Tình hình nghiên cứu và phát triển cây cao su ở nước ngoài Cây cao su được xem là loại cây công nghiệp quan trọng, diện tích đã Brazin: Acre, Mato Grosso, Rondonio và Parana; một phần c
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
PGS.TS LÊ QUỐC DOANH
HÀ NỘI - 2010
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian qua, sản lượng cao su thiên nhiên nước ta tăng liên tục, đưa Việt Nam trở thành một trong 5 nước đứng đầu thế giới về sản xuất cao su Năm 2007, tổng diện tích cao su cả nước là 549,7 nghìn ha (trong đó diện tích cho khai thác 373,3 nghìn ha), sản lượng ước đạt 601,7 nghìn tấn mủ khô (Tổng cục Thống kê, 2008) Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm cao su cũng liên tục tăng trong những năm qua, năm 2006 đạt 1,27 tỷ USD, năm 2007 đạt 1,4 tỷ USD và 2008 đạt 1,57 tỷ USD Chính vì vậy mà hiện nay cây cao su đang được coi là một loài cây trồng nhằm phát triển kinh tế tại nhiều địa
phương trong cả nước Trước đây cây cao su chủ yếu được trồng ở các vùng
Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Sau năm 1975 nó được phát triển ra các tỉnh Trung Trung Bộ và Bắc Trung Bộ và đến nay cây cao su tiếp tục được phát triển rộng ra các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là tại tỉnh Lai Châu
Việc phát triển trồng cây cao su tại tỉnh Lai Châu cần phải có những tính toán và cơ sở khoa học cho phù hợp Hiện nay, tỉnh đã có kế hoạch và chương trình cụ thể để trồng và phát triển cao su Tuy nhiên, đến nay còn rất
ít nghiên cứu về xác định giống và kỹ thuật canh tác ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, nên khó có thể tư vấn hoặc cung cấp những dịch vụ kỹ thuật cho các địa phương về định hướng, quy hoạch, biện pháp kỹ thuật để trồng và phát triển cao su trong vùng Để góp phần giải quyết vấn đề cấp bách trên, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xác định giống và kỹ thuật canh tác
cây Cao Su giai đoạn kiến thiết cơ bản tại tỉnh Lai Châu”
Trang 4Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Nguồn gốc, xuất sứ
Cao su (Hevea brasiliensis) vốn là cây mọc hoang dại trong lưu vực
sông Amazon - Brazil và các vùng kế cận, chính nhà thám hiểm Christopher Columbus và các thuỷ thủ khi đi khám phá các vùng đất châu Mỹ vào các năm 1493 - 1496 đã phát hiện ra chất cao su từ những quả bóng làm từ nhựa cây của thổ dân đảo Haiti Đến đầu thế kỷ 19, Brazil là nước duy nhất xuất khẩu cao su cho công nghiệp thế giới
Thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi Brasil diễn ra vào năm 1873 Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại vườn thực vật Hoàng gia Kew Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết Thử nghiệm thứ hai sau đó đã được thực hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875 Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 những cây giống đã được gửi tới Ceylon và gửi tới các vườn thực vật tại Singapore Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở các nơi bản địa của nó, cây cao su đã được nhân rộng khắp tại các thuộc địa của Anh Cây cao su có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883 Vào năm 1898, một đồn điền đã được thành lập ở Malaysia, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi
Hiện nay có 24 quốc gia trồng cao su tại 3 châu lục: Á, Phi và Mỹ La Tinh Tổng diện tích toàn thế giới khoảng 9,4 triệu ha, trong đó Châu Á chiếm 93%, Châu Phi 5%, Mỹ La Tinh quê hương của cây cao su chưa đến 2% diện tích cao su thế giới Việc mở rộng diện tích cao su vùng Nam Mỹ gặp khó khăn do bị hạn chế bởi bệnh cháy lá Nam Mỹ (SALB) Indonesia có diện tích cao su lớn nhất thế giới, tiếp theo là Thái Lan, Malaisia, Trung Quốc, Ấn Độ
Trang 5và Việt Nam Hầu hết diện tích cao su của các nước đều nằm trong vùng truyền thống trồng cao su Hiện nay, nhiều nước đang mở rộng diện tích cao
su ra ngoài vùng truyền thống như một công cụ để bảo vệ môi trường và nâng cao thu nhập của người dân
+ Hoa cao su thuộc loại đơn tính, đồng chu, thụ phấn chéo (hoa đực,
hoa cái mọc riêng rẽ trên cùng một cành)
+ Quả cao su thuộc loại quả nang, có lớp vỏ dày cứng trong có chứa các hạt, khi chín vỏ tự nứt hạt có thể tách ra ngoài
+ Hạt cao su hình trứng hơi tròn, khi chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ sừng cứng, có vân, bên trong có nhân gồm phôi nhũ và cây mầm
+ Bộ rễ cao su bao gồm rễ trụ và rễ bàng:
Trang 6 Rễ trụ dài từ 3 - 5m
Rễ bàng ăn rộng từ 4 - 6m
Bộ rễ chiếm 10 - 15% tổng sinh khối của cây; nhìn chung bộ rễ cao
su khoẻ, tái sinh sản lớn, tuy không phát triển sâu rộng như một số cây khác
Khi được nhân trồng trên sản xuất, do việc tính toán hiệu quả của cây trên việc sử dụng đất và vốn đầu tư nên cây cao su được trồng trong điều kiện khác hẳn với tình trạng hoang dại, cụ thể:
- Chu kỳ sống của cây cao su được giới hạn là từ 30 - 35 năm, chia làm 2 thời kỳ là thời kỳ kiến thiết cơ bản (5 - 7 năm tuỳ theo điều kiện sinh thái và chăm sóc) và thời kỳ kinh doanh, đây là thời gian khai thác mủ cây (từ 25 - 30 năm)
Do phải thích nghi với điều kiện sống nên kích thước và hình dáng cây cao su trong sản xuất trở nên nhỏ hơn so với cao su hoang dại, tối đa chỉ cao 25 - 30m và đạt vanh tối đa là 1,0m khi vào cuối chu kỳ khai thác
Khác với cây cao su hoang dại ở dạng cây thực sinh có thân cây hình nón với vanh thân giảm dần từ thấp lên cao, các cây cao su nhân trồng có dạng cây ghép với thân cây hình trụ có một mối ghép (chân voi) phình to ra ở ngay phía trên mặt đất và kích thước thân cây từ thấp đến cao thay đổi không
1.3 Điều kiện sinh thái
Do nguồn gốc ở vùng nhiệt đới cho nên cho nên khi nhân trồng nên chọn các vùng trồng có điều kiện phù hợp:
a) Khí hậu
Cây cao su cần nhiệt độ cao và ít biến động với nhiệt độ thích hợp nhất
Trang 7suất mủ của của cây đạt mức cao nhất, nhiệt độ mát dịu vào sáng sớm cũng giúp cây cao su cho năng suất mủ cao nhất Các vùng trồng cao su lớn hiện nay phần lớn là ở vùng khí hậu nhiệt đới
b) Lượng mưa
Cây cao su có thể trồng ở nhũng vùng đất có lượng mưa từ 1500 - 2000mm/năm, nếu lượng mưa thấp hơn thì cần phải phân bố đều trong năm, đất phải giữ nước tốt
c) Gió
