1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại cây lát mêxicô (cedrela odorata) tại trạm thực hành thực nghiệm lâm sinh miếu trắng quảng ninh

76 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đúng quy luật sinh học, khi có nguồn thức ăn là có sâu hại, có thể thấy rõ điều này khi rừng cây Lát Mexico được hìnhthành, một khối lượng thức ăn là lá, thân, cành rất lớn đã tạo đ

Trang 1

đặt vấn đề

Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của nhân loại, là một mắt xích quantrọng trong hệ sinh thái toàn cầu, là yếu tố đảm bảo sự ổn định của các quá trìnhsinh thái cơ bản trên trái đất cũng như trong một phạm vi địa phương nào đó.Mặt khác rừng có vai trò kinh tế thông qua việc cung cấp lâm sản và cácloại đặc sản cho nền kinh tế

Việt Nam là một nước nhiệt đới, rừng và đất rừng chiếm 2/3 diện tích đất

đai cả nước Rừng là môi trường sống và là nơi hoạt động của các đồng bàodân tộc sinh sống ở khu vực vùng cao, nên vai trò kinh tế, bảo vệ môi trườngsinh thái của rừng lại càng trở nên quan trọng Tuy nhiên, cho đến nay diệntích rừng nước ta đã và đang bị suy giảm nhanh chóng, ngoài sự tàn phá củachiến tranh thì nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên rừng cả về số lượng vàchất lượng là do sự can thiệp vô ý thức của con người như chặt phá rừng làmnương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số, nạn du canh du cư, nạn khai thácrừng, săn bắn chim thú rừng bừa bãi, kinh doanh rừng không hợp lý Trongnhững năm qua Chính phủ Việt Nam đã đẩy nhanh tiến trình phủ xanh đấttrống đồi trọc thông qua một số chương trình và dự án lớn như: dự án 327;chương trình 5 triệu ha rừng, phấn đấu đến năm 2010 độ che phủ của rừng sẽ

đạt 43% trên quy mô toàn quốc Loài cây được chọn để trồng rừng trongnhững dự án trên và trong triến lược phát triển lâm nghiệp 10 năm tới chủ yếu

là nhóm: Keo, bạch đàn, và một số loài cây bản địa có giá trị như cây Lát,Xoan Mộc, Dái Ngựa, Ngoài ra, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôncũng đã nhập nội một số giống cây từ các nước, đưa về trồng thử nghiệm tạiViệt Nam nhằm nâng cao độ che phủ của rừng, cải tạo môi trường sinh thái,tăng vẻ đẹp cảnh quan, cung cấp gỗ cho các ngành công nghịêp, nhất là tronggiai đoạn hiện nay nhu cầu sử dụng gỗ tăng nhanh Trong số đó loài cây cóxuất xứ từ vùng nhiệt đới Mexico, mọc tương đối nhanh, có hiệu quả kinh tế

Trang 2

cao là cây Lát Mexico (Cedrela odorata họ Meliaceae), là loài cây gỗ được

nhiều người ưa chuộng, là mặt hàng lâm sản có giá trị kinh tế cao trên thịtrường trong nước và quốc tế Cây có gỗ thớ mịn, màu hồng nhạt, có vân gầnnhư gỗ Lát hoa, chứa dầu nên không bị mối mọt, ít cong vênh, nứt nổ, làm vángép thanh, xẻ ván, làm gỗ bóc Theo nghiên cứu Mỹ cho thấy loài cây này có

ý nghĩa rất lớn trong y học và nghệ thuật Gỗ của nó phù hợp và ưa chuộng đểsản xuất các loại đàn ghi ta, đàn vĩ cầm, các loại trống vỏ cây có chứa cáchoạt chất có thể sử dụng để sản xuất dược liệu như: thuốc giải nhiệt , thuốcchống sốt rét, thuốc cầm máu, thuốc giun

Hiện nay cây Lát được trồng thử nghiệm tại Trạm thực nghiệm lâm sinhMiếu Trắng Quảng Ninh, Ninh Bình, Lạng Sơn, Sơn La Rừng trồng sinhtrưởng và phát triển khá tốt

Theo quyết định số 16/05/QD - BNN ngày 15-3-05 “Danh mục các loàicây chủ yếu phục vụ cho rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái Lâm Nghiệp”trong đó có 2 vùng sinh thái được chọn để trồng loài cây Lát Mexico đó làvùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng Bằng Sông Hồng

Để rừng trồng có thể phát triển bền vững, dần tiến tới ổn định gần nhưrừng tự nhiên thì công tác chăm sóc, bảo vệ sau khi trồng là hết sức quantrọng Do yêu cầu của xã hội chúng ta sẽ gây trồng cây Lát Mexico trên diệnrộng ở các tỉnh, hiện tại và tương lai chúng ta có diện tích rừng cây LátMexico thuần loài khá lớn Theo đúng quy luật sinh học, khi có nguồn thức ăn

là có sâu hại, có thể thấy rõ điều này khi rừng cây Lát Mexico được hìnhthành, một khối lượng thức ăn là lá, thân, cành rất lớn đã tạo điều kiện rấtthuận lợi cho những loài côn trùng đơn thực và hẹp thực sinh sôi và phát triển.Qua quá trình điều tra sơ bộ đã phát hiện sâu ăn lá, Sâu đục nõn và sâu đụcthân, giai đoạn sâu non của sâu đục thân cây Lát Mexico rất nguy hiểm,chúng đục thành những lỗ ở xung quanh gốc cây làm cho gốc cây bị chảynhựa sùi bọt ra và chết Vì vậy việc nghiên cứu sâu hại cây Lát Mexico là việc

Trang 3

rất cần thiết trước khi chúng ta đưa cây Lát Mexico ra trồng đại trà ở các tỉnh.

Tuy nhiên cho đến nay, nghiên cứu về cây Lát Mexico tập trung chủyếu vào việc đánh giá khả năng sinh trưởng trong điều kiện lập địa ở nước ta,hầu như chưa có đề tài nào nghiên cứu về sâu hại cây Lát Mexico ở rừngtrồng, nên việc đề xuất các biện pháp phòng trừ chúng sẽ gặp nhiều khó khănvì thiếu cơ sở khoa học Chính vì vậy việc nghiên cứu đăc điểm sinh vật học

và sinh thái học sâu hại cây Lát Mexico và đề xuất những biện pháp phòng trừ

có hiệu quả là quan trọng và cần thiết nhằm hạn chế tối đa mức độ gây hại củachúng; đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay Để góp phần thực hiện thành công

chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng tôi tiến hành thực hiện đề tài "Nghiên

cứu một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loài sâu hại cây Lát Mexico và đề xuất các biện pháp phòng trừ tại Trạm thực hành thực nghiệm Lâm sinh Miếu Trắng Quảng Ninh”.

Trang 4

Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.1 Nguồn gốc xuất xứ của cây Lát Mexico

Đầu thế kỷ XVI, người Tây Ban Nha đã chiếm vùng đất Trung Mỹ và

đặt tên cho một số loài cây gỗ tốt nhất ở đó là Cedro rojo (cây Sồi đỏ) theo

tiếng Tây Ban Nha Khoa học phân loại sau đó xác định loài cây này thuộcmột chi trong họ Xoan (Meliaceac) Trong đó, nổi tiếng nhất là Cedro blanco

- cây Sồi trắng, nhưng thực chất đây là một loại Hoàng đàn, sau này được đặttên lại là Cupressus lindleii, và cây Cedro rojo – cây Sồi đỏ, sau này khoa

phân loại đã xác định là một chi trong họ Xoan (Meliaceae), loài này chính làLát Mexico Tuy nhiên, người ta vẫn tôn trọng thói quen ban đầu và người đầutiên đặt tên cho nó, nên đã đặt tên cho chi này là Cedrela, trong đó Cedrela odorata là đáng chú ý nhất.

