Trên thế giớiKinh nghiệm nhiều năm về trồng rừng ở nhiều nước trên thế giới chothấy do rừng trồng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nước trênthế giới đã quan tâm nghiên cứu
Trang 1Hoàng văn thắng
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn ở Ngọc Lặc - Thanh Hoá và Cầu Hai - Phú thọ
Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 60.62.60
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Người hướng dẫn khoa học:
TS Võ Đại Hải
Hà Tây - Năm 2007
Trang 2Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Trên thế giới
Kinh nghiệm nhiều năm về trồng rừng ở nhiều nước trên thế giới chothấy do rừng trồng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nước trênthế giới đã quan tâm nghiên cứu tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loàibằng nhiều loài cây khác nhau nhằm kinh doanh rừng theo hướng bền vững.Các công trình nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài trên thế giới đã quan tâm
đến một số biện pháp kỹ thuật như việc chọn loài cây trồng, phương thức,phương pháp trồng và mối quan hệ giữa qua lại giữa các loài cây trong các môhình rừng trồng hỗn loài
Các nghiên cứu liên quan đến chọn loài cây trồng đã được thực hiện từ
khi loài người biết trồng rừng Bắt đầu từ những thí nghiệm thăm dò đến khảonghiệm loài và xuất xứ, các thí nghiệm được bố trí một cách nghiêm ngặt theocác nguyên tắc khoa học để từ đó chọn được loài thích hợp cho mỗi vùng sinhthái Tại nhiều nước đã có một số nghiên cứu dùng các mô hình toán để tối ưucơ cấu cây trồng cho từng vùng ở các nước vùng ôn đới số loài cây chínhdùng trong trồng rừng thường rất ít, nên người ta đã tìm hiểu mối quan hệ giữacây và lập địa rất cụ thể, chi tiết cho từng loài (dẫn theo Trần Văn Con, 2005)[10]
Nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài đã được các nước châu Âu tiến hành
từ những năm đầu thế kỷ 19 Điển hình là công trình nghiên cứu trồng hỗnloài Quercus và Ulmus campestris với tên kiểu hỗn loài Donsk của tác giả
Tikhanop (1872) Trong mô hình này do đặc tính sinh vật học và mối quan hệqua lại giữa các loài cây chưa được nghiên cứu kỹ, do đó loài Ulmus campestris với đặc tính sinh trưởng nhanh hơn nên sau khi trồng vài năm đã
lấn át loài Quercus Để giải quyết sự cạnh tranh này năm 1884 tác giả
Trang 3Polianxki đã cải tiến kiểu hỗn loài Donsk song vẫn không thành công Một sốtác giả khác như Kharitonovis (1950); Grixenco (1951); Timofeev (1951);Encova (1960) và các cộng sự đã phân tích nguyên nhân thất bại của kiểuDonsk và chỉ ra rằng các phitonxit của loài Ulmus campestris đã tác động xấu
tới loài câyQuercus Nghiên cứu về ảnh hưởng tương hỗ giữa các loài, các tác
giả cho rằng sự cảm nhiễm tương hỗ là yếu tố quan trọng khi lý giải cơ chếcạnh tranh sinh học của thực vật [39] Trên cơ sở nghiên cứu tạo rừng hỗn loàigiữaQuercus và Fraxinus, tác giả JB Ball, T.J Wormald (1994) cho thấy sinh
trưởng củaQuercus trồng hỗn loài tốt hơn Quercus trồng thuần loài Ngoài ra,
khi trồng Quercus hỗn loài với các loài cây khác theo băng hẹp (3 - 4 hàng)
hoặc theo hàng cũng cho thấy sinh trưởng củaQuercus tốt hơn [36].
Kết quả nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài các tác giả trên đều cho rằngviệc bố trí các loài cây trong mô hình rừng trồng hỗn loài thường có ảnhhưởng tới sinh trưởng của chúng tùy theo số cá thể và cự ly trồng từng loài.Kolexnitsenko (1977) khi nghiên cứu về sự phối hợp giữa các loài cây gỗtrong trồng rừng hỗn loài đã đúc kết được 5 nguyên tắc lựa chọn loài câytrồng, đó là:
Nguyên tắc kinh nghiệm
Trang 4điểm hoạt hóa của chúng như kích thích, ức chế hoặc kìm hãm quá trình sốngthông qua ảnh hưởng của phitonxits là căn cứ để quyết định tỷ lệ tổ thành cácloài cây trong lâm phần hỗn loài Nghiên cứu về vấn đề này tác giảKolexnitsenko đã đề nghị mật độ loài cây trồng chính trong mô hình trồngrừng hỗn loài không nên ít hơn 50%, loài cây hoạt hoá không quá 30 - 40%,loài cây ức chế không quá 10 - 20% trong tổng các loài cây trong mô hình[39].
Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khi
xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất cần thiết Nghiên cứu về lĩnhvực này điển hình có tác giả Matthew (1995) ông đã nghiên cứu tạo lập môhình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu Kết quả cho thấycây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính [37] Như vậy,nghiên cứu này cho thấy sử dụng các loài cây họ đậu làm cây phù trợ cho cácloài cây trồng chính trong mô hình rừng trồng hỗn loài là rất phù hợp Ngoàiviệc xác định được loài cây phù trợ thích hợp thì việc nghiên cứu về đặc điểmsinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khi xây dựng mô hìnhrừng trồng hỗn loài Trên thế giới đến nay vẫn chưa có nhiều công trìnhnghiên cứu đầy đủ về vấn đề này Do hiểu biết về yêu cầu sinh thái của cácloài cây rừng mưa còn nghèo nàn nên các tác giả Rod Keenan, David Lamb,Gary Sexton khi xây dựng rừng trồng hỗn loài (giai đoạn 1945 -1995) đã gặpnhiều khó khăn trong việc bố trí và điều chỉnh các mô hình rừng trồng hỗnloài theo quá trình sinh trưởng của chúng Vì vậy mô hình rừng trồng hỗn loài
đã không được thành công như mong muốn [40]
Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh các lâm phần rừng
trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng các tác giả Ball, Wormald và Russo(1994) đã tác động vào các lâm phần rừng trồng hỗn loài thông qua việc giảmbớt sự cạnh tranh giữa các loài cây Kết quả cho thấy sau khi được tác động
Trang 5các biện pháp tỉa cành, tỉa thưa các loài cây mục đích đã được được tạo điềukiện thuận lợi để sinh trưởng phát triển tốt hơn [36].
