1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động của dự án trồng rừng tại thanh hóa và nghệ an (kfw) đến sinh kế người dân vùng dự án huyện thạch thành tỉnh thanh hóa

98 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một vấn đề lớn đối với ESIA ở rất nhiều quốc gia đó là việc đánh giá tác động môi trường và xã hội được thiết lập như một qui trình lập kế hoạch/phê duyệt chủ yếu chỉ áp dụng cho thiết k

Trang 1

DANH MỤC BIỂU iii

DANH MỤC HÌNH iii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii

CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

LỜI CẢM ƠN v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 – TỔNG QUAN VÀ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG 5

1.1 Khái niệm dự án và đánh giá tác động dự án 5

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

1.2.1 Ngoài nước 7

1.2.2 Trong nước 9

1.3 Cơ sở lý luận của đánh giá tác động dự án đến sinh kế người dân 13

1.3.1 Lý thuyết về sinh kế của người dân 13

1.3.2 Giám sát Đánh giá tác động (IMA) và các chỉ báo 21

1.3.3 Chu trình dự án - Giám sát và đánh giá 23

Chương 2 – MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Mục tiêu 24

2.2 Nội dung 24

2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Cách tiếp cận chung của đề tài 24

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 25

2.4 Phạm vi nghiên cứu 27

2.5 Quy trình đánh giá tác động dự án 28

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KT-XH KHU VỰC NGHIÊN CỨU 35

3.1 Xã Thành Minh 35

3.1.1 Vị trí địa lý và giao thông 36

3.1.2 Khí hậu thuỷ văn 36

3.1.3 Địa hình đất đai, hiện trạng sử dụng đất 37

3.1.4 Tình hình chung về dân sinh – Kinh tế 40

3.2 Xã Thạch Cẩm 41

Trang 2

3.2.1 Vị trí địa lý 42

3.2.2 Khí hậu thuỷ văn 42

3.2.3 Địa hình đất đai, hiện trạng thực bì 43

3.2.4 Tình hình chung về dân sinh - Kinh tế 46

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN 48

4.1 Tình hình hoạt động của dự án KfW4 48

4.1.1 Cách tiếp cận và tiến trình thực hiện của dự án 48

4.1.2 Kết quả thực hiện dự án tại 2 xã Thành Minh và Thạch Cẩm 66

4.2 Khảo sát tác động của dự án đến sinh kế người dân tại xã Thành Minh và Thạch Cẩm 68

4.2.1 Giảm Xói mòn đất 68

4.2.2 Giảm đất canh tác 69

4.2.3 Tăng khả năng cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp 71

4.2.4 Tăng khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt 72

4.2.5 Tăng kiến thức, kỹ năng 72

4.2.6 Nhận thức về bảo vệ môi trường 74

4.2.7 Hệ thống tổ chức của thôn bản được củng cố 75

4.2.8 Tăng thu nhập 77

4.2.9 Tăng đồ gia dụng nội thất và tăng phương tiện vận chuyển cũng như phương tiện nghe nhìn 78

4.3 Kết quả thảo luận nhóm về thay đổi sinh kế của người dân trong vùng từ khi có các hoạt động của dự án 79

4.4 Tác động tới sinh kế của người dân – nguyên nhân và khuyến nghị 81

4.4.1 Tổng hợp kết quả đánh giá tác động tới sinh kế người dân 81

4.4.2 Khuyến nghị nâng cao tính bền vững của dự án 84

Chương 5 – KẾT LUẬN 86

5.1 Kết luận 86

5.2 Tồn tại 87

5.3 Kiến nghị 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 93

Trang 3

4.1 Thanh toán cây con và phân bón theo các nhóm loài cây khác nhau 62 4.2 Định mức hỗ trợ công lao động theo nhóm loài cây 64 4.3 Kết quả điều tra đánh giá tác động về xói mòn đất 69 4.4 Kết quả điều tra đánh giá tác động của dự án đến tỷ lệ diện tích đất

4.5 Kết quả điều tra đánh giá tác động của dự án đến nguồn nước cung

4.6 Kết quả điều tra đánh giá tác động của dự án đến sự thay đổi lượng

4.7 Thống kê các lớp tập huấn đã được dự án tổ chức tại Thanh Hoá 73 4.8 Điều tra đánh giá tác động của dự án đến nhận thức về môi trương

4.9 Kết quả điều tra đánh giá tác động của dự án đến hệ thống tổ chức

4.10 Kết quả điều tra đánh giá tác động của dự án đến tăng thu nhập 77 4.11 Kết quả điều tra đánh giá tác động của dự án đến vốn vật chất 78

4.13 Tổng hợp các tác động đến sinh kế người dân 81

4.1 Biểu diễn sự thay đổi sinh kế từ khi thực hiện dự án 81

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BQLDA : Ban quản lý dự án

ESIA : Đánh giá tác động Môi trường

FFG : Nhóm nông dân trồng rừng

IMA : Giám sát đánh giá tác động

IRR : Tỷ lệ hoàn vốn nội tại

KNTS : Khoanh nuôi tái sinh

KfW : Ngân hàng tái thiết Đức

LKHPTRTB: Lập kế hoạch phát triển rừng thôn bản

NN & PTNT: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn NGO : Tổ chức phi Chính phủ

NPV : Giá trị ròng hiện tại

PPM : Ma trận kế hoạch dự án

QHSDĐ : Quy hoạch sử dụng đất

TKTGCN : Tai khoản tiền gửi cá nhân

TN – MT : Tài nguyên môi trường

VSG : Nhóm hỗ trợ thôn bản

Trang 5

xã Thành Minh và Thạch Cẩm huyện Thạch Thành đã tận tình giúp đỡ

và cung cấp thông tin trong thời gian khảo sát thực tế tại các địa phương

- Ban quản lý dự án KfW4 ở Trung ương và Ban quản lý dự án tỉnh Thanh Hoá đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình cung cấp cũng như thu thập số liệu tại hiện trường

- Tiến sỹ Đinh Đức Thuận đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề tài

- Giáo viên và cán bộ khoa Sau đại học của trường Đại học lâm nghiệp Việt Nam

Đặc biệt, xin cám ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã động viên, khích

lệ cổ vũ tôi hoàn thành đề tài này

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau 20 năm đổi mới và chuyển đổi, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản về các quan hệ kinh tế - xã hội, thoát khỏi khủng hoảng, tăng trưởng kinh tế liên tục với tốc độ cao, tăng trưởng GDP trung bình đạt 7,5% - 8%/năm, xuất khẩu tăng nhanh, từng bước kiểm soát được lạm phát và ổn định giá cả1

[13]; đưa đến một giai đoạn phát triển kinh tế và giảm tỷ lệ nghèo đói (tỷ lệ người nghèo của Việt Nam với con số ước tính là 58% năm 1993 đã giảm xuống còn 24% năm 2004)[32] chưa từng thấy sau hơn bốn thập kỷ của chiến tranh, khó khăn trong phát triển kinh tế Cơ chế kinh tế mới đã tạo ra những nhân tố mới cho tăng trưởng kinh tế với các kết quả đầy ấn tượng Một nguyên nhân quan trọng để đạt được tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế là

do tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội tính trên GDP luôn đạt khoảng 40%/năm Đạt được kết quả trên không thể không nhắc đến sự góp sức của các dự án đầu tư của Chính phủ cũng như của các tổ chức trong và ngoài nước đã được thực thi

ở khắp nơi trong đó có đóng góp rất quan trọng của vốn ODA và nó đang góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động ở các vùng nông thôn miền núi; làm thay đổi độ che phủ của rừng

Để chương trình, dự án đạt kết quả cao, “giám sát đánh giá” là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý dự án Giám sát là một quá trình liên tục được xây dựng để kiểm tra tiến độ so với kế hoạch đã đặt ra của một dự án đang tiến hành, từ đó có thể sửa đổi kế hoạch cho phù hợp nếu cần Còn đánh giá

dự án là quá trình được lập nên để xem xét mức độ hoàn thành hoặc đang thực hiện của một dự án dựa trên những tiêu chí đánh giá dự án (hiệu quả, hiệu

1 Nguyễn Xuân Thảo (2005) Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia

Trang 7

suất, tác động, tính thích hợp và khả năng duy trì dự án), sau đó khuyến nghị

về quá trình thực hiện dự án trong tương lai cũng như rút ra các bài học kinh nghiệm cho các dự án khác [20]

Trong giai đoạn trước thập kỷ 90 của thế kỷ trước, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness) Đến những năm 90 thì các hoạt động đánh giá bao gồm cả đánh giá tác động (impact assessment), tức là xem xét xem các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000) Việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá hiện nay Các tác động được xác định bao gồm tất cả các thay đổi về sinh thái, văn hoá xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lại bởi các hoạt động của dự án