Cedrela odorata phân bố rộng khắp các vùng sinh thái Trung Mỹ, Nam

Mỹ và các đảo trên vịnh Caribea Tuy nhiên, khu phân bố tập trung nhất củaloài cây này và cây phát triển tốt nhất là ở Mexico

1.2 Một số nghiên cứu trên thế giới về sâu hại cây Lát Mexico

Trong thế giới động vật, côn ttrùng là lớp phong phú nhất, gồm khoảnghơn 1 triệu loài, trong đó hơn 1% số loài được coi là sâu hại Từ xa xưa conngười đã biết cách phòng trừ côn trùng có hại cũng như lợi dụng côn trùng cóích để đáp ứng nhu cầu cuộc sống

Cho đến nay, các tài liệu liên quan đến côn trùng nói chung và sâu hạinói riêng được xuất bản khá nhiêu Tuy nhiên, do giới hạn của đề tài nên tôichỉ đề cập đến một số tài liệu có liên quan đến sâu hại Lát Mexico

Sự xuất hiện của các loài thuộc giống Hypsipyla và mức độ phá hại của Hypsipyla grandella, một loài gây nhiều thiệt hại cho các cây trồng rừng

Trang 5

thuộc họ Xoan cũng như sự phá hại của chúng trên các bộ phận khác nhau củacây chủ đã được nhiều tác giả đề cập đến ở một số vùng tại Trung Mỹ như:

Hochmut, Manso (1971) [25] đã điều tra tỷ lệ và mức độ hại của một sốloài sâu hại chính ở Cuba, trong đó có mô tả sự phá hại của Hypsipyla grandella trên hoa của một số loài cây họ Xoan Menendez, Berrios (1992) [28]

đã mô tả kiểu phá hại mới của H grandella trên rừng trồng cây Lát Mexico Cedrela odorata (3 đến 4 năm tuổi) tại Matanzas, Cuba Kiểu phá hại này bao

gồm đục vỏ và đục phần dưới của thân và thường dẫn đến chết cây

Berrio, Moreno (1980)[24]; Lara(1980)[26]; Vega, điều tra sâu đục nõn

H grandella trên cây Lát Mexico Cedrela odorata tại Colombia; kết quả cho

thấy mức độ hại của chúng cao nhất ở cây 2-3 năm tuổi Việc phòng trừ tương

đối khó khăn, các tác giả đã khuyến cáo nên chuyển các khu vực trồng cây họXoan trên sang mục đích khác để sử dụng thành các bãi chăn thả kết hợp vớitrồng cây Whitmore et al (1974) [31] đề cập đến sự phá hại nặng nề của H grandella trên Cedrela odorata tại Puerto Rico và người ta đã phải thay thế

bằngToona ciliata từ Costa Rica và không thấy bị loài sâu này phá hại.

Những nghiên cứu về tác hại và mức độ hại của H grandella đối với

các loài cây họ Xoan cũng đã được nhiều tác giả công bố:

Roovers (197) [29] đã quan sát và thấy rằng mức độ ưa thích đối vớicây chủ của sâu non và sâu trưởng thành H grandella tại Barinitas, Venezuela

theo thứ tự: Cedrela odorata > Cedrela angustifolia > Swietenia macrophylla.

Yamazaki et al (1990)[32] trong báo cáo kết quả điều tra tại vùng Peruvian,Amazon cho thấy quần thể H grandella tăng lên nhanh chóng trong mùa mưa

vì cây chủ đâm nhiều nõn mới, trong đó C odorata bị nặng hơn S macrophylla Những kết quả tương tự cũng được Menendez et al (1989) [27]

khi quan sát tập tính phá hại của sâu non H grandella trong điều kiện phòng

thí nghiệm đối với 5 loài cây thuộc họ Xoan: thức ăn thích hợp nhất đối vớisâu non là Cedrela odorata, còn S macrophylla, S mahagoni và Khaya sp là

Trang 6

thức ăn tương đối thích hợp; nhưng Toona ciliata lại không được coi là nguồn

thức ăn của chúng

Năm 1959 Chương Chấp Trung [35] đã cho ra đời cuốn "Sâm lâm côntrùng học" và sau đó từ năm 1965 giáo trình này liên tiếp được viết lại nhiềulần Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và cácbiện pháp phòng trừ

Năm 1991 Nhà xuất bản lâm nghiệp Trung Quốc giới thiệu cuốn sáchCôn trùng rừng Trung Quốc do tác giả Xiao Gangru(Tiên Cương Nhu)[37]viết trong đó Ông đã mô tả đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh vật học và đưa

ra biện pháp phòng trừ của các loài sâu hại cây rừng trồng ở Trung Quốc

1.3 Một số nghiên cứu ở trong nước

1.3.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái của cây Lát Mexico

Theo Khúc Đình Thành (09/2004) trong “Báo cáo tham luận kết quảgieo ươm và gây trồng cây Lát Mexico”:

Lát Mexico là cây gỗ nhỡ, đường kính trung bình đạt 50 – 60cm, caotrên 30m Thân thẳng tròn đều, vỏ nứt dọc nông màu xám trắng, lúc nhỏ vỏnhẵn màu xám xanh

Lá kép lông chim một lần chẵn, mỗi lá kép có từ 8 – 15 đôi lá chét, lá chéthình trứng, đuôi lá lệch, đầu lá nhọn dần Lá có lông mịn màu trắng bao phủ

Hoa tự xim viên chuỳ mọc ở đầu cành, hoa màu trắng

Quả nang tách ô, quả có vỏ giả bao bọc, quả khi chín tách thành 5 ô.Hạt có cánh mỏng

Lát Mexico là cây rụng lá vào mùa lạnh ở phía Bắc nước ta Tuy nhiên,cây nhỏ ít rụng lá và sinh trưởng với tốc độ chậm hơn

Mùa rụng lá thường từ tháng 1 đến cuối tháng 3 Đầu tháng 3 cây bắt

đầu ra lá non và bước vào mùa sinh trưởng

Tháng 10, 11 cây bắt đầu ra hoa, quả chín vào tháng 4, 5 Tiến hành thuhái quả vào cuối tháng 4 hay đầu tháng 5 trên những cây thân thẳng, tròn đều,

Trang 7

Rễ cọc kém phát triển nhưng rễ bàng phát triển mạnh Khả năng luồnlách khe đá mạnh như thực vật trên núi đá vôi, chịu gió bão khá tốt.

Lát Mexico đòi hỏi đất tơi xốp và thông thoáng, ưa đất giàu Canxi, ưa

đất có phản ứng trung tính đến hơi kiềm, phù hợp với trồng rừng trên các loại

đất phát triển trên đá vôi Ưa đất ẩm và thoát nước, tầng đất dày trên 50cm,

đất càng giàu dinh dưỡng càng tốt Rất phù hợp với đất phát triển trên đáBazan, đất phù sa bồi tụ, chân sườn núi đá vôi, đất thịt nhẹ phát triển trên đáMicasit và đá Gneis

Giai đoạn nảy mầm và mầm non rất dễ bị Sên, Sâu xám, Dế mèn,Chuột, Chim phá hại, cần tăng cường kiểm tra và xử lý các yếu tố gây hại nóitrên ở giai đoạn ban đầu

Giai đoạn trưởng thành cần chú ý đến Sâu đục nõn

Có thể gây trồng thuần loài hay hỗn giao với các loài khác, có thểchung sống hài hoà với các loài cây bản địa và cây nông nghiệp

Về điều kiện khí hậu – thuỷ văn, loài cây này phù hợp với nơi có lượngmưa từ 1000 – 2000mm, nhiệt độ trung bình từ 26 – 270C

1.3.2 Lịch sử hình thành rừng Lát Mexico tại khu vực nghiên cứu

Năm 1986, KS Nguyễn Hữu Lộc dẫn nhập Lát Mexico với xuất xứ ởtỉnh Villa Hermosa, vùng vịnh Caribea và trồng thử tại miền Bắc Việt Nam,sau 14 năm đường kính thân cây 1,3m đã đạt từ 48- 64cm, đoạn thân dưới cành

Trang 8

là 12m, thể tích gỗ hữu ích đạt 1,8 - 2,5m3/cây (theo tài liệu của Phòng Khuyếnlâm - Cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và PTNT tháng 6 năm 2002).