Đặc điểm nổi bật của rừng hỗn loài là có kết cấu nhiều tầng tán Vì thếnghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã được một số nước trên thế giớiquan tâm Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài tác giảBernar Dupuy (1995) thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn loài phụthuộc vào đặc tính sinh trưởng và tính hợp quần của các loài cây trong lâmphần [35] Điều này cho thấy để tạo được các mô hình rừng trồng hỗn loài cócấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng thì cần phải dựavào đặc tính sinh trưởng cũng như phải quan tân đến mối quan hệ qua lại giữacác loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp Đây là những cơ sởquan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô hình rừngtrồng hỗn loài
Dự án xây dựng rừng nhiều tầng ở Malaysia (1999) đã nghiên cứu tạorừng hỗn loài nhiều tầng bằng nhiều phương thức khác nhau Tuỳ theo các đốitượng khác nhau là rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng 10-15 tuổi hay rừng Keotai tượng 2-3 tuổi mà mở các băng chặt và chừa khác nhau Chiều rộng băngchặt và chừa từ 6m (chặt 1 hàng) đến 60m (chặt 20 hàng) Thời gian đưa cácloài cây bản địa vào trồng hỗn loài trong các băng chặt cũng rất khác nhau, từ1-7 năm sau khi mở băng chặt Các loài cây bản địa đưa vào trồng trong cácbăng chặt tương đối phong phú, từ 14-23 loài cây khác nhau với số hàng từ 3
đến 16 hàng Kết quả cho thấy trong các loài cây bản địa được trồng trong cácbăng có 3 loài cây có sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất là S roxburrghii; S ovalis; S leprosula Sinh trưởng chiều cao của các loài cây
trồng trong băng 10m và 40m tốt hơn băng 20m Khu trồng theo hàng có sinhtrưởng chiều cao tốt nhất ở công thức trồng 1 hàng Keo xen 1 hàng cây bản
địa Dự án còn đưa ra kế hoạch điều chỉnh quá trình sinh trưởng của các môhình thí nghiệm theo 8 thời điểm từ 2 - 47 năm sau khi trồng [41] Như vậy,
Trang 6đây là một trong những công trình nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loài trên thếgiới tương đối toàn diện về các biện pháp kỹ thuật, từ việc chọn loài cây trồng
đến nghiên cứu phương thức trồng, thời điểm trồng và sự điều chỉnh mô hìnhtheo quá trình sinh trưởng trong thời gian dài Do đó những mô hình thínghiệm này hứa hẹn nhiều thành công trong tương lai
Ngoài các công trình đã được đề cập ở trên, một số công trình nghiêncứu khác như trồng rừng dưới tán, trồng theo băng, theo rạch dưới tán che nhẹ
ở các nước châu Phi và châu á thực chất cũng nhằm tạo các lâm phần hỗn loàitrên cơ sở các loài đã có sẵn trong tự nhiên Đối với những khu vực có tỷ lệ tổthành các loài cây có giá trị kinh tế thấp thì có thể cải thiện chất lượng củarừng bằng cách tăng loài cây và số lượng cá thể của các loài có giá trị kinh tếthông qua biện pháp gây trồng bổ sung Điển hình là ở các nước Nêgiêria,Công Gô, Camơrun, Đây là những công trình đã đạt được nhiều kết quả tốt
do lợi dụng được thảm che tự nhiên, chúng đã hỗ trợ tốt cho cây trồng chínhtrong giai đoạn đầu Các loài cây mục đích trồng bổ sung vẫn được sống tronglòng rừng ẩm Mặt khác khi cây trồng lớn lên thì việc mở dần tán che của cácloài cây tầng trên đã được điều chỉnh kịp thời Việc phát luỗng dây leo, câybụi cũng được thực hiện một cách đều đặn nên các loài cây mục đích trồng bổsung đã sinh trưởng phát triển tốt, tạo thành các lâm phần rừng trồng hỗn loài
đạt hiệu cao Đây là những bài học quan trọng trong việc lựa chọn cây phù trợcho đề tài nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài các loài câylá rộng bản địa
Trang 7họ Dầu Từ năm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng hỗn loài bằng cácloài cây bản địa được triển khai nhiều hơn kể cả về loài cây và diện tích trồngrừng Trong giai đoạn này nhiều loài cây lá rộng bản địa đã được lựa chọn đểnghiên cứu cho các vùng sinh thái trong cả nước Các loài cây lá rộng bản địa
được lựa chọn để nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chủ yếu là các loài có giá trịkinh tế cao Một số loài cây bản địa được lựa chọn cho vùng Tây Nguyên vàNam Bộ là Gõ đỏ, Cẩm lai, Căm xe, Xà cừ, Tếch, và được trồng chủ yếu tại
các trạm thực nghiệm Trảng Bom, Lang Lanh, Ekmat, Măng Linh, Tân Tạo ởMiền Bắc, các loài cây chủ yếu được lựa chọn để trồng rừng hỗn loài là Limxanh, Lim xẹt, Giổi xanh, Re gừng, Mỡ, Bồ đề, Lát hoa, Ràng ràng mít, Lim
xẹt, Xoan đào, Vạng trứng, và được trồng chủ yếu ở Cầu Hai (Phú Thọ),Hữu Lũng (Lạng Sơn), Tân Lạc (Hoà Bình)
Tổng kết các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay Bộ NN&PTNT(2005) đã đưa ra được danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuấttheo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp, bao gồm cả các loài cây bản địa và cây nhậpnội, trong đó có nhiều loài cây có thể trồng hỗn loài với nhau [3] Chươngtrình 327 và 661 đã đưa ra một bảng danh mục với hơn 60 loài cây phục vụcho việc tạo lập các lâm phần rừng trồng trong cả nước Trần Quang Việt vàcộng sự (1997) đã đánh giá tập đoàn cây trồng trong chương trình 327 trên cácvùng sinh thái trong cả nước và thống kê được 70 loài cây đã được sử dụngtrồng rừng trong Chương trình 327 Theo tác giả Hoàng Hoè và Trần XuânThiệp (1999) thì ở nước ta có khoảng 250 loài cây bản địa và nhập nội đã và
đang được sử dụng để trồng rừng (dẫn theo Trần Văn Con, 2005) [10] Nhưvậy, việc tạo lập các lâm phần rừng trồng nói chung và các lâm phần rừngtrồng hỗn loài nói riêng ở nước ta đã chọn ra được nhiều loài cây trồng phùhợp cho các vùng sinh thái trong cả nước Đó là cơ sở khoa học quan trọngcho việc xây dựng và nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng ở nước ta
Trang 8Với đặc tính của hầu hết các loài cây lá rộng bản địa là thường ưa bóngtrong giai đoạn còn nhỏ, do vậy việc tạo được lớp “áo che” cho các loài câybản địa trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng là việc làm đầu tiên vàrất cần thiết khi muốn tạo lập lâm phần hỗn loài, đặc biệt là trên đối tượng đấttrống, đồi trọc Nghiên cứu lựa chọn cây phù trợ để xây dựng rừng trồng hỗn
loài đã được nhiều tác giả quan tâm Điển hình là một số công trình sau:
- Năm 1931 tác giả Maurand đã sử dụng lớp cây bụi thảm tươi trongrạch làm cây phù trợ để tạo rừng hỗn loài giữa Sao đen, Dầu rái và Vên vên ởTrảng Bom Đồng Nai Ban đầu tác giả đã áp dụng phương thức “trồng rừng dưới tán che dày và thấp” sau 2 năm phương thức này đã được cải tiến thành
phương thức "trồng dưới tàn che cao và nhẹ" Sau khi được cải tiến phương
thức trồng, các loài cây trồng chính vẫn sinh trưởng phát triển kém nên tác giảtiếp tục dùng thảm che nhân tạo với các loài cây họ đậu là Muồng đen và Đậutràm Kết quả cho thấy rằng dùng cây che phủ ban đầu kết hợp cây che trunggian là có hiệu quả (dẫn theo Nguyễn Bá Chất, 1976) [6] Như vậy, trong côngtrình này tác giả đã sử dụng cả 2 loại thảm che tự nhiên và thảm che nhân tạo
để làm cây phù trợ Tuy nhiên, sự kết hợp hai loại thảm che này không đượctính đến từ đầu khi thiết kế rừng trồng, do đó chưa đánh giá được tác dụngriêng rẽ của từng loại thảm che
- Giai đoạn 1971 - 1976 tác giả Nguyễn Bá Chất và các cộng sự đã sửdụng cây phù trợ là các loài cây có khả năng cố định đạm như: Cốt khí, Ràngràng mít, Lim xẹt để tiến hành thí nghiệm trồng rừng hỗn loài Bồ đề với Mỡ
và Xoan đào ở Tuyên Quang và Phú Thọ Kết quả sau 5 năm cho thấy năngsuất rừng Bồ đề trồng hỗn loài có cây phù trợ tăng 15 - 20% so với rừng Bồ đềtrồng thuần loài không có cây phù trợ Lượng thảm mục dưới rừng trồng hỗnloài cũng tăng lên 10 - 20%, đất đai dưới rừng trồng hỗn loài được cải thiệnhơn so với rừng trồng thuần loài [6]
Trang 9- Năm 1985 các tác giả Nguyễn Minh Đường và Lê Đình Cẩm đã sửdụng các loài cây Muồng đen, Keo lá tràm, Đậu triều và Keo dậu làm cây phùtrợ để xây dựng rừng trồng hỗn loài Sao đen, Dầu rái, Gõ đỏ, Cẩm lai, Căm xe
