1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu điều chỉnh kết cấu diện tích rừng trồng keo tai tượng theo tuổi phục vụ cho điều chế rừng gỗ nhỏ tiến tới chứng chỉ rừng tại xí nghiệp lâm nghiệp kỳ sơn thuộc công ty lâm nghiệp hòa bình

83 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trồng rừng có nhiều mục đích khác nhau nhưng việc nghiên cứu cơ sở khoa học để điều chỉnh kết cấu rừng theo tuổi phục vụ cho điều chế rừng gỗ nhỏ theo mục đích kinh doanh là một vấ

Trang 1

NGUYỄN QUỐC THỐNG

NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHỈNH KẾT CẤU DIỆN TÍCH RỪNG

TRỒNG KEO TAI TƯỢNG (Acacia Mangium) THEO TUỔI

PHỤC VỤ CHO ĐIỀU CHẾ RỪNG GỖ NHỎ TIẾN TỚI CHỨNG CHỈ RỪNG TẠI XÍ NGHIỆP LÂM NGHIỆP KỲ SƠN

THUỘC CÔNG TY LÂM NGHIỆP HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2010

Trang 2

NGUYỄN QUỐC THỐNG

NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHỈNH KẾT CẤU DIỆN TÍCH RỪNG

TRỒNG KEO TAI TƯỢNG (Acacia Mangium) THEO TUỔI

PHỤC VỤ CHO ĐIỀU CHẾ RỪNG GỖ NHỎ TIẾN TỚI CHỨNG CHỈ RỪNG TẠI XÍ NGHIỆP LÂM NGHIỆP KỲ SƠN

THUỘC CÔNG TY LÂM NGHIỆP HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Vũ Nhâm

Hà Nội, 2010

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, không những cung cấp gỗ và các loại lâm sản khác, mà nó còn có giá trị bảo vệ và cải tạo môi trường sinh thái, tạo cảnh quan du lịch Nhưng trong thời gian qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng Vậy nên để giữ gìn và phát triển được nguồn tài nguyên quý giá này thì ngoài việc dùng các biện pháp kỹ thuật tác động chúng ta phải trồng rừng để thay thế những diện tích rừng đã mất nhằm đảo bảo cho sự phát triển bền vững

Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay để đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của con người về gỗ và lâm sản trong tương lai đòi hỏi cần có những biện pháp điều chỉnh kết cấu rừng trồng để rừng đáp ứng được những yêu cầu của con người Trong trồng rừng có nhiều mục đích khác nhau nhưng việc nghiên cứu cơ sở khoa học để điều chỉnh kết cấu rừng theo tuổi phục vụ cho điều chế rừng gỗ nhỏ theo mục đích kinh doanh là một vấn đề mới đáng quan tâm nghiên cứu và đây còn là vấn đề cần thiết đối với các doanh nghiệp lâm nghiệp

Điều chế rừng là một môn khoa học mang tính ứng dụng của việc tổ chức rừng Nó dựa trên cơ sở quy luật phát triển sinh học của quần thể rừng

để khai thác, nuôi dưỡng, bảo vệ, phục hồi tái sinh rừng tác động đúng hướng vào rừng để rừng luôn phát triển đi lên, dẫn dắt rừng đi đến trạng thái cân bằng và do đó bảo đảm vốn rừng ổn định đạt năng suất cao, đất rừng ngày càng phì nhiêu, tác dụng nhiều mặt của rừng ngày càng được phát huy

Tồn tại hiện nay trong điều chế rừng nói chung và điều chế rừng trồng nói riêng có sự khác biệt, trong điều chế rừng trồng mục tiêu chính là sản lượng ổn định Muốn vậy, cần áp dụng phương pháp kinh doanh rừng theo cấp tuổi Tuy vậy, trong thực tế sản xuất hiện nay các công ty lâm nghiệp tiến

Trang 4

hành trồng rừng chưa theo một kế hoạch chặt chẽ về diện tích để tạo ra mật độ

và sản lượng ổn định, bởi chăng các hộ dân tham gia trồng rừng không trồng theo diện tích, như vậy các công ty Lâm nghiệp muốn có một sản lượng gỗ hàng năm ổn định thực hiện điều chế rừng làm cơ sở tiến tới chứng chỉ rừng, việc nghiên cứu cơ sở khoa học để điều chỉnh kết cấu rừng theo tuổi phục vụ cho điều chế rừng để có thể tiến tới được cấp chứng chỉ rừng là việc làm cần tiến hành

Điều chế rừng là một công cụ để quản lý rừng bền vững Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về quản lý rừng bền vững nhưng những sai khác đó chỉ là trong cách diễn đạt ngôn từ, nhưng cuối cùng đều hướng vào mô tả mục tiêu chung của quản lý rừng bền vững đó là việc quản lý để đạt tới sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường

Để góp phần giải quyết những tồn tại trên cả về mặt lý luận và thực

tiễn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu điều chỉnh kết cấu

diện tích rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) theo tuổi phục vụ cho điều chế rừng gỗ nhỏ tiến tới Chứng chỉ rừng tại Xí nghiệp Lâm nghiệp Kỳ Sơn thuộc Công ty lâm nghiệp Hoà Bình”

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Cấu trúc rừng

Rất nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng, mà tiêu biểu là Baur.G.N (1964)[1] , và Odum.E.P (1971), các tác giả nghiên cứu các vấn đề sinh thái Qua đó làm sáng tỏ khái niệm về hệ sinh thái rừng, đây là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học

1.1.1.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N – D)

Để nghiên cứu và mô tả quy luật cấu trúc đường kính thân cây hầu hết các tác giả tìm các phương trình toán học dưới nhiều dạng phân bố xác suất khác nhau như:

Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Meyer (1934), Prodan (1949) Các tác giả này đã mô tả phân bố số cây theo cỡ đường kính của rừng

tự nhiên bằng phương trình toán học dạng:

N = k.e-αdi (1.1) Phương trình này được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer Tiếp đó, Naslunel (1936-1937), Moiseev (1972) đã xác lập phân bố Charlier-A đối với phân bố N-D của lâm phần thuần loài đều tuổi Loetch (1973) dùng hàm Beta nắn phân bố thực nghiệm, Roemisch (1975) nghiên cứu khả năng dùng hàm Gamma mô phỏng sự biến đổi của phân bố N/D theo tuổi J.L.F Batista và H.T.Z Docuto (1992) trong khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Maranhoo - Brazin đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N-D Hàm

có dạng:

F(x)= ..x-1.e-.x^ (1.2)

Trang 6

Qua nghiên cứu thấy được là phân bố N/D ban đầu thường có dạng lệch trái, phạm vi phân bố hẹp, đường cong phân bố nhọn

1.1.1.2 Tương quan giữa đường kính tán và đường kính tại vị trí 1,3m (D T

- D 1.3 )

Nghiên cứu mối quan hệ này có các công trình nghiên cứu khác nhau, nhiều tác giả như: Zieger (1928), Cromer.O.A.N (1948), Miller.J (1953)…đã

đi đến kết luận là giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực có mối quan

hệ mật thiết, phổ biến nhất là dạng phương trình đường thẳng

Tán cây rừng là một bộ phận quyết định đến sinh trưởng cũng như tăng trưởng của cây rừng Ionikas (1980); Lebedinski (1972) đã sử dụng và đo tính thể tích tán lá cây sống để nghiên cứu năng suất rừng Qua nghiên cứu nhiều tác giả đã đi đến kết luận giữa đường kính tán và đường kính thân cây có mối quan hệ mật thiết như nghiên cứu của Zieger; Erich (1928), Comer, O.A.N; Tuỳ theo loài cây và các điều kiện khác nhau, mối liên hệ này được thể hiện khác nhau nhưng phổ biến nhất là dạng phương trình đường thẳng:

DT = a + b.D1.3 (1.3) Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần Rollet B L (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác xuất, Balley (1973) sử dụng hàm Weibull

để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông,

1.1.1.3 Quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính (H - D)

Đây cũng là quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm phần Qua nghiên cứu nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với mỗi cỡ đường kính luôn tăng theo tuổi Trong một cỡ kính xác định,

ở các cấp tuổi khác nhau cây rừng thuộc cấp sinh trưởng khác nhau

Trang 7

Tiurin.D.V (1927) đã phát hiện ra quy luật này khi xác lập đường cong chiều cao ở các cấp tuổi khác nhau Prodan.M (1935) cho thấy độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi tăng lên

Curtis.R.O đã mô phỏng quan hệ chiều cao với đường kính và tuổi theo dạng phương trình: Logh = d + b1.1/d + b2.1/A + b3.1/dA (1.4)

Tại từng tuổi nhất định dùng phương trình:

Trang 8

1.1.2 Phương pháp kinh doanh rừng theo cấp tuổi

Phương pháp kinh doanh rừng theo cấp tuổi được xây dựng trên cơ sở

so sánh giữa tỷ lệ cấp tuổi thực tế với tỷ lệ cần đạt tới (tiêu chuẩn) Tỷ lệ cấp tuổi được biểu thị bằng sự phân bố diện tích theo cấp tuổi

Ví dụ: Một khu rừng có diện tích 2.000ha với tuổi khai thác chính là

100 năm với kết cấu diện tích theo cấp tuổi như sau:

U

S 10  10

Lượng khai thác biểu thị bằng trữ lượng được tính bằng cách lấy lượng khai thác biểu thị bằng diện tích nhân với trữ lượng bình quân trên ha của các lâm phần thành thục cộng với lượng tăng trưởng của các lâm phần này trong 5 năm

Để xác định lượng tăng trưởng thường xuyên định kỳ trong 5 năm của những lâm phần thành thục thường sử dụng biểu sản lượng phù hợp với loài cây và cấp đất của loại hình kinh doanh đó Trong trường hợp không có biểu sản lượng có thể sử dụng biểu suất tăng trưởng, biểu lượng tăng trưởng thường xuyên hoặc thậm chí có thể bỏ qua đại lượng này

Trang 9

1.1.3 Điều chế rừng

Có nhiều khái niệm về Điều chế rừng

- Người Pháp đến nay vẫn dùng khái niệm cổ điển của họ: “Điều chế 1 khu rừng (Ame’nagemen) là đề ra những điều muốn làm, cân nhắc những gì

có thể làm và dự đoán những cái phải làm” (BORUGE-NOT L 1969)

- Người Đức quan niệm : Điều chế rừng (Forsteinrich-tung) là một môn khoa học về điều tra giai đoạn về kế họach hoá trung hạn và dài hạn kiểm tra định kỳ hiệu quả của quản lý kinh doanh nghề rừng (RICH - TER A 1963)

- Người Anh cho rằng :Muốn Điều chế rừng (Manage-ment) trước hết phải có chính sách lâm nghiệp để dựa và đó mà xác định mục tiêu đề ra các yếu tố tự nhiên, kinh tế, con người …cuối cùng xác định các biện pháp Điều chế và phúc tra lại rừng (DAWKINSHC.1958)

- Ở Mỹ, công tác điều chế rừng (Management) mới bắt đầu năm 1930, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai mới đẩy mạnh lên Họ cho rằng: Điểu chế rừng là áp dụng phương pháp công tác và những nguyên tắc của kỹ thuật nghề rừng để xử lý một tài nguyên rừng Đó là sự thiết lập, xếp đặt vào trật tự và giữ trong trật tự đó công tác nghiệp vụ lâm nghiệp Theo DAVIS K.P, 1952 thì Điều chế rừng là kết quả của hạt nhân đường lối chính của nghề rừng

- Ở Liên Xô, công tác Điều chế rừng bắt đầu theo khoảnh, sau đó dùng phương pháp cấp tuổi Từ 1926 đến 1948 dựa trên phương pháp cấp tuổi Từ

1964, xác định Điều chế rừng phải giải quyết 7 vấn đề, Theo BAICHIN A.A

Trang 10

+ Trong Điều chế theo phương pháp cấp tuổi, rừng ở cấp đất I đến cấp đất III tạo thành một loại kinh doanh thương phẩm cỡ lớn

+ Xác định phương hướng khai thác chính

+ Điều tiết việc sử dụng gỗ trong các lâm trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Điều chế rừng

+ Các biện pháp lâm sinh được thiết kế trong Điều chế riêng như chăm sóc, tiêu nước, canh tác, tác động đối với đất… là nội dung cở bản của hoạt động thực tiễn về trồng rừng thâm canh

+ Sự bắt đầu rõ rệt và nổi tiếng của công tác Điều chế rừng là tính thông

kê và tính thực tiễn

- Người Rumani cho rằng: Điều chế rừng là một khoa học và thực tiễn về

tổ chức rừng phù hợp với nhiệm vụ quản lý kinh doanh rừng ( RUCAREANU N… 1967)

Từ thế kỷ thứ XIII khi rừng ở Trung Âu bị thu hẹp mạnh để đảm bảo cung cấp gỗ liên tục, ổn định về sản lượng lý thuyết về điều chế rừng bắt đầu được hình thành Đến thế kỷ thứ XVIII trải qua quá trình tích lũy về lý luận

và thực tiễn khoa học điều chế rừng mới ra đời Người đầu tiên đưa ra những

cơ sở đúng đắn về điều chế rừng là G.L.Hartig và H Cotta vào thế kỷ XX, dựa trên học thuyết ban đầu về điều chế rừng này nhiều nhà lâm nghiệp đã phát triển học thuyết này điển hình là G.Hufel 1922, J.ch Hundeshagen, Fr ludeich 1922, Chr Agner 1928 và H Nanquette 1960

Các lý luận về điều chế rừng lần lượt được công bố Theo Davis K.P, 1952: “Điều chế rừng là kết quả của hạt nhân đường lối chính của nghề rừng" Dawkins H.C 1958 cho rằng “muốn điều chế rừng (Manegement) trước hết phải có chính sách lâm nghiệp để đưa vào đó mà xác định mục tiêu đề ra các yếu tố tự nhiên, kinh tế, con người cuối cùng xác định các biện pháp điều chế và phúc tra lại rừng" Richter A, 1963 cho rằng: “Điều chế rừng

Trang 11

(Foresteinirichtung) là môn khoa học về điều tra giai đoạn về kế hoạch hoá trung hạn và dài hạn, kiểm tra định kỳ hiệu quả của quản lý kinh doanh nghề rừng" Theo Baichin A.A, 1967 thì điều chế rừng (Lecoyctprouctbo) phải giải quyết 6 vấn đề: (phân chia rừng, xác định loài cây, xác định phương thức khai thác, điều tiết sử dụng gỗ, các biện pháp lâm sinh, tính thống kê và tính thực tiễn) Rucareanu N 1967 cho rằng: "Điều chế rừng (Amenagement) là một khoa học và thực tiễn về tổ chức rừng phù hợp với quản lý kinh doanh rừng"