Gió nhẹ 1 - 2m/s có lợi cho cây cao su vì giúp cho vườn cây thông thoáng, khi gió cấp 5 - 6 sẽ làm lá cao su xoăn lại, rách lá, chậm tăng trưởng, trồng cao su ở những nơi có gió mạnh thường xuyên, gió to, gió lốc sẽ gây hư hại cho cây, gãy cành, trốc gốc nhất là ở những vùng đất nông rễ cây cao su không phát triển sâu và rộng được
+ Cao trình: Cây cao su thích hợp với vùng đất có cao trình tương đối
thấp (dưói 600m) Càng lên cao càng bất lợi do độ cao càng tăng thì nhiệt độ càng giảm và gió mạnh Tuy nhiên hiện nay với những tiến bộ về giống có thể đưa cao trình trồng cao su lên cao hơn giới hạn cũ
Trang 8+ Độ dốc: Độ dốc đất có liên quan đến độ phì đất, đất càng dốc xói
mòn càng mạnh khiến các dinh dưỡng trong đất nhất là trong lớp đất mặt bị mất đi nhanh chóng Khi trồng cao su trên các vùng đất dốc cần phải thiết lập các hệ thống bảo vệ đất chóng xói mòn như làm đường đồng mức, băng chắn nước vừa bảo vệ được đất không bị xói mòn vừa dễ cạo mủ, thu mủ và vận chuyển về nơi chế biến
+ Lý và hoá tính đất: pH giới hạn để trồng cao su là từ 3,5 - 7,0; tốt
nhất là từ 4,5 - 5,5 Độ dày tầng đất cũng là một yếu tố quan trọng để giúp cho
sự tăng trưởng của rễ cao su, hiện nay đất có tầng canh tác từ 0,8m trở lên là
có thể xem là đạt yêu cầu để trồng được cao su
Đối với cây cao su, các chất dinh dưỡng trong đất không phải là yếu tố giới hạn nghiêm trọng, tuy nhiên trồng cao su trên các loại đất nghèo dinh dưỡng cần đầu tư nhiều phân bón sẽ làm tăng chi phí đầu tư khiến hiệu quả kinh tế giảm đi
1.4 Vai trò của cây cao su đối với phát triển đất nước
Cây cao su chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp nước ta, cây cao su vừa cho mủ, lấy gỗ, vừa góp phần bảo vệ đất, chống xói mòn Sản phẩm cao su đã và đang được ứng dụng nhiều trong cuộc sống như: cao su thiên nhiên gắn với ngành sản xuất lốp xe mà ngành này gắn với phát triển kinh tế của nhiều nước đang phát triển, cao su tổng hợp, đồ gỗ…
- Về giá trị kinh tế: Cây cao su là một trong những cây trồng mang lại
hiệu quả kinh tế cao, kim ngạch xuất khẩu gia tăng nhanh chóng Năm 2007 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,4 tỉ USD và trở thành nông sản xuất khẩu lớn thứ 2 sau gạo và vượt qua cà phê Ngoài sản phẩm chính là mủ, mỗi hecta cao su hàng năm có thể cung cấp khoảng 450kg hạt, có thể ép được 56 kg dầu phục
vụ cho công nghệ chế biến sơn, xà phòng, thức ăn chăn nuôi và làm phân bón rất tốt Cao su có thể tổng hợp được công nghệ hóa dầu, diễn biến giá dầu thô
Trang 9và giá cao su thiên nhiên tỷ lệ thuận với nhau Sau chu kỳ kinh doanh mủ, khi chặt hạ để trồng lại, cây cao su còn cho một lượng gỗ tương đối lớn (bình
gỗ cao su được đánh giá cao vì có thớ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn được đánh giá như là loại gỗ “ thân thiện với môi trường” và giá trị tương đương gỗ nhóm III Hiện nay tùy theo nguồn gốc giống, mật độ vườn cây và trình độ thâm canh, năng suất một số giống đang trồng ở nước ta cho thấy sau 20 – 21
lượng gỗ thân chính chiếm khoảng 75 – 77%
- Vế xã hội: Sản xuất cao su cần nhiều lao động cho chăm sóc, bảo vệ,
khai thác, chế biến, dịch vụ và lao động trong các nhà máy chế biến sản phẩm
từ cây cao su, tạo việc làm cho hàng triệu lao động góp phần xóa đói, giảm nghèo, đời sống cán bộ công nhân, nông dân được cải thiện rõ rệt, tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc miền núi, trung du; nhiều hộ đã thoát khỏi nghèo đói, vươn lên làm giàu từ việc trồng cây cao su Phát triển trồng cao su
đi đôi với việc phát triển cơ sở hạ tầng như: Điện, đường, trường, xây dựng
mở mang các khu kinh tế mới, tạo nên các vùng đô thị, đời sống của nhân dân
ổn định, trật tự xã hội và an ninh quốc phòng được giữ vững
- Về môi trường: Theo báo cáo kết quả nghiên cứu tác động môi trường của
rừng trồng cao su ở Việt Nam năm 2009 của PGS.TS Vương Văn Quỳnh [10]:
+ Độ tàn che của rừng cao su không khác biệt so với rừng trồng đối chứng nhưng nhỏ hơn so với rừng tự nhiên
+ Chưa có sự khác biệt rõ rệt về độ chặt đất giữa rừng cao su và rừng đối chứng Độ chặt tầng đất mặt ở rừng cao su tăng lên một chút so với rừng đối chứng nhưng không rõ ở các tầng sâu
+ Cường độ xói mòn ở rừng cao su trung bình là 0,46 mm/năm, còn ở rừng đối chứng là 0,34 mm/năm
Trang 10+ Độ ẩm trung bình ở rừng đối chứng là 20,0% còn ở rừng cao su là 25,6%
1.5 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây cao su ở nước ngoài
Cây cao su được xem là loại cây công nghiệp quan trọng, diện tích đã
(Brazin: Acre, Mato Grosso, Rondonio và Parana; một phần của Polivia và Peru) và đã được trồng trên nhiều vùng có điều kiện khí hậu khác xa so với
Những nước trồng và xuất khẩu cao su nhiều nhất là Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Sri Lanka, Liberia và Cote d’Ivoire Tỷ trọng về diện tích cao su của các quốc gia được thể hiện ở hình sau:
Hình 1.1 Tỷ trọng diện tích trồng cao su của các nước đứng đầu trên thế giới
Trong những năm qua nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên trên thế giới tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt 8 triệu tấn năm 2005 Nhu cầu này được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng mạnh hơn nữa trong thời gian dài, có thể đạt đến 10 triệu tấn (năm 2010) và 15 triệu tấn (năm 2035) Nhằm đáp ứng nhu cầu trên, các nước trồng cao su đều tập trung mở rộng diện tích, đặc biệt ở các vùng có
Trang 11điều kiện sinh thái ít thuận lợi (vĩ độ cao, độ cao lớn, đất kém…) và nâng cao năng suất trên đơn vị diện tích đất thông qua con đường cải tiến giống và phát triển các tiến bộ kỹ thuật nông học đi kèm Phương hướng cải tiến giống được tất cả các Viện nghiên cứu cao su trên thế giới tập trung đẩy mạnh
Ngày nay, bên cạnh mục tiêu tạo tuyển giống năng suất mủ cao, chống chịu bệnh hại và thích nghi môi trường, năng suất gỗ cũng trở thành tiêu chí quan trọng trong chọn tạo giống cao su vì nhu cầu gỗ cao su để thay cho gỗ rừng ngày càng cao Để đáp ứng mục tiêu trên, Malaysia đã đạt mục tiêu tạo tuyển giống cao su đạt năng suất 3,5 tấn mủ/ha/năm bình quân chu kỳ và năng
và phát triển cao su Quốc tế (IRRDB) cũng đề xướng chương trình hợp tác giữa các Viện cao su để phát triển giống đạt năng suất trên 3 tấn mủ/ha