Như vậy, với chế độ nhiệt ẩm ở nước ta cây Lát Mexico có khả năngsinh trưởng khá tốt, không thua kém gì so với vùng nguyên sản Đây là mộttrong những kết quả hiếm hoi sau nhiều năm cố gắng di thực, nhập nội, vàtrồng thử nghiệm ở Việt Nam của một số nhà khoa học say mê và tâm huyếtvới sự nghiệp phát triển rừng theo xu thế bền vững kết hợp với bảo vệ môitrường và hiệu quả kinh tế Mặc dù cây Lát Mexico đã được dẫn giống vàtrồng thử nghiệm ở Việt Nam và được đánh giá là loài cây có nhiều ưu việt,song cho đến nay, với số lượng cây còn lại rất ít ỏi nên việc đánh giá về mặtlâm sinh cũng như khả năng tạo giống phục vụ cho việc mở rộng diện tích cònthiếu cơ sở khoa học và thực tiễn Vì vậy, đặt vấn đề nghiên cứu kỹ thuật gieo

ươm và trồng thử nghiệm trên phạm vi rộng lớn là việc làm cần thiết và có ýnghĩa thực tiễn trong chiến lược kinh doanh gỗ lớn ở nước ta

Xuất phát từ vấn đề đó, được sự nhất trí của Hội đồng khoa học BộNông nghiệp và PTNT, trường Trung Cấp Lâm Nghiêp Quảng Ninh đã tiếnhành thực hiện đề tài '' Gieo ươm và trồng thử nghiệm cây Lát Mexico" tạiTrạm thực nghiệm Lâm Sinh - Miếu Trắng - Quảng Ninh

Mô hình trồng thử nghiệm được tiến hành từ tháng 9 năm 2000 với diệntích là 20,6 ha Các công thức trồng thử nghiệm được bố trí ở độ dốc từ 10 -

250, tầng đất trung bình 45 - 50 cm, đất feralit phát triển trên đá mẹ sa thạch,hơi chua Hàng năm đo đếm số liêu về sinh trưởng và kiểm tra tỷ lệ sống củacây Kết quả trồng thử nghiệm các mô hình như sau:

+ Mô hình thử nghiệm trồng năm 2000 : Diện tích thi công 7 ha trên đốitượng đất cải tạo rừng tự nhiên ( công thức 2)

Do trồng muộn vào tháng 9 nên những tháng còn lại trong năm hầu nhưcây ngừng sinh trưởng và rụng lá hoàn toàn, đến mùa xuân năm sau, cây đâmchồi và sinh trưởng mạnh từ cuối tháng 4 - 10

Trang 9

Kết quả kiểm tra sau 6 tháng, tỷ lệ sống đạt 90%, sau 15 tháng tuổi HVN

đạt 1,2m

+ Mô hình thử nghiệm trồng năm 2001:

Diện tích trồng 6,6 ha trên đối tượng đất trống, thực bì cây bụi chiếm ưuthế (công thức 1)

Kết quả sinh trưởng thấp hơn nhiều so với mô hình trồng năm 2000 Sau

6 tháng tỷ lệ sống chỉ đạt 75%, 12 tháng tuổi chiều cao đạt 0,95m, sau 24tháng tuổi đạt chiều cao 1,5m Nguyên nhân chủ yếu có thể đất đai chưa thậtphù hợp, đất có ràng ràng, sim mua là thực vật chỉ thị đất chua không thíchhợp với loài cây này

Do đối tượng nghiên cứu còn rất mới mẻ, chưa có nhiều mô hình trồngvới những phương thức khác nhau, trồng trên các điều kiện địa hình và đất đaikhác nhau nên việc đánh giá sinh trưởng của các lâm phần Lát Mexico tronggiai đoạn đầu (2 - 4 năm tuổi) cũng chỉ dừng ở nội dung so sánh sự khác nhau

về sinh trưởng đường kính, chiều cao bình quân của lâm phần trồng trên 3 môhình như đã nêu ở trên

1.3.3 Một số nghiên cứu về sinh trưởng của cây Lát Mexico

Báo cáo của Nguyễn Hữu Lộc (2001) [9] cho thấy, Lát Mexico là cây

ưa sáng, mọc nhanh, thích hợp khí hậu nóng ẩm mưa nhiều; thích hợp gâytrồng trên các loại đất phát triển trên đá Bazan, đất phù sa sông suối, đất pháttriển trên đá vôi, đặc biệt là núi đá vôi Có thể gây trồng Lát Mexico thuầnloài hay hỗn giao với các loài khác như: Keo, Sấu Có thể sử dụng Lát Mexico

Trang 10

là cây che bóng cho Cà phê, Ca cao,…Trồng phân tán trên đường phố, côngviên, vườn trại nông thôn đồng bằng và miền núi.

Báo cáo của Khúc Đình Thành (2001) [14] đưa ra một số phương pháptạo cây con và một số mô hình trồng rừng theo các công thức thí nghiệm.Theo đó cây trồng trên đối tượng đất còn tính chất của đất rừng tự nhiên là tốtnhất, với kết quả đo đếm sau 15 tháng đạt tỷ lệ sống 90%, đường kínhgốc(D00) là 3,1cm, chiều cao vút ngọn (HVN) là 1.21cm

Năm 2003, Phạm Đôn - trường Đại học lâm nghiệp thực hiện đề tài''Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của quần thể Lát Mexico trồng thuầnloài ở Uông Bí - Quảng Ninh'' rút ra nhận xét sau:

- Điều kiện gây trồng cây Lát Mexico tương đối phù hợp với nguyên sản,tuy nhiên về đất đai còn chua, nhiệt độ còn thấp Đây là 2 yếu tố cơ bản hạnchế sự phát triển của Lát Mexico Sự hạn chế này biểu hiện ở sự phân hoá câyrừng còn lớn Tuy vậy có nhiều yếu tố thuận lợi về điều kiện lập địa và biên độsinh thái loài Lát Mexico khá rộng nên với kết quả về tăng trưởng bình quân

đường kính là 1.54 cm/năm, chiều cao là 1,08 m/năm, những mô hình đã trồngthử nghiệm ở Uông Bí - Quảng Ninh có thể chấp nhận được trong sản xuất

- Tác giả đã khuyến nghị một số vấn đề rất thiết thực như: Cần tăng cườngbón vôi trước khi trồng, trong điều kiện đất còn xấu, nên trồng mật độ cao trên

3000 cây/ha Từ những kết quả đã trồng, tác giả nhất trí việc trồng cây rễ trầnvới thời gian nuôi cây ở vườn ươm trên 1 năm và cuốc hố rộng 50 x50x50cm

Theo báo cáo kết quả và kinh nghiệm trồng cây bản địa ở Thanh hoácủa Ban quản lý dự án KFW4 tại hội thảo ''Trồng cây bản địa tại tỉnh ThanhHoá và Nghệ An'' cho thấy: Vụ thu năm 2003 đã trồng 15ha lát Lát Mexico tạilâm trường Tĩnh Gia, thị xã Bỉm sơn, và Sư đoàn 390 trên đất feralit màu vàngphát triển trên đá mẹ phiến thạch sét, độ dầy tầng đất trung bình Trồng vớimật độ thưa 715 cây/ha Kết quả sau 10 tháng tuổi đạt tỷ lệ sống cao 90%,chiều cao vút ngọn 70cm, đường kính gốc 3,5cm

Trang 11

Xí nghiệp giống Lâm nghiệp vùng Bắc Tung Bộ - Quảng Bình đã sửdụng thuốc kích thích dạng bột AIB và ABTI nồng độ 500ppm để thúc rễ homLát Mexico, sau khi chấm thuốc thì giâm ngay vào bầu Kết quả báo cáo tạihội nghị khuyến lâm năm 2003 tại Tam Kỳ- Quảng Nam Đà Nẵng với tỷ lệ ra

rễ đạt trên 85% Đơn vị đã tạo hàng trăn ngàn cây con cung cấp cho việc trồngrừng tại một số lâm trường ở Quảng Bình

Phòng khuyến lâm, Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn đã có những tài liệu tổng hợp kinh nghiệm về kỹ thuật gieo ươm,những hướng dẫn kỹ thuật xây dựng vườn cung cấp hom Lát Mexico với mục

đích tăng nhanh số lượng hom có thể lấy trên một cây, đồng thời đề xuất cácphương thức lâm sinh áp dụng cho lâm phần Lát Mexico và những đề xuất vềkhả năng có thể trồng được Lát Mexico ở một số địa bàn trọng điểm như :+ Vùng Cà phê ở phía Nam: Mặc dù mùa khô kéo dài đến 5-6 thángnhưng do chế độ nước của đất đỏ Bazan nên cây Lát Mexico có thể duy trìnhịp độ tăng trưởng 6-7 tháng Đây là loài có xuất xứ từ vùng nóng và khô nêntin chắc vào phía Nam khả năng tăng trưởng sẽ tốt, ra hoa kết quả sớm hơn sovới vùng Lạng Sơn ở ngoài Bắc Nếu trồng xen vào vườn cà phê đã trưởngthành sẽ tạo nên quan hệ hỗ trợ, che bóng cho cà phê, hạn chế Sâu đục nõn vàtạo cho Lát Mexico khúc thân thẳng và dài, dẫn đến nâng cao chất lượng gỗ.Nếu trồng xen làm cây che bóng cho cà phê sẽ tận hưởng được chế độ chămsóc, tưới bón cho cà phê Những cây Lát Mexico che bóng cho vườn cà phê, cacao ở Mexico đã đạt tới đường kính 70 - 80cm, cây cao to, tán gọn, khúc thâncho gỗ khá dài

