Nhiều nơi, thay vì tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên, người dân đã đối đầu với lực lượng quản lý bảo vệ rừng của chính quyền.Vì thế, để giảm áp lực đối với các khu rừng bảo tồn thiên nh
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH HẢI
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP ĐỒNG QUẢN LÝ VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: NGUT.PGS.TS Trần Hữu Viên
Hà Nội - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn tốt nghiệp, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự ủng hộ giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Khoa đào tạo Sau đại học, Ban giám hiệu và toàn thể giáo viên Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã giúp tôi hoàn thành khóa đào tạo
NGƯT PGS TS Trần Hữu Viên người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Các cán bộ xã, bản cùng toàn thể nhân dân xã Xuân Đài và các xã trong Khu VQG Xuân Sơn
Cán bộ Ban quản lý, Hạt Kiểm lâm Tân Sơn
Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Phú Thọ
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình
Vì điều kiện thời gian, khả năng của bản thân còn có những hạn chế nhất định nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cán bộ địa phương cũng như các bạn đồng nghiệp để luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày15 tháng 9 năm 2011
Học viên
Nguyễn Thị Thanh Hải
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt iii
Danh mục các bảng v
Danh mục sơ đồ vii
Danh mục biểu đồ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nhận thức chung về đồng quản lý 3
1.2 Nghiên cứu về đồng quản lý tài nguyên rừng trên thế giới 5
1.3 Nghiên cứu về đồng quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam 10
1.4 Hướng nghiên cứu của luận văn 13
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 14
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 14
2.2 Đối tượng và phạm vi, giới hạn nghiên cứu 14
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2.2 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Thu thập tài liệu thứ cấp 15
2.4.2 Khảo sát thu thập tài liệu sơ cấp 15
2.4.3 Xử lý và phân tích số liệu viết báo cáo 19
Trang 4Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội VQG Xuân Sơn 20
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
3.1.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội 29
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 38 3.1.4 Đánh giá các giá trị bảo tồn thiên nhiên và sinh thái nhân văn 40
3.2 Cơ sở khoa hoc về đồng quản lý tại VQG Xuân Sơn 44
3.2.1 Cơ sở lý luận 44
3.2.2 Cơ sở thực tiễn 47
3.2.3 Cơ sở pháp lý và khuôn khổ chính sách về đồng quản lý 49
3.3 Đánh giá tiềm năng đồng quản lý 51
3.3.1.Thực trạng quản lý tài nguyên rừng tại Vườn quốc gia Xuân Sơn 51
3.3.2 Phân tích các bên liên quan đến quản lý bảo vệ tài nguyên rừng 62
3.3.3 Kiến thức và thể chế bản địa trong quản lý sử dụng tài nguyên 74
3.3.4 Giới trong đồng quản lý tài nguyên rừng 78
3.4 Đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ 83
3.4.1 Đề xuất một số nguyên tắc tổ chức đồng quản lý 83
3.4.2 Đề xuất giải pháp tổ chức đồng quản lý 89
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 114
1 Kết luận 114
2 Tồn tại 116
3 Khuyến nghị 117 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
Trang 5IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
NN và PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
3.5 Đa dạng sinh học ở một số rừng đặc dụng ở miền Bắc 34 3.6 Các loài bị đe doạ trong sách đỏ Việt Nam và Thế Giới 34
3.8 Tổng hợp mối đe dọa trong công tác quản lý Vườn quốc gia 41
3.10 Mức độ khai thác tài nguyên gỗ của các HGD tại khu vực nghiên cứu 51 3.11 Mức độ khai thác củi của các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu 53 3.12 Mức độ khai thác lâm sản ngoài gỗ của các HGĐ trong khu vực nghiên cứu 56 3.13 Mức độ chăn thả gia súc của các HGĐ trên đất rừng 58 3.14 Tổng hợp phân tích mối quan tâm và vai trò của các bên liên quan 59 3.15 Ma trận phân tích mâu thuẫn và hợp tác tại thôn Đồng Tào 60
Trang 73.18 Phân tích giới trong quyền quản lý tài chính 71 3.19 Giới trong quyền ra quyết định về quản lý tài nguyên 79 3.20 Nguyên tắc và tiêu chí đồng quản lý VQG Xuân Sơn 80 3.21 So sánh một số mục tiêu bảo tồn và mối quan tâm của người dân 80 3.22 Khung giám sát đánh giá các hoạt động đồng quản lý 81
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
3.1 Chu trình sử dụng và bảo tồn kiến thức bản địa 49
3.3 Tầm quan trọng giữa các đối tác trong đồng quản lý 70
3.2 Mức độ khai thác tài nguyên gỗ của các HGD tại khu vực nghiên cứu 58 3.3 Mức độ khai thác củi của các HGĐ tại khu vực nghiên cứu 59 3.4 Mức độ khai thác lâm sản ngoài gỗ của các HGĐ trong khu vực nghiên cứu 60 3.5 Mức độ chăn thả gia súc của các HGĐ trên đất rừng 62
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam á giàu về
đa dạng sinh học Với diện tích khoảng 32931,4km2 nằm ở phía đông trên bán đảo Đông Dương Lãnh thổ Việt Nam dài và hẹp Tổng chiều dài bờ biển của Việt Nam là 3260 km với hàng ngàn đảo lớn nhỏ ở ven bờ và ngoài biển khơi Những điều kiện tự nhiên đã tạo ra tính đa dạng cao về các hệ sinh thái rừng, khu hệ thực vật và động vật Một số vùng sinh thái của Việt Nam đã được được công nhận là những điểm ưu tiên bảo tồn toàn cầu với tính đa dạng và đặc hữu cao
Tuy nhiên trong vài thập niên gần đây khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đã và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề suy thoái môi trường và sự mất đi của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng Nếu như năm 1943, diện tích rừng của nước
ta là 14,3 triệu ha tương đương độ che phủ 43% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc, sau 50 năm, đến năm 1995 diện tích rừng chỉ còn 9,3 triệu ha, với độ che phủ chỉ đạt 28% Cùng với sự suy giảm về diện tích, chất lượng rừng và đa dạng sinh học cũng bị suy thoái Diện tích rừng gần như nguyên sinh chưa bị tác động chỉ còn 10% tổng diện tích rừng hiện có
Vì vậy việc bảo vệ các diện tích rừng tự nhiên còn ở Việt Nam là một vấn
đề cấp bách đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ các tổ chức lâm nghiệp và các tổ chức liên quan Tuy nhiên từ trước tới nay, việc xây dựng các khu rừng đặc dụng cũng như xây dựng kế hoạch quản lý và hoạt động vẫn thường được tiếp cận từ trên xuống, chưa quan tâm thỏa đáng đến người dân sống trong và gần các khu rừng đặc dụng Điều này đã đặt người dân với vai trò là người ngoài cuộc trong công tác bảo tồn thiên nhiên Tiềm năng to lớn của người dân về lực lượng, về những hiểu biết và kinh nghiệm lâu đời trong quản lý, sử dụng tài nguyên chưa được khai thác ứng dụng Trong khi đó, bảo tồn thiên nhiên thường mâu thuẫn với những lợi ích của người dân vốn sinh sống phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên
Trang 10rừng Nhiều nơi, thay vì tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên, người dân đã đối đầu với lực lượng quản lý bảo vệ rừng của chính quyền.Vì thế, để giảm áp lực đối với các khu rừng bảo tồn thiên nhiên, chia sẻ gánh nặng đối với chính quyền các cấp trong tình trạng trên thì việc tham gia của cộng đồng với vai trò đồng quản lý là giải pháp tốt
Trên cơ sở thực tiễn và lý luận trên cùng với những kiến thức học hỏi được
từ các thầy cô giáo và bạn bè trong thời gian học tập nghiên cứu tại Trường Đại học
Lâm nghiệp, với sự giúp đỡ của NGƯT.PGS.TS Trần Hữu Viên, tôi chọn đề tài thực hiện luận văn thạc sỹ lâm nghiệp là “Nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc
và giải pháp đồng quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn, Tỉnh Phú Thọ”
Nằm ở điểm cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, Vườn quốc gia Xuân Sơn với diện tích 15.048 ha và vùng đệm là 18.693 thuộc địa bàn huyện Thanh Sơn, Tỉnh Phú Thọ Xuân Sơn được coi là một trong ba vùng đa dạng sinh học cao nhất của Việt Nam Tuy nhiên địa hình nơi đây hiểm trở, diện tích đất canh tác nông nghiệp ít vì vậy cuộc sống và thu nhập của người dân nơi đây vẫn chủ yếu dựa vào rừng Từ đó dẫn tới nguồn tài nguyên rừng ngày càng bị suy giảm Đời sống của nhân dân đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn Mặt khác trên một địa bàn rộng lớn như vậy nhưng lực lượng lại mỏng, trang thiết bị nghèo nàn, cán bộ còn hạn chế về năng lực Thực tế này đã gây ra không ít khó khăn và trở ngại cho công tác bảo tồn ở vườn quốc gia Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến rừng
và ĐDSH ở vườn quốc gia Xuân Sơn vẫn tiếp tục bị tác động và suy giảm
Giải pháp cùng với người dân và các cơ quan tổ chức khác trên địa bàn đồng quản lý vườn quốc gia là triển vọng để thay đổi bộ mặt người dân nơi đây, đồng thời cũng là cơ hội bảo tồn giá trị đa dạng sinh học trong khu vực Đó cũng chính
là những lý do để đề tài thực hiện tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, Tỉnh Phú Thọ
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nhận thức chung về đồng quản lý
Trong xu thế chung toàn cầu khi nền kinh tế phát triển song hành với nó là
sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng Vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia là nghiên cứu tìm ra giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững Trong những năm gần đây, Với
hệ thống các Khu rừng đặc dụng đã được thành lập; Tài nguyên đa dạng sinh học, trong đó có các hệ sinh thái, các loài động, thực vật quý hiếm, đặc hữu đã được bảo vệ tốt hơn Tuy nhiên qua đánh giá các hoạt động quản lý bảo vệ hệ thống rừng đặc dụng cho thấy một trong những khó khăn của công tác quản lý hiện nay là chưa chủ động được sự tham gia quản lý bảo vệ của các lực lượng trong xã hội như các tổ chức đoàn thể xã hội, các cá nhân và cộng đồng sống ở trong hay bên ngoài các khu rừng đặc dụng Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tế cho thấy nếu thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng thì công tác quản
lý bảo vệ các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên sẽ gặp nhiều trở ngại và khó thành công
Để góp phần xây dựng các giải pháp nhằm thu hút các đối tác, cộng đồng cùng tham gia quản lý bảo vệ rừng ở các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên, cho đến nay nhiều tác giả đưa ra khái niệm về đồng quản lý, trong số đó
có một số khái niệm như sau:
Năm 1990 lần đầu tiên Rao và Geisler [34] đã đưa ra định nghĩa về đồng quản lý như sau: Đồng quản lý là sự chia sẻ việc ra quyết định giữa những người
sử dụng tài nguyên địa phương với các nhà quản lý tài nguyên về chính sách sử dụng các vùng bảo vệ Các đối tác cần hướng tới mối quan tâm chung là bảo tồn thiên nhiên để trở thành đồng minh tự nguyện
Trang 12Năm 1996, Borrini-Feyerabend [27] đã đưa ra khái niệm đồng quản lý các khu rừng đặc dụng là tìm kiếm sự hợp tác, trong đó các bên liên quan cùng nhau thỏa thuận chia sẻ chức năng quản lý, quyền và nghĩa vụ trên một vùng lãnh thổ hoặc một khu vực tài nguyên dưới tình trạng bảo vệ Đến năm 2000, Borrini-Feyerabend tiếp tục đưa ra khái niệm đồng quản lý như là một dạng hợp tác trong đó hai hoặc nhiều đối tác xã hội hiệp thương với nhau xác định và thống nhất việc chia sẻ chức năng quản lý, quyền và trách nhiệm về một vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên được xác định
Cùng năm 1996, hai nhà khoa học khác là Wild và Mutebi [38] đã đưa ra khái niệm: Đồng quản lý là một quá trình hợp tác giữa các cộng đồng địa phương với các tổ chức nhà nước trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên hoặc các tài sản khác Các bên liên quan, nhà nước hay tư nhân, cùng nhau thông qua một hiệp thương xác định sự đóng góp của mỗi đối tác và kết quả là cùng nhau ký một hiệp ước phù hợp mà các đối tác đều chấp nhận được
Andrew W Ingle và các tác giả, 1999 [34] lại có một định nghĩa khác: Đồng quản lý được coi như sự sắp xếp quản lý được thương lượng bởi nhiều các đối tác liên quan, dựa trên cơ sở thiết lập quyền và quyền lợi, hoặc quyền hưởng lợi được nhà nước công nhận và hầu hết những người sử dụng tài nguyên chấp nhận được Quá trình đó được thể hiện trong việc chia sẻ quyền ra quyết định và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên
Ở Việt Nam, năm 2004 trong đề tài “ Nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc
và giải pháp đồng quản lý rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Quốc Dựng, cũng đã đưa ra được một khái
niệm tạm thời về đồng quản lý rừng như sau:
Đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên là quá trình tham gia và hiệp thương của nhiều đối tác có mối quan tâm tới nguồn tài nguyên trong khu bảo tồn, nhằm đạt được một thoả thuận thống nhất về quản lý tài nguyên khu bảo tồn vừa đáp ứng mục tiêu chung là bảo tồn thiên nhiên, vừa đáp ứng mục tiêu riêng có thể chấp nhận được và phù hợp với từng đối tác [ 9]
Trang 13Trên cơ sở các khái niệm của các tác giả, qua quá trình nghiên cứu thảo luận, bước đầu có thể hiểu khái niệm về đồng quản lý tài nguyên rừng như sau:
“ Đồng quản lý là một quá trình tham gia của nhiều đối tác có cùng mối quan tâm đến tài nguyên rừng, trong đó trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn và quyền lợi của các đối tác được thỏa hiệp, thống nhất trên cơ sở khả năng, năng lực của từng đối tác và không trái với luật pháp Nhà nước hiện hành, Công ước Quốc tế nhà nước đang tham gia, nhằm đạt được mục tiêu chung là quản lý tài nguyên rừng Vườn quốc gia một cách tốt nhất, vừa thỏa mãn mục tiêu riêng của từng đối tác”
1.2 Nghiên cứu về đồng quản lý tài nguyên rừng trên thế giới
Ở Ấn Độ từ cuối những năm của thế kỷ 20 cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế thế giới kéo theo đó là sự ô nhiễm môi trường, sự thay đổi khí hậu toàn cầu, bên cạnh đó nhu cầu của con người về các sản phẩm của ngành lâm nghiệp cũng như nhu cầu về đất canh tác, đất xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng tăng cao, tạo áp lực ngày càng lớn vào tài nguyên rừng thì vấn đề QLBVR càng trở nên quan trọng hơn, cấp thiết hơn Lúc này nhiệm vụ bảo vệ rừng không phải của riêng nhà nước mà vai trò nhiệm vụ này là của các bên có liên đến nguồn tài nguyên này Có thể nói Ấn Độ là quốc gia đầu tiên trên thế giới đặt nền móng cho phương pháp tham gia quản lý tài nguyên rừng và khái niệm tham gia quản
lý rừng nói chung lần đầu tiên được biết đến ở đây Đồng quản lý (hay hợp tác quản lý) bảo vệ khu rừng được tiến hành trong thời gian này và nhanh chóng lan rộng tới các quốc gia thuộc các nước Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và Châu Á Nghiên cứu của Eva Wollenberg, Bruce Campbell, Sheeona Shackletton, David Edmunds, and Patricia Shanley, 2004 tại Orissa và Uttarkhand ở Ấn độ,
Bộ lâm nghiệp cho phép người dân được trực tiếp tiếp cận với sản phẩm rừng, đất rừng, lợi ích từ tài nguyên rừng hoặc tạo cơ hội để họ được tiếp cận với cách quản lý rừng của nhà nước Ngược lại thì nhà nước cho phép người dân hợp tác với họ để quản lý rừng thông qua việc bảo vệ rừng hoặc trồng rừng, yêu cầu