cung cấp gỗ lớn ở lâm trường La Ngà (Đồng Nai) Các công thức được trồnghỗn loài theo hàng và theo băng với kích thước các băng chặt, chừa là 10m và20m Xen giữa 2 hàng cây trồng chính là các hàng cây phù trợ Sau một nămtrồng cho thấy cây phù trợ mới chỉ có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của các loàicây trồng chính [13] Nhìn chung, các thí nghiệm trồng Dầu rái, Sao đen, Gõ
đỏ trên các loại đất xám phù xa cổ thoái hoá ở Trảng Bom, đất ba gian nôngmàu đen ở Bàu Cạn, trên đất phiến thạch sét ở Mã Đà (Đồng Nai), đất phù sa
cổ sâu ẩm ở Dương Minh Châu cũng chỉ có nhận xét tương tự
- Năm 1995 tác giả Phạm Đình Tam đã sử cây Keo lai làm cây phù trợ
để tạo rừng trồng hỗn loài giữa Trám trắng và Lim xẹt ở Bình Thanh - HoàBình [27] Đến năm thứ 4 Keo lai sinh trưởng nhanh đã bắt đầu che bóng Limxẹt và Trám trắng Hiện tại mô hình đang có sự cạnh tranh mạnh, các loàiTrám trắng và Lim xẹt đang bị Keo lai lấn át nên các loài cây trồng chínhtrong lâm phần đều không sinh trưởng phát triển tốt
- Giai đoạn 1994-1998 Trần Nguyên Giảng đã nghiên cứu tạo rừngtrồng hỗn loài ở Vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng Trên đối tượng đất trống,
đồi trọc, tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm làm “áo che” phủ Khirừng Keo bắt đầu khép tán tác giả đã đưa vào trồng dưới tán Keo 10 loài cây lárộng bản địa khác nhau Sau 4 năm thí nghiệm tác giả cho thấy phương pháptrồng rừng ẩm dưới tàn che nhìn chung là thích hợp cho cả các loài trung sinhtrong giai đoạn 1- 2 năm đầu Biện pháp lột tán theo định kỳ thích hợp choloài chịu bóng mọc chậm như Gội trắng, Giổi xanh, Re gừng nhưng lại cản trởcây ưa sáng mọc nhanh như: Lát hoa, Sấu, Nhội và Muồng đỏ Kết quả cũngcho thấy dùng cây che phủ ban đầu Keo lá tràm là thích hợp nhất [16] Tuynhiên, do thí nghiệm mới tiến hành trong giai đoạn ngắn nên chưa thể biết
Trang 10được 10 loài cây đó sẽ tồn tại như thế nào trong các giai đoạn sau Việc sửdụng các loài cây ưa sáng như Lát hoa và Muồng đỏ trồng duới tán Keo hiệntại đã cho thấy khó khăn trong việc nuôi dưỡng mô hình này Mặt khácphương pháp trồng hỗn loài theo hàng dưới tán Keo tác giả chưa cho thấy rừnghỗn loài này sẽ có cấu trúc ra sao theo thời gian Tuy vậy, có thể nói rằng đây
là mô hình tương đối toàn diện về các biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài,
từ việc tạo áo che, đến việc xác định thời điểm đưa các loài cây bản địa vàotrồng dưới tán và các biện pháp lột dần tán che để các loài cây trồng chínhsinh trưởng, phát triển
- Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu, Chương trình 327, Dự án 661cũng đã tạo ra nhiều mô hình rừng trồng hỗn loài các loài cây lá rộng bản địa,trong đó chủ yếu là tạo rừng phòng hộ cho các vùng xung yếu trong cả nước.Trong các mô hình này hầu hết đều sử dụng các loài cây phù trợ như Keo taitượng, Keo Lá tràm, Keo lai, Muồng đen,… với tỷ lệ hỗn loài là 600 cây bản
địa và 1.000 cây phù trợ Tuy nhiên, việc điều chỉnh tán che của các loài câyphù trợ trong các mô hình rừng trồng hỗn loài đã không được điều chỉnh kịpthời nên các loài cây trồng chính chỉ còn lại với tỷ lệ thấp và thường sinhtrưởng, phát triển không tốt Đây cũng là tồn tại chung của hầu hết các côngtrình nghiên cứu xây dựng rừng trồng hỗn loài có sử dụng cây phù trợ
Nghiên cứu phương thức và phương pháp hỗn loài cũng đã được nhiều
tác giả quan tâm Thực tế cho thấy các mô hình rừng trồng hỗn loài ở nước ta
đến nay chủ yếu là áp dụng theo phương thức trồng rừng hỗn loài giữa cây caovới cây cao Điển hình là thí nghiệm trồng rừng hỗn loài theo hàng giữa Mỡvới các loài cây Lim xanh, Xà cừ, Tếch của Trung tâm Lâm sinh Cầu Hai, PhúThọ (1962) [15]; nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn loài giữa cây trồngchính, rụng lá mùa khô là Tếch với cây bạn thường xanh là Muồng đen và câyphù trợ là Đậu tràm ở Tây Nguyên của Nguyễn Xuân Quát (1985-1990) [26];nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa cây lá kim (Thông đuôi ngựa) và cây lá
Trang 11rộng (Keo lá tràm và Bạch đàn trắng) ở Núi Luốt Xuân Mai, Hà Tây củaPhùng Ngọc Lan (1986) [18]; nghiên cứu phương thức trồng hỗn loài Mỡ và
Bồ đề của Ngô Quang Đê (1991); nghiên cứu thiết lập rừng trồng hỗn loàigiữa các loài cây ưa sáng Bạch đàn trắng và Keo lá tràm của Nguyễn HữuVĩnh và các cộng tác viên (1991-1993) [34],… Hầu hết các công trình nghiêncứu này đều áp dụng phương pháp trồng hỗn loài theo hàng hoặc theo băng.Các kết quả nghiên cứu của các công trình này cho thấy dù được xây dựngtheo phương thức và phương pháp nào thì rừng trồng hỗn loài đều cho năngsuất, chất lượng cao hơn và cải thiện tốt hơn điều kiện đất đai so với rừngtrồng thuần loài
Từ năm 1980 trở lại đây, việc phục hồi rừng thông qua tạo lập các lâmphần rừng trồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa đã được nhiều tácgiả quan tâm nghiên cứu Nổi bật là công trình nghiên cứu phục hồi rừng vùngSông Hiếu thông qua việc xây dựng cấu trúc hỗn loài Lát hoa với một số loàicây khác của Nguyễn Bá Chất (1981-1985) Tác giả đã trồng hỗn loài cây Láthoa với các loài cây lá rộng bản địa như Lim xẹt, Giổi xanh, Thôi chanh, Lõithọ, Ràng ràng nhằm tạo được một cấu trúc rừng hợp lý Mô hình này đượctheo dõi đến năm thứ 10 và cho thấy sinh trưởng rừng Lát hoa trồng hỗn loàitốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài sửdụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên có ưu điểm hơn về sinh trưởng của các loàicây trồng và có dấu hiệu phục hồi đất tốt hơn [7]
Dự án RENFODA (Rehabilitation of Natural Forest in DegradedWatershed Area in the North of Vietnam) do JICA tài trợ đã nghiên cứu cácbiện pháp kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái ở Cao Phong - HoàBình bằng cách tạo ra rừng trồng hỗn loài các loài cây lá rộng bản địa theophương thức hỗn loài giữa các loài cây cao ưa sáng và chịu bóng với nhau.Các loài cây lá rộng bản địa được kết hợp để tạo rừng trồng hỗn loài là Giẻ đỏ,Lim xanh, Trám trắng và Sồi phảng Phương pháp hỗn loài là theo rạch và
Trang 12theo đám Kết quả sau 4 năm thí nghiệm (2004-2007) cho thấy các loài câytrồng đều rất có triển vọng, tỷ lệ sống của các loài đều đạt trên 95% So vớiphương pháp trồng hỗn loài theo đám thì sinh trưởng của các loài cây trồngtheo rạch đều tốt hơn [33].
Nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loài nhiều tầng, Trần Ngũ Phương(2000) [25] đã đề xuất mô hình thiết kế rừng hỗn loài nhiều tầng cho mục đíchphòng hộ và sản xuất thông qua các phương thức hỗn loài khác nhau như hỗnloài giữa cây cao và cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao Căn cứ trêncông trình nghiên cứu các quy luật chủ yếu của rừng tự nhiên miền Bắc ViệtNam tác giả đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nước ta đều phân thành nhiềutầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kể tầng cây nhỡ và thảm tươi Tính chất này
đã được xác nhận bởi kết quả điều tra rừng Việt Nam Dựa trên quy luật đó tácgiả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục tiêu phòng hộ đầunguồn cho các vùng xung yếu, trong đó có 2 mô hình hỗn loài nổi bật là môhình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng và rừng sản xuất thứ sinh tạmthời nhiều tầng
Xác định thời điểm hỗn loài là một trong những nội dung quan trọng
khi xây dựng rừng trồng hỗn loài, đặc biệt là khi muốn tạo lập rừng trồng hỗnloài giữa các loài cây ưa sáng và cây chịu bóng, giữa loài cây sinh trưởngnhanh và loài cây sinh trưởng chậm ở Việt Nam nghiên cứu về việc xác địnhthời điểm hỗn loài cũng đã được một số tác giả quan tâm Tuy nhiên, việc xác
định thời điểm hỗn loài cho các loài cây mục đích chưa được quan tâm nhiều.Trên thực tế các công trình nghiên cứu xác định thời điểm hỗn loài chủ yếuvẫn là giữa loài cây phù trợ và các loài cây trồng chính Thông thường trongcác mô hình trồng rừng hỗn loài trên đối tượng đất thoái hoá thì cây phù trợ