Indonesia là nước trồng cao su lớn nhất thế giới hiện nay, năm 1940, Indonesia đã trồng được 1.350.000 ha cao su, trong đó 640.000 ha là đại điền
và 790.000 ha là tiểu điền Năn 1995, sản lượng cao su thiên nhiên đạt 1.456.000 tấn Cao su tiểu điền Indonesia các đặc điểm cây bắt đầu cạo mủ vào năm thứ 8, sản lượng mủ cao nhất vào năm thứ 16 với năng suất tối đa là 1,35 tấn/ha Cao su đại điền bắt đầu cạo mủ vào năm tuổi thứ 7, đạt sản lượng cao nhất vào năm tuổi thứ 12, Indonesia thành lập các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triểnn cao su tiểu điền như: NES (Nuclear Estate Schemes – Kế hoạch đại điền hạt nhân) nhằm hỗ trợ sự phát triển diện tích canh tác mới của cây cao su cho thành phần nông dân nghèo không có đất, tổ chức này ký hợp đồng với nhà nước và sử dụng đại điền làm hạt nhân để hỗ trợ sự phát triển tiểu điền xung quanh như xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ trồng và chăm sóc vườn cây cho tới khi khai thác
Thái Lan di nhập cao su từ Java Indonesia vào trồng tại tỉnh Trang, vùng Tây Nam vào năm 1899, từ đó cây cao su lan sang phía Nam và phía Đông nước này, tính từ năm 1966 đến năm 1993 diện tích cao su Thái Lan đã
Trang 12tăng thêm 880.000 ha với các vườn cây trồng các giống cao sản như RRIM
6000 năng suất đạt bình quân 1,375 kg/ha/năm Hàng năm Thái Lan tái canh được 40.000 ha, với cơ cấu diện tích là 28% cao su kiến thiết cơ bản, 30% là cây cạo mủ dưới 6 tuổi, 16% là cây cạo mủ từ 6 -12 tuổi còn lại là cây trên 20 tuổi, cây đạt năng suất cao nhất vào lúc cây được 13 tuổi, cao su tiểu điền Thái Lan chiếm 95% tổng diện tích cao su cả nước Ngày nay, Thái Lan đã
những vùng đất cao ít thích hợp cho cây cao Su nhưng vẫn đạt năng suất 1.500kg/ha Thái Lan cũng có các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển cao su tiểu điền như ORRAF (Office of the Rubber Aid Fund - Văn phòng vốn tái canh cao su), CRAM (Central Rubber Auction Market – Chợ đấu giá trung tâm)… (Nuchanat Na - Ranong, 2006) [24]
Trước năm 1990, Malaysia là nước trồng và sản xuất cao su thiên nhiên hàng đầu thế giới, sản lượng cao su đạt cao nhất 1.661.000 tấn vào năm 1988, tiểu điền cao su chiếm 80% diện tích và 70% sản lượng, dự kiến đến năm
2010 diện tích trồng cao su của nước này sẽ tăng lên tới 1,5 triệu ha Malaysia
là một điển hình trong nghiên cứu chọn lọc và khuyến cáo giống cao su thích nghi theo điều kiện sinh thái của môi trường để tối ưu hóa tiềm năng của giống Việc phân vùng chủ yếu dựa vào mức độ gây hại của gió và các loại bệnh gây hại cao su như bệnh nấm hồng, bệnh phấn trắng, bệnh héo đen đầu
lá và bệnh rụng lá Corynespora
Ấn Độ cũng đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp để
đạt được rất khả quan và năng suất mủ cây cao su có thể đạt được trên 1,5 tấn/ha/năm (S.K.Dey và T.K.Pal, 2006) [25]
Trung Quốc là nước trồng cao su rất đặc thù so với các nước khác Diện tích cao su của Trung Quốc nằm hoàn toàn ngoài vùng truyền thống từ vĩ tuyến
Trang 13Quảng Tây Trung Quốc đã thành công trong việc phát triển cây cao su có hiệu quả trong điều kiện môi trường không thuận lợi (tới hạn) đối với cây cao
su Các yếu tố bất thuận cơ bản đối cây cao su ở Trung Quốc là khí hậu mùa đông lạnh, cao trình cao, đối với một số vùng như đảo Hải Nam thì thường xuyên đối diện với sự gây hại của gió bão, để hạn chế tác hại của các yếu tố không thuận Trung Quốc đã nghiên cứu và áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác và tạo hình thích hợp đối với từng vùng trồng cao su cụ thể Kết quả là năng suất của một số vùng như XishuaBana thuộc tỉnh Vân Nam năng suất mủ bình quân đạt trên 2 tấn/ha/năm với các giống PR 107, RRIM 600 và GT 1 Hai giống mới có khả năng chống chịu lạnh và khô hạn tốt là Vân Nghiên 77-2, Vân Nghiên 77-4 (Xiong Daiqun và Jiang Jusheng, 2006) [23]
Ngày nay đã có xu hướng phát triển cao su mới trên thế giới đó là: Trồng cao su theo mô hình nông lâm kết hợp để thay thế dần cho mô hình trồng cao su độc canh (Laxman Joshi, Eric Penot, 2006) [22]
1.6 Tình hình nghiên cứu và phát triển cao su tại Việt Nam
Cây cao su được di nhập vào Việt Nam từ năm 1897, sau thời gian thử nghiệm, năm 1906 – 1907 hình thành các đồn điền có quy mô ở Đông Nam
Bộ đánh dấu giai đoạn sản suất lớn của ngành cao su Việt Nam Tại Tây Nguyên vào năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 - 1962
Vào năm 1976, diện tích cao su tại nước ta có khoảng 76.600 ha cho sản lượng mủ 40.200 tấn (năng suất bình quân 0,52 tấn/ha) Sau trên 30 năm phát triển với chính sách và đầu tư phù hợp của Nhà nước, kết hợp với sự đóng góp của các thành phần kinh tế khác nhau, cùng có sự góp phần của các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tính đến năm 2003 diện tích cao su thuộc Tổng công ty cao su Việt Nam là 215.610 ha, đưa vào khai thác 173.143 ha với
năm 2007, tổng diện tích cao su cả nước đạt 549.000 ha cho tổng sản lượng 601.700 tấn (năng suất bình quân 1,612 tấn/ha/năm) Năng suất trên diện tích
Trang 14do Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam quản lý đạt 1,716 tấn/ha/năm, cao hơn năng suất các nước sản xuất cao su hàng đầu như Thái Lan, Indonesia, Malaysia vốn có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn Việt Nam Trong khi năng suất của cao su tiểu điền tại Việt Nam hiện vẫn còn ở mức thấp, bình quân đạt 1,44 tấn/ha/năm Gái trị xuất khẩu cao su Việt Nam không những tăng về số lượng mà còn tăng đáng kể về mặt chất lượng, chỉ tính riêng năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu 741.000 tấn cao su với 15 chủng loại khác nhau mang về nguồn ngoại tệ gần 1,4 tỷ USD (Trần Thị Thúy Hoa, 2008) [5]
Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê, diện tích sản xuất cao su trong nước trong năm 2009 tăng 6,8% so với năm 2008 Tổng diện tích bao phủ bởi cây cao su năm 2009 là 674,2 nghìn ha Trong đó, tổng diện tích cao