Trang 14người dân chia sẻ lợi nhuận với các cơ quan quản lý rừng của nhà nước Thông qua việc chia sẻ quyền lợi giữa các nhóm người địa phương với nhà nước, các chương trình dự án cũng đã giúp hòa giải sự tranh chấp nguồn tài nguyên giữa người dân và nhà nước Các chương trình đồng quản lý hoặc hợp tác rừng đã đem lại những kết quả to lớn Ở Ấn Độ có hơn 63.000 nhóm, tổ tham gia vào các chương trình trồng mới 14 triệu ha rừng
Thông qua nghiên cứu thành công của các chương trình đồng quản lý về nhiều lĩnh vực khác nhau ở Vương quốc Anh, Châu Âu, Canada, Australia, New Zealand, Nhật Bản, Đại lục Ấn Độ, Châu Mỹ La tinh và Châu Phi; Grazia Borrini – Feyerabend; Michel Pimbert; M.Taghi Farvar; Ashish Kothari và Yves Renard, 2007 ( Nhà xuất bản Earthscan, IUCN & IIED, London, UK), đã đưa ra một “Cẩm nang hướng dẫn toàn cầu về thực hiện đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên” Cuốn sách này được biên soạn để giúp cho các nhà chuyên môn và những người có liên quan đến quá trình đồng quản lý, nó chắt lọc, tổng hợp những kinh nghiệm tốt, những phương pháp cách tân được hình thành từ thực tế vừa học vừa làm; Nó được bắt đầu từ việc xem xét toàn bộ viễn cảnh, từ việc xem xét lịch sử đến sự đánh giá một cách công bằng, sâu sắc các mô hình mẫu
về đồng quản lý Phần minh họa thì mô tả chi tiết tổng hợp những hiểu biết từ khi bắt đầu thực hiện cái gọi đồng quản lý, những điều kiện tiên quyết để thành công, những qui tắc, phương pháp kể cả điều kiện để thỏa thuận trong những thập kỷ vừa qua Tài liệu cũng mô tả các phương pháp, công cụ triển khai trong các ngữ cảnh khác nhau, những ví dụ điển hình, những thỏa thuận và qui định về quản lý v.v Trọng tâm của phương pháp đồng quản lý là quá trình tổng hợp những hiểu biết và hành động của các cộng đồng người dân địa phương cũng như các tổ chức xã hội ở cơ sở Đó là quá trình thương thảo đi đến thống nhất về vai trò quản
lý, quyền lợi và nghĩa vụ, làm rõ những điều kiện và lập ra hệ thống tổ chức lành mạnh để phân cấp sự quản lý tài nguyên thiên nhiên hay hệ sinh thái
Trang 15Ở Nam Phi, Moenieba Isaacs và Najma Mohamed - 2000, [28] trong báo cáo “Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi: Phạm vi vận động” đã nghiên cứu các hoạt động hợp tác quản lý tại vườn quốc gia Richtersveld là khu vực giàu có về tài nguyên thiên nhiên và mỏ kim cương Các cộng đồng dân cư ở đây
là những người di cư từ tỉnh Cape tới chủ yếu làm nghề khai thác kim cương Tuy nhiên đời sống của người dân vẫn rất khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, điều kiện làm việc trong các hầm mỏ nguy hiểm Người dân nhận thức chưa cao
về bảo tồn thiên nhiên, trong khi đó công việc của họ làm ảnh hưởng tới đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Ban quản lý vườn quốc gia đã phải nghiên cứu phương thức bảo tồn trong nhiều năm và cho đến năm 1991 mới chính thức tìm
ra được phương thức hợp tác quản lý với cộng đồng dân cư Phương thức này chủ yếu dựa trên hương ước quản lý bảo vệ tài nguyên (Contractual Agreement) Trong
đó người dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình, còn chính quyền và ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội khác Tương tự, tại Vườn quốc gia Kruger (Reid, H., 2000) [35] người dân trước đây đã chuyển đi từ Makuleke, khi chính phủ mới thành lập đã cho phép người dân trở lại vùng đất truyền thống để sinh sống Để đạt được quyền sử dụng đất đai cũ, người dân phải xây dựng quy ước bảo vệ môi trường trong khu vực Vườn quốc gia, đồng thời họ cũng được chia sẻ lợi ích thu được từ du lịch Từ những kết quả đạt được về đồng quản lý tài nguyên ở Nam Phi đã trở thành bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển khác
Ở Uganda khi tiến hành nghiên cứu về lĩnh vực đồng quản lý rừng tại vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và MgaHinga Gorilla thuộc Uganda hai nhà nghiên cứu Wild và Mutebi, 1996 [38] Cho thấy hợp tác quản lý được thực hiện giữa ban quản lý vườn quốc gia và cộng đồng dân cư Hai bên thoả thuận ký kết quy ước cho phép người dân khai thác bền vững một số lâm sản, đồng thời có nghĩa vụ tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn của cộng đồng Đồng quản lý chỉ có hai đối tác là ban quản lý và cộng đồng dân cư
Trang 16Ở Canada kể từ khi ký hiệp định Northern Quebec và James Bay năm
1975, việc sắp xếp công tác đồng quản lý ở Canada đã tăng lên nhanh chóng Có rất nhiều hình thức sắp xếp công tác đồng quản lý và nhiều ban chính thức liên quan đến Tuần lộc, Cá voi trắng, các sản phẩm lâm nghiệp, phi lâm nghiệp và các loại cá được đặt tên nhưng rất ít Việc sắp xếp quyền đồng quản lý đối với chủ đề này là một chủ điểm giữa tỉnh Saskatchewan, công ty quản lý lâm nghiệp Mistik và các cộng đồng người dân thuộc Hội đồng bộ lạc Meadow
Khi viết về đồng quản lý rừng tại Vườn quốc gia Vutut, tác giả Sherry, E E., 1999 [37] cho rằng đây vừa là một khu bảo tồn thiên nhiên vừa là khu di sản văn hoá của người thổ dân ở vùng Bắc Cực Liên minh giữa chính quyền và thổ dân đã huy động được lực lượng người dân và kết hợp với ban quản lý làm thay đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng các giá trị của Vườn quốc gia Đồng quản lý ở đây đã kết hợp được giữa các mối quan tâm và kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn Ban quản lý vườn quốc gia giúp về kỹ thuật xây dựng các mô hình bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế xã hội, còn dân bản địa có thể thực hiện các mô hình đó Hợp tác quản lý ở đây đã giải quyết hài hoà mâu thuẫn giữa chính sách của chính quyền và bản sắc truyền thống của người dân, đảm bảo cho sự thành công của công tác bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hoá Đồng quản lý ở vườn quốc gia Vutut được đánh giá là rất thành công, theo tác giả thì nó được thiết kế để “kết hợp giữa sự tốt đẹp nhất của hai thế giới” nhà nước văn minh và thổ dân
Ở Madagascar tác giả Shuchenmann 1999 [36] đã đưa ra một ví dụ ở vườn quốc gia Andringitra, là vườn quốc gia thứ 14 của nước cộng hoà Madagascar Theo tác giả này Vườn quốc gia là một vùng núi có mối liên hệ giữa các hệ sinh thái, sinh cảnh, đa dạng sinh học và cảnh quan cũng như di tích văn hoá Chính phủ có nghị định đảm bảo các quyền của người dân như: quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác như có thể giữ gìn các điểm thờ
Trang 17cúng thần rừng Để đạt được những thoả thuận trên, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực Ngoài ra, có nhiều bên liên quan tham gia trong ban đồng quản lý như du lịch, chính quyền
Ở Brazil, nông dân đã giúp quản lý 2,2 triệu ha rừng phòng hộ, khoảng một nửa số huyện ở Zimbabuê tham gia vào chương trình CAMPFIRE, ở đó người dân có thể chia sẻ lợi nhuận từ du lịch trong các khu rừng bảo vệ động vật hoang dã, các chương trình này giúp nhà nước bảo vệ được rừng, giúp người dân cải thiện được quyền tiếp cận với tài nguyên rừng, tuy nhiên chưa giúp người nghèo cải thiện đáng kể kế sinh nhai
Theo báo cáo của nhà khoa học Oli Krishna Prasad 1999 [24], tại khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số các bên liên quan quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho
du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30% - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở đồng quản lý tài nguyên rừng phục vụ du lịch ở vùng đệm