được trồng trước một thời gian tuỳ theo đối tượng đất, sau đó mới đưa các loàicây mục đích vào trồng
Trang 13Hiện nay nhiều đối tượng rừng trồng thuần loài đều tuổi ở nước ta đã và
đang được nghiên cứu để chuyển hoá thành rừng hỗn loài khác tuổi, có cấutrúc ổn định và bền vững hơn thông qua việc đưa thêm một số loài cây mục
đích vào trồng theo các thời điểm khác nhau Điển hình của kiểu làm này là
dự án trồng rừng Việt Đức ở các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh.Ban đầu rừng trồng của dự án ở các tỉnh này là rừng thuần loài Thông mã vĩhoặc Keo tai tượng, sau 7 năm dự án đã thí nghiệm chuyển hoá thành rừnghỗn loài Thông mã vĩ hoặc Keo tai tượng với một số loài cây lá rộng bản địakhác bằng cách chặt tỉa Thông mã vĩ và Keo tai tượng, mở thành các rạch rộng3m sau đó đưa các loài cây lá rộng bản địa vào trồng xen giữa hai hàng Thôngmã vĩ và Keo tai tượng Như vậy, xét về thời điểm hỗn loài thì đây có thể coi
là một trong những thí nghiệm điển hình và có tính thực tiễn cao vì phần lớndiện tích rừng trồng của nước ta hiện nay đều là rừng trồng thuần loài, một đốitượng cần được chuyển hoá thành rừng hỗn loài nhằm kinh doanh rừng theohướng ổn định, bền vững hơn
Dự án trồng rừng hỗn loài các loài cây gỗ giá trị cao để cung cấp gỗ vàtăng cường các dịch vụ cộng đồng ở Việt Nam và Australia (2002-2006) đãthiết lập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây nhập nội và cây bản địa với cácthời điểm hỗn loài khác nhau tại 3 địa điểm: i) Tại Đoan Hùng - Phú Thọ:trồng cùng thời điểm các loài Bạch đàn urophylla, Giổi xanh, Lát hoa và Trámtrắng; ii) Tại vườn quốc gia Tam Đảo: trồng hỗn loài Sấu, Xà cừ, Lim xanh vàKeo lai vào cùng một thời điểm; iii) Tại đèo Hải Vân - Huế tạo rừng hỗn loàigiữa Keo tai tượng với Sao đen, Dầu rái và Chò chỉ, trong đó Keo tai tượng
được trồng trước 7 năm sau đó được chặt theo băng để đưa các loài cây bản
địa vào trồng dưới tán với mật độ 250 cây/ha Kết quả sau 3 năm cho thấy cácloài cây trồng đều có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt và có nhiều triển vọng.Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả bước đầu Mặt khác khi thiết kế xây dựngmô hình, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài cây chưa được chú ý Vì
Trang 14vậy, với các mô hình này cần phải theo dõi để có biện pháp tác động kịp thời,
điều chỉnh sự cạnh tranh giữa các loài, đặc biệt là các loài cây mọc nhanh nhưBạch đàn và Keo lai, tạo điều kiện để mô hình sinh trưởng, phát triển bìnhthường
Cũng trên nền tảng là rừng Thông đuôi ngựa trồng thuần loài tại NúiLuốt - Xuân Mai, Trường Đại học Lâm nghiệp đã nghiên cứu tạo rừng hỗnloài Thông đuôi ngựa với một số loài cây lá rộng bản địa Cách tạo rừng trồnghỗn loài ở đây là thông qua việc đưa thêm các loài cây lá rộng bản địa vàotrồng dưới tán rừng Thông đuôi ngựa theo các thời điểm khác nhau RừngThông đuôi ngựa sau khi trồng được 6 năm thì bắt đầu đưa các loài cây lárộng bản địa vào trồng dưới tán Đến thời điểm hiện nay bước đầu đã tạo lập
được rừng trồng hỗn loài khép tán Việc mở dần tán che của Thông để tạokhông gian dinh dưỡng phù hợp cho các loài sinh trưởng phát triển ổn định đã
và đang được tiến hành nghiên cứu
1.3 Nhận xét và đánh giá chung về rừng trồng hỗn loài
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về cácvấn đề có liên quan tới đề tài có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
- Các công trình nghiên cứu trên thế giới về rừng trồng hỗn loài tương
đối phong phú và toàn diện về tất cả các mặt nhưng tập trung nhiều vào chọnloài cây trồng và các biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng hỗn loài theoquá trình sinh trưởng Các thí nghiệm đã được bố trí định vị lâu dài tới vàichục năm, đặc biệt đã có một số công trình đi sâu nghiên cứu mối quan hệ qualại giữa các loài cây trong lâm phần hỗn loài thông qua hoạt chất phitônxit,làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc xây dựng rừng trồng hỗn loài Đây lànhững tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm có giá trị cho việc thiết lậpcác lâm phần rừng trồng hỗn loài trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nóiriêng
Trang 15- Các nghiên cứu, thực nghiệm về trồng rừng hỗn loài ở Việt Nam đã
được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm và được đẩy mạnh vào những năm 1990khi Nước ta bước vào thực hiện Chương trình 327 và Dự án 661 Vấn đềnghiên cứu trọng tâm là xác định loài cây trồng, tạo cây phù trợ, phương thức
và phương pháp trồng rừng,… Phần lớn các nghiên cứu đều quan tâm đến tạorừng trồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa, một vài nghiên cứu khác
đã chú ý đến đối tượng cây nhập nội hoặc cây có chu kỳ kinh doanh ngắn, Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chỉ thực hiện trongthời gian ngắn nên những diễn biến về đất đai, hoàn cảnh rừng, sự sai khác vềnăng suất chưa có đủ thời gian đánh giá và khẳng định sự thành công hay thấtbại của mô hình; các mô hình chủ yếu được thiết lập trên đối tượng đất còntốt, đất rừng thoái hoá chưa được chú ý nhiều; vấn đề quan trọng nhưng cònnhiều tồn tại ở nước ta nằm ở khâu nuôi dưỡng rừng, đặc biệt là việc xử lý và
điều chỉnh cây phù trợ như thế nào cho cây bản địa sinh trưởng và phát triểntốt
Nhằm góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại nêu trên, đề tài:
“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản
địa cung cấp gỗ lớn ở Ngọc Lặc - Thanh Hoá và Cầu Hai - Phú Thọ” đặt ra là
rất cần thiết và có ý nghĩa cả về khoa học lẫn thực tiễn, phục vụ trực tiếp cho
Dự án 661 và các chương trình trồng rừng ở Việt Nam
Trang 16Chương 2 mục tiêu, Đối tượng, giới hạn, nội dung
- Xây dựng được một số mô hình rừng trồng hỗn loài cây lá rộng bản
địa cung cấp gỗ lớn ở Ngọc Lặc - Thanh Hoá và Cầu Hai - Phú Thọ
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài cây lá rộng bản địa cung cấp
gỗ lớn
2.3 Giới hạn nghiên cứu
- Về địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại 2 địa điểm:
Trạm Nghiên cứu Lâm nghiệp Ngọc Lặc thuộc huyện Ngọc Lặc tỉnhThanh Hoá
Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Lâm sinh Cầu Hai thuộc huyện
Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
- Về đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài cây bản địa lá rộng cung cấp
gỗ lớn, trong phạm vi đề tài giới hạn nghiên cứu 5 loài cây: Re gừng
(Cinnamomum obtusifolium), Lim xanh (Erythrofloeum fordii), Trám trắng
Trang 17(Canarium album), Sồi phảng (Lithocarpus fissus) và Vạng trứng (Endospermum chinensis).
- Về nội dung nghiên cứu:
Tổng kết, đánh giá các mô hình trồng rừng hỗn loài: giới hạn ở 7 tỉnhphía Bắc là Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Tây, Hải Phòng, ThanhHoá và Nghệ An
Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng: giới hạn trong nghiên cứu cây phùtrợ và phương pháp hỗn loài
Kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng: giới hạn trong nghiên cứu biện pháp
kỹ thuật tỉa cành và tỉa thưa cây phù trợ trong mô hình thí nghiệm ở CầuHai - Phú Thọ
Hướng dẫn kỹ thuật: giới hạn trong các khâu trồng, chăm sóc và nuôidưỡng rừng, không bao gồm nội dung tạo cây con
2.4 Nội dung nghiên cứu:
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đặt ra các nội dung nghiên cứu sau
- Nghiên cứu kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng hỗn loài cây lá rộng bản
địa cung cấp gỗ lớn
- Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản địacung cấp gỗ lớn
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu
Việc nghiên cứu trồng rừng hỗn loài đòi hỏi phải có một thời gian dài
và rất phức tạp, nhất là khi nghiên cứu mối quan hệ qua lại về mặt hoá sinh
Trang 18giữa các loài cây sống chung trong một quần thể để lựa chọn được các loài cây