Theo F.C O smaston, 1968, “Điều chế rừng của bất kỳ đơn vị kinh doanh nào cũng đều bao gồm việc tổ chức và chỉ đạo các hoạt động cần thiết

để đạt mục tiêu của chủ rừng" Boulgenot L, 1969 lại cho rằng “Điều chế 1 khu rừng (Amenagement) là đề ra những điều muốn làm, cân nhắc những gì

có thể làm và dự đoán những cái phải làm"

FAO (1996) đã tổng kết kinh nghiệm điều chế rừng tự nhiên nhiệt đới Có 5 kinh nghiệm đã được đưa ra là: (1)- Phải phân tích kỹ các yếu tố cơ bản của quá trình điều chế rừng; (2)- Phải xác định hai khía cạnh tổ chức thời gian rừng (Luân kỳ điều chế rừng và kế hoạch thời gian tác nghiệp hàng năm); (3)- Phải xác định rõ tính pháp chế của phương án điều chế rừng; (4)- phải đảm bảo hài hoà giữa các mục đích sản xuất, xã hội và môi trường; và (5)- phải có sự tham gia của các bên liên quan trong việc điều chế rừng

Qua tìm hiểu về quá trình hình thành phương án điều chế rừng cho thấy 3 yếu tố quan trọng nhất trong điều chế là (mục tiêu, đối tượng và các hoạt động trong điều chế rừng) Ngoài ra chu kỳ điều chế rừng và kế hoạch tác nghiệp rừng hàng năm là hai khía cạnh thời gian của điều chế rừng Tính pháp lý của phương án điều chế rừng đề cập đến việc phương án phải được thực thi đúng mục đích, đối tượng, quy trình kỹ thuật và tiến độ và phải được

bộ chủ quản xác nhận Với bản chất của rừng là đa tác dụng, nên trong điều chế rừng ngoài việc điều chế theo mục đích ưu tiên nào đó vẫn phải chú ý đến

Trang 12

các mục đích kết hợp khác Trong điều chế rừng sự tham gia của các bên liên quan có tính chất quan trọng quyết định đến tính khả thi của phương án

1.1.4 Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng

Khái niệm phát triển bền vững được đưa ra năm 1980 ấn phẩm “Chiến lược Bảo tồn Thế giới”với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" nhưng cũng đủ để mọi người nhận thức rõ ràng thế nào là phát triển bền vững

Từ đó các khái niệm về quản lý rừng bền vững lần lượt ra đời

Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đề xuất 10 nguyên tắc và các tiêu chuẩn quản lý rừng Uỷ ban phát triển bền vững (CSD) cũng đề nghị các chỉ thị rừng bền vững Tổ chức các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) và hội tiêu chuẩn Canada (CSA) đã đưa ra hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp - tiêu chuẩn ISO

14000 IUCN - hiệp hội quốc tế về bảo tồn thiên nhiên - khuyến cáo các tiêu chuẩn đảm bảo tính đa dạng sinh học

Vào cuối những năm 1980, việc tẩy chay gỗ nhiệt đới gặp thất bại, trong một số trường hợp lại gây ra hiệu ứng ngược Hội nghị Thượng đỉnh thế giới tại Rio de Janerio năm 1992 đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có một cơ chế hiệu quả quản lý rừng Thay vì việc tẩy chay trước đó, họ đã muốn sử dụng thị trường để thúc đẩy lợi ích xã hội, môi trường và hiệu quả kinh tế trong quản lý Lần đầu tiên, những nhà môi trường, xã hội và kinh tế đã cùng nhau tham gia một chương trình quốc tế bình đẳng và thành lập Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) Cho đến nay, FSC vẫn là một môi trường bình đẳng, thống nhất ý kiến chung cho các nhóm lợi ích khác nhau

Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập: PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki); CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cho rừng tự nhiên nói chung;

Trang 13

ITTO (tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới) cho rừng tự nhiên nhiệt đới Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng: Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED, Riodejaneiro, 1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiếm (CITES); Công ước đa dạng sinh học (CBD) Nhiều định nghĩa QLRBV được đưa ra, tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO và trong tiến trình Hensinki

Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách

rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”

Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”

Các định nghĩa trên đều tập trung vào các vấn đề chính là: quản lý rừng

ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra, bảo đảm bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội Các yếu tố của QLRBV là:

- Có khuôn khổ chính sách và pháp lý

- Sản xuất lâm sản bền vững

- Bảo vệ được môi trường

- Đảm bảo lợi ích con người

Trang 14

- Đối với rừng trồng, có các cân nhắc áp dụng cụ thể phù hợp

Trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia (Canada, Malaysia, Indonexia ) và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal FSC và ITTO đã có bộ tiêu của quản lý rừng được vận dụng rất rộng rãi để đánh giá quản lý rừng ở nhiều nước

1.1.4.1 Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) và các tiêu chuẩn QLRBV

FSC là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng lớn trên toàn thế giới FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Toronto – Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Năm 1994 các thành viên sáng lập đã thông qua các nguyên tắc và tiêu chuẩn FSC, cùng với Quy chế FSC (ngày nay gọi là By-Laws) áp dụng đánh giá cho rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác Trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn – Đức Cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng

FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia Thành viên FSC được chia thành nhóm xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC

FSC ủy quyền cho 10 cơ quan trên thế giới cấp chứng chỉ có trụ sở tại Anh, Mỹ, Hà Lan, Đức, Canada, Nam Phi, Thụy Sĩ Tại Châu Á – Thái Bình Dương, Công ty SmartWood/Rainforest Allliance và SGS Forestry thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp CCR

Các lợi ích FSC tạo ra:

Trang 15

- Lợi ích về môi trường: Đảm bảo cho tất cả mọi người tham gia vào

thương mại lâm sản rằng các đóng góp của họ sẽ giúp đỡ việc bảo tồn hơn là hủy diệt rừng, con người và cuộc sống thông qua các hoạt động

1 Bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị khác như nước, đất…

2 Duy trì các chức năng sinh thái và thể thống nhất của rừng

3 Bảo vệ các loại động, thực vật quý hiếm và môi trường sống của chúng

- Lợi ích về xã hội: Đảm bảo quyền con người được tôn trọng Nhiệm

vụ chính là yêu cầu có sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan khi xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia hay khu vực

- Lợi ích về kinh tế: Đó là chủ rừng cần phải cố gắng đạt được cách

sử dụng tối ưu và chế biến tại chỗ các sản phẩm đa dạng của rừng, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường nơi khai thác và chế biến

FSC xây dựng 10 tiêu chuẩn cho QLRBV Từ các tiêu chuẩn đó, các quốc gia, khu vực tham gia vào tiến trình QLRBV và CCR sẽ xây dựng các

bộ tiêu chuẩn quốc gia riêng để đánh giá và phù hợp với các điều kiện cụ thể của mình Các bộ tiêu chuẩn này cần phải được sự phê chuẩn của FSC trước khi được sử dụng để đánh giá cấp chứng chỉ tại quốc gia hoặc khu vực đó

CCR được áp dụng cho tất cả các đơn vị quản lý rừng với các quy mô lớn nhỏ bất kể là sở hữu nhà nước hay tư nhân Đây là một quá trình hoàn toàn tự nguyện của các chủ rừng Tuy nhiên, đánh giá cấp CCR chỉ được áp dụng cho các đơn vị đang quản lý rừng sản xuất và đang hoạt động quản lý kinh doanh Để được cấp CCR của FSC, chủ rừng phải chứng minh họ đã đáp ứng tất cả các quy tắc, tiêu chuẩn trên Thực chất CCR chính là chứng chỉ chất lượng ISO, là hiệu quả cuối cùng của QLRBV, được FSC đề cập như là một “công cụ hữu hiệu, giúp cải thiện quản lý rừng của thế giới” và “là công

cụ chính sách mạnh mẽ nhất” trong quản lý rừng Khi được cấp CCR, chủ rừng sẽ được:

Trang 16

- Xuất khẩu lâm sản vào mọi thị trường khắt khe trên thế giới kể cả Tây

Âu và Bắc Mỹ với giá bán cao hơn

- Rừng cùng với môi trường sinh thái và xã hội có liên quan đến rừng

sẽ được giữ gìn, bảo vệ và phát triển tốt hơn

Bên cạnh đó, các đánh giá định kỳ của cơ quan cấp chứng chỉ sẽ giúp chủ rừng tìm ra các điểm mạnh, yếu trong hoạt động kinh doanh của mình

- CCR của FSC giúp bảo vệ thương hiệu và uy tín của chủ rừng với đối tác kinh doanh, các tổ chức tài chính và các tổ chức cơ quan giám sát Các tiêu chuẩn FSC hợp lệ trên toàn thế giới, là tiêu chuẩn duy nhất không có rào cản đối với tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

FSC có hệ thống chứng nhận duy nhất được hỗ trợ bởi tất cả các nhóm môi trường Các nước Mỹ, Úc chỉ chấp nhận CCR của FSC bởi chỉ có FSC quy định:

* Nghiêm cấm việc sử dụng thuốc trừ sâu rất độc hại trên toàn thế giới

* Tôn trọng quyền của người dân bản địa trên khắp thế giới

* Kiểm soát từng hoạt động chứng nhận ít nhất một năm một lần - và nếu bị phát hiện là không phù hợp thì giấy chứng nhận bị thu hồi

Trang 17

Trong quá trình đánh giá cấp chứng chỉ sẽ có hoạt động kiểm soát gỗ

(FSC Controlled Wood)

1.1.4.3 Chứng chỉ quản lý rừng FSC/FM

FSC không đánh giá cấp chứng chỉ Quá trình đánh giá được thực hiện bởi tổ chức độc lập gọi là cơ quan đánh giá quản lý rừng Họ đánh giá quản lý rừng đối với các nguyên tắc và tiêu chuẩn FSC cũng như các tiêu chuẩn quốc gia Điều này cho phép FSC vẫn độc lập với quá trình đánh giá và hỗ trợ tính toàn vẹn của hệ thống chứng nhận FSC

Các tiêu chuẩn của FSC:

Tiêu chuẩn 1: Phù hợp với tất cả điều luật và công ước quốc tế

Tiêu chuẩn 2: Quyền và trách nhiệm sử dụng đất

Tiêu chuẩn 3: Quyền người dân sở tại

Tiêu chuẩn 4: Quan hệ công đồng và quyền của công nhân

Tiêu chuẩn 5: Những lợi ích từ rừng

Tiêu chuẩn 6: Tác động môi trường

Tiêu chuẩn 7: Kế hoạch quản lý

Tiêu chuẩn 8: Giám sát và đánh giá

Tiêu chuẩn 9: Duy trì những rừng có giá trị bảo tồn cao

Tiêu chuẩn 10: Rừng trồng

Các tiêu chuẩn về xã hội là tiêu chuẩn 2, 3, 4, 5

Các tiêu chuẩn về môi trường là tiêu chuẩn 6, 7, 9

Các tiêu chuẩn về tuân thủ luật pháp là tiêu chuẩn 1 và 2

Các quá trình giám sát và quản lý là tiêu chuẩn 8, nguyên tắc này cũng liên quan đến chuỗi hành trình sản phẩm

Các khu rừng trồng: tiêu chuẩn 10

Các tiêu chuẩn liên quan đến kinh tế: tiêu chí và chỉ số của tiêu chuẩn được thể hiện rõ ở hai nội dung đầu nhưng tiêu chuẩn kinh tế của nó lại không

Trang 18

được thể hiện rõ: giá chuyển đổi, giá cố định, hoạt động xã hội và môi trường

có thể bị ảnh hưởng bởi giá chuyển đổi trong ngành Các tiêu chuẩn có liên quan: 5, 7 và 8

Nếu chủ rừng tuân thủ đầy đủ các yêu cầu FSC, FSC sẽ trao chứng chỉ Nếu chủ rừng còn thiếu một số điều kiện, chủ rừng phải hoàn thành chúng trong một thời gian cụ thể trước khi nhận chứng chỉ

FM cũng được cấp cho rừng trồng thể hiện ở tiêu chuẩn 10

Để thương mại lâm sản với logo FSC và yêu cầu bồi thường, người quản lý rừng phải có chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm Nó đảm bảo rằng sản phẩm có nguồn gốc từ một khu rừng đã được cấp chứng chỉ cho người tiêu dùng

về mặt không gian thời gian và định hướng nghiên cứu cấu trúc, sinh trưởng

và sản lượng rừng đã được các nhà khoa học khái quát lại dưới dạng mô hình toán học từ đơn giản đến phức tạp, nhằm định lượng hoá các quy luật của tự nhiên, nhờ đó đã giải quyết được nhiều vấn đề trong kinh doanh rừng, đặc biệt

là trong lĩnh vực trồng rừng tính toán sản lượng cũng như xây dựng hệ thống các biện pháp kinh doanh nuôi dưỡng, làm giàu rừng cho từng đối tượng cụ thể Việc nghiên cứu cấu trúc rừng trồng để điều chỉnh và làm cơ sở cho xây dựng phương án điều chế để rừng phát triển ổn định

1.2.1.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N-D)

Trang 19

Đối với rừng tự nhiên nước ta, Đồng Sỹ Hiền (1974)[10] đã dùng họ đường cong Pearson biểu diễn phân bố số cây theo cỡ đường kính của rừng tự nhiên Vũ Nhâm (1988)[19] và Vũ Tiến Hinh (1990)[11] cho thấy, có thể dùng phân bố Weibull với hai tham số để biểu thị phân bố N-D cho những

lâm phần thuần loài, đều tuổi như thông đuôi ngựa (pinus massoniana), thông nhựa (Pinus merkussii), Mỡ (Manglietia glauca) và bồ đề (Styrax

Bảo Huy (1993)[14] trong nghiên cứu cấu trúc rừng Bằng Lăng ở Tây Nguyên đã thử nghiệm 5 dạng phân bố lý thuyết là Poisson, khoảng cách, hình học, Mayer và weibull để mô phỏng các cấu trúc này

1.2.1.3 Quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính (H – D)

Khi sắp xếp cây rừng cùng một lúc theo hai đại lượng đường kính

có thể định lượng thành quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây, quy luật kết cấu cá bản này cũng được nhiều tác giả nghiên cứu

Trang 20

Ở nước ta, Đồng Sỹ Hiền (1974)[10] đã thử nghiệm năm dạng tương quan thường được nhiều tác giả nước ngoài sử dụng là: (1.6), (1.8), (1.10), (1.15), (1.16), và kết luận phương trình (1.8) thích hợp cho đối tượng rừng hỗn giao khác tuổi có nguồn gốc tự nhiên

Vũ Nhâm (1988)[19] dùng phương trình (1.10) xác lập quan hệ H/D cho mỗi lâm phần làm cở sở lập biểu thương phẩm gỗ cho rừng thông đuôi ngựa Vũ Tiến Hinh (1990)[11] dùng phương trình (1.10) xác lập quan hệ H/D cho các loài Mỡ, Sa mộc, thông đuôi ngựa

Như vậy, đối với rừng trồng thuần loài dạng phương trình được sử dụng nhiều nhất để biểu thị đường cong chiều cao là phương trình Logarit

1.2.2 Phương pháp kinh doanh rừng theo cấp tuổi

Ở Việt Nam các nhà khoa học đang tiến hành một số đề tài nghiên cứu

và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất tại một số công ty lâm nghiệp như:

- Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

- Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

1.2.2 Điều chế rừng

Ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc điều chế rừng ít được chú ý mặc

dù về lý luận, có đưa môn điều chế rừng vào giảng dạy ở một số trường chuyên nghiệp Nhưng trên thực tế, điều chế rừng ít được áp dụng, một số nơi

có làm điều chế nhưng trên diện tích hẹp như điều chế rừng gỗ má ở Quảng Ninh, điều chế rừng sót ở Nam bộ

Sau năm 1954 hòa bình lặp lại, điều chế rừng được thay bằng công tác điều tra thiết kế kinh doanh rừng với đối tượng xây dựng phương án chủ yếu

là các lâm trường Sau năm 1980, nhận thấy rằng công tác điều tra thiết kế kinh doanh rừng không hoàn toàn thay thế được điều chế rừng, một chương

Trang 21

trình điều chế rừng đã được tổ chức trên phạm vi toàn quốc do FAO tài trợ đã đạt được một số kết quả nhất định Chương trình đã xây dựng được một số mô hình điều chế mẫu trên cơ sở xây dựng phương án cho một số lâm trường như

Cô Ba, Nghệ an Thông qua việc tổ chức thực thi phương án phần nào đó giúp các 1âm trường quản lý tài nguyên rừng và kinh doanh đạt hiệu quả hơn Tuy nhiên có thể thấy, các phương án điều chế mẫu lúc bấy giờ vẫn mang dáng dấp một phương án thiết kế kinh doanh rừng, hơn là một phương án điều chế rừng Việc xác định các yếu lố kỹ thuật điều chế rừng và mô hình điều chế rừng được xây dựng chưa có đầy đủ cơ sở chắc chắn

Nguyễn Văn Trương (1983)[26] đề xuất xây dựng mô hình cấu trúc rừng chuẩn dựa trên cơ sở những mô hình hoàn thiện đã có trong tự nhiên và dưới tác động điều tiết của con người; trong đó chú trọng đến điều tiết phân

bố tổng diện ngang và cấu trúc đứng của lâm phần mẫu Theo Nguyễn Ngọc Lung (1983) trong thực tiễn sản xuất, sau khi phân chia rừng thành các loại, mỗi loại thuần nhất về một mặt nào đó như tổ thành, tầng thứ, phân bố số cây theo cỡ kính, có thể chọn được một loại trong các lô tốt nhất, có trữ lượng cao, năng suất sinh trưởng tốt, tổ thành cấu trúc hợp lý nhất, các thế hệ cây gỗ cũng cho phép có sản lượng ổn định, coi là mẫu chuẩn tự nhiên Quan điểm này có tính thực tiễn, để áp dụng trong sấn xuất và nghiên cứu, theo hướng

mô phỏng tự nhiên" là hướng tiếp cận nghiên cứu sinh thái học hiện đại.Vũ Biệt Linh (1985) cho rằng kết cấu chuẩn lả mô hình kết cấu được lấy làm mức cần phải đạt được trong mục tiêu tạo rừng cho mỗi loại rừng mục đích, ở các giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi loại rừng đó và đặc biệt là ở giai đoạn đưa vào sử dụng

Lê Minh Trung (1991)[25] xây dựng cấu trúc mẫu trên ba cao năng suất làm cơ sở đề xuất hướng khai thác và nuôi dưỡng rừng tụ nhiên hỗn loài

ở Đắc Nông Mô hình cấu trúc mẫu là mô hình có khả năng tận dụng tối đa

Trang 22

tiềm năng của điều kiện lập địa, có sự phối hợp hài hòa giữa các nhân tố cẩu trúc để tạo ra một quần thể rừng có sản lượng, tính ổn định và chức năng phòng hộ cao nhằm đáp ứng mục tiêu kinh doanh nhất định (Phùng Ngọc Lan, 1986)

Trần Văn Con (1992)[6] đề nghị ứng dụng mô phỏng đoán trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên dựa trên tương quan giữa tổng số cây và tiết diện ngang của lâm phần rừng khộp, tính toán các tham số phù hợp cho mỗi dạng cấu trúc để xác định mật độ tối ưu của lâm phần

1.2.3 Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng

Khái niệm “bền vững” được thế giới sử dụng từ những năm đầu thế kỷ

18 là tiền đề cho QLRBV sau này, thì đến mãi cuối thế kỷ 20 Việt Nam mới

dùng khái niệm “điều chế rừng” để quản lý, kinh doanh lâm nghiệp Đến nay,

khái niệm này vẫn được coi là công cụ truyền thống để quản lý rừng theo phương án điều chế thực hiện theo những quy định trong Quyết định 40/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác

1.2.3.1 Tổ công tác quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG)

Tháng 2/1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng 3 tổ chức quốc tế phát động 1 phong trào QLRBV và CCR rộng rãi trong cả nước, thông qua hội thảo quốc gia ngày 10-12/02/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ Công tác Quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm 12 thành viên thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng

tổ chức để hoạt động lâu dài trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và CCR tại Việt Nam Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp thuộc Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn Từ năm 2001, theo

Trang 23

quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng)

Các hoạt động chủ yếu của NWG là:

- Dựa trên cơ sở 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC Đây là dự thảo lần 9 đã lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang dự hội thảo góp ý Đang chờ ý kiến FSC thẩm định

- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên quan và cộng đồng dân cứ sống trong rừng, gần rừng

- Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, năng lực hoạt động cho chuyên gia Viện QLRBV và cán bộ lâm nghiệp

- Đánh giá chất lượng quản lý rừng khu rừng

- Tổ chức mạng lưới các mô hình QLRBV tự nguyện

1.2.3.2 Các chính sách chính liên quan QLRBV

Năm 2001, Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (NFS) giai đoạn 2001-2010

đã xác định quản lý và phát triển rừng theo hướng bền vững là hướng đi chủ chốt Vào đầu năm 2007, Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-

2020 đã được ban hành, trong đó quy định theo hướng phát triển rừng quốc gia với năm chương trình lớn Một lần nữa QLRBV là một trong ba chương trình trọng điểm của chiến lược với mục tiêu 30% (8,4 triệu ha) diện tích rừng trồng sản xuất đến năm 2020 được cấp chứng chỉ

Các vấn đề về QLRBV là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam Điều này được thể hiện trong các văn bản pháp quy như: Luật Đất đai, năm 2003; Luật Bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004; Luật Bảo vệ môi trường, năm 2005 và Quyết định

Trang 24

số 18/2007/QĐ- TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020

1.3 Thảo luận

Tóm lại việc nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho điều chế rừng ở Việt nam đã và đang được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Các nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề kỹ thuật và lý thuyết là chính nhằm tìm ra phương án phù hợp để tác động thay đổi cấu trúc rừng theo mục đích Điều chế rừng có tính xã hội sâu sắc, chúng ta cần quan tâm hơn đến kiến thức bản địa, năng lực, nguồn lực tại chổ để xây dựng một kế hoạch kinh doanh rừng khả thi và có hiệu quả hơn, trong đó chú ý đến vai trò của cộng đồng, người dân, những kinh nghiệm cũng như sự tham gia của họ, và kinh doanh rừng phải đóng góp vào việc nâng cao đời sống của cư dân sống trong

và gần rừng

Nhìn chung, cơ sở khoa học nhằm điều chỉnh cấu trúc rừng cho một địa điểm cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu nhất định của một khu vực là một vấn đề cần thiết Với định hướng trong tương lai các công ty lâm nghiệp cần có những tiêu chí nhất định để có thể được cấp chứng chỉ rừng thì việc điều chỉnh cấu trúc cấu trúc rừng theo cấp tuổi phục vụ cho điều chế rừng gỗ nhỏ cung cấp nguyên liệu cho chế tạo ván nhân tạo là vấn đề cần nghiên cứu và triển khai nhằm đáp ứng được mục đích kinh doanh và hướng tới quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng

QLRBV là xu thế tất yếu đối với đơn vị kinh doanh lâm nghiệp Chứng

được hưởng nhiều quyền lợi khi có được chứng nhận này Những khó khăn trở ngại nêu trở thành những thách thức trong quá trình chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững Đánh giá quản lý rừng phải căn cứ vào các tiêu

Trang 25

chuẩn QLRBV, nhưng vận dụng các tiêu chuẩn này cho các đơn vị cần linh hoạt, theo điều kiện thực tế đang có Mục tiêu của Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn cũng như nhiều cơ sở sản xuất lâm nghiệp khác là quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững Trong đó việc điều chế rừng để tạo ra sản lượng ổn định và đánh giá việc quản lý rừng của đơn vị mình mình theo bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC, cần có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng của các

chuyên gia Đề tài “Nghiên cứu điều chỉnh kết cấu diện tích rừng trồng Keo

tai tượng (Acacia mangium) theo tuổi phục vụ cho điều chế rừng gỗ nhỏ tiến tới Chứng chỉ rừng tại Xí nghiệp Lâm nghiệp Kỳ Sơn thuộc Công ty lâm nghiệp Hoà Bình” nhằm hỗ trợ Xí nghiệp làm tốt công việc trên

Trang 26

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Bình điều chỉnh được kết cấu diện tích rừng trồng tạo ra sản lượng ổn định và đánh giá được công tác quản lý rừng, tiến tới chứng chỉ rừng

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu tổng quát cần thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:

- Xác định được cấu trúc cơ bản của rừng

- Xác định được các yếu tố trong điều chế rừng

- Điều chỉnh kết cấu diện tích rừng trồng Keo tai tượng theo tuổi

- Đánh giá và xác định được các khiếm khuyết trong quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của FSC Việt Nam

2.2 Giới hạn nghiên cứu của đề tài

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

- Nghiên cứu các cấu trúc rừng cơ bản:

+ Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính tại vị trí 1,3 mét (N - D1.3) + Tương quan đường kính tán và đường kính tại vị trí 1,3 mét (DT - D1,3)

Trang 27

Rừng trồng Keo tai tượng từ tuổi 1 đến tuổi 7

2.5 Nội dung nghiên cứu

2.5.1 Nghiên cứu cấu trúc cơ bản của rừng Keo tai tượng

+ Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính tại vị trí 1,3 mét (N - D1.3)

D1,3)

+ Tương quan đường kính tán và đường kính tại vị trí 1,3 mét (DT - D1,3)

2.5.2 Xác định được các yếu tố kỹ thuật trong điều chế rừng

- Xác định phương thức điều chế

- Xác định tuổi khai thác chính

- Xác định chu kỳ điều chế

- Xác định trữ lượng và sản lượng rừng

2.5.3 Điều chỉnh diện tích rừng trồng Keo tai tượng theo tuổi

- Xác đinh diện tích rừng chuẩn theo tuổi

- Điều chỉnh diện tích rừng trồng thực tế theo diện tích rừng chuẩn

2.5.4 Đánh giá QLRBV và xác định các khiếm khuyết trong quản lý rừng theo tiêu chuẩn của FSC Việt Nam

- Đánh giá QLRBV theo tiêu chuẩn của FSC Việt Nam

- Tổng hợp các khiếm khuyết trong quản lý rừng

2.6 Phương pháp nghiên cứu

Theo nội dung nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn các phương pháp nghiên cứu cho phù hợp hoặc kết hợp các phương pháp với nhau để thu được kết quả khách quan nhất Gồm các phương pháp sau:

2.6.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Tài liệu điều kiện cơ bản về Xí nghiệp Lâm nghiệp Kỳ Sơn:

+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kỳ Sơn

+ Tình hình sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn

Trang 28

- Kế thừa và tham khảo các kết quả nghiên cứu có liên quan đã công bố: + Biểu thể tích hai nhân tố

+ Tiêu chuẩn Việt Nam quản lý rừng bền vững của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn(2006)

+ Luận văn và khoá luận từ các khoá trước

- Kế thừa số liệu thu thập được tại Xí nghiệp Lâm nghiệp Kỳ Sơn năm

2010

2.6.2 Phương pháp mô phỏng cấu trúc rừng

* Thu thập số liệu: Để mô phỏng cấu trúc rừng số liệu được thu thập

của lâm phần (từ tuổi 4 đến tuổi 7) Mỗi tuổi bố trí 02 ô (do địa hình rừng trồng Keo tai tượng tương đối bằng phẳng và mật độ trồng, phương pháp trồng thống nhất nên chúng tôi chỉ bố trí 1 ÔTC ở vị trí đỉnh và và 1 ÔTC ở chân)

- Mô phỏng cấu trúc rừng:

Trên các ÔTC đo đếm các chỉ tiêu:

Đường kính thân cây tại vị trí 1,3 mét (D1.3)

Đường kính tán lá (Dt)

Chiều cao vút ngọn (Hvn)

Phương pháp thực hiện đo đếm theo quy trình điều tra trong giáo trình Điều tra rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp Kết quả được ghi chép theo mẫu phiếu 01

Trang 29

Mẫu phiếu 01: Phiếu đo đếm cây rừng trồng

Lâm trường: Tiểu khu : Khoảnh: Lô:

* Xác định các quy luật cấu trúc lâm phần

Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng toán học thống kê dựa theo

giáo trình Thống kê toán học trong Lâm nghiệp có sự trợ giúp của phần mềm

Microsoft office Excel 2003, SPSS 15.0 và phần mềm xử lý số liệu thống kê

của TS.Bùi Mạnh Hưng, Trường đại học học Lâm nghiệp Việt Nam

+ Các quy luật cấu trúc:

- Phân bố số cây theo đường kính tại vị trí 1,3m (N – D1,3): mô phỏng

phân bố thực nghiệm bằng hàm Weibull dạng phương trình:

F(x)= ..x-1.e-.x^

Trang 30

Trong đó  là tham số đặc trưng cho độ lệch của phân bố,  là tham số đặc trưng cho độ nhọn của phân bố

Với > 3 phân bố lệch phải (rừng quá thành thục)

 < 3 phân bố lệch trái (rừng non)

 = 3 phân bố đối chứng (rừng trung niên)

Xây dựng theo phương trình:

H = a + b.logD1.3 (a, b là tham số)

D1.3): Xây dựng theo phương trình:

2.6.3 Phương pháp xác định trữ lượng rừng trồng Keo tai tượng

Căn cứ vào trữ lượng rừng trồng theo tuổi (từ tuổi 4 đến tuổi 7) do Lâm trường cung cấp (số liệu được đo đếm năm 2010), có sự phúc tra thông qua điều tra các ÔTC

2.6.4 Phương pháp đánh giá QLRBV

* Phạm vi đánh giá: đánh giá toàn diện công tác quản lý rừng (bao

gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh) thông qua 10 tiêu chuẩn QLRBV

Tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá là: Bộ Tiêu chuẩn QLRBV- FSC Việt nam gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và 160 chỉ số Các tiêu chuẩn được cụ thể hoá bằng các tiêu chí và được thể hiện chi tiết bằng các chỉ số và các nguồn kiểm chứng

Nhóm tiêu chuẩn KTXH:

1) Tiêu chuẩn 1- Tuân theo pháp luật và tiêu chuẩn FSC;

2) Tiêu chuẩn 2-Quyền và trách nhiệm sử dụng đất;

3) Tiêu chuẩn 3- Quyền của người dân sở tại;

4) Tiêu chuẩn 4- Quan hệ cộng đồng và quyền của công nhân;

Trang 31

5) Tiêu chuẩn 5- Những lợi ích từ rừng

Nhóm tiêu chuẩn lâm nghiệp và môi trường:

6) Tiêu chuẩn 6- Tác động môi trường;

7) Tiêu chuẩn 7- Kế hoạch quản lý;

8) Tiêu chuẩn 8- Giám sát, đánh giá;

9) Tiêu chuẩn 9- Duy trì những khu rừng có giá trị bảo tồn cao ; 10)Tiêu chuẩn 10- Rừng trồng

Phương pháp đánh giá quản lý rừng thông qua ba kênh thông tin: đánh giá trong phòng, đánh giá ngoài hiện trường và tham vấn

Thu thập các thông tin về các yếu tố tác động đến quản lý rừng Quy trình đánh giá quản lý rừng tại Xí nghiệp Lâm nghiệp Kỳ Sơn tổng hợp như hình 2.1 sau:

Thông tin

Cho điểm tiêu chuẩn

Tài liệu do Xí

nghiệp cung

cấp

Đánh giá quản lý rừng

Báo cáo đánh giá

Xác định lỗi không tuân thủ

Hình 2.1 Quy trình đánh giá quản lý rừng tại

Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn

Trang 32

* Tổ chức lực lượng đánh giá: Đây chỉ là việc đánh giá nội bộ nên Xí

nghiệp tự đánh giá có sự hỗ trợ của cán bộ tư vấn

* Các bước đánh giá:

1) Lập kế hoạch nội bộ ban đầu

- Tổ chức cuộc họp nội bộ: nắm bắt khái quát quá trình đánh giá; lên thời gian biểu và phân công nhiệm vụ các nhóm đánh giá; lập danh sách tổ chức cá nhân cần tham vấn; câu hỏi phỏng vấn; lịch phỏng vấn

- Lập danh sách hiện trường

- So sánh văn bản, tài liệu với yêu cầu của bộ Tiêu chuẩn FSC VN

3) Tham vấn các bên liên quan:

+ Nhóm môi trường: Phòng Tài nguyên - Môi trường, các tổ chức bảo tồn

+ Cơ quan nhà nước: Hạt kiểm lâm, Phòng tài chính, Chi cục thuế, UBND các xã

+ Cộng đồng: dân cư sống quanh đơn vị, những hộ được giao đất lâm nghiệp liền kề, những hộ có tranh chấp đất đai với đơn vị

Các câu hỏi đã được lập sẵn xoay quanh các vấn đề quản lý, sử dụng, bảo vệ rừng theo các tiêu chuẩn QLRBV của FSC

4) Khảo sát hiện trường:

Khảo sát hiện trường thực hiện sau khi đã xem xét các kế hoạch quản lý ban đầu và tham vấn các bên liên quan Không tới hiện trường khi không đủ những thông tin cơ bản về các hoạt động quản lý rừng

Trang 33

- Kiểm tra xem những việc làm ngoài hiện trường có đúng như trong kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã cung cấp không

- Phỏng vấn công nhân, người nhận khoán, UBND xã, trưởng thôn và người dân sở tại

Các tài liệu cần mang: bản đồ hiện trạng, các bản thiết kế trồng rừng, khai thác, vận chuyển làm cơ sở so sánh Ngoài ra người đánh giá ghi chép đầy đủ các thông tin về địa điểm đến như: vị trí, thực trạng rừng, đặc điểm đặc trưng

- Khi họp với cơ quan nhà nước cần bao quát các chủ đề pháp luật; sự tuân thủ của chủ rừng (quy định quản lý đất đai, nộp thuế, BHXH ); danh sách loài quý hiếm địa phương; danh sách hóa chất bị cấm hoặc hạn chế dùng

- Khi họp với các tổ chức môi trường, cộng đồng cần bao quát vấn đề: những khu vực có tranh chấp; các trường hợp có tác động liên quan đến hoạt động của chủ rừng và tổ chức khác; xem xét những loài có nguy cơ bị đe doạ; hóa chất bị cấm; kết quả nghiên cứu hiện tại có tác dụng gì với việc quản lý của chủ rừng

Các câu hỏi đánh giá:

- Đặt những câu hỏi mở

- Không đặt những câu hỏi dẫn dắt (mớm lời), không thay đổi chủ đề khi câu trả lời chưa rõ ràng

- Kiên nhẫn khi hỏi, đưa cùng một câu hỏi cho nhiều người khác nhau

để thu được ý kiến đa chiều cho cùng một sự việc

5) Cho điểm các tiêu chuẩn

Xác định kết quả sơ bộ cho mỗi tiêu chuẩn (chấm điểm, cung cấp bằng chứng) Định ra điểm số ban đầu cho các tiêu chí đánh giá, ngay trong quá trình thảo luận tại thực địa.Tổng hợp điểm từ:

Điểm bằng chứng chỉ số tiêu chí tiêu chuẩn

Trang 34

(Thực thi yếu kém, không có triển vọng,

không có thông tin

< 4,1

- Cho điểm đánh giá trong phòng: với các tiêu chí liên quan tới thu thập, lưu trữ các tài liệu, văn bản pháp luật; văn bản cam kết; bản đồ; các loại hợp đồng; chiến lược phát triển; kế hoạch quản lý; các báo cáo; danh mục; quy ước

- Cho điểm đánh giá ngoài hiện trường: với các tiêu chí cần kiểm tra việc thực hiện có đúng với kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã nêu trước đó hay không

- Cho điểm tham vấn: với các tiêu chí cần ý kiến của các bên liên quan với chủ rừng để kiểm tra tình hình quản lý của chủ rừng như thế nào; kiểm tra mối liên hệ giữa chủ thể và chủ rừng, mối quan tâm của chủ thể và những hoạt động quản lý của chủ rừng và chủ rừng đã lý giải như thế nào để giải quyết tranh chấp hoặc làm rõ những mối liên hệ

Trang 35

Người đánh giá sử dụng Phiếu đánh giá tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số QLRBV của Việt Nam để đánh giá và cho điểm Theo như mẫu phiếu 02:

và chỉ số quản lý rừng bền vững

Họ và tên người đánh giá: Nơi đánh giá: Ngày tháng năm

Cột (9) mô tả nguyên nhân lỗi không tuân thủ, khả năng khắc phục

- Thảo luận những tiền đề, điều kiện và khuyến nghi liên quan đến điểm

+ Điều kiện tiền đề: là những cải thiện bắt buộc mà chủ rừng cần có trước khi chứng chỉ được cấp

+ Điều kiện hiện tại: là những cải thiện bắt buộc mà chủ rừng phải thực hiện đầy đủ theo lịch cụ thể trong suốt quá trình cấp chứng chỉ trong 5 năm

+ Khuyến nghị: những cải thiện do nhóm đánh giá gợi ý, mà không bắt buộc hoặc yêu cầu

6) Xác định các lỗi không tuân thủ

- Kết luận những nội dung của từng tiêu chuẩn nào chưa làm được, hoặc còn yếu kém và đưa ra khuyến nghị khắc phục

Lỗi lớn: điểm trung bình tiêu chuẩn < 5,6 các tiêu chí ít được thực hiện

Trang 36

Lỗi nhỏ: hầu hết các tiêu chí của tiêu chuẩn được thực hiện

Kết quả được ghi theo mẫu phiếu 03

Mẫu phiếu 03

Kết quả tổng hợp khiếm khuyết và khuyến nghị khắc phục

Họ và tên người tổng hơ ̣p: Nơi đánh giá: Ngày tháng năm

Trang 37

Chương 3

ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA XÍ NGHIỆP LÂM NGHIỆP KỲ SƠN

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Ranh giới và vị trí địa lý

Kỳ Sơn là một huyện miền núi, nằm về phía Bắc của tỉnh Hòa Bình Xí nghiệp Lâm nghiệp Kỳ Sơn đang quản lý rừng và đất rừng trên địa bàn 3 huyện, thành phố là: huyện Kỳ Sơn, huyện Cao Phong và thành phố Hòa Bình Các xã cụ thể: xã Phú Minh, Hợp Thành, Phúc Tiến, Dân Hạ, Mông Hóa, Dân Hòa, thị trấn Kỳ Sơn thuộc huyện Kỳ Sơn; xã Trung Minh (nay thuộc TP Hòa Bình) và xã Thu Phong, Đông Phong (nay thuộc huyện Cao Phong)

- Về ranh giới:

- Phía Bắc : giáp huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ, nay là thành phố Hà Nội

- Phía Đông: giáp huyện Lương Sơn

- Phía Nam : giáp huyện Kim Bôi

- Phía Tây : giáp với thành phố Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ có ranh giới

tự nhiên là Sông Đà

3.1.2 Địa hình địa thế

Chủ yếu là kiểu địa hình đồi núi thấp, bị chia cắt bởi nhiều suối, khe

3.1.3 Đất đai - Thổ nhưỡng

Đất đai khu vực là dạng đất phát triển từ các loại đá mẹ phiến thạch sét

- Nhóm đất thường gặp là loại đất Feralít màu nâu và nâu vàng Độ dày tầng đất mặt trung bình 70 - 80 cm

Trang 38

- Các nhóm đất phát triển từ các loại đá mẹ sa phiến thạch và phiến thạch sét là một quỹ đất tiềm năng, phù hợp với sản xuất lâm nghiệp và nông lâm kết hợp Tổng diện tích Xí nghiệp quản lý và sử dụng là 3554,0ha, phân

bố trên các xã như sau:

Bảng 3.1 Phân bố diện tích đất đai của Xí nghiệp ở các xã

muối từ tháng 11 đến tháng 12, mức độ ảnh hưởng không nhiều

- Gió lào: Xuất hiện vào tháng 4 – 6 hàng năm, thời gian kéo dài 3 – 4 ngày, cả năm 8 – 10 ngày

Trang 39

- Mưa: lượng mưa bình quân hàng năm 1.600 – 1.800mm, mưa tập trung vào tháng 6 - tháng 8, chiếm 85% lượng mưa cả năm

- Nhiệt độ bình quân năm là 21oC, nhiệt độ trung bình tối thấp là 15,90C, nhiệt độ trung bình tối cao là 280C Nhiệt độ trung bình tháng cao

tháng 12 là 9,30C

b Thuỷ văn: Trong khu vực có hệ thống sông Đà Ngoài ra còn có các ngòi,

suối nhỏ tạo thành mạng lưới sông, suối tương đối dày

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Dân số và dân tộc:

Dân số: địa bàn Xí nghiệp quản lý thuộc địa bàn 9 xã, thị trấn gần

40.000 nhân khẩu, trong đó hơn 17.000 lao động Mật độ phân bố không đều, giữa các thôn trong xã cũng như giữa các xã

Dân tộc: Khu vực nghiên cứu chủ yếu là người dân tộc Mường chiếm hơn 80%, còn lại là người Kinh, chủ yếu làm nông nghiệp, kinh tế mặc dù trong những năm gần đây đã có những nhiều cải thiện nhưng vẫn còn khó khăn

- Về giáo dục – y tế:

Giáo dục: Khu vực rất có lợi thế về giáo dục, là điều kiện tốt để nâng

cao dân trí Huyện Kỳ Sơn có 2 trường PTTH Khu vực gần Thành phố Hòa Bình nơi tập trung các trường chuyên nghiệp của tỉnh Các xã đều có trường Tiểu học và trung học cơ sở và mạng lưới phân trường, mở lớp đến tận thôn bản Học sinh đi học không xa, phần lớn các xã đã phổ cập Trung học cơ sở

Y tế : Cũng như giáo dục, khu vực cũng rất thuận lợi về y tế trên địa

bàn huyện có 1 Trung tâm y tế huyện, các xã đã có trạm xá, ở thôn xóm có cán bộ y tế cộng đồng đảm bảo cho việc phục vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ các bệnh thông thường cho nhân dân

Trang 40

- Về giao thông:

Khu vực rất thuận lợi trong việc giao thông cả đường bộ và đường thủy Khu vực có tuyến đường Quốc lộ 6 chạy qua, ngoài ra còn có mạng lưới đường giao thông liên xã, liên thôn Đường ô tô đã đến được tất cả các thôn xóm xã Đặc biệt khu vực có sông Đà chảy qua vô cùng thuận lợi trong việc vận chuyển gỗ về xuôi

3.3 Tình hình quản lý, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp

3.3.1 Tình hình quản lý, điều kiện cơ sở hạ tầng của Xí nghiệp

Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn là đơn vị trực thuộc Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình được thành lập vào năm 1998, sau khi chuyển đổi từ Lâm trường Kỳ Sơn thành Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình Nhiệm vụ lâm trường là quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng, trồng rừng nguyên liệu sản xuất gỗ ván dăm

Cơ cấu tổ chức: Tổng số cán bộ, công nhân viên của Xí nghiệp là 33 người Đứng đầu quản lý chung là Ban Giám, dưới là các phòng: Kế toán; Kế hoạch - Kỹ thuật - Bảo vệ; Ban thu hồi, dưới nữa là các tổ sản xuất Các tổ sản xuất biên chế không cố định Mọi công việc chỉ đạo sản xuất đều do phòng Kế hoạch – Kỹ thuật – Bảo vệ trực tiếp thực hiện

Nhìn chung toàn thể cán bộ, công nhân viên trong Xí nghiệp đều yêu nghề, yên tâm công tác Mức thu nhập ở mức trung bình, lương bình quân/người/tháng là 2,02 triệu đồng

Trụ sở văn phòng của Xí nghiệp đóng trên xã Dân Hạ, nằm ngay mặt đường 6 và gần với Văn phòng Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình Cơ sở vật chất của Xí nghiệp khá khang trang với khu làm việc nhà 2 tầng và khuôn viên rất rộng rãi

Nhiệm vụ chính của Xí nghiệp:

- Quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng

Ngày đăng: 15/05/2021, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w