát triển mô hình quản lý trạm cấp nước sinh hoạt tập

trung nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời gian tới?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

+ Sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu của các chuyên gia, các nhà

khoa học, thông tin trên các Website của các đơn vị, tổ chức có liên quan đến nước sinh hoạt

2.2.1.2 Thông tin sơ cấp

Tiến hành xây dựng hệ thống chỉ tiêu điều tra cho các loại phiếu điều tra,

cụ thể cho các nhóm đối tượng hộ gia đình và cơ quan thực hiện quản lý nước

sinh hoạt

+ Đối với các mô hình quản lý, tác giả tập trung điều tra, thu thập số liệu của

toàn bộ 22 trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn

+ Đối với cán bộ công nhân, quản lý vận hành: Xác định quy mô mẫu theo công thức tính quy mô mẫu của Linus Yamane:

Trang 40

* 1 ( N e2

N n

Trong đó:

n: quy mô mẫu

N: kích thước của tổng thể N = 148 (tổng số cán bộ công nhân quản lý vận hành tại các trạm cấp nước năm 2015 là 148 người)

Chọn khoảng tin cậy là 90%, nên mức độ sai lệch e = 0,1

Ta có: n = 148/ ( 1 + 148 * 0,12) = 59,67=> quy mô mẫu: 60 mẫu ( 60 phiếu

Như vậy tổng số phiếu điều tra là: 180 phiếu

Bảng 2.1: Bảng điều tra

TT Đối tượng điều tra Số lượng Nội dung điều tra

01 - Người sử dụng nước 120 người - Gia đình có sử dụng nước máy không

- Chất lượng nước

- Khả năng chi trả

- Có quan tâm đến việc cần phải sử dụng nước sạch, nước HVS vào sinh hoạt hàng ngày không

- Đã tham dự vào các lớp tập huấn về nước sạch và VSMTNT chưa ?

02 - Cán bộ công nhân,

quản lý vận hành

60 người - Trình độ học vấn, chuyên môn của

CB công nhân quản lý

- Công suất khai thác

- Chu kỳ kiểm tra chất lượng nước

- Số lượt kiểm tra, sửa chữa, bảo dưỡng trạm cấp nước trong 1 năm

- Tỷ lệ thất thoát nước

- Thu nhập bình quân hàng tháng của cán bộ, công nhân quản lý vận hành

Ngày đăng: 15/05/2021, 23:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2014), Báo cáo kết quả tình hình thực hiện Chương trình MTQG nước sạch & VSMT nông thôn giai đoạn 2012 – 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả tình hình thực hiện Chương trình MTQG nước sạch & VSMT nông thôn giai đoạn 2012 – 2015
Tác giả: Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Năm: 2014
2. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 88/2012/TT-BTC ngày 28/5/2012 về việc ban hành khung giá tiêu thụ nước sinh hoạt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 88/2012/TT-BTC ngày 28/5/2012 về việc ban hành khung giá tiêu thụ nước sinh hoạt
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
3. Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 54/2013/TT-BTC ngày 04/5/2013 quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác các công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 54/2013/TT-BTC ngày 04/5/2013 quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác các công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
4. Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp & PTNT (2012), Thông tư liên tịch số 75/TTLT-BTC-BXD-BNNPTNT ngày 15/5/2012 hướng dẫn nguyên tắc, phương pháp xác định và thẩm quyền quyết định giá tiêu thụ nước sạch tại các đô thị, khu công nghiệp và khu vực nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 75/TTLT-BTC-BXD-BNNPTNT ngày 15/5/2012 hướng dẫn nguyên tắc, phương pháp xác định và thẩm quyền quyết định giá tiêu thụ nước sạch tại các đô thị, khu công nghiệp và khu vực nông thôn
Tác giả: Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp & PTNT
Năm: 2012
5. Bộ Y tế (2009), Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT)
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
7. Chính phủ (2009), Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg ngày 01/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg ngày 01/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
8. Chính phủ (2012), Quyết định số 366/QĐ-TTg ngày 31/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 366/QĐ-TTg ngày 31/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
9. Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên, (2012, 2013, 2014). Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên 2012, 2013,2014 Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên 2012, 2013,2014
10. Dương Văn Hiểu (2001), “Nghiên cứu mô hình chăn nuôi bò sữa ở một số vùng trọng điểm thuộc Bắc Bộ”, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu mô hình chăn nuôi bò sữa ở một số vùng trọng điểm thuộc Bắc Bộ”
Tác giả: Dương Văn Hiểu
Năm: 2001
11. Nguyễn Vũ Hoan, Trương Đình Bắc (2005), Kinh nghiệm về quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường tại Trung Quốc, Nguồnhttp://agro.gov.vn/news/chitiet_nghiencuu.aspx?id=150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm về quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường tại Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Vũ Hoan, Trương Đình Bắc
Năm: 2005
14. UBND tỉnh Hưng Yên (2011), Quyết định số 11/2011/QĐ-UBND ngày 29/6/2011 của UBND tỉnh về việc quy định cơ chế đầu tư và mô hình quản lý công trình nước sạch nông thôn tinh Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: /2011/QĐ-UBND ngày 29/6/2011 "của" UBND "tỉnh" về việc quy định cơ chế đầu tư "và
Tác giả: UBND tỉnh Hưng Yên
Năm: 2011
15. UBND tỉnh Hưng Yên (2015), Bộ chỉ số nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Hưng Yên năm 2015, Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chỉ số nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Hưng Yên năm 2015
Tác giả: UBND tỉnh Hưng Yên
Năm: 2015
6. Chính phủ (2000), Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia cấp nước và vệ sinh nông thôn đến năm 2020, Hà Nội Khác
12. Trung tâm nước SH & VSMTNT (2013,2014,2015), Báo cáo kết qủa thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và VSMTNT tỉnh Hưng Yên năm 2013,2014,2015 Khác
13. UBND tỉnh Hưng Yên (2010), Quyết định 814/QĐ-UBND ngày 15/4/2010 về việc quy định giá bán nước sạch tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w