su bước vào độ tuổi khai thác và đang khai thác là 421,6 nghìn ha, chiếm 62,5% Ngoài diện tích cao su trồng mới ở những vùng truyền thống ở miền Trung Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, cây cao su đã được trồng mới tại một số tỉnh Tây Bắc và đầu tư trồng mới tại Lào và Campuchia, Nam Phi và Myanmar Theo mục tiêu của ngành cao su Việt Nam, đến năm 2015 tổng diện tích cao su tại mỗi quốc gia nêu trên đạt 100.000 ha, đồng thời tổng diện tích cao su nội địa sẽ đạt 800.000 ha
Thời gian qua, ngành cao su Việt Nam chú trọng đầu tư thâm canh, nâng cao đáng kể năng suất, từ 1,65 tấn/ha (năm 2008) tăng lên 1,72 tấn/ha (năm 2009) Trong đó, năng suất sản lượng mủ bình quân toàn Tập đoàn Cao
su đạt 1,77 tấn/ha Tuy nhiên, có một số nông trường đạt năng suất cao, trên 2 tấn/ha (Công ty cổ phần cao su Đồng Phú 2,255 tấn/ha, công ty cổ phần cao
su Tây Ninh 2,238 tấn/ha) Về sản lượng khai thác, theo đánh giá của Hiệp hội Nghiên cứu cao su (Intemational Rubber Study Group - IRSG), sản lượng cao su tự nhiên của Việt Nam là 7,2%, xếp thứ 5 trong tổng sản lượng cao su thế giới Trong khi đó, sản lượng cao su thế giới tập trung chủ yếu ở các nước châu Á; đặc biệt 3 nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia hiện chiếm 80% sản
Trang 15lượng cao su tự nhiên của thế giới Nếu Việt Nam gia nhập ITRC vào năm
2010, ITRC sẽ chiếm 87,2% tổng sản lượng cao su thiên nhiên thế giới
Cùng với sự phát triển của cây cao su ở Việt Nam ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về cây cao su, không chỉ ở những lĩnh vực quen thuộc như giống, kỹ thuật canh tác mà các tác giả Phạm Hải Dương [4], Trần Thị
về cao su ở các lĩnh vực khác nhau
Tác giả Tống Viết Thịnh đã có công trình nghiên cứu về đánh giá và phân hạng sử dụng đất trồng cao su Theo tác giả căn cứ vào mức độ hạn chế của 9 chỉ tiêu khí hậu (chế độ mưa, cân bằng nước, chế độ nhiệt, sương mù và tốc độ gió) và 10 chỉ tiêu đất (tầng dày, thành phần cơ giới, độ phì, sỏi đá và
độ dốc), áp dụng nguyên tắc của FAO để phân hạng sử dụng đất trồng cao su bao gồm 3 hạng đất trồng được cao su và 2 hạng đất không thể trồng được cao
su Từ năm 1990 đến nay, đã ứng dụng thành công trên diện tích rộng tại các công ty cao su Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Trên các diện tích áp dụng phân hạng đất trồng cao su theo FAO, các cơ sở áp dụng để định suất đấu và khoán vườn cây hợp lý và hiệu quả hơn; không còn hiện tượng vườn cao su bị thanh lý do trồng trên đất kém Tiến bộ này đã được Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam (VRG) chính thức đưa vào áp dụng trong toàn ngành (Tống
Cũng tác giả này đã nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cây cao su theo phương pháp chuẩn đoán dinh dưỡng căn sứ vào mức độ thiếu hụt, thặng dư và tỷ lệ cân đối của từng nguyên tố dinh dưỡng qua phân tích và đánh giá hàm lượng dinh dưỡng trong đất và lá trên vườn cao su theo các thang chuẩn và căn cứ vào hiện trạng vườn cây (giống, năng suất, sinh trưởng
và lịch sử chăm sóc, bón phân của vườn cây) để đề xuất liều lượng và tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng hợp lý, tạo ra sinh trưởng và năng suất mủ vườn cây đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật tối ưu Từ năm 2002 đến nay, đã ứng dụng
Trang 16thành công trên diện rộng tại các công ty cao su Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Trên các diện tích áp dụng bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng đã mang lại các hiệu quả; tiết kiệm phân bón, gia tăng và ổn định sinh trưởng và sản lượng mủ trong nhiều năm Với các kết quả trên, từ năm 2004, VRG đã chính thức đưa kỹ thuật bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng vào quy trình của ngành (Tống Viết Thìn, 2008) [14].
Về kỹ thuật khai thác, chăm sóc cây cao su cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu Năm 2004, Tổng công ty cao su Việt Nam đã xuất bản Quy trình
kỹ thuật cây cao su Trong quy trình này đã quy định rõ các biện pháp kỹ thuật trong quy trình sản xuất, quy trình khai thác mủ và chăm sóc cây cao su, quy trình bảo vệ thực vật, phân hạng đất trồng cây cao su [17] Những năm tiếp theo các nhà nghiên cứu đã không ngừng đưa ra các cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và sản lượng mủ cao su Đỗ kim Thành đã nghiên cứu chế độ cạo nhịp độ tháp và kích thích mủ cao su Áp dụng chế độ cạo nhịp độ thấp kết hợp kích thích sớm đã tiết kiệm được 20% công cạo mủ, tăng năng suất lao động cạo mủ, đồng thời tiết kiệm được lớp vỏ cạo nguyên sinh
từ 2,5 - 3cm/năm Hơn nữa, việc giảm nhịp độ cạo kết hợp sử dụng chất kích thích mủ làm tăng từ 24 - 52% sản lượng thu hoạch, giảm 25 - 30% lao động trên đơn vị diện tích vườn cây, từ đó góp phần vào việc giảm từ 8 - 10% chi phí trực tiếp nguyên liệu đầu vào cho sản xuất và tăng tử 22 - 43% lãi ròng hàng năm cho mỗi phần cây Ngay từ khi cao su được trồng và khai thác ở quy mô thương mại, người ta đã nghĩ đến làm thế nào để kích thích cây sản xuất nhiều mủ cao su, áp dụng kích thích có thể giúp làm giảm nhịp độ cạo nhưng vẫn duy chì được sản lượng hợp lý, lâu dài Hoạt chất kích thích được dùng phổ biến hiện nay là ethephon với các nồng độ 1,25; 2,5 và 5% và số lần bôi biến thiên từ 2 - 6 lần/năm tùy dòng vô tính, tuổi cây và tình trạng sinh lý cây (Đỗ Kim Thành, 2006) [13] Tác giả Hà Văn Khương đã nghiên cứu để
áp dụng các tiến bộ KHKT vào vườn cao su Tổng công ty cao su Việt Nam
Trang 17(Hà Văn Khương, 2006) [9] Tác giả Trần Thanh có công trình nghiên cứu về ứng dụng một số chất điều hòa sinh trưởng kích thích phát triển rễ và chồi tum cao su (Trần Thanh, 2007) [12]
Ở Việt Nam cây cao su được phát triển trên nhiều vùng khác nhau trong nước, ngoài vùng truyền thống tại Đông Nam Bộ còn có Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và Tây Bắc Cao su là loại cây dài ngày được trồng độc canh trên diện tích lớn trong vùng có khí hậu nóng ẩm, nên bệnh cũng xuất hiện và gây hại làm ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng và sản lượng của cây cao su, nên cũng đã có nhiều nghiên cứu về sâu bệnh hại cao su (Nguyễn Thị Huệ, 1997) [8] Tác giả Phan Thành Dũng đã theo dõi trong thời gian từ năm 1996 - 2005, có 7 loại bệnh chính ảnh hưởng đến sinh trưởng và sản lượng mủ của cây cao su, trong đó có loại mới xuất hiện là nứt vỏ do nấm
Botrydiplodia theobromae Pat (1998), Bệnh rụng lá Corynespora (1999) và
rễ nâu do nấm Phellinus noxius (Corner) G H Cunn (2002) Các loại bệnh
gây hại cho cây cao su tại nước ta chủ yếu do nấm và một số tác nhân truyền
nhiễm khác, không có mycoplasma, virus, vi khuẩn, tuyến trùng (Phan Thành
Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của phong trào trồng cao su, diện tích đất thuộc vùng truyền thống đã không còn đáp ứng được, từ đó đã có một số nghiên cứu để đưa cao su ra ngoài vùng truyền thống ở Việt Nam Năm 1994, Viện nghiên cứu cao su phối hợp với Trung tâm cây ăn quả Phú
Hộ nay thuộc Viện KHKTNLN miền núi phía Bắc đã đưa vào khảo nghiệm
nghiệm 3,2 ha bao gồm:
+ 2,0 ha vườn sơ tuyển giống (STPH94 và QTPH97)
+ 1,2 ha vườn lưu trữ quỹ gen cây cao su được trồng năm 1998 gồm
142 giống Hiện vườn khảo nghiệm đang được Bộ môn nông lâm kết hợp Viện KHKTNLN miền núi phía Bắc quan trắc và chăm sóc Kết quả bước đầu
Trang 18cho phép xác định một số giống cao su gồm cả giống nhập nội và lai tạo tại Việt Nam có tiềm năng thích nghi với vùng phía Bắc (Hội nghị Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp 2008 các tỉnh miền núi phía Bắc) [7]
Qua kết quả theo dõi quan trắc cho thấy tại Phú Hộ với điều kiện khí hậu môi trường đặc trưng cho vùng trung du miền núi phía Bắc (Khí hậu lạnh, mùa đông kéo dài, gió lốc không tốt cho cao su) nhưng tập đoàn cao su hiện
có tại đây vẫn sinh trưởng phát triển tương đối tốt và hiện tại đang cho khai thác mủ với năng suất tương đối ổn định, đạt 60 - 70% năng suất bình quân cao su của Đông Nam Bộ Tốc độ tăng vanh của cao su cũng khá nhanh, đặc biệt có 5 giống cho năng suất mủ trên 1,2 tấn/ha, trong đó có 2 giống có nguồn gốc từ Trung Quốc (Hội thảo tổng kết khoa học của Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, 2007) [6]
Trước xu hướng tăng nhanh về diện tích trồng cao su, đã xuất hiện một
số ý kiến trái ngược nhau về tác động môi trường của rừng trồng cao su, nên
đã có nghiên cứu tác động môi trường của rừng trồng cao su ở Việt Nam (Vương Văn Quỳnh, 2009) [10]
Do hiệu quả kinh tế cao và ổn định, cây cao su đã được phát triển nhanh chóng ở Việt Nam Tổng diện tích trồng cao su đến nay đã đạt xấp xỉ 675.000 ha Những nơi trồng nhiều nhất là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh Nam Trung Bộ Ngoài ra, cao su cũng đã được trồng thành công ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ như Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa Hiện nay các nhà khoa học Việt Nam đang nghiên cứu nhằm mở rộng diện tích trồng cao su ra các tỉnh miền núi phía Bắc, cây cao su sẽ là một trong những loài cây chủ đạo cho phát triển kinh tế ở miền núi Việt Nam Theo dự đoán thì diện tích trồng cao su có thể tăng lên hàng triệu ha nhờ cải thiện giống, áp dụng kỹ thuật trồng trên đất dốc và nhờ sự tham gia tích cực của hàng triệu hộ nông dân miền núi
Trang 191.7 Tình hình nghiên cứu và phát triển cao su tại tỉnh Lai Châu
Cùng với chủ trương của nhà nước là đưa cây cao su ra các tỉnh miền núi phía Bắc, ngày 11/12/2006, UBND tỉnh Lai Châu đã quyết định số 76/2006/QĐ-UBND trong đó chủ trương phát triển cây cao su vào trồng trên vùng đất dốc với diện tích trồng mới cả năm 2007 là 400 ha đưa diện tích cây cao su của cả tỉnh lên 532,5 ha Việc đưa cây cao su vào trồng trên đất đồi dốc Lai Châu là đúng hướng vì ngay tại tỉnh Vân Nam - Trung Quốc nơi có điều kiện tự nhiên tương tự Lai Châu họ vẫn trồng được cao su Vấn đề đặt ra là lựa chọn được bộ giống thích hợp và xây dựng được quy trình thâm canh phù hợp với đặc thù của Lai Châu
Tuy nhiên hiện nay những nghiên cứu về xác định giống và kỹ thuật canh tác cây cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản tại các tỉnh tỉnh Lai Châu chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế
Để góp phần thực hiện chủ trương của tỉnh là phát triển cây cao su trên vùng đất dốc Công tác nghiên cứu xác định giống cây cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản nhất là những giống có khả năng sinh trưởng và phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh là đối tượng ưu tiên để nghiên cứu Việc nghiên cứu, xây dụng kỹ thuật canh tác cây cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản tại tỉnh Lai Châu cũng đặc biệt cần quan tâm vì cây cao su tại tỉnh Lai Châu trồng trên đất dốc khác với vùng trồng truyền thống
Trang 20Hình 2.1 Vị trí Tỉnh Lai Châu trong bản đồ Việt Nam
Hình 2.2 Sơ đồ vùng nghiên cứu
Trang 21Tỉnh Lai Châu có toạ độ địa lý từ 21051' đến 22049' vĩ độ Bắc và từ
Đông Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc; phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La; phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Điện Biên Tỉnh có
273 km đường biên giới Việt - Trung có cửa khẩu quốc gia Ma Lù Thàng và nhiều lối mở trên tuyến biên giới Việt - Trung Trực tiếp giao lưu với vùng lục địa rộng lớn phía Tây Nam, Trung Quốc - nơi có vùng cao su tập trung hàng hoá rộng hơn 300 nghìn ha
Hình 2.3 Bản đồ hành chính tỉnh Lai Châu
Trang 222.2 Đất đai, địa hình và hiện trạng sử dụng đất
2.2.1 Đất đai
Tài nguyên đất tỉnh Lai Châu có 6 nhóm đất chính là: Nhóm đất phù sa, nhóm đất đen, nhóm đất Feralit đỏ vàng, nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi, nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, nhóm đất mùn vàng nhạt trên núi cao
và núi đá, sông suối Trong đó nhóm đất Feralit đỏ vàng gồm 11 loại đất với diện tích 499.882 ha, chiếm 55,12%; được phân bổ rộng khắp trong tỉnh, tại các vùng đồi, núi thấp có độ cao dưới 900m so với mặt nước biển Thành phần chủ yếu của nhóm đất này là cát, cát pha; đất chua và có độ phì từ trung bình đến thấp có thể phát triển cây lương thực, cây công nghiệp dài ngày, các loại cây trồng khác theo mô hình nông lâm kết hợp và phát triển rừng,
2.2.2 Địa hình
Lai Châu có địa hình núi cao; gần 60% diện tích có độ cao trên 1.000m;
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, xen kẽ là các thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng như Tùng So, Phong Thổ; Tam Đường, Bình Lư; Mường Than, Than Uyên; Noong Hẻo, Sìn Hồ…, nhiều khu vực núi thấp dọc theo