Ở Thái Lan theo kết quả đánh giá của các nhà khoa học khi đồng quản lý tài nguyên rừng trên thế giới lan đến Châu Á thì Thái Lan là một nước được đánh giá đạt được nhiều thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình đồng quản lý bảo vệ các khu rừng Các cộng đồng dân cư có đời sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng thường có rất nhiều kinh nghiệm khi đóng vai trò là người bảo vệ hoặc người tham gia quản lý khu bảo tồn Trong báo cáo “Liên minh cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại vườn quốc gia Dong Yai nằm ở Đông Bắc và khu rừng phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan Đó là những vùng quan trọng đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời cũng là những vùng có nhiều đặc điểm độc đáo về kinh tế, xã hội, về thể chế truyền thống của cộng đồng người dân địa phương trong quản lý và sử dụng tài nguyên (Poffenberger, M và McGean, B 1993) [33] Tại Dong Yai,
Trang 18người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái, cũng như phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực Tại Nam Sa, cộng đồng dân cư cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ Họ khẳng định rằng nếu chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát các hoạt động khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng, các hoạt động phá rừng và tác động tới môi trường Đồng quản lý
ở Thái Lan có thể trở thành bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam, bởi Thái Lan cũng là một nước trong vùng Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam quốc gia có một
số đặc điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên và văn hoá xã hội
Nhận xét: Qua những nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về đồng quản lý cho
thấy: Bước đầu đã hình thành được sự liên kết giữa nhà nước và người dân ( chủ yếu là BQL và người dân) nhằm giải quyết những mâu thuẫn trước mắt là sự phụ thuộc của người dân vào TNR với việc quản lý BVR của nhà nước Đồng thời, đồng quản lý đã một phần cải thiện được cuộc sống của người dân và người dân đã khẳng định được vai trò của mình trong vấn đề quản lý TNR
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về đồng quản lý ở đây mới chỉ dừng lại ở sự thỏa thuận giữa 2- 3 đối tác (BQL, người dân, cơ quan du lịch), mà chưa xây dựng được mô hình cơ bản về đồng quản lý cũng như chưa đề ra được những giải pháp và nguyên tắc cụ thể cho các bên khi tham gia đồng quản lý rừng
Vì vậy việc đưa ra được bộ máy tổ chức ĐQL cũng như đề ra nguyên tắc và giải pháp phù hợp với từng đối tác khi tham gia đồng quản lý là một hướng đi mà đề tài đang xây dựng
1.3 Nghiên cứu về đồng quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam
Tài nguyên rừng Việt Nam trước đây do Nhà nước trực tiếp quản lý, mọi hoạt động từ xây dựng kế hoạch khai thác sử dụng tài nguyên rừng đều do Nhà
Trang 19nước quyết định Trong những năm gần đây xu hướng chuyển từ quản lý lâm nghiệp truyền thống sang công tác quản lý lâm nghiệp xã hội đã phát huy được những hiệu quả nhất định
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công; Nhà nước ta tiến hành thành lập hàng loạt các hợp tác xã Do nguồn tài nguyên rừng còn nhiều, cộng với ý thức bảo tồn đa dạng sinh học còn thấp, cho nên công tác quản lý tài nguyên rừng của các hợp tác xã chưa thật tốt, họ coi tài nguyên rừng là của chung, các hoạt động khai thác và sử dụng đều mang tính tập thể Đây cũng có thể coi là một sự hợp tác trong quản lý tài nguyên rừng ( Đồng quản lý), tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức quan hệ thấp, chưa thật sự hiệu quả
Khái niệm đồng quản lý tài nguyên lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm
1997 tại khoá tập huấn về “Kết hợp bảo tồn và phát triển” (Integrated Conservation and Developmnet - ICD) tổ chức tại Vườn quốc gia Cát Tiên, do Quỹ Quốc tế về bảo tồn Thiên nhiên tài trợ Sau đó, khái niệm này lại được giới thiệu trong một số các khoá tập huấn về bảo tồn thiên nhiên của các dự án được các tổ chức quốc tế tài trợ như: dự án LINC (Bảo tồn liên kết Hinnamno và Phong Nha - Kẻ Bàng), dự án PARC (Bảo tồn thiên nhiên trên quan điểm sinh thái nhân văn) Tại các khoá tập huấn này, đồng quản lý tài nguyên mới dừng lại ở khái niệm và lý thuyết cơ bản
Năm 2002 tại Khu BTTN Pù Luông; Ulrich Apel, Oliver C Maxwell và các tác giả [20] đã có công trình nghiên cứu về sự phối hợp quản lý và bảo tồn, đồng thời đã đánh giá về tình hình sử dụng đất đai, nhà ở và cách quản lý tài nguyên thiên nhiên ở một số thôn bản vùng đệm khu BTTN Pù Luông Bước đầu cũng đã đưa ra được một số phân tích về sự phụ thuộc của người dân đối với tài nguyên rừng và đánh giá một số thể chế, chính sách hiện nay đối với công tác quản lý rừng đặc dụng Tuy nhiên chưa đánh giá được đầy đủ tiềm năng về đồng quản lý cũng như chưa đưa ra được nguyên tắc và giải pháp thực hiện
Trang 20Một nghiên cứu mới trong quá trình xây dựng mô hình đồng quản lý rừng phòng hộ tại Hòa Bình, dưới sự tài trợ của Dự án phục hồi rừng đầu nguồn tự nhiên bị suy thoái tại miền Bắc Việt Nam ( RENFODA – JICA) cho thấy: Dự án
đã nghiên cứu và đề xuất được một số nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý rừng phòng hộ tại xóm Lòn xã Bình Thanh và xóm Dưng xã Hiền Lương, trong khuôn khổ dự án bước đầu đã lựa chọn một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý để áp dụng trong các hoạt động của Dự án trên địa bàn 2 xã này Đây là một sự thử nghiệm áp dụng phương thức đồng quản lý rừng lần đầu tiên tại Việt Nam cho rừng phòng hộ
Một dự án nhỏ khác về đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, đang trong giai đoạn khởi động do tổ chức Catherine T Macarthur Foundation tài trợ Mục tiêu của dự án nhằm xây dựng mô hình đồng quản lý khu bảo tồn giữa cộng đồng dân cư và các tổ chức, cơ quan liên quan (bao gồm cả tổ chức chính phủ và phi chính phủ)
Ngoài ra cũng có một số hội thảo và dự án nhỏ khác đang được triển khai thực hiện nhằm xây dựng mô hình đồng quản lý tài nguyên như: Hội thảo về ý tưởng thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Phu Xai Lai Leng do cộng đồng quản lý,
tổ chức ngày 4/8/ 2003 tại Nghệ An [12]; Dự án về đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế do tổ chức Catherine T Macarthur Foundation tài trợ Tuy nhiên các dự án và hội thảo trên đều chưa đưa ra được tiến trình, thống nhất nguyên tắc và các giải pháp thích hợp để xây dựng kế hoạch đồng quản lý tài nguyên
Như vậy, ở Việt Nam đồng quản lý hay hợp tác quản lý là mới, còn trong giai đoạn thử nghiệm và gặp nhiều khó khăn trong quá trình ứng dụng và thực tiễn Việc đưa ra vấn đề đồng quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng cần phải thực hiện trên cơ sở lý luận và các bước tiến hành về quản lý phù hợp với điều kiện và tình hình thực tiễn ở nước ta và đặc biệt là sự hợp tác nhiệt tình của địa phương
Các nghiên cứu gần đây về “Đồng quản lý rừng” tại khu BTTN Sông
Thanh, tỉnh Quảng Nam của Nguyễn Quốc Dựng (Luận văn thạc sỹ Lâm nghiệp
Trang 21năm 2004); tại khu BTTN Copia, tỉnh Sơn La của Vũ Đức Thuận (Luận văn thạc
sỹ Lâm nghiệp năm 2006); tại vườn Quốc gia Chư yang sin, tỉnh ĐăkLăk của Phạm Văn Hạ (Luận văn thạc sỹ Lâm nghiệp năm 2007); Khu BTTN Kẻ Gỗ, tỉnh Nghệ An của Nguyễn Xuân Hoan (Luận văn thạc sỹ Lâm nghiệp năm 2009) bước đầu đã chỉ ra được kinh nghiệm đồng quản lý rừng tại nơi nghiên cứu và cũng là những gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo về đồng quản lý rừng ở các địa phương khác
1.4 Hướng nghiên cứu của luận văn
Các nghiên cứu trước đây, phần lớn các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu đồng quản lý giữa ban quản lý khu rừng đặc dụng với cộng đồng dân cư sống trong