Đánh giá tác động môi trường (EIA) đang ngày càng được tăng cường áp dụng trong một số ngành với mục tiêu nhằm đảm bảo cho các vấn đề môi trường được quan tâm thoả đáng trước khi đưa ra những lựa chọn đầu tư quan trọng Trong trường hợp các khía cạnh xã hội cũng được đánh giá quan trọng như môi trường, phần đánh giá này sẽ được mở rộng và khi đó “Đánh giá tác động Môi trường và Xã hội” (ESIA) có thể là phương tiện phù hợp để hỗ trợ quá trình ra quyết định

Một vấn đề lớn đối với ESIA ở rất nhiều quốc gia đó là việc đánh giá tác động môi trường và xã hội được thiết lập như một qui trình lập kế hoạch/phê duyệt chủ yếu chỉ áp dụng cho thiết kế khả thi của các dự án phát triển qui mô lớn với vùng tác động hạn chế Các qui trình ESIA ở đa số các nước được thiết lập với tư cách là một cơ chế lập kế hoạch tổng hợp Nhìn chung, các cam kết trong việc lồng ghép ở cấp cao giữa các ngành và đưa ra giải pháp cho các vấn đề xung đột là rất ít, thậm chí không có Bên cạnh đó, chưa có sự cân

Trang 8

nhắc kỹ lưỡng khi lập kế hoạch thực hiện bên dưới, vừa tăng tính khả thi vừa hiệu lực hoá các kết quả của ESIA Việc thực hiện tiến trình này một cách đơn lẻ đã hạn chế hiệu quả và tính hữu ích của nhiều qui trình ESIA Kết quả

là các qui trình ESIA thường chỉ được áp dụng cho những đánh giá chiến lược, chính sách và ở “cấp khu vực” mà không được thiết kế, sử dụng hoặc hiệu quả sử dụng để giải quyết các vấn đề theo từng dự án là rất thấp Điều này đã không tránh khỏi việc tạo ra nhiều bất cập cho những người làm ESIA Tại nhiều quốc gia, ESIA không có mối liên kết cụ thể với bất kỳ một cơ chế phê duyệt hay cấp phép nào, điều đó có nghĩa rằng những kết quả của qui trình ESIA không thể có hiệu lực[16]

Đánh giá tác động đề cập đến toàn bộ những ảnh hưởng tạo ra trong quá trình thực hiện dự án Thực hiện một dự án trong một thời hạn nhất định, nghĩa là tiến hành các hoạt động đã được thiết kế để đạt được các đầu ra và mục đích

dự án Ngoài những mục đích rõ ràng (các đầu ra và mục đích của dự án), còn

có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, hiện tại hoặc tương lai, thậm chí là những ảnh hưởng tiếp theo của những ảnh hưởng trực tiếp…

Mất rừng và suy thoái tài nguyên rừng trong những vùng đồi núi thuộc hai tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An, nằm ở Bắc Trung Bộ Việt Nam, đã làm mất đi một nguồn tạo thu nhập quan trọng, cho người dân sở tại, đe doạ cân bằng sinh thái và khả năng duy trì nguồn nước Ngay từ đầu những năm 90, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu tập trung cải thiện đầu tư cho việc khôi phục độ che phủ rừng và phát triển rừng, mở đầu bằng Chương trình 327, đồng thời tiếp nhận nhiều dự án viện trợ quốc tế về lâm nghiệp, trong đó có dự án của ngân hàng Tái thiết Đức (KfW), với mục đích hỗ trợ tài chính cho hoạt động trồng rừng ở những vùng đất trống đồi trọc, bị đe doạ về mặt sinh thái tại hai tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An

Trang 9

Mục đích của dự án trồng rừng ở Thanh Hoá và Nghệ An (KfW4) là hỗ trợ các hộ gia đình thiết lập ít nhất 13.000 ha rừng trên đất trống bị đe doạ về mặt sinh thái ở vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam Đây là dự án thứ 4 thuộc loại này Nếu thành công dự án sẽ đại diện cho một chuỗi liên tục các dự án thành công do KfW đồng tài trợ ở Việt Nam Mục tiêu chính của dự án lớn này là sự hình thành của hệ thống quản lý rừng bền vững tập trung vào bảo vệ các lưu vực xung yếu, và đem lại các lợi ích về mặt xã hội [16]

Dự án tiến hành từ năm 2003 đến nay Câu hỏi đặt ra ở đây là dự án KfW4 đã

có tác động gì đến sinh kế của người dân trong vùng? Những tác động đó là tích cực hay tiêu cực đối với người dân vùng dự án? Những giải pháp nào giúp cho khắc phục những hạn chế đó? Vì vậy vấn đề đánh giá các hoạt động

của dự án, cũng như các tác động của dự án đến sinh kế người dân tại vùng dự

án để đưa ra những giải pháp là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực

Trang 10

Chương 1 – TỔNG QUAN VÀ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU ĐÁNH

GIÁ TÁC ĐỘNG

1.1 Khái niệm dự án và đánh giá tác động dự án

Từ những năm 50, cùng với công cuộc xây dựng, phục hồi sau chiến tranh thế giới lần thứ II, quản lý dự án đã trở thành lĩnh vực ngày càng được chú ý, quan tâm Trong bối cảnh hiện nay, các dự án đầu tư phát triển không còn là lĩnh vực riêng của Nhà nước mà đã có sự tham gia của rất nhiều tổ chức, bao gồm Chính phủ và phi Chính phủ (NGO), có những dự án tầm cỡ quốc gia, có những dự án của doanh nghiệp và có cả những dự án của cá nhân hay hộ gia

đình Theo Cleland và King: Dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố về nhân lực, trí lực trong một thời gian nhất định để đạt được mục tiêu cụ thể Theo Cirdap

dự án là một hoạt động để giải quyết một vấn đề hay hoàn thiện một trạng thái

đặc biệt nào đó Còn theo Gittinger, dự án được định nghĩa theo 3 quan điểm:

i) dự án là sự sắp xếp có hệ thống các nguồn dự trữ cho đầu tư, các nguồn dự trữ đó được lập kế hoạch, phân tích đánh giá, thực thi và tiến hành như một đơn vị độc lập; ii) dự án được coi như một đơn vị nhỏ nhất trong một kế hoạch, hay một chương trình, được chuẩn bị và thực hiện như một thể tách biệt; iii) Dự án là một hoạt động trong đó các nguồn dự trữ được sử dụng tốt nhất với khả năng thu hồi và có lãi khi dự án kết thúc[7]

Từ những định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm chung của một dự án như sau: Dự án không chỉ là một ý định hay một phác thảo, mà còn có tính cụ thể với mục tiêu xác định, nhằm đáp ứng một nhu cầu riêng biệt; dự án tồn tại theo chu kỳ sống? với điểm bắt đầu và điểm kết thúc cụ thể,

để hoàn thành một mục tiêu nhất định

Trang 11

Mục tiêu cơ bản của các dự án là nhằm tăng cường năng lực sản xuất

để tạo thêm nhiều vật chất và dịch vụ cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Trong quá trình sản xuất, con người đã tác động vào tự nhiên vào xã hội, sử dụng các yếu tố của tự nhiên để làm đầu vào cho sản xuất của mình… Tác động của dự án tới các mục tiêu phát triển đất nước cần phải được đánh giá để xác định lợi ích của mỗi dự án xét trên tổng thể các mục tiêu phát triển đa dạng của nền kinh tế

Công việc giám sát tác động đánh giá phạm vi, giới hạn mà các hoạt động của dự án có thể đóng góp một cách hiệu quả vào quá trình hoàn thành các mục tiêu của dự án Công việc này trả lời câu hỏi những thay đổi được mong đợi có thực sự xẩy ra không, và có hay không những tác động không được mong đợi Hiểu theo nghĩa thông thường, hệ thống giám sát tác động có chức năng điều chỉnh việc quản lý dự án, cung cấp thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định, từ cấp độ dự án lên tới cấp ra chính sách Hệ thống này liên quan cả cán bộ dự án, các đối tác và nhà tài trợ Hệ thống giám sát cũng giúp đỡ xác định mức độ bền vững của các hoạt động cũng như khâu thiết kế

dự án (ví dụ như quy hoạch sử dụng đất và trồng rừng có sự tham gia của người dân) Hơn nữa, hệ thống đánh giá cũng cung cấp trách nhiệm giải trình cho các uỷ viên dự án (người được uỷ quyền của dự án) về các mục tiêu đã được đề ra và sự sử dụng các nguồn tài nguyên đã được cung cấp [4]

Mong muốn giám sát những biến đổi đem lại bởi các hoạt động cũng như sự thực hiện của dự án tạo ra sự khác biệt giữa giám sát tác động và giám sát hoạt động truyền thống (thông thường)

Trang 12

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Ngoài nước

Vào đầu năm 1980, Cục Nông nghiệp Mỹ đã xây dựng được một chương trình máy tính tương đối hoàn chỉnh có tên là EVALUE nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư cho các dự án rừng trồng (Peter J.Ince, et al; 1980) Chương trình máy tính này chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiệu quả tài chính Theo kết luận của các chuyên gia vào thời điểm đó thì hiệu quả đầu tư vào trồng rừng là không cao thể hiện ở các chỉ số như giá trị dòng hiện tại (NPV) thấp, tỷ lệ hoàn vốn nội tại (IRR) cao không đáng kể so với lãi suất ngân hàng, đó là chưa kể đến mức độ rủi ro cao thường xuyên xảy ra trong sản xuất lâm nghiệp Đến năm 1996 trong báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland, Micheal Luedeke và Jeff Martin (1996) cũng có kết luận tương tự Tuy nhiên, các tác giả cũng khuyến nghị thêm rằng hoạt động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu

tố hàng đầu, còn đối với các dự án đầu tư mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc việc đánh giá hiệu quả cả xã hội và môi trường

Theo tài liệu nghiên cứu của các tác giả trên thế giới như Jim Woodhill, Lisa Robins, Joachim Theis, Heather M Grady đã phân chia thành hai loại đánh

giá: Đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình Đánh giá mục tiêu là xem xét

liệu dự án có đạt được mục tiêu đã định hay không, nó tập trung vào việc

phân tích các chỉ số đo đạc hiệu quả thu được Đánh giá tiến trình là mở rộng

diện đánh giá hơn so với loại đánh giá trên, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để xem xét nhiều vấn đề của dự án

Trong mô hình quản lý dự án, hoạt động đánh giá là khâu cuối cùng trong tiến trình triển khai dự án Thực ra đánh giá không chỉ tiến hành một lần vào cuối dự án, đó mới chỉ là đánh giá tổng thể Trong quá trình thực hiện dự

Trang 13

án, hoạt động đánh giá có thể được tiến hành vào những giai đoạn quan trọng, thường gọi là đánh giá giai đoạn (Gittinger, 1982) Có nhiều tác giả cho rằng, điều quan trọng là phải tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên có liên quan mà quan trọng nhất là người hưởng lợi từ dự án

Để không bỏ qua trong quá trình thực hiện đánh giá tác động dự án Tổ chức nghiên cứu cao cấp về phát triển quốc tế Nhật bản (2003) đã đề xuất việc đánh giá tác động không chỉ tập trung so sánh kết quả đầu ra với đầu vào của dự án mà còn phải xem xét những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực, hiện tại

và tương lai, thậm chí là những ảnh hưởng gián tiếp phát sinh từ những ảnh hưởng trực tiếp Vì vậy, trong quá trình đánh giá dự án, việc thiết kế phương pháp và câu hỏi nên chia thành 2 nhóm vấn đề chính: các vấn đề đan xen (chính sách, kỹ thuật, môi trường, văn hoá – xã hội, thể chế - quản lý và kinh

tế - tài chính) và phân loại tác động thành 4 nhóm: tích cực/tiêu cực và mong đợi/không mong đợi

Renard R [29] phê phán mạnh việc đánh giá hiệu quả tài chính trong các dự án lâm nghiệp vì theo ông nó hoàn toàn vô nghĩa Việc đánh giá hiệu quả tài chính luôn bỏ qua yếu tố lạm phát, chi phí cơ hội và rủi ro; trong khi những yếu tố này là rất lớn trong lâm nghiệp vì thời gian kinh doanh dài Vì

vậy, theo ông thì nên “quên hoàn toàn” việc đánh giá hiệu quả tài chính trong

lâm nghiệp vì chắc chắn rằng hiệu quả tài chính trong lâm nghiệp là không cao Ông khuyến nghị việc đánh giá hiệu quả kinh tế (áp dụng giá bóng – tính đến lạm phát, chi phí cơ hội) đồng thời là hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường trong đánh giá các dự án lâm nghiệp

FAO [31, 32] nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng Cũng theo FAO [32], một dự án đầu tư trong lâm nghiệp dù có đạt được

Trang 14

hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, B/C ) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm tạo thêm thu nhập cho cộng đồng ) và hiệu quả môi trường (ô nhiễm, xói mòn đất ) thì không được coi là một dự án bền vững

Sự ra đời của Nghị định thư Kyoto cũng như việc thành lập Quĩ môi trường toàn cầu (GEF) càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội

và hiệu quả môi trường Theo khuyến nghị của rất nhiều chuyên gia thì cần phải có hoạt động đánh giá môi trường riêng rẽ bao gồm tất cả các chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của dự án đó đến môi trường như mức độ bào mòn đất, khả năng ngăn ngừa thiên tai, độ che phủ rừng, mức độ

CO2 tăng giảm vv

Trong Gregersen và Contresal [28] đã viết giáo trình “Phân tích kinh tế các dự án lâm nghiệp” để đánh giá các dự án trồng rừng và phát triển lâm

nghiệp cho các nước do FAO tài trợ

Đứng về phương diện các phương thức canh tác, hay sử dụng các phương án sử dụng đất khác nhau, Walfredo [29] đã cho rằng: Phương thức canh tác sẽ có những tác động tới kinh tế, sinh thái và xã hội từ đó sẽ có ảnh hưởng lần lượt tới tăng trưởng kinh tế, cân bằng sinh thái và phát triển xã hội Tất cả các mối quan hệ ảnh hưởng này sẽ tác động toàn diện về kinh tế - xã hội – bảo vệ môi trường sinh thái

1.2.2 Trong nước

Ở Việt Nam, “đánh giá tác động dự án” thường được nhắc đến nhiều sau

những năm bắt đầu công cuộc đổi mới Đặc biệt trong các dự án phát triển, đánh giá dự án không chỉ được đánh giá qua các tiêu chí phân tích tài chính

mà nó còn bao gồm cả những tiêu chí đánh giá về hiệu quả xã hội và môi trường Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang kinh tế thị trường, đánh giá hiệu quả kinh tế thường được các nhà nghiên cứu kinh tế

Trang 15

trong nước và chuyên gia nước ngoài chú trọng hơn, nhất là trong lĩnh vực lâm nghiệp, một số nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế dự án trồng rừng để giúp cho việc lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả nhất về mặt tài chính

Trong thập kỷ 90, đã có một số nghiên cứu tiêu biểu phân tích hiệu quả kinh tế cho các hoạt đồng trồng rừng gỗ nguyên liệu như: Per H Stahl và Heine Krekula [17] đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế cho hoạt động kinh doanh trồng rừng bạch đàn tại vùng nguyên liệu giấy Phú Thọ Các chỉ tiêu NPV và IRR được dùng chủ yếu để đánh giá hiệu quả kinh tế Các tác giả cũng đề cập tới một số hiệu quả gián tiếp về xã hội và môi trường nhưng không rõ ràng và đặc biệt những ảnh hưởng của cây Bạch đàn tới đất chưa được nghiên cứu đến Trong nghiên cứu này tác giả đã lập chương trình máy tính đánh giá hiệu quả kinh tế cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu trên một số vùng sinh thái khác nhau như: Bạch đàn ở Măng Yang (Gia Lai); Mỡ

ở Vĩnh phú; và Bồ đề ở Tuyên Quang

Lê Thạc Cán và cộng sự [4] đã hoàn thành công trình nghiên cứu

“Đánh giá tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” tạo tiền đề cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu về môi trường thực

hiện những nghiên cứu tiếp theo

Trần Hữu Dào [6] đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh doanh cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng rừng quế thâm canh thuần loài, quy mô hộ gia đình tại Văn Yên - Yên Bái Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường còn được tiếp tục nghiên cứu như: Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường của một số mô hình theo phương pháp hệ số đường ảnh hưởng” [1]; Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác nông lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy [9] Trong các đề tài này các tác

Trang 16

giả đã trình bày, sử dụng các phương pháp, kỹ thuật mới, tiến bộ trong phân tích kinh tế lâm nghiệp Tuy nhiên các đề tài này mới chỉ thiên về đánh giá hiệu quả kinh tế và ứng dụng các thuật toán chứ chưa chú trọng và đề cập sâu đến hiệu quả xã hội và môi trường

Đến năm 1996, Đoàn Hoài Nam [11] cũng đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế và sinh thái của một số mô hình rừng trồng, tuy nhiên, chưa thấy tác giả đề cập đến vấn đề xã hội Trong báo cáo nghiên cứu ban đầu

về tác động kinh tế xã hội trực tiếp của dự án khu công nghệ cao Hà Nội tại 5

xã thuộc tỉnh Hà Tây” của Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ [21] Nghiên cứu đề cập chủ yếu đến việc khảo sát hiện trạng

và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương đến năm 2010 đồng thời dự kiến một số tác động chính khi dự án triển khai trên địa bàn Nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị trong quá trình thực hiện để phát huy tối

đa các tác động tích cực, hạn chế tối thiểu các tác động tiêu cực của dự án đến đời sống kinh tế xã hội trong vùng

Đối với đề án “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh tế xã hội nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở lòng hồ huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La,

Đỗ Đức Bảo và cộng sự [2] đã sử dụng phương pháp ma trận môi trường để đánh giá tác động của các loại hình canh tác và phương án canh tác lâm nghiệp Các loại hình canh tác được đánh giá ở đây là vườn tạp, nông lâm kết hợp, rừng tự nhiên.v.v Trong phương pháp này, việc phân tích số liệu được thể hiện thông qua các hàng và cột Bằng phương pháp này có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc các lĩnh vực chịu tác động như kinh tế, xã hội và môi trường, phương án được đánh giá cuối cùng qua tổng số điểm đạt được Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này chỉ mang tính tương đối vì phương pháp cho điểm phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan, kinh nghiệm và trình độ người cho điểm nên khả năng chính xác không cao

Trang 17

Gần đây Phạm Xuân Thịnh [14], Đàm Đình Hùng [8] đã đề cập đến một số tác động của dự án trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, rút ra những mặt làm được và những mặt còn tồn tại làm cơ sở định hướng phát triển ở giai đoạn hậu dự án đúc kết các kinh nghiệm của một dự án có vốn đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam, tuy nhiên các báo cáo còn nặng về mô tả các hoạt động của dự án, còn phần tác động của dự án còn mang nhiều tính chất định tính hơn là định lượng

Với một nghiên cứu khác, Lại Thị Nhu “Đánh giá tác động của dự án trồng rừng nguyên liệu ván dăm giai đoạn 1999 - 2003 của Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên”[12] có đánh giá về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, quá

trình đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở những tác động tích cực mà chưa đi sâu phân tích những tác động tiêu cực của dự án Còn trong

báo cáo đánh giá tác động của “Dự án lâm nghiệp xã hội - Sông Đà” trong

Chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Đức đối với hệ thống canh tác trên địa bàn các huyện Yên Châu Sơn La và Tủa Chùa Lai Châu do Annette Luibrand [2] thì tiến hành đánh giá dự án và tháng 2 năm 2000 thông qua phương pháp điều tra hộ gia đình Trong đó tác giả đã tiến hành đánh giá tác động của dự

án đến phương pháp canh tác của các hộ nông dân trên các loại hình sử dụng đất mà gia đình hiện có

Như vậy, đánh giá tác động dự án trên cả 3 phương diện môi trường, kinh tế và xã hội ở nước ta đã được nhiều nghiên cứu thực hiện nhưng cũng

mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển Chưa có nghiên cứu nào đưa

ra các giả thuyết tác động và các chỉ báo cũng như chỉ số tác động để đánh giá tác động của dự án tới sinh kế nông thôn vùng dự án triển khai Vì vậy việc

nghiên cứu đánh giá tác động của dự án tới sinh kế nông thôn đề xuất khuyến

nghị giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư của các dự án dựa trên cơ sở đưa ra

Trang 18

các giả thuyết tác động và các chỉ số chỉ báo tác động là việc làm cần thiết và thiết thực góp phần hoàn thiện hệ thống lý thuyết đánh giá tác động dự án

1.3 Cơ sở lý luận của đánh giá tác động dự án đến sinh kế người dân

1.3.1 Lý thuyết về sinh kế của người dân

Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai hay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó Ý tưởng về sinh

kế được định nghĩa bởi Robert Chambers vào giữa những năm 80, sau đó được phát triển hơn nữa bởi Chamber và Conway [22] vào đầu những năm

1990 Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện Theo tác giả, một sinh kế gồm có:

Những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất

và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống Một sinh kế được xem

là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên

Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ [17] Để duy trì cuộc sống hộ gia đình thường có các chiến lược sinh kế khác nhau Theo Seppala chiến lược sinh kế có thể chia làm 3 loại:

Chiến lược tích luỹ: là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng

và có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích luỹ của cải và giàu có

Trang 19

Chiến lược tái sản xuất: là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động

tạo thu nhập, nhưng ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động cộng đồng và an ninh

xã hội

Chiến lược tồn tại: là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo

thu nhập chỉ để tồn tại mà không có tích luỹ

Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững1[24]

Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện (tham vọng) của họ [16]

Sinh kế còn có thể được mô tả như tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình [21] Tiêu chí sinh kế bền

1

Sustainable livelihoods Guidance Sheets – Section 2 - DFID (Department For International Development)

Trang 20

vững gồm; an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng-xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi ro và các thay đổi đột ngột

Sinh kế bền vững có thể được mô tả là [31]

- Chống đỡ được với những thay đổi đột ngột và áp lực bên ngoài

- Không phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài (hoặc được hỗ trợ bằng cách thức bền vững về kinh tế và thể chế)

- Được thích nghi hoá để duy trì sức sản xuất lâu dài của nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Bền vững mà không làm suy yếu và ảnh hưởng tới các giải pháp sinh

Trang 21

Tính mùa vụ thì ảnh hưởng lớn đến những biến đổi trong năng suất và giá trị của nguồn vốn tự nhiên qua các năm Vậy điều gì có thể làm nên nguồn vốn

tự nhiên cho người nghèo? Điều cần thiết để đạt được mục tiêu sinh kế bền vững là phải tin và theo đuổi mục tiêu ổn định nhiều loại nguồn lực khác nhau Tuy nhiên phải đảm bảo không ảnh hưởng đến sự ổn định của môi trường (Ổn định nguồn tự nhiên và các dịch vụ của nó, như giảm khí các boníc và quản lý được sự xói mòn)

1.3.1.2 Vốn con người

Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai Nguồn nhân lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người cũng như trình độ học vấn của họ Các bộ phận đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Trong phạm vi gia đình, nguồn nhân lực là có sẵn về cả số

và chất lượng Số và chất lượng thay đổi phụ thuộc vào quy mô hộ, trình độ

kỹ năng, khả năng lãnh đạo và sức khoẻ Nó được xem là nền tảng hay phương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập Điều gì có thể tạo nên vốn con người cho người nghèo? Việc hỗ trợ nguồn nhân lực có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp Trong cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ khi con người, chính bản thân họ sẵn sàng đầu tư vào vốn nhân lực của họ bằng cách tham gia vào các khoá đào tạo hay trường học Trong trường hợp con người bị ngăn cản bởi những việc làm trái với lẽ thường (Những tiêu chuẩn xã hội hay chính sách cứng nhắc ngăn cấm phụ nữ tới trường…) thì việc hỗ trợ gián tiếp vào việc phát triển vốn con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trong nhiều trường hợp ta nên kết hợp cả hai hình thức hỗ trợ Cơ chế phù hợp nhất cho việc kết hợp hỗ trợ là thực hiện các chương trình trọng điểm Các chương trình trọng điểm có thể hướng vào việc phát triển nguồn nhân lực, đề xuất những thông tin thông qua việc phân tích các phương thức

Trang 22

kiếm sống để chắc chắn rằng các nỗ lực tập trung vào nơi cần thiết nhất Cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông tin, công nghệ

và nâng cao chế độ dinh dưỡng và sức khoẻ sẽ góp phần làm phát triển nguồn lực con người

1.3.1.3 Vốn xã hội

Vốn xã hội là những nguồn lực xã hội dựa trên những gì mà con người đề ra

để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm: Các tương tác và mạng lưới, cả chiều dọc (người bảo lãnh/khách hàng quen) và chiều ngang (giữa các cá nhân có cùng mối quan tâm), quan hệ họ hàng, bạn bè xã hội kể

cả các mối quan hệ với các tổ chức, cơ quan mà người đó có thể dựa vào để

mở rộng các giải pháp sinh kế Vốn này gồm cả việc tác động làm tăng cả uy tín và khả năng làm việc của con người, mở rộng tiếp cận với các thể chế, như các thể chế chính trị và cộng đồng cũng được coi là vốn xã hội Trong năm yếu tố cơ bản của kế sinh nhai, nguồn vốn xã hội có quan hệ sâu sắc nhất đối với sự chuyển dịch quá trình và cơ cấu Thực sự có thể là hữu ích nếu xem vốn xã hội như sản phẩm của một tiến trình hoặc cấu trúc, thông qua các mối quan hệ này các tiến trình và cấu trúc trở thành sản phẩm của nguồn vốn xã hội Mối quan hệ này đưa ra hai con đường và có thể làm cho nó phát triển hơn Trong khi việc trao quyền cho các nhóm có thể xem như một mục tiêu chính, vốn xã hội có thể được xem là sản phẩm phụ trong các hoạt động khác (tham gia nghiên cứu sự hình thành nên các nhóm để phát triển và kiểm tra các công nghệ có khả năng nâng cao đời sống của họ) Thông thường, những biến động gia tăng nguồn vốn xã hội được theo đuổi cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực khác Do đó cần gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức tiết kiệm

và tín dụng vào nguồn vốn xã hội Cũng như việc kết hợp quản lý các rủi ro cần phải dựa vào việc kết nối các hành động để hạn chế chúng

Trang 23

1.3.1.4 Vốn tài chính

Vốn tài chính thể hiện nguồn lực tài chính được con người sử dụng để hướng tới mục tiêu sinh kế của họ Định nghĩa được sử dụng ở đây không mang tính chất kinh tế mà nó bao gồm những dòng tích trữ và có thể góp phần vào việc tiêu dùng sản phẩm (Tthu nhập tiền mặt hay tiền tiết kiệm có thể sử dụng làm

vốn luân chuyển) Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu: Vốn sẵn có: tiết kiệm

là loại vốn tài chính được ưa thích vì nó không bị ràng buộc về tính pháp lý và không có sự đảm bảo về tài sản Chúng có thể có nhiều hình thức: tiền mặt, tín dụng ngân hàng, hoặc tài sản khác như vật nuôi, nữ trang Nguồn lực tài chính có thể tồn tại dưới dạng các tổ chức cung cấp tín dụng Để có sự tạo lập

rõ ràng vốn tài chính từ những dòng tiền này phải xác thực (trong khi sự đáng tin cậy hoàn toàn không bao giờ được đảm bảo có sự khác nhau giữa việc trả

nợ một lần với sự chuyển giao thường xuyên vào kế hoạch đầu tư) Chúng ta làm gì để tạo nguồn vốn tài chính cho người nghèo? Thông thường các dự án phát triển không giao tiền cho người nghèo (hỗ trợ trực tiếp vốn tài chính) Tiếp cận vốn tài chính thay vì thông qua các trung gian gián tiếp, có thể là: mang tính tổ chức như tăng hiệu quả tiết kiệm và dòng tài chính nhờ sự hỗ trợ

để phát triển hiệu quả, những tổ chức dịch vụ tài chính cho người nghèo Đến khi họ có đủ niềm tin, sự tiếp cận và sự hiểu biết rộng để họ có thể khuyến khích mọi người tiết kiệm Sự lựa chọn của người khác có thể giúp phát triển những tổ chức trợ cấp hiệu quả hơn đến người nhận cuối cùng Có tính chất

cơ quan – tăng sự tiếp cận dịch vụ tài chính, vượt qua rào cản liên đới những người nghèo với nhau (cung cấp cho họ sự bảo đảm hoặc máy móc đồng nhất

để họ có được những loại tài sản hoạt động song song nhau) Lập pháp/sự điều chỉnh – cải thiện môi trường dịch vụ tài chính để tổ chức hoặc giúp đỡ chính phủ cung cấp tốt hơn độ an toàn cho những người nghèo (như trợ cấp) Vấn đề của tính tổ chức của sự bền vững là sự gia nhập quan trọng của bộ

Trang 24

phận tài chính vi mô Trừ khi người ta tin tưởng rằng những tổ chức dịch vụ tài chính sẽ tồn tại theo thời gian và sẽ tiếp tục đưa ra lãi suất hợp lý, họ không thể giao phó tiết kiệm của họ cho những tổ chức đó hoặc tin rằng sẽ được trả nợ Khi tiết kiệm không theo một hính thức rõ ràng, đặc biệt đến nhu cầu và văn hoá của chính người sử dụng, cách thức hỗ trợ khác nhau có thể thích hợp

1.3.1.5 Vốn vật chất

Gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống ngăn, tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin… Chúng ta phải làm

gì để tạo ra nguồn vốn vật thể cho người nghèo? Trước đây DFID đã khuyến khích việc dự trữ trực tiếp hàng hoá sản xuất cho người nghèo Đây có thể là vấn đề của một số nguyên nhân: Hoạt động như một nhà cung ứng (quốc doanh?) trực tiếp hàng hoá sản xuất dẫn đến sự phụ thuộc và phá vỡ thị trường tư nhân Dự trữ trực tiếp có thể làm giảm sự tham gia cải thiện cơ cấu

và quy trình thể chế để đảm bảo những gì đạt được là bền vững và hàng hoá sản xuất được sử dụng là tốt nhất Vì vậy mục tiêu sinh kế tập trung vào việc giúp đỡ tiếp cận cơ sở hạ tầng thích hợp, những thứ giúp ích cho sinh kế của người nghèo Tiến tới việc tham gia là cần thiết để thiết lập sự ưu tiên và cần thiết cho những người sử dụng Vốn vật chất có thể là đắt đỏ, nó không chỉ yêu cầu nguồn vốn đầu tư ban đầu mà còn cung cấp tài chính cho những gì đang diễn ra và nguồn lực con người đáp ứng những hoạt động và duy trì chi phí cho dịch vụ Vì vậy, việc nhấn mạnh cung cấp một dịch vụ không chỉ đáp ứng những nhu cầu trung gian của người sử dụng mà còn phải đủ trong thời gian dài Nó không chỉ quan trọng để cung cấp sự khuyến khích cùng một lúc đến phát triển kĩ năng - năng lực để đảm bảo việc quản lý có hiệu quả của dân chúng địa phương Cơ sở hạ tầng chỉ là một loại tài sản đến mức là cải thiện

Trang 25

dịch vụ hỗ trợ một cách dễ dàng để người nghèo có thể tiếp cận với những nhu cầu của họ Ví dụ, một sự tham gia có thể đưa ra sự kìm hãm then chốt đến sinh kế của một nhóm khó khăn đưa sản phẩm ra thị trường, đặc biệt là trong suốt những mùa mưa Sinh kế để giải quyết vấn đề này không chỉ cải tiến cơ sở hạ tầng để cải thiện hệ thống nước, cống rãnh vào mùa mưa mà còn xem xét việc khuyến khích có đủ dịch vụ vận chuyển phương tiện thích hợp, chẳng hạn như xe kéo…

Tiếp cận sinh kế thì cần tập trung trước hết với con người Nó cố gắng đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người (tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh kế hữu ích

Hình 1.2: Tài sản sinh kế của người dân:[31]

Đặc điểm của 5 loại tài sản sinh kế:

Hình dạng của ngũ giác diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với các loại tài sản Tâm điểm là nơi không tiếp cận được với loại tài sản nào Các điểm nằm trên chu vi là tiếp cận tối đa với các loại tài sản

Trang 26

- Những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộng đồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó

- Chất lượng của tài sản thay đổi thường xuyên vì vậy ngũ giác cũng thay đổi liên tục theo thời gian

-

đất đai (tài sản tự nhiên) họ cũng có thể có được nguồn tài chính vì họ có thể sử dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động sản xuất trực tiếp mà còn cho thuê Tương tự như vậy, vật nuôi (tài sản hữu hình) có thể tạo ra nguồn vốn

xã hội (uy tín và sự liê

, những tài sản nào sẽ phục vụ cho nhu cầu của nhóm xã hội khác nhau

và cân bằng giữa những tài sản đó như thế nào

1.3.2 Giám sát Đánh giá tác động (IMA) và các chỉ báo

Giám sát tác động có thể liên quan tới các công cụ khác nhau, như đánh giá tác động môi trường/xã hội (dự báo) và các nghiên cứu tác động (đánh giá tác động trong quá khứ) Trong khuôn khổ của báo cáo này IMA được hiểu bao gồm 2 khía cạnh: Quan sát (giám sát) và lý giải (đánh giá) bối cảnh đang thay đổi và các ý nghĩa của dự án chỉ kết hợp hai khía cạnh đó mới có được một công cụ kiểm soát chất lượng hiệu quả trong chu trình quản lý dự án, tuy nhiên tác giả sẽ chỉ đi sâu đánh giá, tức là liên quan đến sự nhận xét chủ quan của cá nhân tác giả, chứ không đi sâu vào vấn đề giám sát

Tác động bao gồm hàm ý từ trung đến dài hạn mà một dự án có nhằm phục vụ bối cảnh và con người, tác động có thể được dự kiến (được lập kế

Trang 27

hoạch) hoặc ngoài dự kiến Khi các mong đợi được tạo ra, các bên liên quan

có thể thay đổi thái độ, v.v mà không cần dự án có bất kỳ đầu tư hoặc thực hiện bất kỳ hoạt động nào Nhưng ngay sau khi dự án được lập kế hoạch, mục tiêu và mục đích phản ánh các tác động đã được định trước Do vậy, “tác động” thường liên quan đến hiệu quả của một dự án, ví dụ thành công của dự

án góp phần đạt được mục tiêu Trong tài liệu này thuật ngữ “tác động” được

sử dụng như một thuật ngữ gốc cho toàn bộ chuỗi tác động, tác động không giới hạn mức độ mục tiêu Rõ ràng một dự án sẽ luôn định ra những tác động tích cực, nhưng cũng có những tác động tiêu cực Bên cạnh đó, các liên quan

có thể không xem xét một tác động một cách toàn diện là tích cực hay tiêu cực

Chuỗi tác động: Thuật ngữ “tác động” có những hàm ý có thể được coi là một

chuỗi, hay các thay đổi mang tính hệ quả chồng chéo Việc sử dụng các kết quả của dự án đã gợi ra ý tưởng về phạm vi rộng các tác động Do đó kết quả của việc sử dụng, các hiệu quả ban đầu (các kết quả tác động trực tiếp) có thể thấy được (ví dụ độ che phủ rừng tăng, xói mòn đất giảm…) Những hiệu quả này có thể bao hàm cả thuận lợi và bất lợi Điều này có thể khích lệ quá trình học hỏi, thái độ và các tư duy, nhận thức của người dân có thể thay đổi và các tác động xa hơn có thể xảy ra

Chỉ báo: Bối cảnh dự án rất phức tạp và để việc lập kế hoạch, giám sát và

đánh giá có thể quản lý được, cần phải đơn giản hoá sự phức tạp này Để đạt được mục tiêu này, các thành tố của bối cảnh và các tương tác được biểu tượng hoá bằng số lượng đơn giản và có thể đo được, chúng được gọi là chỉ báo Quản lý chu trình dự án chủ yếu áp dụng các chỉ báo theo 2 cách Chỉ báo đầu ra (thành tựu) giúp giám sát và đánh giá hiệu suất của dự án Chúng được sử dụng để xác định các hoạt động đã được lập kế hoạch hoặc các kết quả mong đợi có đạt được trong phạm vi thời gian và ngân sách cho phép

Trang 28

không Chỉ báo tác động được sử dụng để giám sát và đánh giá tác dụng của

dự án Các chỉ báo tác động mô tả các kết quả có ý nghĩa sâu xa hơn, được dự kiến hoặc ngoài dự kiến, tích cực hoặc tiêu cực tác động đến bối cảnh và dân

1.3.3 Chu trình dự án - Giám sát và đánh giá

Có nhiều cách đề cập đến tác động của dự án Trong khi lập kế hoạch,

dự án có thể thực hiện một cuộc đánh giá tác động xã hội và môi trường để dự đoán các tác động có thể Đến khi kết thúc dự án, một nghiên cứu tác động

có thể đánh giá được các tác động theo thời gian Vì vậy đánh giá tác động cần được lồng ghép vào chu trình quản lý dự án, như một công cụ chỉ đạo việc kiểm soát chất lượng, trong suốt chu trình hoạt động của dự án

Trong một chu trình dự án, giám sát được tiến hành trong suốt thời kỳ thực hiện dự án Trong khi đó, đánh giá dự án lại được thực hiện sau khi dự

án kết thúc hoặc một vài năm sau khi bắt đầu triển khai dự án

Dù trong bất kỳ trường hợp nào, mục đích của giám sát và đánh giá là nhằm nâng cao việc triển khai và quản lý một dự án và rút ra những bài học hữu ích cho các dự án khác, hơn là tìm kiếm sai sót hoặc chỉ trích Bởi vậy việc đảm bảo phản hồi đầy đủ các kết quả giám sát và đánh giá vào quá trình thực hiện dự án là rất quan trọng

Trang 29

Chương 2 – MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu

Nghiên cứu cần đạt được những mục tiêu cơ bản sau: i) hệ thống và phân loại được các hoạt động của dự án KfW4; ii) đánh giá được tác động dự án KfW4tới sinh kế nông thôn của người dân tại vùng dự án; iii) đề xuất các giải pháp nâng cao tính bền vững của dự án

2.2 Nội dung

Nghiên cứu đi sâu vào các nội dung sau: i) nghiên cứu điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu; ii) các hoạt động của dự án KfW4; iii) đánh giá tác động của dự án KfW4 tới sự thay đổi sinh kế của người dân

huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá (qua 5 loại vốn: vốn tự nhiên, vốn con

người, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn vật chất); các giải pháp nâng cao tính bền vững của dự án

2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Cách tiếp cận chung của đề tài

Với nhiều dự án, vì cố gắng thực hiện tất cả các hoạt động theo kế hoạch đề ra

và để đạt được kết quả mong đợi thì rất dễ đi chệch mục đích Thật vậy, trong tầm mắt của nhiều nhà tài trợ, các dự án chú trọng quá nhiều về chức năng hoạt động (hiệu quả) và không chú trọng đầy đủ đến bối cảnh (hiệu suất/tác động) Các tổ chức phát triển biện minh các hoạt động của họ dựa vào việc tác động vào bối cảnh và các dự án chứng minh thông qua hoạt động thực hiện tốt của mình Về lý thuyết cả 2 khía cạnh hoạt động và tác động đều có trong quản lý chu trình dự án Một mặt, bối cảnh được trình bày trong phần xây

Trang 30

dựng mục tiêu và mục đích tổng thể của dự án, mặt khác hiệu quả được mô tả trong kết quả mong đợi Tuy nhiên, trong thực tiễn tác động thường không được nêu ra một cách đầy đủ

Công việc giám sát tác động đánh giá phạm vi, giới hạn mà các hoạt động của dự án có thể đóng góp một cách hiệu quả vào quá trình hoàn thành các mục tiêu của dự án Hệ thống này liên quan cả cán bộ dự án, các đối tác

và nhà tài trợ

Có nhiều cách để tiếp cận trong giám sát đánh giá tác động dự án: Trước đây, tiếp cận được đi từ trên xuống, từ ngoài vào cộng đồng và theo đánh giá của các chuyên gia Hiện nay phương pháp tiếp cận có chiều hướng

đi ngược lại là tiếp cận từ dưới lên và có sự tham gia của cộng đồng

Trong khuôn khổ của nghiên cứu này cách tiếp cận chính được sử dụng

là cách tiếp cận từ dưới lên và có sự tham gia của người dân Các đánh giá của người dân về phạm vi tác động và lựa chọn các tiêu chí đánh giá sẽ được

mô hình hoátrong các cuộc thảo luận nhóm và được sử dụng trong việc xác định và thu thập dữ liệu khác có liên quan

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.3.2.1 Chọn mẫu điều tra

Tiêu chí chọn xã, hộ gia đình điều tra:

Nhân tố quyết định để lựa chọn các xã đã tham gia dự án là diện tích tham gia

dự án cũng như tổng số hộ gia đình tham gia dự án phải lớn (vì diện tích trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh của mỗi hộ gia đình không được quá khác biệt nhau)

Dự án KfW4 đang thực hiện tại 5 xã của huyện Thạch Thành là Thành Minh, Thành Mỹ, Thành Vinh, Thành Trực, Thạch Cẩm Đề tài sẽ thực hiện

Trang 31

tại 2 xã vùng dự án (mỗi xã thực hiện tại tất cả các thôn) của huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá là Thành Minh và Thạch Cẩm là 2 xã có diện tích trồng rừng lớn nhất và có nhiều hộ gia đình tham gia dự án nhiều nhất so với các xã còn lại

Số lượng mẫu điều tra:

Đối với phỏng vấn hộ gia đình đề tài sẽ chỉ thực hiện đối với khoảng 25-30%

số hộ tham gia và có các hoạt động của dự án Dựa trên tổng số hộ gia đình sẽ được phỏng vấn ngẫu nhiên ở mỗi thôn, câu hỏi về cách thức chọn lựa các hộ gia đình cụ thể được đặt ra Một mẫu đạt độ tin cậy cao đồng nghĩa với việc tất cả các hộ gia đình đều có một cơ hội ngang nhau để được nằm trong mẫu cuối cùng

Số lượng mẫu điều tra: Xã Thành Minh điều tra 133 hộ gia đình ở 3 thôn tham gia dự án là Mục Long, Cẩm Bộ, Mặc – Minh Quang Xã Thạch Cẩm điều tra 352 hộ gia đình tham gia dự án ở 5 thôn là Thạch Môn, Thạch Yến, Cẩm Lợi, Thành Quang và Long Tiến

2.3.2.2 Xử lý và phân tích thông tin thứ cấp

Các số liệu và thông tin thứ cấp về thực trạng kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu, mục tiêu, thực trạng dự án, các kết quả dự án đã đạt được… sẽ được thu thập qua nhiều kênh khác nhau như niên giám thống kế, đề án phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và các ban ngành liên quan, qua phiếu phỏng vấn lãnh đạo và người thực thi dự án Các thông tin thứ cấp này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc mô tả bức tranh chung nhất về những ảnh hưởng của dự án đến sinh kế người dân tại vùng dự án tỉnh Thanh Hoá

2.3.2.3 Điều tra, thu thập thông tin tại hiện trường

 Phương pháp PRA

Trang 32

- Hội thảo SWOT: sẽ được thực hiện đối với các cán bộ hiện trường

và lãnh đạo cơ sở để thu thập các thông tin liên quan Mỗi xã sẽ có

từ 1 đến 2 cuộc hội thảo được thực hiện

- Thảo luận nhóm: Sẽ chỉ thực hiện tại một thôn (trong 2 xã điều tra) với 1 nhóm hộ đã tham gia các hoạt động dự án

 Phiếu điều tra hộ gia đình (theo mẫu bảng câu hỏi): được thực hiện đối với khoảng 30% số hộ tham gia dự án

 Phỏng vấn bán định hướng (theo khung phỏng vấn): Sẽ thực hiện với các lãnh đạo nhóm, trưởng thôn

2.3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Phân tích định tính là phương pháp nội nghiệp rất quan trọng trong đánh giá

dự án Các số liệu thứ cấp, các phiếu phỏng vấn cấu trúc - bán cấu trúc, kết quả họp cộng đồng, kết quả hội thảo SWOT sẽ được tổng hợp lại theo các bảng biểu, theo các tần suất đồng thời so sánh để đưa ra các phát hiện, khuyến nghị

Phân tích định lượng, xử lý số liệu dự kiến sẽ dùng chương trình Microsoft Excel và SPSS để tổng hợp, tính toán

2.4 Phạm vi nghiên cứu

Dự án KfW4 được thực hiện tại 33 xã thuộc 8 huyện Tại tỉnh Nghệ An có 14

xã được chọn ở 4 huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Thanh Chương Tại tỉnh Thanh Hoá có 19 xã được chọn ở các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Vĩnh Lộc và Tĩnh Gia

Đề tài sẽ thực hiện tại 2 xã vùng dự án (mỗi xã thực hiện tại tất cả các thôn tham gia dự án) của huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá là Thành Minh

Trang 33

và Thạch Cẩm là 2 xã có diện tích trồng rừng lớn hơn và có nhiều hộ gia đình tham gia dự án hơn so với các xã còn lại

Về thời gian: Do dự án triển khai được 4 năm nên đề tài này chỉ đi sâu đánh giá những thay đổi tại năm thứ 4 của dự án để so sánh với năm bắt đầu thực hiện dự án

Về địa điểm: Do thời gian và trong khuôn khổ giới hạn của một báo cáo tốt nghiệp đề tài này chỉ thực hiện tại 2 xã (tất cả các thôn tham gia dự án) vùng

dự án thuộc huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá là Thành Minh và Thạch Cẩm là 2 xã có diện tích trồng rừng lớn nhất và có nhiều hộ gia đình tham gia

dự án hơn so với các xã còn lại

Về nội dung: Báo cáo sẽ chỉ đi sâu đánh giá các tác động của dự án tới sinh kế người dân mà không đi sâu đánh giá hiệu quả, hiệu suất và tính thích hợp của

dự án

Về phạm vi đánh giá: Đề tài sẽ đi sâu nghiên đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của dự án đến sinh kế của người dân vùng dự án, mà không đi sâu

phân tích đến ảnh hưởng nội vi hoặc ngoại vi cũng như trước mắt và lâu dài

hoặc các tác động trực tiếp và gián tiếp của dự án

2.5 Quy trình đánh giá tác động dự án

Nền móng của hệ thống giám sát tác động thường được hình thành từ giai đoạn thiết kế dự án, khi các bên có liên quan xác định cách thức giải quyết một số vấn đề gặp phải trong quá trình thực hiện dự án Các kết quả được ghi lại trong bảng ma trận kế hoạch dự án (PPM), bao gồm cả các tiêu chí phù hợp cho việc thẩm tra xác định tiến độ hoàn thành các mục tiêu

Trang 34

Hình 1.3 - Các bước trong đánh giá tác động[24]

Các bước đánh giá tác động

Bước thứ nhất: Thu hút sự tham gia của các bên liên quan và quản lý thông

tin Trong bước này cần trả lời các câu hỏi: Ai tham gia vào quá trình đánh giá tác động? Ai có thể cung cấp, ai cần những thông tin gì, bằng những hình thức nào? Thông tin sẽ được phổ cập và lưu trữ như thế nào để mọi người đều

có thể sử dụng được

Bước thứ hai: Rà soát phân tích các vấn đề Trong bước này cần trả lời những

câu hỏi: Các thành tố quan trọng nhất của bối cảnh dự án là gì? Chúng được liên kết với nhau như thế nào? Chúng có vai trò gì trong bối cảnh? Bối cảnh

có hướng tới hay đi ngược với sự bền vững hay không?

Bước thứ ba: Xây dựng các giả thuyết tác động Các câu hỏi chính cần trả lời

là: Dự án có thể cung cấp động lực gì để phục vụ sự phát triển bền vững hơn? Tác động tích cực và tiêu cực của dự án là gì?

Đánh giá

Giám sát

Bước 2: Rà soát phân tích vấn đề

Lựa chọn chỉ báo

Lập kế hoạch

Phân tích các bên liên quan

Phân tích vấn đề

Phân tích mục tiêu

Bước 3: Xây dựng các giả thuyết tác động Bước 4: Lựa chọn các

chỉ báo tác động

Trang 35

Giả thuyết về tác động sẽ được hình thành cho từng nội dung đánh giá Mỗi giả thuyết về tác động sẽ phản ánh những tiên đoán của các đối tượng có liên quan về những ảnh hưởng có thể đem lại bởi các hoạt động của dự án Hơn nữa, các giả thuyết về tác động chính là cơ sở để xây dựng và lựa chọn các tiêu chí giám sát phù hợp Một số giả thuyết về tác động của dự án KfW4 tới sinh kế người dân được dự thảo như sau: (dựa vào khung logic của dự án)

Hộp 1 - Giả thuyết: Giảm Xói mòn đất

Giả thuyết về tác động (các dự đoán, mong đợi cần được kiểm chứng) cho rằng trồng rừng trên đất trống sau một giai đoạn nhất định sẽ làm giảm dòng nước chảy và qua đó giảm sự xói mòn đất Bên cạnh các báo cáo giám sát xói mòn đất, bao gồm cả các đánh giá định tính (sự xuất hiện các rãnh, khe xói mòn, tỷ lệ lớp đất mặt bị rửa trôi và sự hình thành lớp phủ thực vật), một số câu hỏi trong các cuộc điều tra hộ gia đình ở các thôn, nhắm tới các tiêu chí gián tiếp của hiện tượng xói mòn đất như sự lắng đọng đất/đá tại các thửa ruộng,

số lần các mảnh ruộng cần phải san bằng…

Hộp 4 - Giả thuyết: Tăng kiến thức, kỹ năng

Theo giả thuyết về đánh giá tác động của dự án, sự hình thành và đào tạo dịch vụ phổ cập

và tiến hành các lớp tập huấn cho các hộ gia đình đã nâng cao năng lực quản lý rừng và khả năng quản lý tài nguyên rừng theo một cách thức bền vững của họ Dữ liệu được thu thập từ các hộ gia đình tham gia dự án cũng như các phổ cập viên và sau đó được kiểm tra chéo để xác định những cải tiến cần thiết Kỹ năng và kiến thức thu được bởi các hộ gia đình được đánh giá thông qua số liệu thống kê số người được tham gia khoá học trước khi

Hộp 2 - Giả thuyết: Giảm đất canh tác

Giả thuyết về tác động ở đây là việc trồng rừng sẽ làm giảm đi diện tích canh tác nương rẫy của người dân ở địa phương Vì khi chưa có dự án người dân thường tận dụng những khu đất trống để canh tác nương rẫy, nhằm cải thiện cuộc sống Các chỉ số sẽ dựa vào số liệu thống kê diện tích đất bình quân đầu người trước khi có dự án và sau khi dự án đã thực hiện.

Trang 36

Hộp 8 - Giả thuyết: Tăng đồ gia dụng nội thất và tăng phương tiện vận chuyển cũng như phương tiện nghe nhìn

Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, kinh tế hộ gia đình cũng dần được cải thiện Giả thuyết đặt ra là khi có thu nhập người dân sẽ chú ý đến việc mua sắm các vận dụng cần thiết trong hộ gia đình (giường tủ bàn ghế ) cũng như mua sắm các trang thiết bị nghe nhìn (đài, Tivi ) để giải trí và đương nhiên các phương tiện vận chuyển cũng sẽ được tính đến khi kinh tế phát triển Để đo được sự thay đổi cần có số liệu thống kê số lượng đồ gỗ nội thất, phương tiện nghe nhìn cũng như số lượng các phương tiện vận chuyển trong thôn

Hộp 7 - Giả thuyết: Tăng thu nhập

Do có sự hỗ trợ của dự án cho công lao động thông qua việc rút tiền hàng năm từ các sổ tiết kiệm được mở, thu nhập tiền mặt của các hộ gia đình sẽ tăng trong thời gian trước mắt Đặc biệt ngay trước mùa thu hoạch, các hộ nghèo thường phải bán tài sản của họ (các sản phẩm nông nghiệp còn non, hay gia súc) hoặc phải vay mượn hàng xóm vì khan hiếm lương thực và tiền mặt Trong thời gian trung hạn và dài hạn (10-25 năm) các hộ dân sẽ có

sự đa dạng hoá và tăng nguồn thu nhập thông qua việc khai thác các lâm sản ngoài gỗ, tỉa thưa, và khai thác gỗ

Hộp 6 - Giả thuyết: Hệ thống tổ chức của thôn bản được củng cố

Trong tình hình chưa được đảm bảo về mặt thể chế, việc xúc tiến hình thành các nhóm nông dân làm nghề rừng là yếu tố then chốt cho quản lý rừng bền vững và là một phương thức phổ cập có hiệu quả về chi phí bỏ ra Dự án hỗ trợ thành lập (nhóm hỗ trợ thôn bản; nhóm nông dân trồng rừng ) một số nhóm để hỗ trợ phát triển rừng thôn bản Chỉ số xem xét sự thay đổi này dựa vào số lượng các nhóm được hình thành sau khi triển khai dự án

Hộp 5 - Giả thuyết: Nhận thức về bảo vệ môi trường

Nhận thức về bảo vệ môi trường là rất quan trọng cho việc quản lý rừng bền vững lâu dài Nhận thức về chức năng bảo vệ của rừng (ví dụ bảo vệ nước và đất) thường tồn tại ở những khu vực mà hiện tượng suy thoái rừng khá trầm trọng và người nông dân đã bị ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực của môi trường (ví dụ trầm lắng đất ở các ruộng nông nghiệp do xói mòn) Mặc dù có những hiểu biết chung về chức năng bảo vệ của rừng, người nông dân vẫn thường xuyên có các hoạt động làm suy yếu rừng, như chăn nuôi gia súc trên đất lâm nghiệp Giả thuyết được đưa ra là sự nâng cao nhận thức về môi trường do

dự án sẽ tạo nên sự thay đổi về thái độ của những người tham gia dự án theo hướng tăng cường thực hiện các biện pháp được yêu cầu để bảo vệ rừng trồng của họ (ví dụ bảo vệ rừng khỏi hiện tượng chăn thả, phòng chống cháy rừng) Để giám sát xem sự thay đổi này

có thực sự xẩy ra hay không, nhận thức về môi trường của các hộ gia đình tham gia dự án

sẽ được xác định trong các cuộc phỏng vấn hộ gia đình

Trang 37

Bước thứ tư: Lựa chọn các chỉ báo tác động Các câu hỏi chính: Những thay

đổi trong bối cảnh là gì? Các giả định tác động nào được cụ thể hoá bộc lộ ra?

Bộ chỉ báo sẽ cho biết liệu những thay đổi giúp đạt được mục đích và mục tiêu của dự án? Có thể sử dụng các chỉ báo địa phương không? Làm thế nào

để lựa chọn số lượng chỉ báo cho phù hợp? Đánh giá tác động được chuẩn bị như thế nào?

Biểu 2.1: Các chỉ báo tác động và phương pháp xác định

Nội dung tác động tới sinh

Tự nhiên

Giảm xói mòn đất Đất bị rửa trôi tích tụ ở ruộng Bảng hỏi kết hợp với

đánh giá ngoài hiện trường

Tăng khả năng cung cấp

nước cho sản xuất Nông

nghiệp

Lượng nước cho canh tác nông nghiệp

Phiếu điều tra hộ

Tăng lượng nước sinh hoạt Mực nước của các giếng ăn Phiếu điều tra hộ

Giảm đất canh tác nương

Trang 38

Biểu 2.2: Chỉ số đánh giá tác động

Đất bị rửa trôi tích tụ ở ruộng 1 Nhiều

Phiếu điều tra hộ

Mực nước của các giếng ăn 1 Ít nước hơn

2 Nhiều nước hơn

3 Không thay đổi

Phiếu điều tra hộ

Diện tích đất canh tác nương rẫy bình

quân đầu người trước và sau khi thực

Phiếu điều tra hộ

Số lượng các hiệp hội được thành lập 1 Không thay đổi

2 Thay đổi ít

3 Thay đổi nhiều

Số liệu điều tra

Thu nhập của hộ gia đình tăng Thống kê của xã Kết hợp

với bảng hỏi

Số lượng nội thất thay đổi trong hộ

gia đình 1 Không thay đổi 2 Thay đổi ít

3 Thay đổi nhiều

Bước thứ năm: Xây dựng và áp dụng các phương pháp giám sát tác động Các

câu hỏi chính là: Các chỉ báo tác động và bối cảnh có thể được giám sát và tài liệu hoá như thế nào? Các phương pháp nào phù hợp với năng lực và phương tiện của dự án? Làm thế nào để có thể kết hợp các phương pháp một cách tốt nhất?

Trang 39

Bước thứ sáu: Đánh giá tác động Bối cảnh đã thay đổi như thế nào dưới con

mắt những bên liên quan khác nhau? Họ rút ra được gì từ những thay đổi này? Những bài học rút ra cho thấy dự án có khích lệ các quá trình xã hội quan trọng không? Sự liên kết giữa quá trình này và mục đích phát triển là gì? Các quá trình nào cần được củng cố một cách cụ thể trong tương lai?

Trang 40

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KT-XH KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Huyện Thạch Thành nằm ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hoá, phía bắc giáp huyện Nho Quan (tỉnh Ninh Bình), phía tây giáp huyện Cẩm Thuỷ và huyện Bá Thước, phía nam giáp huyện Vĩnh Lộc, phía đông giáp huyện Hà Trung Theo điều tra thổ nhưỡng của Sở TN-MT (Ðịa chính), phần lớn đất ở đây rất thích hợp cho phát triển cây công nghiệp, đây là tiềm năng thế mạnh của Thạch Thành trong quá trình phát triển kinh tế Ngoài ra, Thạch Thành còn có mạng lưới giao thông thuận lợi với tuyến đường quốc lộ 45, tỉnh lộ 7 nối các huyện trong tỉnh, đi thị xã Bỉm Sơn, huyện Hà Trung, huyện Vĩnh Lộc, huyện Cẩm Thuỷ, tạo điều kiện cho Thạch Thành giao thương với các huyện trong tỉnh và

cả nước Ðặc biệt, với tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua vùng đệm của Vườn Quốc gia Cúc Phương và được Bộ Giao thông Vận tải xác định là “điểm nghỉ chân” đã tạo cho Thạch Thành lợi thế phát triển thương mại - dịch vụ và du lịch sinh thái

3.1 Xã Thành Minh

Là xã vùng cao của huyện Thạch Thành, với tổng diện tích tự nhiên 3.341,33

ha Thành Minh có nhiều tiềm năng đất đai thuận lợi trong việc phát triển kinh

tế Toàn xã có 13 thôn trong đó có 4 thôn tham gia dự án là Mỹ Đàm, Minh Quang, Mục long, Cẩm Bộ

Mặc-Sản xuất nông nghiệp đã từng bước phát triển, cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển đổi phù hợp với điều kiện của địa phương Là xã đang được Chính phủ đầu tư theo chương trình 135, kinh tế đi dần vào thế ổn định

Ngày đăng: 15/05/2021, 21:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w