nước biển hoàn toàn có thể trồng cây cao su được
2.2.3 Hiện trạng sử dụng đất
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Lai Châu là 911.232,45 ha, trong đó:
- Đất nông, lâm nghiệp: 437.021 ha, chiếm tỷ lệ 47,96 %, gồm:
+ Đất sản xuất nông nghiệp 77.328 ha, chiếm 8,49%; trong đó có
71.027 ha đất trồng cây hàng năm (gồm: Đất trồng lúa 28.957 ha; đất đồng
cỏ 541 ha; 41.530 ha đất trồng cây hàng năm khác) và 6.300 ha đất trồng cây
lâu năm Đất nuôi trồng thuỷ sản 393 ha và 47 ha đất nông nghiệp khác
Trang 23+ Đất lâm nghiệp 359.253 ha, chiếm 39,42 % Diện tích đất rừng sản xuất
là 293.717 ha, trong đó: đất có rừng 104.044 ha; đất chưa có rừng 189.673 ha
- Đất phi nông nghiệp có 16.970 ha, chiếm tỷ lệ 1,86 %
- Đất chưa sử dụng: 457.242 ha, chiếm 50,18%, gồm: đất bằng có 1.059 ha; đất đồi núi có 444.567 ha và núi đá không có cây rừng là 11.615 ha
Nhìn chung diện tích đất của tỉnh lớn song đất phù hợp để trồng cây cao
su không nhiều và tập trung ở một số vùng núi thấp dọc theo các triền sông; dự
tính toàn tỉnh có trên 40.000 ha đất phù hợp để trồng cao su (theo kết quả rà
soát, quy hoạch của Viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp là > 52.000 ha)
2.3 Điều kiện thời tiết, khí hậu
2.3.1 Khí hậu
Tỉnh Lai Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông
lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều
2.3.2 Chế độ nhiệt
Một số tiểu vùng thuộc vùng thấp của huyện Sìn Hồ, Mường Tè, Phong
Thổ, chủ yếu nằm dọc theo các dòng sông như: (sông Đà, sông Nậm Mạ, Nậm
Na, Nậm Mu ) có nhiệt độ bình quân năm cao hơn so với nhiệt độ trung bình
của tỉnh phù hợp để trồng, phát triển cây cao su
Trang 242.3.4 Chế độ mưa
Lượng mưa bình quân năm 2.621,7mm và phân bố không đều; mùa
mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 88 % lượng mưa cả năm (2.307,1
mm) và tập trung vào tháng 7, 8; các tháng khô hạn bắt đầu từ tháng 12 năm
trước tới tháng 3 năm sau Lượng mưa của tỉnh Lai Châu đáp ứng được các yêu cầu sinh thái của cây cao su
Trong năm bình quân có 18,2 ngày sương mù, tháng 1 có sương mù
nhiều nhất (6,1 ngày/tháng); tháng 6 và tháng 7 là tháng có sương mù ít nhất
(0,2 ngày/tháng) Các vùng núi thấp dọc theo các triền sông thường ít có
sương muối nên không ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây cao su, nhất là giai đoạn kiến thiết cơ bản
2.3.7 Gió lốc xoáy và mưa đá
Gió lốc xoáy và mưa đá thường xẩy ra trong tháng 3, 4 hàng năm; song tần suất xuất hiện không lớn ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây cao su
2.3.8 Thuỷ văn
Là vùng thượng lưu sông Đà với mật độ sông, suối khá dày đặc (5,5 - 6
km/km 2 ) và nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh khá lớn Cùng với sông Đà, có
hệ thống 3 sông chính là chi lưu cấp I của sông Đà gồm có sông Nậm Na, Nậm Mạ và sông Nậm Mu,
Trang 252.4 Điều kiện kinh tế xã hội
Tỉnh hiện có 6 huyện và 1 thị xã bao gồm 98 (xã, phường, thị trấn) với
20 dân tộc cùng sinh sống Số xã thuộc diện đói nghèo và đặc biệt khó khăn, biên giới là 68 xã
2.4.3 Lao động
Tổng số lao động năm 2008 của Lai Châu là 199.138 người (chiếm 59,4% dân số), trong đó: lao động nam là 98.963 người, lao động nữ là 100.175 người; số lao động qua đào tạo đạt tỷ lệ 21,3% Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 160.708 người (khoảng 81% số lao động trong độ tuổi), lao động phi nông nghiệp là 37.830 người, chiếm 19%; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 1,75% (Theo số liệu thống kê tại tỉnh năm 2008)
Trang 262.4.4 Văn hóa, du lịch
Là tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống, nền văn hoá rất phong phú, đa dạng, mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, có nhiều
lễ hội văn hóa đặc sắc
2.4.5 Thu nhập bình quân đầu người
Tổng GDP Lai Châu năm 2008 là 901,77 tỷ đồng, bình quân đầu người thấp, chỉ đạt 6,38 triệu đồng/người (bằng 33,8% bình quân cả nước), bình quân lương thực đầu người chỉ đạt 417,844 kg/người/năm
2.4.6 Cơ sở hạ tầng
Hiện nay còn có 3/98 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã, 52% số
xã có đường đi lại được vào tất cả các mùa trong năm; đường dân sinh chủ yếu chỉ đi được bằng xe máy, ngựa thồ và đi bộ, đặc biệt về mùa mưa đi lại rất khó khăn Các công trình thuỷ lợi mới chỉ đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho khoảng 75% diện tích đất sản xuất, nhiều công trình chưa được đầu tư và kiên cố hóa nên lượng nước còn bị thất thoát nhiều 66/98 xã, thị trấn là có điện thắp sáng, còn nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số chưa được dùng điện 45% dân số thành thị được sử dụng nước sạch và 62% số hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh Các hộ nông thôn mới được cung cấp nước qua hệ thống lọc thô, nhiều thôn bản chưa được cung cấp nước sạch Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng hố xí hợp vệ sinh còn rất thấp, bằng 2,31% tổng số hộ
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 17 chợ/98 xã với tổng diện tích khoảng
xa, trung bình từ 15-20km
2.4.7 Thông tin, truyền thông
Hạ tầng thông tin có nhiều cải thiện trong thời gian qua nhưng đến nay việc tiếp cận với các nguồn thông tin còn có nhiều hạn chế đặc biệt ở vùng
Trang 27sâu, vùng xa Trên địa bàn tỉnh trung bình chỉ có 135 thuê bao điện thoại/1 nghìn dân (trong khi đó trung bình cả nước là 943 thuê bao/1 nghìn dân); có
12 trạm bưu điện huyện, có 69/98 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá; toàn tỉnh có 31 trạm truyền thanh (đáp ứng nhu cầu nghe đài phát thanh cho 78% tổng số hộ), 24 trạm truyền hình (tỷ lệ tổng số hộ được xem truyền hình chỉ đạt 67%)
2.4.8 Giáo dục
Cơ sở hạ tầng về trường học đủ đáp ứng cho tổng số học sinh các cấp trên địa bàn, tuy nhiên trong đó chỉ có 65,06% số phòng được kiên cố hóa, còn lại là lớp học tạm Trên địa bàn tỉnh chưa có trường Đại học nào, chỉ có 1 trường trung cấp dạy nghề, 1 trường cao đẳng cộng đồng đang trong quá trình xây dựng; tỷ lệ huy động đi học chung toàn tỉnh là 68,78 % (tỷ lệ học sinh nữ chỉ đạt 58,81%); tỷ lệ đi học các cấp là: tiểu học 97,83 %, trung học cơ sở 60,12 %, và trung học phổ thông 25,18%
2.4.9 Y tế