có thể trồng hỗn loài với nhau Thảm thực vật rừng nhiệt đới nói chung và ởViệt Nam nói riêng với đặc trưng cơ bản là rừng hỗn loài khác tuổi gợi ý chochúng ta vô số các mô hình hỗn loài đã thích ứng trong một quá trình chọn lọc
tự nhiên lâu dài Tuy nhiên, chúng ta không thể xây dựng các mô hình hỗnloài phức tạp của tự nhiên vì rất khó phục vụ mục tiêu cung cấp gỗ côngnghiệp và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cũng rất khó khăn Môphỏng các mô hình rừng hỗn loài trong tự nhiên là hướng giải quyết đúng đắnvừa có cơ sở thực tiễn lại vừa rút ngắn được thời gian nghiên cứu Vì thế đề tài
đã lấy các lâm phần hỗn loài trong tự nhiên làm mẫu để mô phỏng xây dựngmô hình rừng trồng hỗn loài Tuy nhiên, các mô hình rừng trồng hỗn loài nàycần được đơn giản hoá về thành phần loài cây và được thiết lập trên những
điều kiện đất đai, khí hậu cụ thể, phù hợp với các loài cây được lựa chọn
Các loài cây bản địa với đặc tính là những loài cây ít nhiều chịu bóng ởgiai đoạn còn nhỏ và chỉ sinh trưởng tốt trong một cấu trúc hỗn loài Do đómột trong những nội dung quan trọng của việc trồng rừng hỗn loài bằng cácloài cây lá rộng bản địa là cần tạo lập được môi trường thích hợp trước khi đưacác loài cây bản địa vào trồng dưới tán Vì thế để xây dựng các mô hình rừngtrồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa cần xác định và đảm bảo đượccác yếu tố:
Tạo lập được tiểu hoàn cảnh rừng thích hợp để đưa các loài cây bản địavào trồng: Yếu tố môi trường đầu tiên cần được tạo lập cho các loài câybản địa trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng chính là tạo được
“áo che” nhằm tạo ra một độ tàn che nhất định hỗ trợ cho cây bản địatrong giai đoạn còn nhỏ Để tạo được “áo che” có thể sử dụng nhiều loàicây khác nhau, trong đó các loài cây họ đậu được sử dụng nhiều nhất vìngoài tác dụng che bóng chúng còn có khả năng cải tạo đất, tạo điềukiện thuận lợi hơn cho các loài cây trồng chính sinh trưởng, phát triển
Trang 19 Xác định được loài cây có thể trồng hỗn loài với nhau: Trong quá trìnhsinh trưởng và phát triển các loài cây đều có mối quan hệ mật thiết vớinhau, mối quan hệ này có thể là hỗ trợ nhau cùng phát triển hoặc có thể
đối kháng, cạnh tranh nhau Do đó để mô hình sinh trưởng, phát triển
ổn định thì việc xác định được các loài cây bạn với cây trồng chính làrất cần thiết Đề tài kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có về nhóm loàisinh thái để lựa chọn các loài cây trồng kết hợp với nhau trong mô hìnhhỗn loài
Xác định được thời điểm và phương thức trồng rừng hỗn loài: Trongrừng trồng hỗn loài vì có nhiều loài cây cùng sinh trưởng phát triển, mỗiloài cây lại có một đặc tính sinh vật học riêng, đặc biệt là rừng trồng cócác loài cây phù trợ đi kèm Do đó để rừng trồng sinh trưởng phát triển
ổn định cần xác định được thời điểm đưa các loài cây trồng hợp lý.Trên quan điểm đó, đề tài đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố đã được đềcập ở trên làm cơ sở cho việc xây dựng các lâm phần rừng trồng hỗn các loàicây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn và tăng khả năng phòng hộ của rừng
2.5.2 Phương hướng giải quyết vấn đề
Đề tài bắt đầu từ việc thu thập các tài liệu, số liệu đã có liên quan đếncác nội dung của đề tài, tiến hành tổng kết và đánh giá các mô hình rừng trồnghỗn loài đã có ở một số tỉnh phía Bắc, đặc biệt là các mô hình trong Chươngtrình 327, Dự án 661, các mô hình nghiên cứu, từ đó bố trí các thí nghiệm
định vị nghiên cứu về cây phù trợ và phương pháp hỗn loài cũng như các biệnpháp kỹ thuật nuôi dưỡng rừng, Trên cơ sở của kết quả nghiên cứu, kết hợpvới việc tổng kết những kinh nghiệm đã có về trồng rừng hỗn loài, tiến hànhxây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản địa cung cấp
gỗ lớn Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài được mô hình hoá theo sơ
đồ dưới đây
Trang 20Hình 2.1: Sơ đồ phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài
2.5.3 Phương pháp nghiên cứu chung
Đề tài áp dụng phương pháp kế thừa số liệu, phương pháp điều tra, đánhgiá các mô hình rừng trồng hỗn loài đã có kết hợp với bố trí thí nghiệm định vịngoài thực địa, phân tích trong phòng, sử dụng phương pháp toán thống kêtrong sinh học để xử lý các số liệu trên máy vi tính bằng phần mềm SPSS
Lựa chọn
địa điểm,
bố trí thínghiệm
Xây dựng hướngdẫn kỹ thuậtThí nghiệm
cây phù trợ Thí nghiệm phươngpháp hỗn loài Thí nghiệm kỹ thuậtnuôi dưỡng
Trang 212.5.4 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.5.4.1 Tổng kết đánh giá các mô hình và biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài đã có ở một số tỉnh phía Bắc.
áp dụng phương pháp kế thừa tài liệu và điều tra thu thập số liệu trên các ôtiêu chuẩn điển hình, tạm thời
- Những tài liệu được đề tài kế thừa gồm:
Các công trình nghiên cứu, đánh giá đã có về rừng trồng hỗn loài cũngnhư các biện pháp kỹ thuật đã được áp dụng trong các mô hình rừngtrồng hỗn loài cây lá rộng bản địa
Các quy trình, quy phạm, hướng dẫn kỹ thuật cũng như các tài liệu khác
có liên quan
- Phương pháp điều tra ngoại nghiệp: Trên cơ sở tham khảo các tài liệu đã
có, làm việc với các đơn vị quản lý ở các địa phương như Chi cục Lâm nghiệp,Ban quản lý Dự án 661,… để nắm được bức tranh chung về các mô hình vàcác biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài đã được áp dụng ở địa phương, từ
đó phân loại đối tượng điều tra và lựa chọn địa điểm khảo sát chi tiết Các môhình rừng trồng hỗn loài được chia thành 3 loại:
+ Các mô hình xây dựng trong Chương trình 327
+ Các mô hình xây dựng trong Dự án 661
+ Các mô hình nghiên cứu, thử nghiệm và các mô hình khác
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia(Participatory Rural Appraisal) để thu thập thông tin về kỹ thuật trồng rừnghỗn loài đã được áp dụng ở địa phương Các đối tượng được phỏng vấn là cácnhà quản lý của các Chi cục Lâm nghiệp, Ban quản lý Dự án, cán bộ Lâmtrường và các hộ dân Đối với mỗi một mô hình, lập 3 ô tiêu chuẩn điển hìnhtạm thời, diện tích mỗi ô là 500 m2 (20mx25m) Trong mỗi ô thu thập các chỉtiêu: D1,3, Hvn, Dt, tình hình sâu bệnh hại,… của tất cả các cây trong ô
Trang 22- Các số liệu thu thập được xử lý và tính toán bằng phần mềm SPSS trênmáy vi tính để đánh giá các mô hình đã điều tra.
2.5.4.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài cây lá
rộng bản địa cung cấp gỗ lớn.
Từ kinh nghiệm thực tiễn, với mục tiêu trồng rừng cung cấp gỗ lớn, đềtài đã bố trí các thí nghiệm trồng rừng hỗn loài với mật độ là 1.100 cây/ha (cự
ly 3mx3m) Các công thức thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫunhiên, đầy đủ và lặp lại 3 lần
a) Nghiên cứu lựa chọn loài cây phù trợ thích hợp
+ Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Các thí nghiệm nghiên cứu được bố trí theo phương pháp hỗn loài theocây trên hàng tại 2 địa điểm là Ngọc Lặc - Thanh Hoá và Cầu Hai - Phú Thọ
- Tại Ngọc Lặc- Thanh Hoá
Cây phù trợ là rừng Keo tai tượng trồng 1994, được chặt theo băng rộng10m và chừa 10m; chặt 20m và chừa 20m để trồng các loài cây bản địa Loàicây bản địa trồng trong các CTTN là Lim xanh và Re gừng được trồng vào cácbăng chặt tháng 8/2001 Diện tích mỗi công thức thí nghiệm là 0,7 ha Cáccông thức thí nghiệm về cây phù trợ gồm:
CT1: Cây phù trợ Keo tai tượng băng chặt - chừa 10m
CT2: Cây phù trợ Keo tai tượng băng chặt - chừa 20m
CT3: Cây phù trợ là thảm che tự nhiên
CT4: Đối chứng trồng thuần loài Linh xanh, Re gừng không có cây phùtrợ
- Tại Cầu Hai - Phú Thọ:
Cây phù trợ Keo tai tượng được trồng vào tháng 7/2000, Cốt khí gieotháng 1/2001 Loài cây bản địa gồm Trám trắng, Re gừng, Sồi phảng và Vạngtrứng được trồng tháng 7/2001 Diện tích mỗi công thức thí nghiệm là 1 ha.Các công thức thí nghiệm về cây phù trợ gồm:
Trang 23 CT1: Cây phù trợ Keo tai tượng.
áp dụng phương pháp phân tích phương sai 1 nhân tố bằng phần mềmSPSS 13.0 trên máy vi tính để đánh giá kết quả nghiên cứu
Vật rơi dụng được thu thập trong 1 năm, theo định kỳ 2 tháng/lần Mẫu
đất được thu thập ở tầng mặt, từ 0 - 30 cm để đánh giá khả năng cải tạo điềukiện đất đai của rừng trồng hỗn loài cây phù trợ Keo tai tượng Phân tích tínhchất hoá học của đất trong phòng thí nghiệm theo các phương pháp sau: Mùntheo phương pháp Walkley-Black, đạm theo phương pháp Kjendhal, pH theophương pháp pH metter, P2O5dễ tiêu theo phương pháp Bray II và K2O dễ tiêutheo phương pháp Flame photometer
b) Nghiên cứu về phương pháp hỗn loài:
+ Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm nghiên cứu về phương pháp hỗn loài được bố trí tại NgọcLặc - Thanh Hoá Loài cây trồng trong các công thức thí nghiệm gồm: Trám
Trang 24trắng, Lim xanh và Re gừng Diện tích mỗi công thức thí nghiệm là 0,7 ha.Các công thức thí nghiệm về phương pháp hỗn loài gồm có:
CT1: Hỗn loài theo hàng (trên mỗi hàng trồng 1 loài cây, một hàng Limxanh xen kẽ một hàng Re gừng)
CT2: Hỗn loài theo cây trên hàng (trên mỗi hàng trồng 2 loài cây, cácloài cây trồng xen kẽ nhau)
CT3: Trồng thuần loài (đối chứng)
+ Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
Số liệu được thu thập trên các ô định vị, mỗi công thức thí nghiệm lập 3
ô tiêu chuẩn, 1 ô/lặp, diện tích mỗi ô là 500 m2 (20mx25 m) Số liệu được thuthập trong 4 năm 2002, 2003, 2004 và 2007, mỗi năm đo 1 lần Trong mỗi ôtiêu chuẩn đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng: D1,3; Hvn; Dt; chất lượng cây trồng;
tỉ lệ sống; tình hình sâu bệnh hại của tất cả các cây áp dụng phương phápphân tích phương sai 1 nhân tố bằng phần mềm SPSS 13.0 trên máy vi tính để
đánh giá kết quả nghiên cứu
2.5.4.3 Nghiên cứu kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng hỗn loài cây lá rộng
bản địa.
+ Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm nghiên cứu kỹ thuật nuôi dưỡng rừng trồng hỗn loài được
bố trí tại Cầu Hai - Phú Thọ, gồm các thí nghiệm về kỹ thuật tỉa cành và tỉathưa cây phù trợ (Keo tai tượng) Thí nghiệm tỉa cành cây phù trợ được thựchiện ở tuổi 3 (năm 2004), thí nghiệm tỉa thưa cây phù trợ được tiến hành ở tuổi
4 (2005) Diện tích mỗi CTTN là 0,42 ha Các CTTN được bố trí như sau:
- Thí nghiệm tỉa cành cây phù trợ, tỉa từ dưới lên trên, gồm các công thức:
Tỉa 1/4 số cành cây phù trợ
Tỉa 1/3 số cành cây phù trợ
Không tỉa (đối chứng)
Trang 25- Thí nghiệm tỉa thưa cây phù trợ, gồm các công thức:
Tỉa thưa cây phù trợ với cường độ tỉa là 25%, cách 3 cây tỉa 1 cây
Tỉa thưa cây phù trợ với cường độ tỉa là 50%, cách 1 cây tỉa 1 cây
Tỉa thưa cây phù trợ với cường độ tỉa là 75%, cách 1 cây tỉa 3 cây
Không tỉa (đối chứng)
+ Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
Số liệu được thu thập trên các ô định vị, mỗi công thức thí nghiệm lập 3
ô tiêu chuẩn, 1 ô/lặp, diện tích mỗi ô là 1.000 m2 (33mx30,3m) Số liệu thínghiệm tỉa cành được thu thập trong năm 2004, số liệu thí nghiệm tỉa thưa
được thu thập trong 3 năm 2005, 2006 và 2007, mỗi năm đo 1 lần Trong mỗi
ô tiêu chuẩn đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng: D1,3; Hvn; Dt; chất lượng câytrồng; tình hình sâu bệnh hại của tất cả các cây áp dụng phương pháp phântích phương sai 1 nhân tố bằng phần mềm SPSS 13.0 trên máy vi tính để đánhgiá kết quả nghiên cứu
2.5.4.4 Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản
địa cung cấp gỗ lớn.
Hướng dẫn kỹ thuật được xây dựng trên cơ sở các kết quả nghiên cứucủa đề tài, kết hợp với những kinh nghiệm đã có
2.5.5 Tổng hợp các số liệu phục vụ đề tài
Số liệu 27 ô tiêu chuẩn của 9 mô hình rừng trồng hỗn loài trong Chươngtrình 327 ở 4 tỉnh phía Bắc: Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình và Thanh Hoá
Số liệu 51 ô tiêu chuẩn của 17 mô hình rừng trồng hỗn loài trong Dự án
661 ở 3 tỉnh phía Bắc: Yên Bái, Phú Thọ và Hoà Bình
Số liệu 18 ô tiêu chuẩn của 6 mô hình nghiên cứu trồng rừng hỗn loài
và các mô hình khác ở 5 tỉnh phía Bắc: Phú Thọ, Hà Tây, Hoà Bình, HảiPhòng và Nghệ An
7 CTTN về cây phù trợ, trong đó ở Ngọc Lặc có 4 công thức và Cầu Hai
3 công thức Tổng diện tích các CTTN cây phù trợ là 6 ha
Trang 26 3 CTTN về phương pháp hỗn loài ở Ngọc Lặc - Thanh Hoá với tổngdiện tích các công thức thí nghiệm là 2 ha.
7 CTTN về kỹ thuật nuôi dưỡng rừng tại Cầu Hai, trong đó có 3 CTTN
về tỉa cành và 4 CTTN về tỉa thưa cây phù trợ Tổng diện tích các côngthức thí nghiệm nuôi dưỡng rừng là 3 ha
Số liệu 4 năm của 21 ô tiêu chuẩn định vị về thí nghiệm cây phù trợ,trong đó 12 ô ở Ngọc Lặc và 9 ô ở Cầu Hai
Số liệu 4 năm của 9 ô tiêu chuẩn định vị nghiên cứu về phương pháphỗn loài ở Ngọc Lặc
Số liệu 3 năm của 21 ô tiêu chuẩn định vị về thí nghiệm kỹ thuật nuôidưỡng rừng tại Cầu Hai, trong đó 9 ô tiêu chuẩn về thí nghiệm tỉa cành
và 12 ô tiêu chuẩn về thí nghiệm tỉa thưa
Số liệu 1 năm của 30 ô dạng bản theo dõi lượng vật rơi rụng ở Cầu Hai,
4 m2/ô
6 mẫu phân tích đất (tầng 0-30cm) trong mô hình cây phù trợ Keo taitượng tại Cầu Hai
Trang 27Chương 3 khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
khu vực nghiên cứu
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới
Địa điểm nghiên cứu thuộc hai khu vực là Trạm nghiên cứu lâm nghiệpNgọc Lặc - Thanh Hoá và Trung Tâm nghiên cứu thực nghiệm Lâm sinh CầuHai - Phú Thọ Đặc điểm về vị trí địa lý và ranh giới của hai địa điểm trên
được thể hiện chi tiết trong bảng 3.1
Bảng 3.1: Đặc điểm vị trí địa lý và ranh giới của khu vực nghiên cứu
Các đặc điểm về
vị trí địa lý
Trạm nghiên cứu Lâmnghiệp Ngọc Lặc
Trung Tâm nghiên cứu thựcnghiệm Lâm sinh Cầu HaiThuộc huyện,
Nội 240 km về phía Tây Nam 120 km về phía Bắc
Trang 28Hai địa điểm trên thuộc hai khu vực có thể mở rộng và phát triển cácloại hình dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ trong lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp.
3.1.2 Địa hình
Địa hình huyện Ngọc Lặc được tạo bởi các dãy núi đá vôi và các dãynúi đất theo hướng Đông Bắc, chia huyện Ngọc Lặc thành hai vùng rõ rệt làvùng núi cao và vùng núi thấp Trong đó khu vực nghiên cứu thuộc vùng núithấp, độ cao tuyệt đối khoảng 100 m, độ cao tương đối 40 - 50 m, độ dốctrung bình từ 17-250
Địa hình quanh khu vực Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinhCầu Hai thuộc kiểu địa hình núi thấp xen lẫn đồi gò bát úp, có độ cao từ 80 -
100 m so với mặt biển, độ dốc trung bình từ 15 - 250
3.1.3 Khí hậu
* Chế độ nhiệt
Khí hậu tại cả Ngọc Lặc và Cầu hai đều mang tính chất khí hậu nhiệt
đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của mùa đông lạnh
- Tại Ngọc Lặc, nhiệt độ trung bình năm là 22,40C; nhiệt độ tối cao 32,4038,80C; nhiệt độ tối thấp 7,20 - 9,20C vào các tháng từ tháng 12 năm trước đếntháng 1 năm sau
Tại Cầu Hai, nhiệt độ bình quân năm là 23,10C, nhiệt độ tối cao 360C,nhiệt độ tối thấp 110C vào các tháng từ tháng 1 đến tháng 3
* Chế độ mưa, ẩm
Vùng Ngọc Lặc có độ ẩm không khí trung bình năm là 84,8% Mùamưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trong năm hầu hết tập trungtrong thời gian này Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùanày lượng mưa không đáng kể, không khí khô nóng, đôi khi có gió Lào Trongthời gian này, một số năm có xuất hiện sương muối gây ảnh hưởng không nhỏ
đến sản xuất nông - lâm nghiệp Tuy mùa khô gây nhiều khó khăn cho sảnxuất nhưng bù lại trong khu vực có 6 tháng mùa mưa kéo dài đã tạo điều kiện
Trang 29cho cây rừng phát triển Trong năm chỉ có 3 tháng hạn là tháng 1, 11 và 12.
Điều đó chứng tỏ lượng mưa của khu vực là tương đối lớn tạo điều kiện thuậnlợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển
Vùng Trung tâm Cầu Hai có độ ẩm không khí trung bình năm là 87%.Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 841,6 mm Mưa phân bố không đềutrong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm80% lượng mưa trong năm Lượng mưa trung bình năm là 1.780 mm, số ngàymưa trung bình trong năm là 156 ngày
3.1.4 Thuỷ văn
Khu vực Ngọc Lặc có 3 hệ thống sông chính là:
- Sông Âm chảy qua Phùng Minh, Vân Am, Phùng Giáo, có chiều dài 17
km, mùa khô cạn kiệt, mùa lũ có thể dùng để vận chuyển lâm sản
- Sông Cầu Chày bắt nguồn từ Lập Thạch, Thuý Sơn chảy qua trung tâmhuyện Thọ Xuân, Yên Định, sông nhỏ hẹp, lưu lượng nước thấp
- Sông Hép bắt nguồn từ Quang Trung chảy về sông Cầu Chày ở Yên
Trang 30Nhìn chung quá trình thoái hoá ở đây xảy ra song song với quá trình mất rừng.Việc kinh doanh lâm nghiệp ở đây cần phải có các biện pháp bảo vệ đất,chống xói mòn, rửa trôi.
Khu vực Cầu Hai nằm trong vùng đá biến chất tả ngạn sông Hồng, sảnsinh loại đất Feralits vàng đỏ phát triển trên phiến thạch mica và Gnai, có tầngphong hoá khá dày (2m), thành phần cơ giới sét nhẹ đến trung bình, kết cấuviên khá bền Độ xốp ở lớp mặt cong khá cao, nhất là từ khi đưa các loài câycải tạo đất vào trồng, sức thấm nước và chứa nước khá lớn Độ pH từ 3,9 - 4,4,lượng mùn đạt tỷ lệ trung bình 2%, đạm tổng số 0,1 - 0,2%
Bảng 3.2: Một số đặc điểm hoá tính đất khu vực nghiên cứuLoại đất rừng
Độ sâu(cm)
PHKCl
Mùn(%)
Đạm(%)
Dễ tiêu
P2O5mg/100g
K2Omg/100g
(Số liệu do Trung tâm Sinh Thái và Môi trường rừng - Viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam phân tích)
3.1.5 Thực vật rừng
Tại Ngọc Lặc, trong thành phần thực vật rừng tự nhiên trước đây có rấtnhiều loài cây gỗ có giá trị kinh tế như Lim xanh, Lát hoa, Trầm hương, Quế,Côm tầng và các loài cây thuộc họ Tre nứa Do quá trình khai thác quá mứctrong nhiều năm nên nhiều loài cây bản địa quý hiếm đã dần dần mất đi Bằng
sự cố gắng của chính quyền địa phương và các cơ quan nghiên cứu đóng trên
Trang 31địa bàn (Trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Ngọc Lặc) trong những năm qua huyện
đã khôi phục dần lại diện tích rừng đã mất bằng các biện pháp khoanh nuôi,trồng mới Các loài cây được chú ý phát triển là Lim xanh, Trầm hương, Trámtrắng,… nhưng diện tích vẫn còn hạn chế
Tại cầu Hai, tổng diện tích đất do trung tâm quản lý là 718,06 ha, trong
đó có 7,5 ha là đất xây dựng, còn lại là rừng và đất rừng Diện tích này trướcnăm 1980 là rừng tự nhiên với tổ thành loài cây phong phú, nhiều loài cây cógiá trị kinh tế cao như Lim xanh, Dẻ cau, Sồi phảng, Ràng ràng mít, Re gừng,Trám trắng, Vạng trứng, Ngát, Xoan đào, Chò nâu, Do quá trình khai thácrừng không hợp lý trong nhiều năm nên hiện nay tổ thành các loài cây ở đâykhông còn có loài ưu thế rõ rệt Rừng bị khai thác bừa bãi đã trở nên kạn kiệt,cần phải có các biện pháp để khôi phục và phát triển rừng trong khu vực
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1.Điều kiện dân sinh kinh tế
Khu vực Ngọc Lặc có tổng số dân năm 2007 là 131.688 người bao gồmcác dân tộc: Mường (chiếm 68,8%), Kinh (chiếm 28,5%), Dao (chiếm 0,1%)
và các dân tộc khác (chiếm 2,6%) Mật độ trung bình là 476 người/km2 Thunhập bình quân tính theo giá hiện tại là 2.640 triệu đồng/người/năm Tỷ trọngkinh tế từ sản xuất Nông - lâm nghiệp chiếm 67,21% Nhìn chung, trình độvăn hoá của người dân chưa cao, phong tục canh tác còn lạc hậu Người dân ởkhu vực này sống chủ yếu bằng nghề phát nương làm rẫy, họ thường xuyênvào rừng kiếm củi, chăn thả gia súc nên đã gây ra một số ảnh hưởng bất lợi
đến sản xuất lâm nghiệp trong vùng
Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai có nhiệm vụnghiên cứu thực nghiệm và triển khai kết quả hoạt động khoa học công nghệ ở
địa bàn các tỉnh vùng trung tâm Bắc Bộ Thành phần dân tộc trong khu vựcgồm có dân tộc Kinh (chiếm 82%) và dân tộc Cao Lan (chiếm 18%) Trình độdân trí của người dân trong vùng nhìn chung còn thấp Tập quán canh tác của
Trang 32người dân còn lạc hậu, chủ yếu là canh tác nông nghiệp và chăn nuôi Sảnlượng lương thực bình quân đầu người đạt 200 kg/người/năm, tỷ trọng kinh tế
từ sản xuất Nông - lâm nghiệp chiếm 80% Số dân sống trên đất rừng củaTrung tâm là hơn 4.000 người với số lao động trên 1.500 người Số hộ thamgia làm nghề rừng với Trung tâm Cầu Hai là trên 50 hộ với hơn 300 lao động
Đây là nguồn nhân lực để phục vụ cho việc phát triển nghề rừng tại Trungtâm
Đối với Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai, do nằmngay cạnh quốc lộ 2 nên khu vực có mạng lưới giao thông khá tốt Trongnhững năm gần đây Trung tâm đã xây dựng được hệ thống đường nội hạt và
đường bê tông vào các khu rừng trồng thí nghiệm trong khu vực Đồng thờiTrung tâm cũng đã nâng cấp hệ thống nhà làm việc và xây dựng thêm hệthống vườn ươm, nhà huấn luyện cây con, tạo điều kiện thuận lợi để phát triểnnghề rừng cho khu vực và các tỉnh lân cận trong vùng
Trang 333.2.2.2 Y tế - giáo dục
- Y tế: hiện nay ở cả Ngọc Lặc và Đoan Hùng đều có các bệnh việntuyến huyện và các trạm y tế xã Nhìn chung, cơ sở hạ tầng của ngành y tế cònthiếu thốn, đội ngũ thầy thuốc mỏng nên chưa đáp ứng được yêu cầu khámchữa bệnh của nhân dân ở tuyến xã, còn một số trạm y tế là nhà tạm bợ,nhiều xã không có đủ y cụ thông thường phục vụ cho khám chữa bệnh chongười dân trong xã
- Giáo dục: hiện tại hầu hết các xã trong hai khu vực nghiên cứu ở cảNgọc Lặc và Đoan Hùng đều có trường phổ thông cơ sở và trường phổ thôngtrung học Cơ sở vật chất của các trường lớp nhìn chung đã đáp ứng được nhucầu học tập của học sinh địa phương, chất lượng dạy và học đã dần được cảithiện
3.2.2.3 Thông tin văn hoá
Những năm gần đây, các phương tiện và loại hình thông tin đại chúng ởNgọc Lặc và Đoan Hùng không ngừng phát triển, hầu hết các xã, thị trấntrong hai khu vực trên đều được tiếp nhận các thông tin, chính sách của Đảng
và Nhà nước một cách kịp thời Tuy nhiên, đời sống văn hoá tinh thần củanhân dân các xã vùng cao, vùng sâu của hai khu vực còn rất hạn chế, nhiều tậptục lạc hậu vẫn còn tồn tại
3.3 Nhận xét, đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
3.3.1 Thuận lợi
- Ngọc Lặc và Cầu Hai là hai khu vực có vị trí cách thủ đô Hà Nộikhông xa, nằm trong các khu vực có các tuyến giao thông quan trọng để giaolưu kinh tế - xã hội từ trung tâm Hà Nội đến các tỉnh miền Bắc
- Là các khu vực triển khai các hoạt động nghiên cứu, thực nghiệm vàchuyển giao khoa học công nghệ nên đã nhận được sự quan tâm đầu tư củaNhà nước cũng như của các dự án quốc tế Các chương trình 327, Dự án 661
Trang 34và các đề tài, dự án trong và ngoài nước triển khai tại hai khu vực trên đã tạo
ra được nhiều mô hình rừng trồng với nhiều loài cây bản địa khác nhau Đây
là những cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng rừng trồng hỗn loàibằng các loài cây lá rộng bản địa tại hai khu vực trên
- Điều kiện khí hậu, địa hình, đất đai của Ngọc Lặc và Cầu Hai tương
đối thuận lợi và phù hợp với nhiều loài cây trồng lâm, nông, công nghiệp Đó
là tiền đề để phát triển ngành lâm nghiệp nói riêng và các ngành kinh tế kháctrong vùng
- Diện tích đất lâm nghiệp lớn, chiếm khoảng 75 - 90% diện tích đất tựnhiên của huyện, nhìn chung đất còn khá tốt, đất còn mang tính chất đất rừng,nhiều nơi tầng đất dầy, có lượng mùn cao thuận tiện cho việc phát triển sảnxuất lâm nghiệp trên địa bàn
- Nguồn lao động của các khu vực Ngọc Lặc và Cầu Hai khá dồi dào cóthể huy động vào việc phát triển lâm nghiệp cũng như các ngành khác
3.3.2 Khó khăn
- ở một số xã vùng sâu của huyện Ngọc Lặc và Đoan Hùng có địa hìnhcao, dốc và khá hiểm trở, nên khó khăn cho công tác xây dựng, quản lý và bảo
vệ rừng cũng như triển khai các hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn
- Khí hậu của hai khu vực nhìn chung là thuận lợi song có một số yếu tốhạn chế như sương muối, gió hại, có các tháng khô, hạn là những trở ngại chocác hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn
- Là các huyện miền núi có nhiều dân tộc sinh sống trên địa bàn rộng,
đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, dân trí thấp, trình độ canh tác lạchậu, tập quán đốt nương rẫy, gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác bảo vệ vàphát triển rừng của các huyện Ngọc Lặc và Đoan Hùng
- Hệ thống cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội ở một số xã của hai khu vựccòn thiếu thốn và thấp kém Mạng lưới giao thông liên xã chưa được cải thiện
Trang 35đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá, trong
đó có sản phẩm từ rừng trồng sản xuất của các khu vực
Với những thuận lợi và khó khăn trên đây các khu vực Ngọc Lặc và Cầu Hai đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới đối với phát triển lâm nghiệp Việc nghiên cứu xây dựng các mô hình trình diễn về lâm sinh cũng như các hoạt động thử nghiệm và trồng rừng mới, đặc biệt là trồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn là rất quan trọng và cần thiết.
Trang 36Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Tổng kết, đánh giá các mô hình trồng rừng hỗn loài ở một số tỉnh phía Bắc.
4.1.1 Các mô hình rừng trồng hỗn loài xây dựng trong Chương trình 327
Chương trình 327 với mục tiêu phủ xanh đất trống, đồi trọc đã đượctriển khai trên hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Rừng trồng trong Chươngtrình 327 có nhiều loại khác nhau, trong đó xây dựng rừng trồng phòng hộ hỗnloài là một trong những nội dung quan trọng của Chương trình này Quyết
định số 556/TTg ngày 12/9/1995 về Chương trình 327 đã quy định: “… trồngrừng phòng hộ đầu nguồn là trồng rừng hỗn loài nhiều tầng gồm nhiều loàicây bản địa, gỗ quý, chủ yếu lấy giống từ rừng nguyên sinh với mật độ bìnhquân 1.600 cây/ha, trong đó 40% là các loài cây bản địa và 60% cây phù trợ,
kể cả cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản lâu năm” [1] Dựa trên nhữngquy định chung về kỹ thuật của Chương trình, các Sở Nông nghiệp & pháttriển nông thôn, Ban quản lý Chương trình 327 đã xây dựng được nhiều môhình rừng trồng hỗn loài ở nhiều địa phương khác nhau Kết quả tổng kết,
đánh giá các mô hình rừng trồng hỗn loài trong Chương trình 327 ở một sốtỉnh phía Bắc như bảng 4.1
Kết quả bảng 4.1 cho thấy hầu hết các mô hình rừng trồng hỗn loàitrong Chương trình 327 ở một số tỉnh phía Bắc đã sử dụng các loài cây lá rộngbản địa có giá trị kinh tế như Lim xanh, Lát hoa, Trám trắng, Lim xẹt, Mỡ, Regừng, Dẻ đỏ,… để trồng hỗn loài với cây phù trợ là các loài Keo hoặc Muồng
đen Các mô hình đều áp dụng phương pháp trồng rừng hỗn loài theo hàng vớimật độ là 1.660 cây/ha, trong đó 1.000 cây phù trợ và 600 cây bản địa
Trang 37Dt(m)
1 Lim xanh + Luångë Ngäc LÆc - T.H 5 Lim xanh 92,0 3,5 3,0 2,8
6 dificilis ë CÈm QuúLim xanh + Keo
Lim xanh 93,1 3,8 3,2 2,8Keo dificilis 92,5 7,5 5,8 2,7
7 xanh ë T©n L¹c-H.BMuång ®en + Lim 11 Muång ®en 78,6 10 8,5 3,4
-8 trµm ë T©n L¹c- HBMuång + Keo l¸ 8 Muång ®en 70,0 7,5 7,7 3,5
Keo l¸ trµm 80,5 7,5 7,6 3,09
Trang 38Tuỳ theo điều kiện địa hình mà việc xử lý thực bì trong các mô hình trên
được thực hiện theo phương pháp toàn diện hoặc cục bộ Biện pháp làm đấtthường được tiến hành cục bộ, hố đào với kích thước 30cmx30cmx30cm theocác đường đồng mức Các biện pháp chăm sóc rừng trồng cũng đã được tiếnhành trong 2-3 năm đầu sau khi trồng thông qua việc phát cây bụi và xớiquanh gốc cây trồng Tuy nhiên, việc chọn loài cây trồng, lập địa trồng rừng,cấu trúc lâm phần và các đặc tính sinh thái của loài cây trong một số mô hìnhchưa được nghiên cứu đầy đủ Phần lớn các mô hình rừng trồng hỗn loàithường sử dụng cây Keo tai tượng, Keo lá tràm hoặc Muồng đen làm cây phùtrợ Đây là những loài cây chịu được đất xấu, dễ trồng nhưng có tốc độ sinhtrưởng nhanh gấp 2 - 3 lần một số loài cây bản địa khác, trong khi đó quy định
về mật độ trồng rừng trong Chương trình 327 khiến cho cự ly trồng giữa cáchàng cây bản địa và cây phù trợ quá gần nhau (2mx3m) Vì vậy, hầu hết cácmô hình sau 2-3 năm trồng, các loài cây chính đều bị cây phù trợ lấn át Mặtkhác, trong quy định của nhiều địa phương, quyền lợi của chủ rừng là đượchưởng các sản phẩm từ các loài cây phù trợ Vì vậy, đối với người dân ở một
số nơi, cây phù trợ đã trở thành cây trồng chính Do đó, các chủ rừng đãkhông tỉa thưa cây phù trợ theo quá trình sinh trưởng của các loài mà họ chỉtiến hành tỉa thưa cây phù trợ khi nó đã trở thành hàng hoá Do vậy, không thểtạo điều kiện tốt nhất cho các loài cây trồng chính sinh trưởng Trên thực tếphần lớn các mô hình rừng trồng hỗn loài chỉ có cây phù trợ sinh trưởng tốtcòn hầu hết các loài cây bản địa đều sinh trưởng kém Tăng trưởng về đườngkính của các loài cây bản địa đạt trung bình từ 0,6 - 0,8 cm/năm về đườngkính và 0,5 - 0,8 m/năm về chiều cao Tỷ lệ sống của các loài cây bản địatrong các mô hình còn lại với mật độ không cao từ 45 - 88,5%
4.1.2 Các mô hình rừng trồng hỗn loài xây dựng trong Dự án 661
Dự án 661 được thực hiện theo quyết định số 661/QĐ-TTg ngày29/7/1998 của Thủ tướng Chính Phủ Từ khi được triển khai đến nay Dự án đã
Trang 39xây dựng được nhiều mô hình rừng trồng khác nhau, trong đó có nhiều môhình rừng trồng hỗn loài với mục đích phòng hộ đã được thiết lập ở các tỉnhphía Bắc Tổng kết, đánh giá các mô hình rừng trồng hỗn loài trong Dự án 661
ở một số tỉnh phía Bắc được thể hiện trong bảng 4.2
Tỷ lệsống(%)
D1,3(cm)
Hvn(m)
Dt(m)
Keo TT 87,5 2,9 3,3 1,6Muồng 62,5 2,6 2,8 1,2Lâm trường
Văn Chấn,
Yên Bái
1000 Thôngmã vĩ + 660Keo tai tượng 1
Lim
Keo lai 80 9,9 10,2 5,0Trạm Thản,
Phù Ninh,
Phú Thọ
600 (Sấu +Trám) + 1000
Trang 40(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8)
CÈm Khª,
Phó Thä
1000 Keo lai+ 600 (SÊu
6
Keo lai 95 13,0 14,5 4,0X· Hoµ B×nh,
600 Tr¸mtr¾ng
5
Lim