+ Vùng Cao su: Mọi vùng khí hậu phù hợp với cây cao su ( trừ vùng đấtxám có độ pH thấp ) đều phù hợp với cây Lát Mexico Cây cao su không cầnche bóng và thực chất không chịu che bóng, vấn đề phát triển cây Lát Mexico

ở vùng cao su thực chất là chia sẻ và tận hưởng điều kiện đất đai phù hợp vớicây Lát Mexico Để phát triển cây Lát Mexico ở vùng này cần có những khảo

Trang 12

nghiểm để xác định cơ cấu, cấu trúc lâm sinh và đánh giá hiệu quả kinh tế.+ Vùng Chè: Đất đai khí hậu vùng trồng chè về cơ bản đáp ứng yêu cầu

để cây Lát Mexico sinh trưởng tốt Mặt khác, cây chè cần được che bóngtrong điều kiện vừa phải để phát triển bình thường, vì vậy có thể trồng cây LátMexico làm cây che bóng cho chè với mật độ thích hợp, hoặc trồng bao lôvừa có tác dụng phòng hộ, vừa tăng thu nhập từ gỗ, giảm được sâu bênh hại ởnhiều tỉnh vùng trung du, những nương chè năng xuất thấp do kinh doanhnhiều chu kỳ đã dẫn đến sự thoái hoá đất, vì vậy có thể thực hiện chế độ luâncanh chè và cây gỗ như Lát Mexico để cải thiện đất

Từ những kết quả nghiên cứu trên cho thấy: Mặc dù chưa có những môhình trồng khảo nghiệm loài cây Lát Mexico trên một diện tích rộng lớn,nhưng kết quả bước đầu dẫn nhập giống và trồng thử nghiêm đến nay cho thấyLát Mexico có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện lập địa ở Việt Nam

Những thông tin về hướng dần kỹ thuật, định hướng về phương thức lâmsinh và kết quả bước đầu trồng thử nghiệm Lát Mexico ở một số mô hìnhtrồng thử nghiêm là hết sức quý báu trong quá trình nghiên cứu

1.3.4 Một số nghiên cứu về sâu bệnh hại cây Lát Mexico

Nguyễn Văn Độ (2003) đã nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái vàbiện pháp quản lý tổng hợp Sâu đục nõn Hypsipyla robusta hại cây Lát hoa.

Trong đó tác giả cũng đã phát hiện ra loài Sâu đục nõn Hypsipyla grandella

hại cây Lát Mexico nhưng chưa đi sâu vào mô tả hình thái, sinh thái của loàisâu hại này

Bắt đầu từ năm 2000, Lát Mexico được trồng thử nghiệm tại Trạm thựcnghiệm Lâm Sinh Miếu Trắng Quảng Ninh với diện tích 20,6 ha Lâm trườngHữu Lũng - Lạng Sơn trồng 5 ha trong năm 2002 Tại thị xã Tam Điệp - NinhBình trồng năm 2004, các tỉnh Nghệ An, Bắc Kạn và một số tỉnh phía Namghi nhận loài cây này sinh trưởng nhanh, phù hợp đất đai khí hậu nhiều vùng

Về nghiên cứu sâu bệnh hại ở Việt Nam có rất ít tài liệu nghiên cứu về

Trang 13

mảng này Tài liệu chính thức ghi nhận được về nghiên cứu sâu bệnh hại làchuyên đề của Đoàn Xuân Huy: "Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật họccủa sâu bệnh hại lá cây Lát Mexico giai đoạn vườn ươm trường Đại học LâmNghiệp, 2005" phát hiện 6 loài sâu hại vườn ươm, 1 loại bệnh Trong đó Sâuhại cây Lát Mexico có 6 loài:

1 Bướm trắng: Pieris canidia Butler thuộc họ Bướm phấn (Pieridae),

bộ cánh vảy (Lepidoptera)

2 Sâu róm nhỏ: Ivela ochropoda Evermann thuộc họ Ngài độc

(Lymantriidae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera)

3 Ong Eurytoma sp (Chưa giám định được loài) thuộc họ

(Eurytomidae), bộ Cánh màng (Hymenoptera)

4 Nhộng của sâu sp (Chưa giám định được loài)

5 Châu chấu tre chân xanh: Hieroglyphus tonkinensis Bol thuộc họ

Châu chấu( Acrididae), bộ Cánh thẳng (Orthoptera)

6 Dế mèn nâu nhỏ: Gryllus testaceus Walker thuộc họ Dế mèn

(Gryllidae), thuộc bộ Cánh thẳng (Orthoptera)

Trang 14

Chương 2

Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu

2.1 Điều kiện tự nhiên - dân sinh kinh tế

2.1.1 Vị trí địa lý

Khu vực rừng trồng Miếu Trắng - Uông Bí - Quảng Ninh có toạ độ địalý: 21003'đến 21006' vĩ độ Bắc, 106004' đến 106009'kinh Đông

Ranh giới tự nhiên được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp khoảnh 76, 50, 46 thuộc phân trường 5 lâm trườngUông Bí

- Phía Nam giáp Phường Bắc Sơn - Thị xã Uông Bí

- Phía Đông giáp khu rừng 12 khe và lâm trường Hoành Bồ

- Phía Tây giáp khoảnh 51, 66 thuộc phân trường 5 lâm trường Uông Bí

2.1.2 Địa hình

Khu rừng Miếu Trắng được bao quanh bởi hai dãy núi chính chạy theohướng Bắc- Nam, dãy thứ nhất có đỉnh cao là 495m, dãy thứ hai có đỉnh cao là360m so với mực nước biển ở giữa khu rừng có đường trục chính dài 60kmchạy men theo suối có nước chảy quanh năm, có độ dốc trung bình từ 15- 300

2.1.3 Khí hậu thuỷ văn

Theo tài liệu của Đài khí tượng Quảng Ninh, khu vực nghiên cứu chịu

ảnh hưởng cơ bản của khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong một năm có 4 mùa rõ rệt:

- Mùa Đông (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau): chịu ảnh hưởng củakhối không khí cực đới nên vào đầu mùa thường lạnh và ít mưa, khô, đôi khixuất hiện sương mù Cuối mùa hay có mưa phùn, thời tiết âm u, ẩm thấp

- Mùa Xuân (tháng 4): Đây là thời kỳ gioa tranh của các khối khôngkhí cực đới và nhiệt đới, xuất hiện mưa dông thường xuyên

- Mùa Hạ (tháng 5 đến tháng 9): Chịu ảnh hưởng chính của các khốikhông khí xích đạo, áp cao nên đầu mùa thường có mưa dông, mưa rào Giữa

Trang 15

mùa thường xuất hiện bão, giải hội tụ, xoáy thấp, nhưng hiện tượng này giảmdần về cuối mùa.

- Mùa Thu (tháng 10): Chịu ảnh hưởng của rìa áp cao lạnh, thời giannày mưa dông, bão giảm dần, trời trong xanh và khô Đây là thời kỳ quá độ từmùa Hạ sang mùa Đông

Các chỉ tiêu nhiệt độ không khí bình quân, độ ẩm không khí bìnhquân, tổng lượng mưa bình quân của các tháng trong năm tại khu vực nghiêncứu (Uông bí - Quảng Ninh) được thể hiện ở biểu sau:

Biểu 2.1: Các chỉ tiêu khí hậu trong năm

Tháng Nhiệt độ không khí

bình quân ( 0 C)

Độ ẩm không khí bình quân(W%)

Tổng lượng mưa bình quân(mm)

(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Uông Bí - Quảng Ninh)

Từ số liệu trên, chúng tôi vẽ biểu đồ Gaussen - Wallte:

Trang 16

Nhiệt độ & độ ẩm

Lượng mưa

Độ ẩm Nhiệt độ

Hình 2.1: Biểu đồ Gaussen - Wallte khu vực

Uông Bí - Quảng Ninh.