và gần rừng, chưa có nhiều nghiên cứu chú ý tới các cơ quan, tổ chức khác có mối quan tâm hoặc có chức năng quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn Mặt khác đề xuất tổ chức bộ máy, tiến trình thực hiện đồng quản lý nhiều điểm chưa thống nhất, chưa phù hợp với thực tiễn Tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn chưa có tác giả nào nghiên cứu
Do đó đề tài tiến hành nghiên cứu đồng quản lý tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Trong đó tập trung đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo
vệ rừng; phân tích vai trò, khả năng, tiềm năng hợp tác cũng như mâu thuẫn giữa các bên liên quan Từ đó, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn, góp phần giải quyết những khó khăn trong công tác quản lý rừng trong Vườn quốc gia
Trang 22Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
- Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất được một số nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho công tác đồng quản lý rừng
- Đề xuất được một số giải pháp cơ bản về đồng quản lý nhằm giải quyết các mâu thuẫn trong quản lý rừng Quốc gia và phát triển kinh tế xã hội trong khu vực
2.2 Đối tượng và phạm vi, giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cơ chế chính sách của các cấp có liên quan đến công tác quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Tổ chức quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Tài nguyên thiên nhiên Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Kiến thức bản địa và thể chế của cộng đồng dân cư địa phương trong quản
lý tài nguyên thiên nhiên Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
2.2.2 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian, nhân lực và kinh phí, đặc biệt là nội dung và phương pháp của luận văn đòi hỏi thời gian dài và nhân lực nhiều, nên phạm vi
Trang 23nghiên cứu được giới hạn cụ thể ở một xã mang tính đại diện nhất là xã Xuân Đài - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ làm cơ sở đề xuất nguyên tắc, giải pháp đồng quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Tổng hợp, đánh giá đặc điểm tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội khu vực Vườn Quốc gia Xuân Sơn và xã Xuân Đài
- Phân tích, tập hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về đồng quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn
- Đánh giá tiềm năng đồng quản lý tại VQG Xuân Sơn, Tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thu thập tài liệu thứ cấp
Tài liệu thứ cấp là các tài liệu đã được tổng hợp và xử lý, có sẵn ở các cơ quan và ban ngành các cấp từ trung ương tới địa phương Những tài liệu cần thu thập là: Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, văn hóa, xã hội; Các văn bản pháp qui, qui chế, nội qui, qui định về qui hoạch sử dụng đất, công tác quản lý bảo vệ rừng; Dự án xây dựng Vườn Quốc gia Xuân Sơn, ngoài ra cần các tài liệu nghiên cứu về đa dạng sinh học về Vườn Quốc gia Xuân Sơn Tất cả những tài liệu này sẽ là cơ sở để tổng hợp phân tích và đánh giá vấn đề đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ
2.4.2 Khảo sát thu thập tài liệu sơ cấp
Tài liệu sơ cấp là tài liệu được tác giả thu thập trực tiếp ngoài thực địa bằng các kỹ năng và phương pháp dưới đây:
2.4.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
Tiêu chí chọn xã:
- Có địa bàn quản lý hành chính nằm trong địa phận Vườn Quốc gia Xuân Sơn, là nơi có tính đa dạng sinh học cao cần phải bảo tồn
Trang 24- Người dân trong xã có các hoạt động phụ thuộc vào rừng như: Du lịch, đất canh tác nông nghiệp, lâm sản gỗ và ngoài gỗ, động vật và các tài nguyên khác
- Có rừng được quản lý dưới dạng cộng đồng dân cư như: rừng phòng hộ, sản xuất,
- Có vị trí quan trọng trong kiểm soát các hoạt động khai thác lâm sản trong khu Vườn Quốc gia Xuân Sơn và vùng đệm
Trên cơ sở các tiêu chí như trên, xã Xuân Đài được chọn làm địa điểm nghiên cứu điểm trong đề tài
2.4.2.2 Phương pháp điều tra
a Điều tra đánh giá các giá trị đa dạng sinh học cần phải bảo tồn
- Đa dạng sinh học VQG Xuân Sơn mới được điều tra đánh giá, nên đề tài
sẽ kế thừa các tài liệu đã có là chủ yếu, chỉ kiểm tra bổ sung cập nhật một số thông tin ngoài thực địa về hiện trạng rừng, thực vật bậc cao và động vật có xương sống, nhằm đánh giá mức độ đe dọa
- Đối với thực vật sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp với phỏng vấn người dân
- Đối với động vật rừng sử dụng phương pháp phỏng vấn người dân, thợ săn
b Điều tra tiềm năng đồng quản lý trong cộng đồng
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Được thực hiện để thu thập những thông tin bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, ảnh hưởng của các nhân tố này đến công tác bảo tồn, cũng như thuận lợi, khó khăn, nguy cơ, thách thức trong công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Được áp dụng để củng
cố những thông tin thu thập được từ phương pháp kế thừa và phương pháp RRA Đồng thời, xác định những phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa liên quan đến việc bảo tồn và tiềm năng đồng quản lý của cộng đồng dân cư, các tổ chức, vai trò của các bên liên quan, mâu thuẫn và khả năng hợp tác của các bên liên quan
Trang 25Để thực hiện phương pháp trên cần có sự giúp đỡ của một số cán bộ địa phương, cán bộ công chức khu VQG, người điều tra đánh giá chỉ giữ vai trò thúc đẩy, định hướng Tuy ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật thì một phần trong số họ đã được tiếp cận với những phương pháp điều tra xã hội mới này thông qua các chương trình, dự án Nhưng để nâng cao tính chính xác, hiệu quả của đề tài nên trước khi điều tra ở thực địa thì phải tiến hành tập huấn
kỹ thuật lại cho các cán bộ của khu bảo tồn và cán bộ xã, nhằm thống nhất phương pháp làm việc cho hiệu quả của những thành phần tham gia thực hiện
Các công cụ sử dụng trong điều tra:
- Lịch mùa vụ
- Vẽ sơ đồ quản lý và sử dụng tài nguyên thôn, xóm; trên đó thể hiện các nguồn tài nguyên, các hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên
- Vẽ sơ đồ lịch sử sử dụng đất
- Ma trận đánh giá tình hình sử dụng một số loại lâm sản chủ yếu
- Ma trận và sơ đồ đánh giá tiềm năng các bên liên quan
- Ma trận đánh giá mâu thuẫn trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng
- Ma trận đánh giá khả năng tham gia của các đối tác trong quản lý VQG
- Bảng câu hỏi phỏng vấn bán định hướng các cơ quan cấp huyện, cấp xã
và thôn trưởng
- Bảng phỏng vấn hộ gia đình: Mỗi thôn chọn 9 hộ để phỏng vấn, bao gồm
3 hộ khá/giàu, 3 hộ trung bình và 3 hộ nghèo (đói)
Phương pháp chọn nhóm người dân (cộng tác viên) tham gia thảo luận:
- Về số lượng: Mỗi thôn có 8 - 10 người tham gia thảo luận
- Về tuổi tác bao gồm: Người cao tuổi, trung niên, thanh niên
- Về kinh nghiệm, trình độ: Bao gồm những người hiểu biết rõ về thôn, xóm; là người sống lâu đời trong thôn, xóm; có kiến thức bản địa
Trang 26- Về nghề nghiệp bao gồm:
+ Nhóm nam có 4 - 5 người hay đi rừng lấy củi và các loại lâm sản khác + Nhóm nữ có 4 - 5 người có kinh nghiệm đi rừng lấy củi, lấy rau, lấy các lâm sản khác
+ Mỗi nhóm có 2 - 3 người của các đoàn thể như: hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh
Phương pháp chọn hộ gia đình phỏng vấn:
Trước tiên thống nhất với trưởng thôn về tiêu chí và cách phân loại hộ gia đình trong thôn
- Nếu thôn chưa phân loại hoặc đã phân loại nhưng không có hộ giàu và khá thì đề nghị trưởng thôn lập một danh sách phân loại thành 3 nhóm hộ:
+ Nhóm loại 1: Có điều kiện kinh tế tốt nhất
+ Nhóm loại 2: Có điều kiện kinh tế trung bình
+ Nhóm loại 3: Có điều kiện kinh tế kém nhất