Các cơ sở y tế chưa đủ đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Tuy 100% xã/phường/thị trấn đều có trạm y tế, nhưng số trạm đạt chuẩn quốc gia chỉ có 30%; có 6 phòng khám đa khoa khu vực, 7 bệnh viện cấp huyện và 1 bệnh viện đa khoa tỉnh Số giường bệnh/1 vạn dân là 30,13 giường, số bác sỹ trên 1 vạn dân là 3,55 người (mức trung bình cả nước là 5,6 người)
Trang 283.3 Đối tượng nghiên cứu
- Sự sinh trưởng, phát triển và sâu bệnh hại các giống cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản tại Lai Châu
- Các kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản
3.4 Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lai Châu Các vấn đề tài đề cập đến là sinh trưởng, phát triển, sâu bệnh hại và kỹ thuật canh tác của các giống cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản
3.5 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu trên, đề tài tiến hành các nội dung nghiên cứu sau:
- Điều tra xác định tiểu vùng có khả năng trồng và phát triển cao su tại tỉnh Lai Châu
Trang 29- Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển và sâu bệnh hại của các giống cây cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản trồng tại Lai Châu
- Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật canh tác cây cao
su giai đoạn kiến thiết cơ bản
- Đề xuất một số kỹ thuật canh tác cây cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản tại tỉnh Lai Châu
3.6 Phương pháp nghiên cứu
3.6.1 Phương pháp luận
Với những đòi hỏi ngày càng cao về sản lượng cao su, việc chỉ phát triển cây cao su trong các vùng truyền thống không còn đáp ứng được nữa nên đã bắt đầu có nhiều nghiên cứu để mở rộng vùng trồng cao su
Ở Việt Nam, trước đây khi cây cao su được đưa vào trồng, nó đã thể hiện là loài cây kinh tế cao và rất phù hợp với điều kiện của vùng Đông Nam
Bộ ( vùng truyền thống) Nhưng với diện tích có hạn cao su đã được nghiên cứu để phát triển ra nhiều vùng khác nhau như: Tây Nguyên, Duyên hải Miền Trung, Bắc Trung Bộ và hiện nay cây cao su đã được đưa ra trồng và kinh doanh tại vùng miền núi phía Bắc Việt Nam
Tại vùng miền núi phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Lai Châu có điều kiện khí hậu rất khắc nghiệt, mùa đông lạnh và kéo dài, hiện nay việc mở rộng trồng cao su chưa xác định được giống và kỹ thuật canh tác đang là một thực trạng cần khắc phục Giống cao su được đem trồng bao gồm cả những giống không phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh Như vậy, có thể thấy những lợi ích về mặt kinh tế còn chưa có thì những khó khăn về giai đoạn kiến thiết cơ bản của cây cao su đã hiện rõ
Đối với mỗi giống cây cao su đòi hỏi một điều kiện điều kiện tự nhiên khác nhau, các giống không đồng đều về mặt sinh thái; có giống chịu được lạnh, có giống chịu được gió và ngược lại Chính vì vậy, khi trồng cao su
Trang 30trên các vùng đất khác nhau cần phải tính toán một cách khoa học khi quyết định trồng giống nào trên các vùng đất khác nhau
Năm 1994, Viện Nghiên Cứu Cao Su (phối hợp với Trung Tâm Cây Ăn Quả Phú Hộ nay thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) đã đưa vào khảo nghiệm 30 dòng vô tính cao su tại Phú Hộ và năm
2008 Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đưa 33
Nghiên 77-4 từ Trung Quốc đang được theo dõi và sơ tuyển tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Do vậy đề tài đã tiến hành nghiên cứu xác định giống và
kỹ thuật canh tác cao su giai đoạn kiến thiết tại tỉnh Lai Châu
Việc nghiên cứu được tiến hành theo sơ đồ sau:
3.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.6.2.1 Tra cứu dữ liệu lưu trữ tại các cơ quan nghiên cứu và quản lý
Tình hình phát
triển cao su tại
Lai Châu
Sự sinh trưởng, phát triển và sâu bệnh hại các giống cao su tại Lai Châu
Các biện pháp kỹ thuật canh tác cây cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản
Thực trạng
phát triển cao
su tại Lai Châu
Các yêu câu kỹ thuật của cây cao su
1 Các tiểu vùng phát triển cao su tại Lai Châu
2 Các giống cao su có triển phát triển tại tỉnh Lai Châu
3 Một số kỹ thuật trồng, chăm sóc cây cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản tại tỉnh Lai Châu
Thực trạng sinh trưởng của các giống cao su tại Lai Châu
Trang 313.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.6.2.1 Tra cứu dữ liệu lưu trữ tại các cơ quan nghiên cứu và quản lý
Hiện những tài liệu quan trọng đang được lưu trữ ở các cơ quan nghiên cứu và quản lý như: các viện nghiên cứu, các trường đại học, tổng công ty, các công ty thanh viên, các nông trường, Đây là nguồn thông tin quan trọng về quy trình kỹ thuật, kế hoạch phát triển, năng suất và hiệu quả của cao su, tác động của cao su đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường Đề tài tham khảo tư liệu lưu trữ của một số cơ quan nghiên cứu khoa học và quản lý cao su của Việt Nam và Trung Quốc như: Viện nghiên cứu cao su Việt Nam, Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, Đại học Nông nghiệp, Đại học Lâm nghiệp, Viện quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp, Tổng công ty cao su Việt Nam, Công ty cổ phần cao su Lai Châu 1, Công ty cao su Vân Nam - Trung Quốc, một số doanh nghiệp trồng rừng cao su của Vân Nam - Trung Quốc
Những tài liệu tham khảo gồm: Quy hoạch phát triển cao su, kế hoạch sản xuất, thiết kế kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng, định hướng phát triển cao su
3.6.2.2 Khai thác thông tin trên mạng Internet
Một trong những công cụ khai thác thông tin hiệu quả nhất hiện nay là
sử dụng mạng Internet Những kết quả nghiên cứu sơ bộ đã cho thấy đến nay kết quả của nhiều công trình nghiên cứu về cao su đã được công bố lên mạng internet dưới dạng các bài báo khoa học, các bài báo đăng tải thông tin đại chúng và các dạng ấn phẩm khác Một số trong đó trình bày tương đối chi tiết, một số khác chỉ giới thiệu tên công trình và địa chỉ tra cứu Mặc dù vậy, đây vẫn là những thông tin rất hiệu ích cho việc tìm kiếm và khai thác dữ liệu liên quan đến cao su
Trang 323.6.2.3 Điều tra thực tế sinh trưởng và phát triển các giống cao su
Điều tra tình hình sinh trưởng và phát triển của các giống cao su được thực hiện theo phương pháp điều tra của Viện nghiên cứu cao su
Tại mỗi điểm, tiến hành lấy mẫu ở tất cả các giống Mỗi giống chọn 10 cây điển hình (được đánh dấu sơn thứ tự từ 1 đến 10) có tình hình sinh trưởng
và phát triển từ kém cho đến tốt đại diện cho cả giống
Các chỉ tiêu theo dõi:
- Sinh trưởng về chiều cao
- Sinh trưởng về tầng lá
- Sinh trưởng về vanh thân
- Mức độ sâu bệnh hại
- Mức độ gây hại của các côn trùng: mối, kiến,
Kết quả được ghi vào phiếu quan trắc
3.6.3 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm trên đồng ruộng (On - Farm
Research)
- Thử nghiệm bón phân
Do đất vùng Đông Nam bộ nơi Viện nghiên cứu cao su đưa ra công thức bón phân thuộc cấp đất 2, đất tỉnh Lai Châu thuộc cấp đất 3 Vì vậy các công thức thí nghiệm bón phân tại Lai Châu được xác định tăng nên lần lượt là: 25% và 50%
của viện nghiên cứu cao su Việt Nam) làm công thức đối chứng
Thí nghiệm bón phân được lặp lại 3 lần theo khối ngẫu nhiên
Mỗi công thức bón 30 cây
Trang 33Sơ đồ thử nghiệm bón phân
P
Trong đó: P là tổng lợi nhuận trong 1 năm
Tn là thu nhập trong 1 năm
Cp là chi phí trong 1 năm Vdt là vốn đầu tư trong 1 năm
Trang 34Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Xác định tiểu vùng có khả năng trồng và phát triển cao su tại tỉnh Lai Châu
4.1.1 Thực trạng phát triển cây cao su của tỉnh Lai Châu
Năm 1993, Trung Quốc đã giúp tỉnh Lai Châu trồng một số vườn cao
su tại huyện Phong Thổ và huyện Than Uyên, tuy nhiên hiện nay mỗi huyện chỉ còn lại một số ít cây, cây sinh trưởng và phát triển kém Chúng tôi đã tiến hành kiểm kê lập sơ đồ và đánh giá hiện trạng vườn cây, kết quả cụ thể như
sau:
Hình 4.1 Vườn cao su tại xã Mường Than huyện Than Uyên
Trang 35Vườn cao su tại xã Mường Than huyện Than Uyên
Đây là vườn được trồng từ tháng 5 năm 1993 thuộc dự án phát triển cây công nghiệp của tỉnh Lào Cai Diện tích được trồng ban đầu là 3,2 ha, mật độ
571 cây/ha (7x2,5m) Do thiếu sự hỗ trợ kinh phí đầu tư chăm sóc cho nên chủ hộ là ông Lê Văn Chung đã bỏ hoang vườn cao su và tiến hành trồng xen keo, mỡ vào diện tích đã trồng cao su Hiện tại vườn cao su còn 142 cây, chủ yếu là cây thực sinh và cây tái sinh trồi, số cây này có mức độ sinh trưởng rất khác nhau chỉ có 15% số cây có mức độ sinh trưởng tốt, 27% sinh trưởng trung bình, 48% số cây còn lại sinh trưởng kém Số cây này nằm phân tán khắp diện tích khu đồi đã trồng Chúng tôi đã lập sơ đồ theo dõi 37 cây trong
đó 17 cây đạt tiêu chuẩn cạo mủ và đã tiến hành mở miệng cạo theo dõi sản lượng
Hình 4.2 Vườn cao su tại xã Hoang Thèn - Huyện Phong Thổ
Trang 36Vườn cao su tại xã Hoang Thèn - Huyện Phong Thổ
Vườn này cũng được trồng từ năm 1993 theo chương trình hợp tác giữa huyện Phong Thổ và Tỉnh Vân Nam của Trung Quốc Giống cao su trồng là RRIM 600, mật độ 571 cây/ha (7x2,5m) Cũng giống như vườn cao su tại Than Uyên vườn cao su này bị bỏ hoang không chăm sóc Chủ hộ gia đình đã tiến hành trồng xen Trẩu vào lô cao su Hiện tại vườn còn 19 cây nằm tập trung trên đỉnh đồi Toàn bộ 19 cây đã được lập sơ đồ theo dõi, trong đó có 16 cây đạt tiêu chuẩn cạo và đã tiến hành mở miệng cạo mủ theo dõi sản lượng Hầu hết lớp vỏ nguyên sinh của những cây này đã bị tổn thương nghiêm trọng
do những vết băm chặt trên thân cây
Số cây đủ tiêu chuẩn đã được mở miệng cạo, tại Than Uyên tiến hành
mở cạo ngày 27 tháng 04 và Phong Thổ là ngày 03 tháng 05 năm 2007
độ cạo được áp dụng S/2 d/3 6d/7 (2 lần/tuần) Miệng cạo trên lô được mở theo cùng một hướng
Về sinh trưởng: Chu vi thân được đo ở vị trí 1,5 m, kết quả được thể
Chu vi thân của cao
Trang 37Chu vi thân của cao
Kết quả bảng 4.1 cho thấy:
- Mức độ sinh trưởng của hai vườn cao su là hoàn toàn khác nhau Cùng một thời gian trồng nhưng cao su tại Phong Thổ có chu vi thân lớn hơn rất nhiều cao su tại Than Uyên
- Chu vi thân cây lớn nhất tại Phong Thổ là 1.110mm còn tại Than Uyên là 780mm Trong điều kiện cả hai vườn cây đều bị bỏ hoang không được chăm sóc, lại bị canh tranh của cây trồng xen nhưng chúng vẫn sinh trưởng phát triển và một số cây phát triển rất tốt, điều đó chứng tỏ sự thích ứng về sinh trưởng của cây cao su trên điều kiện của Lai Châu
Trang 38Về sản lượng mủ: Kết quả nghiên cứ về sản lượng mủ được thể hiện ở
Vị trí hàng cây
Hoang Thèn - Phong Thổ
Ghi chú: Trên đây là số liệu khối lượng mủ ướt
Kết quả bảng 4.2 cho thấy:
Khối lượng mủ có chiều hướng tăng sau mỗi lần cạo Mức độ tăng khối lượng mủ không đồng đều giữa hai vườn cao su Cao su tại Mường Than tăng đều và ổn định, còn tại Hoang Thèn khối lượng mủ biến thiên không theo quy
Trang 39luật Có sự chênh lệch sản lượng mủ giữa cây ghép và cây thực sinh Các cây h4/c7, h4/c11, h4/c31, h4/c32, h5/c6 là những cây thực sinh có khối lượng mủ
ít hơn rõ rệt Điều này khẳng định ưu thế của cây ghép
Tiếp tục theo dõi sản lượng mủ của vườn cây tại Khổng Lào – Phong
vào ngày 15 và 30 hàng tháng) Kết quả được thể hiện ở bảng 4.3
Bảng 4.3 Sản lượng mủ vườn cao su Hoang Thèn – Phong Thổ Lai Châu
Trang 40Từ Kết quả bảng 4.3 cho thấy:
- Phạm vi biến động sản lượng mủ của các cây từ 24,25 g/c/c – 69,94 g/c/c
- Sản lượng mủ trung bình đạt 50,6 g/cây/cạo Sản lượng này tính trung bình của 4 tháng lấy mủ được tính từ tháng 9, đây là những tháng cao su cho
mủ nhiều nên đánh giá về sản lượng của cây chưa được chính xác
- Sản lượng mủ có sự giảm đều trong lần lấy thí nghiệm 15/12 Đây là giai đoạn cây bắt đầu rụng lá qua đông
Đây là hai loại bệnh thường gặp trên cây cao su, hiện tại thời tiết đang
ở mùa khô nên tỷ lệ nhiễm bệnh của cao su ở mức nhẹ
Theo dõi sự rụng lá và ra lá qua đông:
Qua phỏng vấn người dân trên địa bàn cho thấy:
+ Rụng lá: cuối tháng 12
+ Ra lá: Bắt đầu ra lộc non vào giữa tháng 2, đến tháng 5 cây đã có bộ
lá ổn định Như vậy, cao su trên địa bàn có khả năng cho khai thác mủ từ tháng 5 đến tháng 12
Một số đặc tính phụ:
Độ cao phân cành:
Độ cao phân cành của cao su tại Mường Than và Hoang Thèn đều thấp
có những cây ở độ cao 60cm đã phân cành, tỷ lệ cây phân cành thấp tại Hoang Thèn là 62,5% còn tại Mường Than là 44% Với chu kỳ kinh doanh 25
- 30 năm thì chiều cao phân cành là yếu tố cần được quan tâm sau sinh trưởng
và sản lượng mủ