Với ảnh của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều về mùa hè, hanhkhô kéo dài về mùa đông, khu vực Miếu Trắng tương đối để phát triển sảnxuất nông - lâm nghiệp Tuy nhiên, mưa bão tập trung, địa hình dốc là nguyênnhân chính gây ra xói mòn, úng lụt huỷ hoại đất, ngoài ra do ảnh hưởng củaviệc khai thác than, sản xuất nhiệt điện làm ô nhiễm đất, nước, không khí,

đã tác động xấu đến sản xuất nông - lâm nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh

tế của cả khu vực nói chung

2.1.4 Đất đai

Đất ở khu vực Miếu Trắng có 7 loại chính thuộc hai nhóm đất: đất tạichỗ và đất bồi tụ phát triển trên sỏi sạn kết và sa thạch Phần lớn độ sâu trungbình của tầng đất là 0,5 - 1,0m Độ phì của đất thuộc loại trung bình

2.1.5 Thực vật

Quần thể thực vật rừng Miếu Trắng tương đối phong phú, gồm trên

Trang 17

300 loài thuộc 86 họ, trong đó có những loài chiếm ưu thế về số loài như họLong Não (Lauraceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Sim ( Myrtaceae), họ

Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceac), họ Sồi Dẻ (Fagaceae); có nhiều loài chiếm ưuthế về về cá thể như loài Lim Xanh ( Erythrophloeum fordii), Táu ruối (Vaticatonkinensis), Trám trắng ( Cinarium album), Song, Mây, Ba kích

Khả năng tái sinh rừng mạnh, mật độ cây tái sinh có chiều cao trên 2mkhoảng 2000 cây Những loài tái sinh ưu thế như Táu ruối, Nanh chuột, Babét, Vân Nam, Tranh, Kháo, Dẻ, Ràng ràng mít, Vông Tổ thành loài cây gỗ

ưu thế gần giống tổ thành loài cây ưu thế tái sinh

2.1.6 Điều kiện dân sinh - Kinh tế - Xã hội

Dân cư trú trong khu vực Miếu Trắng phân bố thưa thớt ở hai khu vực chính

- Khu vực Đồng Bống ở phía Bắc có hơn 100 nhà dân nằm sát bìa rừngcạnh trục đường 18B từ huyện Hoành Bồ sang, song dân ở vùng này chủ yếu

là nông dân nằm trong tổ chức HTX nông nghiệp và 20 hộ công nhân ngànhthan ở quanh khu vực Xa hơn nữa về phía Đông là vùng mỏ than Vàng Danh,phía Nam là thị xã Uông Bí hoạt động chủ yếu là các ngành công nghiệp điện

và than cho nên nhu cầu gỗ nhu cầu gỗ ở khu vực là khá lớn Thu nhập chínhcủa người dân trong khu vực là khai thác than và vào rừng khai thác trộm gỗsăn bắn

Nhìn chung người dân trong khu vực còn nghèo, việc buôn bán khôngthuận lợi, nguồn sống duy nhất của nhiều hộ gia đình chủ yếub là phụ thuộcvào rừng Tuy nhiên, khu vực nằm trong vùng công nghiệp than và điện màtrong đó than là chủ yếu Qua theo dõi thấy rằng một khi công việc của ngànhthan gặp khó khăn thì sức ép đối với rừng ngày càng tăng lên

2.2 Đặc điểm của rừng trồng cây Lát Mexico Cedrela odorata trong khu vực nghiên cứu

Trồng thử nghiệm cây Lát Mexico được tiến hành từ tháng 9 năm 2000tai Trạm thực hành thực nghiệm Lâm Sinh Miếu Trắng Quảng Ninh Mô hình

Trang 18

bố trí trên các điều kiên lập địa sau:

- Trồng trên đất trống, thực bì cây bụi và cỏ dại (Công thức 1)

- Trồng trên đất cải tạo rừng tự nhiên, đất tốt và mang nhiều tính chất đấtrừng tự nhiên, tầng đất tơi xốp (Công thức 2)

- Trồng trên đất luân kỳ II rừng trồng keo tai tượng (sau khi khai tháctrắng rừng keo tai tượng luân kỳ I) (Công thức 3)

Trang 19

Chương 3 Mục tiêu - Đối tượng - Nội dung

và Phương pháp nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

- Xác định một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài sâuhại chủ yếu cây Lát Mexico

- Đề xuất các biện pháp phòng trừ đối với loài sâu hại chủ yếu

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Sâu hại cây Lát Mexico (Cedrela.odorata)

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Xác định thành phần loài sâu hại cây Lát Mexico

- Thành phần loài sâu hại và thiên địch

- Các loài sâu hại chủ yếu

3.3.2 Đặc điểm hình thái của loài chủ yếu gây hại cây Lát Mexico

- Mô tả đặc điểm hình thái của từng pha

3.3.3 Đặc điểm sinh vật học của loài sâu hại chủ yếu

- Pha truởng thành

- Pha trứng

- Pha sâu non

- Pha nhộng

3.3.4 Đặc điểm sinh thái học của loài sâu hại chủ yếu

3.3.4.1 Quan hệ của sâu hại chủ yếu với yếu với yếu tố khí tượng thuỷ văn

Trang 20

3.3.4.3 Quan hệ của của loài sâu hại chủ yếu với thiên địch

3.3.5 Nghiên cứu đề xuất các biện pháp điều tra giám sát loài sâu hại chủ yếu

3.3.6 Đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại cây Lát Mexico

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung trên phương pháp nghiên cứu được tiến hànhtheo 2 bước : Ngoại nghiệp và nội nghiệp theo giáo trình điều tra, dự tính dựbáo sâu bệnh trong lâm nghiệp [11]

3.4.1 Ngoại nghiệp

Công tác chuẩn bị phục vụ cho điều tra:

- Tài liệu: Bao gồm bản đồ địa hình, tài liệu khí tượng thuỷ văn, và tàiliệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

- Dụng cụ: Bao gồm dao, cuốc, thước đo, cồn bảo quản mẫu, hộp đựngmẫu vật, và các biểu điều tra

3.4.1.1 Điều tra sơ bộ

Mục đích của điều tra sơ bộ là nắm được một cách khái quát về tình hìnhphát sinh, phát triển của sâu hại làm cơ sở để xác định công tác điều tra tỉ mỉ

Điều tra sơ bộ được tiến hành trên tuyến điều tra

Tuyến điều tra phải giúp nhanh chóng có được kết quả đại diện cho khuvực nghiên cứu Vì vậy tuyến điều tra phải đi qua các diện tích rừng trồng LátMexico khác nhau về các yếu tố địa hình, dạng thực bì, thời gian trồng

Căn cứ vào bản đồ hiện trạng rừng tôi lập một tuyến điều tra và đánh dấu trênbản đồ Do cây Lát Mexico được trồng thành những lô nhỏ tách biệt nhau nêntại mỗi lô tôi coi là một điểm điều tra Đi dọc tuyến đến mỗi điểm điều tradừng lại ước lượng nhanh về tình hình sâu hại (thành phần loài, mật độ, tỷ lệ

có sâu) làm cơ sở để lựa chọn điểm tiến hành điều tra tỷ mỉ Sau khi điều trasơ bộ tôi xác định được 6 điểm để tiến hành điều tra tỷ mỉ Sơ đồ bố trí các

điểm điều tra được thể hiện trong biểu 3.1 (Trang sau)

Trang 21

3.4.1.2 Điều tra tỉ mỉ

Mục đích của điều tra tỷ mỷ là thu thập các thông tin về sâu hại phục

vụ cho dự tính dự báo, nghiên cứu đặc điểm sinh vật học sinh thái học của cácloài sâu hại và các loài thiên địch

- Phương pháp xác định ÔTC:

Ô tiêu chuẩn là một diện tích được chọn ra để thực hiện các phươngpháp thu thập thông tin đại diện cho khu vực cần điều tra Về nguyên tắcchung ô tiêu chuẩn phải đảm bảo đại diện cho các lâm phần rừng cần điều tra

Ô tiêu chuẩn cần có diện tích, số cây đủ lớn, các đặc điểm về đất đai, thực bì đại diện cho các khu vực cần điều tra

Điều tra đặc điểm ô tiêu chuẩn: Bao gồm các đặc điểm về địa hình, thực

địa, thực vật, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã sử dụng, vv Đây là nhữngyếu tố sinh thái trực tiếp tạo nên vùng vi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến đờisống của cây cũng như sự phát sinh, phát triển của các loài côn trùng Khi

điều tra đặc điểm ô tiêu chuẩn có kế thừa số liệu từ hồ sơ trồng rừng để thu

được các chỉ tiêu về đặc điểm ô tiêu chuẩn

Tổng diện tích rừng trồng cây Lát Mexico là 20,6 ha, phân tán ở 4 vị tríkhác nhau, tình hình thực bì, địa hình tương đối đồng nhất, độ dốc trung bình,chúng tôi quyết định điều tra 3% tổng diện tích (gần bằng 0,6 ha) Với diệntích ÔTC là 1000 m2(20m x 50m) Số ÔTC đã lập là 6 ô Các ÔTC được miêutả trong biểu 3-1