- Sau đó rút ngẫu nhiên lấy 30 hộ để phỏng vấn, còn trường hợp đã phân loại theo tiêu chí của huyện, tỉnh hoặc nhà nước thì lấy danh sách đó và chọn ngẫu nhiên 30 hộ đại diện cho 3 nhóm dân tộc để phỏng vấn: 10 hộ người Mường và 10 hộ người Dao, 10 hộ người Nùng với phân bố đầy đủ cho các nhóm hộ khác nhau như: Khá, Trung Bình, Nghèo
- Thảo luận nhóm: Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện công
cụ phỏng vấn HGĐ Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa trên khung thảo luận chuẩn bị sẵn Nhóm thảo luận gồm 8 -10 người, gồm đại diện các hộ nhóm hộ gia đình, lãnh đạo thôn, đoàn thể; Tất cả những người này phải là người có kinh nghiệm, hiểu biết rõ về phong tục tập quán của người dân, nguồn tài nguyên trong khu bảo tồn và phải đại diện cho từng nhóm người khác nhau như: Tuổi tác, kinh nghiệm, trình độ, nghề nghiệp, giới
Thảo luận nhóm nhằm bổ sung và thống nhất về các hình thức, mức độ tác động của người dân vào rừng và đất rừng của VQG, các nguyên nhân của
Trang 27sự tác động đó Những khó khăn và khuyến nghị của cộng đồng trong quản lý
và bảo vệ tài nguyên rừng
2.4.3 Xử lý và phân tích số liệu viết báo cáo
2.4.3.1 Xử lý, phân tích tài liệu đa dạng sinh học
So sánh danh lục và kết quả điều tra, bổ sung nếu phát hiện thêm các loài mới cho khu hệ động vật và thực vật và tình trạng của khu hệ động vật, thực vật
2.4.3.2 Xử lý, phân tích tài liệu điều tra xã hội
- Dùng phương pháp phân tích tổng hợp, mô tả, so sánh, đánh giá để tìm ra
để đánh giá tiềm năng phát triển đồng quản lý tài nguyên rừng
- Phân tích kết quả quy hoạch sử dụng đất, các kết quả thảo luận xây dựng
tổ chức đồng quản lý từ đó so sánh, đánh giá tìm ra tiến trình, nguyên tắc và những giải pháp cơ bản, thích hợp cho phương thức đồng quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 28Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội VQG Xuân Sơn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc
- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên tỉnh Sơn La
- Phía Đông giáp các xã: Tân Phú, Mỹ Thuận, Long Cốc và Vĩnh Tiến
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
VQG Xuân Sơn nằm trong một vùng đồi núi thấp và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy Hoàng Liên Nhìn toàn cảnh các dãy đồi núi chỉ cao chừng 600 - 700 m, hình dáng khá mềm mại vì chúng được cấu tạo bởi các loại đá phiến biến chất Cao nhất là đỉnh núi Voi 1.386 m, tiếp đến là núi Ten, núi Cẩn đều cao trên 1.200 m
Các thung lũng trong vùng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Sự chia cắt theo chiều sâu cũng khá lớn, các sườn núi khá dốc, bình quân 20o
3.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn
Trang 29+ Mùa nóng, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, nên thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trên 25oC, nóng nhất là vào tháng 6 và 7 (38oC)
- Chế độ mưa ẩm
+ Lượng mưa đạt mức trung bình từ 1.660 mm ở Thanh Sơn đến 1.826mm ở Minh Đài Tập trung gần 90% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng
10 hàng năm), 2 tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 và tháng 9
+ Mùa khô hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa chỉ còn chiếm dưới 10% tổng lượng mưa trong năm, nhưng hạn hán ít xảy ra vì có mưa phùn (mỗi năm có trên 20 ngày) làm hạn chế sự khô hạn trong mùa khô
+ Độ ẩm không khí trong vùng bình quân đạt 86%, những tháng có mưa phùn độ ẩm không khí thường đạt chỉ số cao nhất
+ Lượng bốc hơi không cao (653mm/năm) điều đó cho thấy khả năng che phủ đất của lớp thảm thực bì còn tương đối tốt, hạn chế được lượng nước bốc hơi, làm tăng lượng nước thấm, duy trì được nguồn nước ngầm trong khu vực
- Một số hiện tượng thời tiết đáng chú ý
+ Gió Tây khô nóng: Vùng này chỉ chịu gió Tây (khô và nóng) vào các tháng 4, 5, 6, 7 Trong các tháng này nhiệt độ không khí có ngày lên tới 39 40oC, bốc hơi cũng cao nhất > 70-80 mm, độ ẩm không khí hạ xuống thấp tuyệt đối
+ Mưa bão: Vùng này tuy ở sâu trong nội địa, nhưng cũng chịu ảnh hưởng nhiều của mưa bão Hai tháng nhiều mưa bão nhất là tháng 8 và tháng 9 Bão thường kèm theo mưa lớn, gây lũ và lụt lội làm thiệt hại khá nghiêm trọng cho nền kinh tế của địa phương và nhân dân sinh sống trong vùng
Trang 30+ Sương muối: Thường xuất hiện vào mùa Đông, những ngày nhiệt độ xuống thấp dưới 5oC, sương muối thường xuất hiện trong các thung lũng núi đá vôi, mỗi đợt kéo dài vài ba ngày, ảnh hưởng rất lớn đến cây con, cây ăn quả và cây lấy giống ra hoa kết quả vào thời điểm này
b.Thủy văn
VQG Xuân Sơn nằm trong lưu vực đầu nguồn sông Bứa với nhiều nhánh suối bắt nguồn từ các đỉnh núi cao trong Vườn Hệ thống sông Bứa có các nhánh toả rộng ra khắp các vùng Với lượng mưa khá dồi dào, trung bình năm từ 1.500
- 2.000 mm, lượng mưa cực đại có thể tới 2.453 mm nhưng có năm ít mưa chỉ đo được 1414mm Địa hình lưu vực lại thuận lợi cho việc xây dựng các hồ thuỷ lợi
để phục vụ sản xuất nông nghiệp
Từ trung tâm xã Xuân Sơn (theo hướng Tây Bắc) có dãy núi đá vôi khá cao, cao nhất có đỉnh 1.200 m Đá vôi có màu trắng xám, cấu tạo khối, tuổi Triat trung Trong dãy núi đá vôi này thường gặp các thung tròn có nước chảy trên mặt như thung làng Lạng, làng Dù và làng Lấp,… Các thung lũng được lấp đầy các tàn tích đá vôi và có suối nước chảy quanh năm
b.Thổ nhưỡng
Được hình thành trong một nền địa chất phức tạp (có nhiều kiểu địa hình
và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau) cùng với sự phân hoá khí hậu, thuỷ văn
đa dạng và phong phú, nên có nhiều loại đất được tạo thành trong khu vực này
Một số loại đất chính trong khu vực:
- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FH): Được hình thành trong điều
Trang 31kiện mát ẩm, độ dốc lớn, không có nước đọng, không có kết von và tầng mùn dầy, tỷ lệ mùn cao (8 - 10%) Phân bố từ độ cao 700 – 1.386 m, tập trung ở phía Tây của khu vực, giáp với huyện Đà Bắc (Hoà Bình), Phù Yên (Sơn La)
- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (F): Là loại đất có quá trình Feralit mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá mẹ và độ ẩm của đất Phân bố ở độ cao dưới 700 m thành phần cơ giới nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất khá mầu mỡ, thích hợp cho các loài cây rừng sinh trưởng và phát triển
- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi) - R: Đá vôi là loại đá cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, dẫn tới đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá
3.1.1.5 Thảm thực vật rừng
VQG Xuân Sơn nằm trong khu vực xen kẽ giữa núi đất và núi đá vôi, nên thảm thực vật trong khu vực tương đối da dạng với nhiều kiểu thảm thực vật rừng khác nhau
Bảng 3.1.Các kiểu thảm thực vật rừng khu VQG Xuân Sơn
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu 1.549
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp 2.218 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp trên đất đá vôi
Trang 32(1).Kiểu HST rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Kiểu HST này có diện tích 1.733 ha, chiếm 11,5% tổng diện tích, phân bố thành các mảng tương đối lớn ở độ cao dưới 700 - 800 m tại khu vực phía Nam của vườn Kiểu HST này ít nhiều đã bị tác động, nhưng căn bản còn giữ được tính nguyên sinh với tầng tán rõ rệt Thực vật tạo rừng khá phong phú, phổ biến là các loại trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Na (Annonaceae), họ Trâm (Myrtaceae), họ Thị (Eberaceae) và nhiều họ khác
(2) Kiểu HST rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu
Kiểu HST này có diện tích 1.549 ha chiếm 10,3% tổng diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở hai đầu dãy núi Cẩn Đây là kiểu phụ thổ nhưỡng nên thành phần thực vật tạo rừng không chỉ là các loài thực vật nhiệt đới mà còn thể hiện tính chỉ thị cao cho loại hình rừng này Đó là: Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Trai (Garcinia fagraeoides), Mậy tèo, Ô rô, Teo nông (Streblusspp), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Sâng (Pometia pinnata), Cà lồ (Caryodaphne tonkinesis), Đinh (Frnandoa spp.), Vàng anh (Sraca dives)…
(3) Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp trên đất đá vôi xương xẩu
Kiểu HST này có diện tích 883 ha, chiếm 5,9% diện tích tự nhiên, phân bố thành những mảng tương đối rộng ở khu vực núi Cẩn từ độ cao 700 – 800 trở lên Tại độ cao này cấu trúc của rừng đã có những thay đổi Các loài trong họ Dầu không còn thấy xuất hiện thay vào đó là sự xuất hiện một số loài lá kim như Sam bông (Amentontaxus argotaenia), Thông tre (Podocarpus neriifolius) và sự gia tăng của các loài thực vật á nhiệt đới như Re, Dẻ, Chè… Mặt khác do địa hình dốc đứng với đá tai mèo, đất đai kiệt nước nên phần lớn cây rừng có kích thước nhỏ hơn ở đai rừng nhiệt đới Tuy nhiên cũng có thể bắt gặp những cá thể
có đường kính trên 100cm mọc ở những hốc đá có tầng đất dày
Trang 33(4) Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
Kiểu HST này có diện tích 2.218 ha, chiếm 14,7% tổng diện tích Chúng phân bố tập trung ở khu vực núi Ten và phần đất phía Tây của vườn từ độ cao
700 - 800m trở lên Kiểu rừng này ít nhiều đã bị tác động nhưng còn giữ được tính nguyên sinh về cơ bản Độ tàn che của rừng thường đạt 0,7 – 0,8(0,9) Thực vật chủ yếu là các loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ (Fraceae), họ Re (Lẩuceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Chè (Theraceae), họ Sến (Sapotaceae), họ Nhân sâm (Araliaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Hoa hồng (Roeceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Trâm (Myrtaceae), họ Đậu (Fabaceae),
họ Trinh nữ (Mimosaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Na (Annonaceae)… Riêng các loài cây thuộc họ Dầu không thấy có mặt trong kiểu rừng này
(5) Kiểu rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy
Kiểu HST này có diện tích 1.687 ha, chiếm 11,2% diện tích tự nhiên và phân bố rải rác khắp VQG Bao gồm rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy nhiệt đới và rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy á nhiệt đới núi thấp Mặc dù chúng được hình thành ở
2 kiểu rừng có sinh khí hậu khác nhau nhưng đều là sản phẩm sau nương rẫy nên cấu trúc của rừng không khác nhau nhiều Thành phần loài và cấu trúc rừng đơn giản Rừng chỉ có một tầng cây gỗ có tán đều nhưng khá thưa nên dưới tán rừng thảm tươi khá phát triển của các loài cỏ cao thuộc họ Cỏ (Poaceae) và họ Cói (Cyperceae)
(6) Kiểu rừng thứ sinh tre nứa
Kiểu HST rừng tre nứa chỉ chiếm một diện tích nhỏ (639 ha) nằm trong vành đai rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở khu vực phía Đông của vườn Đây cũng là kiểu phụ thứ sinh được hình thành sau nương rẫy bỏ hoang hoặc rừng cây gỗ bị khai thác kiệt Thực vật tạo rừng chủ yếu là loài Nứa lá nhỏ (Schirostachyum dullooa) và một số loài cây gỗ mọc rải rác Mật độ cây khá dày (200 – 250 bụi/ha và 30.000 – 37.5000 cây/ha) với đường kính bình quân 2cm và chiều cao bình quân 5m Dưới tán cây gỗ thảm tươi là các loài cây thuộc họ Cỏ (Poaceae) và họ Cói (Cyperaceae) khá phát triển Ngược lại dưới tán gỗ thảm
Trang 34tươi ít phát triển thường là một số loài trong họ Gừng (Zingiberaceae) và một số
họ khác mọc rải rác Dây leo phổ biến là Sắn dây, Kim cang, Dất, Bìm bìm
(7) Kiểu HST rừng trồng
Kiểu HST rừng trồng có diện tích 21 ha, chiếm 0,1% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở địa phận xã Tân Sơn Loài cây gây trồng là Bồ đề (Stryrax tonkinensis) Do mới được gây trồng nên rừng còn nhỏ Đường kính bình quân
từ 6 – 7cm và chiều cao bình quân 7 – 8m với tầng tán liên tục Ngoài ra ở khu vực phía Đông Nam trên địa phận xã Kim Thượng còn có một số diện tích khác mới được gây trông loài Keo lai, nhưng chưa thành rừng
(8) Kiểu trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác
Kiểu HST này khá phổ biến với 4.927 ha, chiếm 30,7% tổng diện tích tự nhiên của VQG và phân bố rải rác khắp các khu vực ở cả 2 vành đai độ cao, nhưng tập trung hơn cả vẫn là ở đai rừng nhiệt đới thuộc phần đất phía Đông của Vườn Phần lớn các loài thảm này là các trảng cỏ cao như Cỏ tranh (Iperata cylindrica), Lau (Erianthus ảundinaceus), Lách (Sacharum spontaneum), Cỏ trấu (Themeda gigantea), Chít (Thysanolaema), Cỏ giác (Panicum sarmentosum) Dưới các trảng cỏ này tình hình tái sinh của các cây gỗ trở nên khó khăn Bởi vậy khả năng phục hồi rừng tự nhiên trên những diện tích này đòi hỏi phải có một thời gian
(9) Kiểu HST nông nghiệp
Kiểu HST này có diện tích 1.369 ha, chiếm 1,9% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác khắp VQG, nhưng tập trung thành diện tích lớn phía Đông của vườn nơi có nhiều bản làng Nó bao gồm ruộng lúa nước, nương rẫy trồng lúa, hoa, màu, chè… Trong một chừng mực nhất định các HST này không phải là đối tượng bảo vệ của các khu bảo tồn, song ở khía cạnh khác chúng lại là môi trường sống của những nhóm sinh vật nhất định, không chỉ là các động vật nhỏ (Chuột, Dán…), mà còn cả các loài thực vật nữa (Cỏ cứt lợn, Cỏ may, các loài cỏ dại trên cánh đồng và các thực vật theo người)
Trang 353.1.1.6 Hệ thực vật
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên đem lại cho VQG Xuân Sơn sự phong phú đa dạng về thành phần loài động thực vật Cho tới nay, có thể khẳng định được rằng VQG Xuân Sơn có sự ĐDSH rất cao so với các VQG và KBTTN khác trong cả nước
Kết quả điều tra bước đầu và tập hợp tài liệu, đã thống kê được 1.217 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 680 chi và 180 họ, cụ thể ở bảng sau:
Bảng 3.2 Sự phân bố các taxon khác nhau trong Hệ thực vật
ở VQG Xuân Sơn
Ngành thực vật Tên khoa học Số họ Số chi Số loài
(Nguồn: Ban quản lí VQG Xuân Sơn)
Trong các nghành thực vật ghi nhận được thì ngành Mộc lan (Magnoliophyta) chiếm số lượng lớn nhất với 83,9% số họ; 93,6% số chi và 92,8% số loài Đã ghi nhận 40 loài thực vật quý hiếm (chiếm 3,4% tổng số loài của hệ) bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2000) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, cần được bảo vệ; phát hiện một số loài mới bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam như: Loài Aristolochia fangchii C Y
Wu thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae); loài Sồi tây trù - Quercus sichourensis (Hu) C C Huang & Y T Chang thuộc họ dẻ (Fagaceae); loài Pseudostachyum sp Nov thuộc họ cỏ (Poaceae), phân bố ở độ cao 300 - 800m tại xóm Dù và chân núi Ten; loài Đỗ quyên lá vệ nâu - Rhododendron euonymifolium Levl, thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae)
Trang 363.1.1.7.Khu hệ động vật
Khu hệ động vật Xuân Sơn mang tính đệm giữa hai khu động vật Tây Bắc
và Đông Bắc Việt Nam nên ở khu hệ này ta thường bắt gặp bên cạnh các loài và phân loài đặc trưng cho khu Tây Bắc như Voọc xám, Vượn đen tuyền còn có
các đại diện của khu Đông Bắc như Hươu xạ, Voọc đầu trắng
Kết quả điều tra thành phần phân loại học của 5 lớp (Thú, Chim, Bò sát,
Ếch nhái và Côn trùng) tại VQG Xuân Sơn như sau:
Bảng 3.3 Thành phần loài thú, chim, bò sát, ếch nhái và côn trùng
(Nguồn:Ban quản lí VQG Xuân Sơn)
Động vật hoang dã có xương sống trên cạn của Vườn quốc gia Xuân Sơn khá đa dạng, đã ghi nhận được 76 loài thú thuộc 24 họ, 8 bộ; 182 loài chim thuộc
47 họ, 15 bộ; bò sát 44 loài thuộc 14 họ, 2 bộ; ếch nhái 27 loài thuộc 6 họ,1 bộ
Trong số 76 loài thú rừng có tới 29 loài thú quý hiếm (chiếm 37,7% tổng
số loài thú) Trong đó, 20 loài ghi trong Danh lục đỏ IUCN (2004) gồm: 1 loài bậc nguy cấp (EN), 12 loài bậc sẽ nguy cấp (VU), 6 loài bậc gần bị đe dọa (LR/nt, NT); 25 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2000) gồm 5 loài nguy cấp (E), 14 loài sẽ nguy cấp (V), 6 loài bậc hiếm (R); và 24 loài ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP
Vườn quốc gia Xuân Sơn còn là sinh cảnh của 182 loài chim, với thành phần khá phong phú cả về số bộ, họ và loài Bộ sẻ (Passeriformes) chiếm ưu thế
Trang 37nhất với 24 họ chiếm 51,06% tổng số họ Trong đó có 21 loài chim quý hiếm có giá trị bảo tồn cao đáng chú ý là loài Gà so ngực gụ (Arborophila chartoni) là loài đặc hữu của Việt Nam (Xem thêm phụ biểu C3-1)
3.1.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội
3.1.2.1 Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội các xã vùng đệm
a Đặc điểm dân cư
Với vị trí nằm sâu trong nội địa, vùng đệm VQG Xuân Sơn gồm 7 xã Minh Đài, Xuân Đài, Kim Thượng, Lai Đồng, Tân Sơn, Kiệt Sơn, Đồng Sơn Như vậy các xã vùng đệm của VQG Xuân Sơn nằm trọn trong huyện Tân Sơn của tỉnh Phú Thọ Đây là một huyện miền núi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của tỉnh, địa hình hiểm trở nên mức độ tập trung dân cư trong vùng phân bố không đều trên khắp lãnh thổ
Theo số liệu điều tra của phòng thống kê huyện Tân Sơn (Tính đến 31/12/2009) dân số trong khu vực là 29.203 người bao gồm dân cư thuộc quyền quản lý của Vườn Mật độ bình quân là 45 người/1km2
b Dân tộc:
Thanh Sơn là một huyện miền núi với >80% dân cư là người dân tộc, đây
là khu vực tập trung rất nhiều các dân tộc thiểu số của miền bắc nước ta
Hầu hết các dân tộc thiểu số của tỉnh Phú Thọ đều có mặt và sinh sống tập trung trong vùng đệm của VQG, gồm: Mường, Kinh, Dao, Tày (Xem thêm phụ lục C3-5)
Các dân tộc thường phân bố tập trung thành từng bản riêng rẽ, đôi khi sống xen kẽ lẫn nhau trong cùng một bản Nhìn chung thì mỗi xã thường có một vài dân tộc cùng làm ăn sinh sống
Trang 38Ruộng nước thường được canh tác gần các xóm, ở những nơi đất trũng có nước thường xuyên Ngoài ra, người dân còn lập một số những trang trại vừa canh tác lúa nước vừa chăn nuôi ở trong các khu rừng già cách xa thôn xóm Lúa nước thường chỉ canh tác một vụ Nguyên nhân chủ yếu do vấn đề về thuỷ lợi không đủ nước tưới tiêu Mặt khác, người dân trong vùng chưa được trang bị kỹ thuật thâm canh gối vụ Canh tác lúa phụ thuộc nhiều vào các điều kiện ngoại cảnh cộng với giống lúa không được cải thiện nên sản lượng thường rất thấp, không ổn định
Lúa nương được canh tác ở các vùng đồi, núi dốc và hoàn toàn phụ thuộc vào
tự nhiên, sản lượng rất bấp bênh Diện tích lúa nương không ổn định hàng năm mà thường được du canh qua nhiều vùng khác nhau xung quanh các điểm dân cư Các loại hoa màu thường chỉ có sắn, khoai, ngô, đậu, lạc được trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng không đủ điều kiện để làm ruộng nước
+ Thuỷ lợi
Một số thung lũng thuận lợi cho việc làm thuỷ lợi tưới cho đất trồng trọt Tuy nhiên, do chưa được đầu tư nên người dân các xã thường tự phát đắp các đập nhỏ không cố định, hoặc khơi mương nước, ống nước tự chảy để làm ruộng Những loại đập và mương nước này chỉ tồn tại được trong mùa khô Đến mùa mưa, chúng nhanh chóng bị nước cuốn trôi Chính vì vậy, hầu hết ruộng nước trong khu vực chỉ làm được 1 vụ Những khu vực cao hơn có thể làm được ruộng nước, nhưng người dân không đủ khả năng đưa nước tới
Sản xuất nông nghiệp của các xã thực sự chưa thấy cái lợi của thuỷ Sản phẩm canh tác của họ chủ yếu trông chờ vào thời tiết Nếu năm nào mưa thuận gió hoà thì ấm no, còn thời tiết không thuận lợi thì đói kém Làm tốt công tác thuỷ lợi có thể mở rộng ruộng nước, thâm canh ruộng hiện có sẽ đảm bảo an ninh lương thực trong khu vực
Trang 39Giống chăn nuôi ở đây chủ yếu là các loại giống cũ cổ truyền, chậm lớn Tuy nhiên, những loại này cho thịt rất ngon như lợn Mán, gà ri, vịt, ngan Khi cải tạo vật nuôi tăng năng suất cần chú ý giữ lại những giống quý này Tuy chậm lớn, nhưng trong tương lai chúng sẽ là những đặc sản hấp dẫn khách du lịch Dịch vụ thú y trong khu vực chưa phát triển Hầu hết các xã chưa có cán bộ thú y hoặc cán bộ chưa qua lớp đào tạo chính quy Dịch bệnh vật nuôi thường xuyên xảy ra Xã Lai Đồng giữa năm 2009 đã xảy ra dịch bệnh của lợn và gà làm chết hàng loạt, trên 200 con lợn, hàng ngàn con gà
Trong thời gian gần đây đã có một số hộ gia đình chú ý xây dựng ao phát triển chăn nuôi cá Tuy nhiên, số hộ này không nhiều Ao cá chỉ được làm tạm
bợ, chưa có kỹ thuật chăn nuôi phát triển cá
- Lâm nghiệp
Trong khu vực không có lâm trường, và không phải là vùng rừng sản xuất, bởi vậy sản xuất lâm nghiệp ở đây chủ yếu là việc thu hái lâm sản tự phát của nhân dân
Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng là gỗ, các loài động vật phục vụ làm nhà và nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá Từ khi thành lập khu bảo tồn thiên nhiên, hiện tượng săn bắt và khai thác gỗ đã giảm Các sản phẩm lâm nghiệp người dân thu hái chủ yếu là mật ong, song mây, sa nhân, lá cọ, các loài cây thuốc Tuy nhiên, trong quá trình thu hái không có định mức nên các nguồn tài nguyên này cũng đã suy giảm
Ngoài ra, người dân xã Xuân Sơn còn tham gia bảo vệ rừng, trồng rừng bằng cây bản địa do ban quản lý Vườn quốc gia triển khai Hiện nay mỗi xã kể cả vùng lõi và vùng đệm đều có 1 cán bộ lâm nghiệp xã hợp đồng lới ban quản lý thực thi công tác theo dõi, quản lý bảo vệ rừng
- Đời sống sinh hoạt
Theo quy định mới trong việc phân cấp hộ gia đình theo thu nhập, trong toàn khu vực điều tra có 3.044 hộ nghèo chiếm 64% số hộ trong vùng, trong đó
Trang 40các hộ thiếu đói trong vòng 3-4 tháng chiếm tỷ lệ rất cao Xã có số hộ nghèo nhiều nhất là Xuân Đài với 512 hộ chiếm 58% số hộ trong xã
b Cơ sở hạ tầng
- Giao thông
Trước đây khu vực này hoàn toàn tách biệt với bên ngoài do không có đường cho xe cộ tiếp cận tới Từ năm 2000, tỉnh đã đầu tư xây dựng đường cấp phối từ Minh Đài tới xóm Dù (Xuân Sơn) Dự án này do ban quản lý Vườn quốc gia làm chủ đầu tư Con đường này đã khai thông khu vực với bên ngoài tạo điều kiện tiền đề phát triển kinh tế xã hôị và giao lưu văn hoá, cũng như công tác phát triển
du lịch sinh thái Con đường này cũng là bài học cho công tác bảo tồn Người dân trong khu vực rất phấn khởi và tin rằng do có Vườn quốc gia mà có đường
và còn gọi là “Đường ông Lâu” (ông Trần Đăng Lâu nguyên là giám đốc khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn) Đó là bài học gắn bảo tồn với phát triển kinh tế
xã hội Dự án này tiếp tục làm đường tới Lạng và Lấp, Cỏi Các xóm còn lại chưa có đường xe tới xóm
- Y tế
Hiện nay các xã vùng đệm hầu hết đã có trạm y tế tế được xây kiên cố Mỗi trạm trung bình có 4 giường bệnh, 1 y sỹ, 2 y tá Nhìn chung cơ sở, dụng cụ khám chữa bệnh còn rất đơn sơ, nhưng công tác y tế ở đây đã có nhiều cố gắng như phát thuốc sốt rét, sốt xuất huyết, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh Tuy nhiên, do điều kiện giao thông chưa thuận lợi, nên việc chữa chạy bệnh nhân trong trường hợp nguy cấp thường không kịp thời Điều kiện trang thiết bị còn đơn sơ nên trạm xá chỉ chạy chữa những loại bệnh thông thường
Các loại bệnh phổ biến trong khu vực: Sốt xuất huyết, đau bụng ỉa chảy, cảm cúm, viêm phế quản, phổi ở trẻ em Các dịch bệnh lớn đã được đẩy lui như thương hàn, sốt rét