Biểu 3.1: Đặc điểm của ô tiêu chuẩn trong khu vực nghiên cứu

Trang 22

Hỗn giao

Thuần loài

Thuần loài

Hỗn giao

Nam

Đông Nam

Đông Nam

Tây Nam

Sim, Cỏ tranh,

Ba soi

Sim, Cỏ tranh,

Ba soi

Sim Mua, Lau chít, Cỏ tranh

Sim, Cỏ tranh,

Ba soi

Sim, Cỏ tranh,

Ba soi

10 Đất Feralit phát triển trên đá mẹ sa thạc sét

- Xác định cây tiêu chuẩn:

Cây Lát Mexico tại khu vực nghiên cứu được trồng theo hàng nên khichọn cây tiêu chuẩn chúng tôi tiến hành theo phương pháp ngẫu nhiên hệthống, cứ cách một hàng điều tra một hàng, trong hàng được chọn cứ 5 cây

điều tra một cây Các cây tiêu chuẩn được đánh dấu bằng sơn đỏ để lần saukhông bị lặp lại

- Điều tra số lượng sâu hại:

Do cây tiêu chuẩn có chiều cao trung bình thấp, mặt khác thời gianthực hiện đề tài là vào cuối mùa đông đầu mùa xuân nên lá cây rụng hết và bắt

đầu ra ngọn non, lá ít, cây phân cành nhánh ít, tán lá nhỏ, nên mẫu điều tra làtoàn bộ cây Tôi đã chọn 30 cây tiêu chuẩn làm mẫu điều tra và thực hiện biệnpháp đo điếm trực tiếp trên cây tiêu chuẩn Kết quả thu được ghi vào Mẫu biểu

Trang 23

02: Điều tra thành phần số lượng sâu hại lá (được trình bày ở phần phụ biểu).

Sau khi điều tra xong thành phần, số lượng sâu hại và thiên địch tôi tiếptục điều tra mức độ gây hại của chúng, cách làm như sau:

Do cây tiêu chuẩn có số lượng lá ít, vì vậy chúng tôi tiến hành điều tratoàn bộ cây Kết quả ghi vào mẫu biểu 03: Biểu điều tra mức độ hại lá (đượctrình bày ở phần phụ biểu)

Công thức tính R% là mức độ bị hại trung bình được trình bày ở phầnnội nghịêp Sau khi điều tra xong mức độ gây hại của sâu hại lá chúng tôi tiếptục điều tra thành phần, số lượng sâu hại thân, cành, ngọn Phương pháp đượctiến hành như sau:

Điều tra sâu hại ngọn, thân, cành

Trước hết trên các cành của cây điều tra dựa vào các dấu vết, triệuchứng để tính tổng số cành, tổng số ngọn bị hại so với tổng số cành, tổng sốngọn của cây điều tra Kết quả được ghi vào mẫu biểu 04: Biểu điều tra sâuhại ngọn, hại thân (được trình bày ở phần phụ biểu)

Đối với sâu hại thân quan sát, xác định chính xác vị trí gây hại cách gốcbao nhiêu cm, tiến hành đếm số lượng lỗ đục có phân và vết nhựa thân câychảy ra, lựa chọn một số cây chẻ ra để bắt sâu non, và xem vị trí đường đụccủa sâu non

Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu 05: Biểu điều tra sâu đục thân(đượctrình bày ở phần phụ biểu)

Căn cứ vào số liệu trong biểu sẽ tính được tỷ lệ phần trăm thân, cành, ngọn bịhại so với tổng số cây, số cành, số ngọn điều tra Ngoài ra ta có thể tính đượcmật độ và tỷ lệ có sâu của từng loài sâu hại trong ô

Để đánh giá mức độ gây hại ta dựa vào các tiêu chuẩn sau:

Trang 24

Cấp III : Hại nặng Từ 26 - 50%

Cấp IV: Hại rất nặng > 50%

- Điều tra sâu dưới đất:

Sâu ở dưới đất rừng bao gồm các loài sâu non của họ Bọ hung(Scarabaeidae), họ Vòi voi (Curculionidae), Sâu xám họ ( Noctuidae) chuyên sống ở trong đất ăn rễ cây, các loài mối, dế, gián và các loài sâutrưởng thành của họ bọ hung thường cư trú và sinh sống trong lớp thảm mục

Để xác định thành phần, số lượng và sự phân bố của các loài sâu ta tiếnhành điều tra trên các ô dạng bản

Lập ô dạng bản có diện tích 1m2, vị trí của ô dạng bản được bố trí ởdưới tán cây tiêu chuẩn đã được chọn Sau đó tiến hành điều tra theo các bước:Dùng dao bới kỹ cỏ và thảm mục trên mặt đất để tìm kiếm sâu, sau đó gạt cỏ

và thảm khô cuốc từng lớp đất mặt 10cm, đất được cuốc lên bóp nhỏ để tìmsâu, sau đó được kéo lần lượt về phía ngoài của ô và cứ cuốc đến khi nào hếtsâu thì thôi Các mẫu vật điều tra của lớp đất được ghi chép riêng Kết quả

được ghi vào mẫu biểu 06 : Biểu điều tra sâu dưới đất (được trình bày ở phầnphụ biểu)

- Phương pháp thu thập mẫu, xử lý tạm thời mẫu thu được

Để thu được các mẫu điều tra tôi chuẩn bị dụng cụ cần thiết, đặc biệt

là các lọ nhựa có đục lỗ Bên ngoài lọ nhựa có ghi vị trí của điểm điều tra.Theo phương pháp nghiên cứu tôi tiến hành thu thập mẫu trên đối tượng điềutra để vào trong lọ nhựa sau đó bảo quản cẩn thận các mẫu thu được, rồi mang

về giám định ngay hoặc có thể tiến hành nuôi sâu trong phòng để nghiên cứuthêm các đặc điểm về hình thái, sinh vật học của loài

3.4.2 Nội nghiệp

Công tác nội nghiệp bao gồm 2 phần:

3.4.2.1 Phương pháp bảo quản mẫu

Mục đích bảo quản mẫu giữ cho mẫu không bị thối rũa, biến dạng chờ

Trang 25

giám định tên các loài mà ta chưa biết rõ hoặc ta chưa biết tên loài Mẫu côntrùng thu thập được ngâm vào lọ đựng dung dịch cồn 900 hoặc dung dịchformaldehyde Các lọ được đánh dấu từ Sp1 cho đến hết Riêng với sâu trưởngthành thuộc bộ cánh cứng mẫu được phơi sấy trước khi bảo quản.

3.4.2.2 Phương pháp nuôi sâu hại và thiên địch

Mục đích của việc nuôi sâu để quan sát từng giai đoạn phát triển củachúng, theo dõi đặc tính sinh vật học của một số loài côn trùng (có khả nănggây nuôi) từ đó để giám định loài và có cơ sở đề ra giải pháp phòng trừ sâuhại, sử dụng các loài thiên địch

Dụng cụ nuôi sâu:

+ Lồng nuôi sâu: Kích thước lồng nuôi sâu 30x30x45cm Khung lồng

được đánh theo số thứ tự Thức ăn nuôi sâu phải sạch, khô, phù hợp với kíchthước lọ và nhu cầu thức ăn của sâu Thức ăn được thay vào thời điểm nhất

bộ côn trùng theo công thức

Trang 26

% 100

n = số cây hay số ô dạng bản có côn trùng;

N = tổng số cây hay số ô dạng bản điều tra của ô tiêu chuẩn

- Mật độ là giá trị trung bình cộng được tính theo công thức:

Trong đó: Ms = Mật độ sâu cần tính (con/đơn vị điều tra);

Si = Số lượng sâu cần tính của đơn vị điều tra thứ i;

1 i

S i 2

)MS(1n

S

%S

n

1 i i S

Trang 27

Trong đó:

S: Sai tiêu chuẩn S%: Hệ số biến động

n: Đơn vị điều tra Si: Số lượng sâu của đơn vị điều tra thứ iMs: Mật độ sâu trung bình của đơn vi điều tra

Khi muốn so sánh sự khác nhau của 2 só trung bình (Mật độ sâu, mức

độ gây hại của sâu, đường kính, chiều cao, P% ) thì ta có thể sử dụng tiêuchuẩn U

Dùng giá trị tuyệt đối U theo giáo trình thống kê của giáo sư NguyễnHải Tuất để kiểm tra sự thuần nhất của các ô tiêu chuẩn

Trong đó: X01, X02 là giá trị trung bình cộng cần kiểm tra

S12và S22 là phương sai mẫu của các số trung bình

n1 và n2dung lượng mẫu quan sát của 2 ô tiêu chuẩnNếu U > 1,96 các giá trị trung bình của các ô có sự sai khác hay nóicách khác là các ô đó không nằm trong cùng một tổng thể

Nếu U < 1,96 các giá trị trung bình của các ô không có sự sai khác cónghĩa là các ô đó cùng nằm trong một tổng thể

2

2 2 1

2 1

2 1

n

S n S

X X U

Trang 28

Chương 4 Kết quả và phân tích kết quả

4.1 Thành phần các loài côn trùng hại cây Lát Mexico

Sau một thời gian nghiên cứu, đã phát hiện được 18 loài côn trùng trêncây Lát Mexico thuộc 7 Bộ, 17 Họ Danh lục các loài trong họ, bộ côn trùng

được thể hiện trong biểu 4.1

Biểu 4.1: Thành phần các loài côn trùng trên cây Lát Mexico

BI bộ Cánh bằng Isoptera

H1 Họ Mối đất Termitidae

BII bộ Cánh thẳng Orthoptera

H2 Họ Sát sành hoa Phaneropteridae

2 Sát sành xanh Ducetia japonica + Hại lá

BIII bộ Cánh đều Homoptera

H3 Họ Ve mũi voi Fulgoridae

3 Ve hoa mũi voi Fulgora candellaria + Hút dịch

BIV bộ Cánh nửa cứng Hemiptera

H6 Họ Vòi voi Curculionidae

6 Vòi voi nâu Dyscerus longiclavis Marshall - 0 + Hại thân

H7 Họ Tenebrionidae Tenebrionidae

Trang 29

7 Bổ củi giả chân đỏ Sp + Hại thân

H8 Họ Bọ rùa Coccinellidae

8 Bọ rùa đen Chilocorus gressitti Miyatake + ??

BVI bộ Cánh màng Hymenoptera

H9 Họ Ong kén Braconidae

VII bộ Cánh vẩy Lepidoptera

H10 Họ Ngài cánh trong Sesiidae

H11 Họ Ngài đục thân Cossidae

H12 Họ Ngài độc Lymantriidae

12 Sâu róm đen lông dài Lymantria sp. + Hại lá

H13 Họ Ngài cuốn lá Tortricidae

H14 Họ Sâu đo Geometridae

H15 Họ Pyralidae Pyralidae

15 Sâu đục nõn Hypsipyla robusta Moore - Hại ngọn

H16 Họ Bọ nẹt (Ngài gai) Limacodidae

16 Bọ nẹt 6 chấm đỏ Parasa sp. + Hại lá

17 Bọ nẹt thuyền Thosca sinensis (Walker) + Hại lá

H17 Họ Ngài túi Psychidae

18 Sâu kèn trắng Chalioides kondonis Sack - Hại lá

Ghi chú : +: Sâu trưởng thành -: Sâu non 0:Nhộng

Qua Biểu 4.1 cho thấy số loài côn trùng thu được trên cây Lát Mexico ởkhu vực nghiên cứu là khá đa dạng Sự phong phú này có được là do điều kiệnkhí hậu mà nhiều loài côn trùng cần cho sự phát triển của chúng đã được thỏa

Trang 30

mãn: Nhiệt độ trung bình tại khu vực là 23,30C, độ ẩm là 82% rất phù hợp cho

sự sinh trưởng và phát triển của côn trùng

Nhiều loài côn trùng trong danh sách kể trên còn chưa thể xác định

được tên khoa học do mới chỉ thu được rất ít mẫu vật (Bọ xít họ Pentatomidae,cánh cứng họ Tenebrionidae, sâu hại họ Sesiidae) Một số trong đó chưa rõlắm về ảnh hưởng của chúng đối với cây Lát Mexico (Bọ rùa đen, Sát sành ).Bên cạnh những loài sâu hại cũng thu được một số loài côn trùng thiên địch(Ong kén) Vì vậy cần tiến hành tiếp tục theo dõi và nghiên cứu đặc điểm sinhhọc của các loài làm cơ sở khoa học áp dụng các biện pháp quản lý côn trùnghợp lý để khống chế các loài sâu hại

Để đánh giá mức độ phong phú về loài, họ của các bộ côn trùng thu bắt

được trong khu vực nghiên cứu tôi thống kê tỷ lệ % về số loài, họ theo các bộcôn trùng Kết quả thống kê được mô tả trong Biểu 4.2 và hình 4.1, 4.2

Biểu 4.2: Tỷ lệ % số họ, loài của các bộ côn trùng thu được

trong khu vực nghiên cứu

Trang 31

22.22 5.55

Qua Biểu 4.2 và các hình 4.1, 4.2 có thể rút ra một số nhận xét sau:

Tỷ lệ % về số họ, loài của bộ Cánh vẩy là lớn nhất (chiếm 47,05% số họ

và 50,1% số loài), sau đó đến bộ Cánh cứng (chiếm 23.52% số họ và 22,22%

số loài) Các bộ Cánh bằng, Cánh thẳng, Cánh đều, bộ Cánh nửa cứng, bộCánh màng có tỷ lệ nhỏ (chiếm 5,88% số họ và 5,55% số loài) Hiện trạngnày là phù hợp với phân bố tự nhiên của các loài côn trùng

Trang 32

Căn cứ vào ý nghĩa của chúng có thể chia 18 loài côn trùng thu đượcthành các nhóm khác nhau Số liệu thống kê về vấn đề này được thể hiện ởbảng sau đây:

Biểu 4.3: Tỷ lệ các nhóm côn trùng thu được trên cây Lát Mexico

Sâu hại thân

Sâu hại ngọn

Sâu hại rễ

Hút dịch

Chưa rõ Thiên

địch

Trang 33

Như vậy, sâu hại lá chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp đó là sâu hại thân Tuynhiên, sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối bởi vì không phải loàisâu hại nào cũng có thể gây nguy hiểm cho cây Với vai trò là một thành phầncủa hệ sinh thái, trong một giới hạn cho phép về mật độ quần thể thì các loàisâu hại lại trở thành loài có ích Chúng có vai trò quan trọng giúp cây thụphấn, phát tán hạt giống, chuyển hoá chất hữu cơ thành chất vô cơ hoàn trảcho cây hoặc thông qua chuỗi thức ăn chúng hạn chế sự phát sinh, phát triểncủa các loài sâu hại khác nguy hiểm hơn Tuy nhiên, chúng vẫn là các đốitượng sâu cần chú ý trong công tác phòng trừ sâu hại vì khi có điều kiện môitrường thuận lợi thì một trong số các loài trên sẽ phát triển thành dịch sâu hạiphá rừng trồng.

Nhóm sâu hại lá có 8 loài nhưng không có loài nào thực sự thể hiện sựnguy hiểm của chúng Một số trong nhóm này thu được với số lượng rất ítnhư: Bọ lá vàng, Sát sành xanh, Bọ nẹt, Sâu đo, sâu kèn Nhìn chung trongthời gian nghiên cứu sâu hại lá xuất hiện rất ít, gây hại không đáng kể Khôngngoại trừ khả năng đây chỉ là những loài ngẫu nhiên thu được

Nguy hiểm hơn nhiều sâu hại lá là sâu hại thân và sâu hại ngọn Nămloài sâu hại thân và 1 loài sâu hại ngọn thường thấy xuất hiện ở nhiều ô tiêuchuẩn Đây cũng là những loài đã từng được chú ý ở các nước khác, đặc biệt làSâu đục nõn

Mối vừa hại thân vừa gây hại rễ, đặc biệt là những cây mới trồng Tuynhiên sức đề kháng của cây khá tốt, ít khi thấy cây bị chết do mối gây ra

4.2 Xác định các loài sâu hại chủ yếu

Mỗi loài sâu hại thường có đặc điểm sinh học khác nhau nên yêu cầucác biện pháp phòng trừ cũng khác nhau Nếu tiến hành các biện pháp phòngtrừ chung cho tất cả các loài sâu hại thì chi phí sẽ rất cao, hiệu quả phòng trừkém không mang tính khả thi Biện pháp phòng trừ có hiệu quả bền vững nhất

là phục hồi hệ sinh thái rừng hoàn chỉnh trong đó có sự cân bằng về số lượng

Trang 34

cá thể loài trong chuỗi thức ăn Vì vậy, trong công tác phòng trừ sâu hại chỉnên tập trung vào một số loài sâu hại chủ yếu có khả năng gây hại tại khu vực.Khi nghiên cứu đặc điểm dịch sâu hại ta thấy các loài sâu hại chỉ gây hại khi

có mật độ lớn và gây ảnh hưởng xấu tới mục tiêu kinh doanh của con người.Một loài sâu hại có tiềm năng phát dịch - loài có khả năng sinh sản cao - cần

có điều kiện môi trường thuận lợi Nhằm hạn chế các tác động tiêu cực củasâu hại và sử dụng tốt các loài thiên địch, ta cần đi sâu phân tích để rút ra cácloài sâu hại chủ yếu Những chỉ tiêu để xác định loài sâu hại chủ yếu gồm:

- Số lần xuất hiện của loài sâu trong các đợt điều tra = SLXH

- Mật độ của loài sâu hại (M), tỷ lệ cây có loài sâu hại (P%)

- Đặc tính sinh vật học của loài, đặc biệt là hình thức gây hại của sâu

- Mức độ gây hại của sâu (R%)

Đây là những chỉ tiêu đặc trưng nhất cho quần thể sâu ở thời điểm hiệntại vì: Số lần xuất hiện sâu hại thể hiện mức độ phổ biến của chúng; Mật độ

đánh giá mức độ đe doạ của quần thể sâu hại đối với cây trồng Tỷ lệ cây cósâu phản ánh mức độ lan tràn của quần thể sâu hại; Hình thức gây hại khácnhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau tới cây trồng Cuối cùng mức dộ gây hại củasâu là chỉ tiêu đánh giá mang tính tổng hợp các chỉ tiêu kể trên Để đánh giáchính xác loài sâu hại nào là loài gây hại chính còn cần đến các thông tin nhưquá trình phát dịch và nguy cơ phát dịch của chúng Do các nghiên cứu về sâuhại cây Lát Mexico ở nước ta còn mới mẻ nên chưa có những thông tin đó.Với thời gian nghiên cứu ngắn thì đây là phương pháp khá đầy đủ và chínhxác để xác định các loài sâu hại chủ yếu Kết hợp với việc tìm hiểu tình hìnhsâu hại trong những năm gần đây để việc xác định được chính xác hơn

Trang 35

Biểu 4.4: Kết quả điều tra sâu hại Lát Mexico

tại khu vực nghiên cứu

(Ghi chú: Các chữ viết tắt: xem trang trước!)

2 Sát sành xanh (Ducetia japonica) 1 0,027 2,67 +

3 Ve hoa mũi voi (Fulgora candellaria) 1 0,170 11,60 +

6 Vòi voi nâu (Dyscerus longiclavis M.) 5 2,147 24,14 +++

7 Bổ củi giả chân đỏ (sp họ Tenebrionidae) 1 0,010 1,00 +

8 Bọ rùa đen (Chilocorus gressitti Miyatake) 1

9 Ong kén (thiên địch) (họ Braconidae) 1

10 Sâu đục sùi thân (họ Sesiidae) 1 0,008 0,67 +

11 Sâu đục thân (Zeuzera sp.) 1 0,024 1,00 +

12 Sâu róm đen lông dài (Lymantria sp.) 1 0,013 1,33 +

13 Sâu cuốn lá (Archips sp.) 1 0,007 0,67 +

15 Sâu đục nõn (Hypsipyla robusta M.) 5 0,433 22,34 ++

16 Bọ nẹt 6 chấm đỏ (Parasa sp.) 1 0,003 0,34 +

17 Bọ nẹt thuyền (Thosca sinensis (Walker)) 1 0,010 1,00 +

18 Sâu kèn trắng (Chalioides kondonis Sack) 1 0,010 1,00 +

Nhìn vào Biểu 4 4 ta thấy: Căn cứ vào số lần xuất hiện (SLXH) của sâu

có thể xếp hạng các loài sâu hại theo thứ tự sau đây:

Trước hết là xét về mặt số lần xuất hiện:

1 Loài Vòi voi nâu, Sâu đục nõn xuất hiện trong cả 5 lần điều tra Nhưvậy đây là hai loài phổ biến nhất của khu vực nghiên cứu

Trang 36

2 Loài đứng thứ hai về số lần xuất hiện là Sâu đo, có 2 lần xuất hiệntrên tổng số 5 lần điều tra.

3 Các loài còn lại chỉ điều tra được một lần

Nếu chỉ lựa chọn những loài có số lần xuất hiện lớn hơn 50% số lần

điều tra để xét tiếp các chỉ tiêu khác ta thấy số loài có thể là sâu hại chủ yếuchỉ còn 2 loài, đó là: Loài Vòi voi nâu và Sâu đục nõn

Xét về chỉ tiêu mật độ có thể dễ dàng thấy rằng các loài sau đây có mật

độ khá cao: Vòi voi nâu (2,147 con/cây); Sâu đục nõn (0,433 con/cây); Ve hoa(0,17 con/cây)

Mật độ và tỷ lệ cây có sâu thường có quan hệ với nhau, những loài

có mật độ cao thường cũng có chỉ số P% cao: Trong bảng trên có thể thấycác loài có tỷ lệ cây có sâu 10% gồm: Vòi voi nâu, Sâu đục nõn , Ve hoa,Sâu đo

Đánh giá mức độ gây hại của các loài sâu: Căn cứ vào đặc điểm gây hạicủa sâu có thể thấy các loài sâu đục thân, đục nõn, hại rễ rất nguy hiểm, Khigây hại mạnh chúng có thể làm chết cây hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng tớisinh trưởng, phát triển và chất lượng của cây

Như vậy trong số 18 loài côn trùng thu được, các loài Vòi voi nâu(Dyscerus longiclavis Marshall) và loài Sâu đục nõn (Hypsipyla robustaMoore) là 2 loài sâu hại nguy hiểm nhất hiện nay nên được coi là sâu hại chủyếu trên cây Lát Mexico ở thời điểm nghiên cứu này Loài Sâu đo (Scopulasp.) và Sâu đục thân (Zeuzera sp.) cũng là những loài rất đáng chú ý, đây lànhững loài sâu hại có tiềm năng trở thành sâu hại chủ yếu Sau đây là một sốthông tin về các loài sâu hại này

4.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của sâu hại chủ yếu

(Theo Xiao Gangrou (1991): Forest Insects of China Chinese Academy of Forestry China Forestry Publishing House, 1991.)

Trang 37

4.3.1 Đặc điểm hình thái và đặc tính sinh học Vòi voi nâu (Dyscerus

longiclavis Marshall) đục thân cây Lát Mexico

4.3.1.1 Đặc điểm hình thái

a) Pha trưởng thành

Thân thể dài 10,5-13,5mm, rộng 4-4,5mm, màu nâu đen, một số con

có màu nâu hạt dẻ Trên cánh có 10 vân dọc, chứa các rãng nhỏ hình chữ nhật,

có rất nhiều hạt nhỏ và túm lông ngắn màu nâu vàng Mảnh lưng ngực trướchình thành các rãnh và đường nối không có quy tắc, mép trước bằng Đầumảnh thuẫn tròn Vòi cong hình vòng cung, độ dài gần bằng ngực trước, thô

có rãnh Râu đầu dạng chuỳ, đốt thứ nhất dài mảnh, đốt thứ hai dạng chuỗi hạt

đốt thứ 9 và đốt 11 hợp lại và phình lên dạng que Đầu đốt đùi chân trước,giữa và chân sau phình to, đoạn cuối nhỏ, hình thoi (con cái) Gốc bụng con

đực lõm, đoạn cuối mảnh bụng hơi lõm Gốc bụng con cái không lõm, đoạnsau đốt cuối mảnh bụng thường có 2 u lồi

Hình 4.4: Sâu trưởng thành Vòi voi nâu

b) Trứng

Trứng: Hình bầu dục, nhẵn, dài 1,6mm, rộng 1mm, màu trắng sữa

Trang 38

c) Sâu non

Sâu non mập, cong hình chữ C Đầu màu vàng nâu với miệng dạnggặm nhai, hàm trên màu đen, môi dưới màu trắng Ngực và bụng màu trắngvàng Các đốt thân thể có nhiều nếp nhăn nheo Các lỗ thở nằm hai bên sườn

có thể dễ dàng quan sát thấy do có màu nâu sẫm

Hình 4.5: Sâu non Vòi voi nâu

d) Nhộng

Nhộng màu trắng vàng, trên mép có 2 hàng lông cứng, cuối bụng có 1

đôi u lông chìa ra phía sau

Hình 4.6: Nhộng Vòi voi nâu

Ngày đăng: 15/05/2021, 21:40

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm