Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác. Triết học được xem là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học Phương Tây nói chung và Triết học Phương Tây từ cổ đại đến cận đại là một bộ phận quan trọng trong hệ thống triết học thế giới. Đối tượng của triết học phương Tây nói chung ngoài phần siêu hình học bàn về những ý niệm trừu tượng như bản thể, ý thức, hư vô... còn lại là những hành trình vào các vấn đề cụ thể có liên quan tới con người như cảm giác, nhận thức, ký ức, hạnh phúc, đạo đức…. Các vấn đề về con người như con người tri thức thế giới xung quanh như thế nào, vai trò của con người trong quá trình nhận thức như thế nào… hay những vấn đề và xã hội như quan hệ giữa cá nhân và xã hội, ai quan trọng hơn, đạo đức là vấn đề xã hội hay vấn đề cá nhân, quan hệ giữa cá nhân và nhà nước… là trọng tâm trong quan điểm của các triết gia phương Tây.
Trang 1HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỌC PHẦN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
THẾ GIỚI TIỂU LUẬN NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA CÁC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HY LẠP – LA MÃ CỔ
Trang 3trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận, tạo cho em những hiểu biết
thêm về kiến thức thực tế
Mặc dù đã có những cố gắng trong suốt quá trình thức hiện đề tài,
song có thể còn những mặt hạn chế thiết sót Em rất mong nhận được ý
kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giảng viên
và bạn bè
tháng 01 năm 2020
Nguyễn Thị Tường Vi NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN Đánh giá:………
……….
……….
……….
………
Trang 4 Nhận xét:………
………
………
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020
TS Công Thị Phương Nga
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài :
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiệnvào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác Triết học được xem là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Triết học Phương Tây nói chung
và Triết học Phương Tây từ cổ đại đến cận đại là một bộ phận quan trọng trong hệ thống triết học thế giới
Đối tượng của triết học phương Tây nói chung ngoài phần siêu hình học bàn về những ý niệm trừu tượng như bản thể, ý thức, hư vô còn lại là những hành trình vào các vấn đề cụ thể có liên quan tới con người như cảm giác, nhận thức, ký ức, hạnh phúc, đạo đức… Các vấn đề về con người như con người tri thức thế giới xung quanh như thế nào, vai trò của con người trong quá trình nhận thức
Trang 6như thế nào… hay những vấn đề và xã hội như quan hệ giữa cá nhân và xã hội, ai quan trọng hơn, đạo đức là vấn
đề xã hội hay vấn đề cá nhân, quan hệ giữa cá nhân và nhà nước… là trọng tâm trong quan điểm của các triết giaphương Tây
Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và những đặc điểm cơ bản của từng giai đoạn phát triển triết học phương Tây là cơ sở để làm rõ được những thành tựu và giá trị tư tưởng mà triết học phương Tây đóng góp cho sự phát triển của nhân loại
Từ các vấn đề cần nghiên cứu nói trên, tác giả nghiên cứu
đề tài : “ Những giá trị cơ bản của các tư tưởng
chính trị triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại ” Trong
quá trình làm bài tiểu luận, em đã kết hợp những kiến thức được học cũng như là qua quá trình nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu Tuy nhiên do kiến thức của em có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy em kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô cùng các bạn để bài làm của em được tốt hơn
2 Mục đích nghiên cứu đề tài :
Trang 7Về mặt lý luận : Đề tài nhằm góp phần tổng kết, đưa ra những quan điểm chung của triết học ở Hy Lạp và La Mã
cổ đại, đồng thời đánh giá những giá trị tích cực cũng như hạn chế của triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại
Về mặt thực tiễn : Đề tài góp phần tổng hợp và đưa đến những giá trị lịch sử qua quá trình nghiên cứu, nhằm xem xét những vấn đề cơ bản nhất, nguồn gốc nhất cho nền triết học toàn thế giới nói chung qua các thời kì, và đặc biệt là ở Hy Lạp và La Mã cổ đại nói riêng
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu :
Lấy cơ sở từ những kiến thức chung về đặc điểm của triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại và những vấn đề trong quá trình hình thành và phát triển triết học phương Tây, cùng các vấn đề khác để nghiên cứu các vấn đề trong đánh giá giá trị và hạn chế triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại
4 Phương pháp nghiên cứu :
Sử dụng phương pháp : phân tích, tổng hợp, đánh giá , bài tiểu luận đã sử dụng các phương pháp trên để tìm kiếm, phân tích vấn đề
5 Bố cục của bài tiểu luận gồm 3 chương
Trang 8 Chương I : Khái quát lịch sử triết học Hy Lạp Và
Trang 9CHƯƠNG I/ KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC HY-
đại chỉ thật sự bắt đầu từ thế kỉ thứ VIII trước công
nguyên Về dân cư,
Hy Lạp cổ đại gồm nhiều tộc người, trong đó có bốn tộc người chử đạo:
Người Eolieng chủ yếu cư chú ở bán đảo Ban căng và một phần Trung
bộ vùng đồng bằng Bêoxi; người Ionieng cư trú ở vùng đồng bằng Attich
vùng ven biển phía tây Tiểu Á; người Akeang ở vùng bán đảo
Penoponedo và người Doniengo Bắc bán đảo
Penoponedo, đảo Gret và
các đảo khác ở Nam biển Êgie
Xã hội Hy Lap cổ đại phát triển khá điển hình với phương thức sản xuất
CHNL Khỏng thế kỷ VI-IV trước công nguyên, xã hội
CHNL Hy Lạp
Trang 10phát triển đến mức hoàn thiện với hai trung tâm kinh tế- chính trị là
bang Aten và thành bang Spas
Tại thành bang Aten, với thể chế chính trị Chủ nô dân chủ điển hình,
tầng lớp chủ nô dân chủ chiếm ưu thế, nề kinh tế phát triển, đặt biệt là
nền văn hóa Aten rất phát triển Còn lại là thành bang Spas lại được tổ
chức theo mô hình thể chế chính trị chủ nô quý tộc điển hình, tầng lớp
chủ nô quý tộc chiếm đa số, nên Spas là thành bang bảo thủ về chính trị,
lạc hậu cả về kinh tế và kém phát triển về văn hóa
Chính do có sự khác nhau về thể chế chính trị như vây, nên cuộc nội
chiến tương tàn xảy ra kéo dày hàng mấy thể kỷ Sự xân lược Hy Lạp
của đế chế Maxedoan dã làm cho chế độ chính trị- nhà nước chủ nô dân
chủ và chủ nô quý tộc bị sụp đổ, để rồi đến thế kỷ thứ II trước công
Trang 11nguyên (146) , Hy Lạp bị đé quốc La Mã thôn tính.
Lịch sử thật sự của thời kì cổ đại La Mã kéo dài thừ thế kỷ
IV trước công
nguyên đến thế kỷ V sau công nguyên
Lịch sử La Mã có thể chia thành hai thời kì lớn: Thời kỳ cộng hòa và Thời kỳ đế chế (quân chủ)
2: Hoàn cảnh ra đời của triết học Hy -La cổ đại.
Tương ứng với sự phát triển của lich sử cổ đại Hy Lạp và
vừa chứa đựng những yếu tố bảo thủ
3: Những đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại.
Triết học Hy Lạp cổ đại được coi là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại và là một trong những điểm xuất phát của
Trang 12lịch sử triết học thế giới Nền triết học này có những đặc điểm sau :
Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý
thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị Nó là công cụ lý luận để giai cấp chủ nô duy trì trật tự
xã hội, củng cố vai trò thốn trị xã hội
Hai là, trong triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối
lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật – duy tâm, biện chứng siêu hình, vô thần – hũu thần Trong đó điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của
Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của Planton, giữa trường phái siêu hình của Pácmênít và trường phái biện chứng của Hêraclít, v.v
Ba là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa
học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy
ra trong nó Do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự
nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà chỉ mới nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể, để có cái nhìn tổng quát về thế giới Vì vậy, các nhà triết học còn đồng thời còn là các
Trang 13nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên, để rút ra những kết luận triết học.
Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng nên phép biện
chứng chất phác Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện,
để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân
lý Họ đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng, nhưng chưa trình bày thành hệ thống lý luận chặt chẽ
Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người Các
nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con người, tìm cách lý giải về vấn đề quan
hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội Mặc dù còn nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia Hy Lạp đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa
Trang 14CHƯƠNG II/ NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC HY – LA CỔ ĐẠI.
II.1: Phân tích những giá trị tích cực và hạn chế của triêta học Hy – La cổ đại.
Triết học Hy Lạp cổ đại là một thời kỳ phát triển rực rỡ củatriết học nhân loại với nhiều thành công rực rỡ Tuy nhiên,bên cạnh những thành công rực rỡ triết học Hy Lạp cổ đại vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Sau đây, chúng ta đánh giácác mặt tích cực và hạn chế của triết học duy vật Hy Lạp
cổ đại qua một số nhà triết gia nổi tiếng
II.1.1 : Triết học tự nhiên của trường phái Milê :
Cuộc tranh luận đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ đại xoay quanh vấn đề “thế giới bắt đầu từ đâu và hướng (quay) vềđâu?”, nói cách khác, đó là cuộc tranh luận về bản
nguyên thế giới, tức cơ sở ban đầu, căn nguyên phát sinh
mọi sự vật, hiện tượng, hay nói như Talét, là cái mà từ đó
mọi thứ sinh ra và trở về Đi tìm “cái ban đầu”, viên gạch đầu tiên xây nên tòa lâu đài vũ trụ, đã tạo nên các cách lýgiải khác nhau về bản nguyên thế giới Tinh thần tranh luận quyết liệt ngay trong vấn đề đầu tiên này đã cho thấy khát vọng khám phá và chinh phục thế giới của
người Hy Lạp, tiêu biểu cho phong cách tư duy phương
Trang 15Tây trong lịch sử phát triển của nó Sự vượt qua và điều chỉnh nhau giữa các triết gia, xét cho cùng, cũng chỉ
nhằm biểu thị giới hạn và triển vọng hiểu biết của con người
Trường phái triết học Milet là trường phái của các nhà triếthọc đầu tiên xứ Lonie, một vùng đất nổi tiếng của Hy Lạp.Nằm chạy dài trên miền duyên hải Tiểu Á, nằm giữ huyết mạch giao thông, là cửa mở đi về phương Đông, và là
trung tâm kinh tế, văn hóa của thời kỳ chiếm hữu nô lệ Nơi đây được xem là quê hương của nhiều trường phái triết học của triết gia nổi tiếng
Trường phái này do ba nhà triết học lập nên như: Thales, Anaxi-mène và Anaximandes Đóng góp quan trọng nhất của trường phái này là đã đặc nền móng do sự hình thànhcác khái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổxung và làm phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh của các mặt đối lập v.v… Một điều đáng quý nữa là các triết gia đã xuất phát từ thế giới để giải thích thế giới, khẳng định thế giới xuất phát từ một thời nguyên vật chất duy nhất
II.1.1.1 : Talet ( 624 – 547 tr.CN)
Trang 16Giá trị tích cực trong triết học của Talet : Quan niệm
triết học của ông giới thiệu thế giới tuy còn thô mạc,
nhưng đã có ý nghĩa vô thần, chống lại thế giới quan tôn giáo đương thời và chứa đựng những yếu tố biện chứng tựphát
Những hạn chế trong triết học của Talet : ông được
gọi là triết học đầu tiên, toán học đầu tiên, thiên văn học đầu tiên, song nhà khoa học đầu tiên này chưa thể thoát khỏi ảnh hưởng của quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thủy.Điều này thể hiện ở chỗ, ông cho rằng thế giới đầy dẫy những vị thần linh và khi không thể giải thíchđược hiện tượng từ tính của nam châm thì ông khẳng địnhrằng nó là linh hồn Ông sử dụng các yếu tố vật linh
thuyết, vật hoạt luận làm chỗ dựa cho quan điểm của mình, như điều kiện cần thiết để dung hòa với thói quen truyền thống Đặc tính vật lý của nước được nâng lên cấp
độ thần linh Thế giới chứa đầy thần linh Nước và tất cả những gì phát sinh từ nước đều có linh hồn, có thần tính Mặt trời làm cho nước bốc hơi thì được Talét giải thích một
cách ngây thơ, mộc mạc rằng Mặt trời cần nước để tồn tại
! Nhưng khi có người hỏi “nước do đâu mà có ?”, thì sự chông chênh trong lý lẽ của Talét bộc lộ ngay
Trang 17II.1.1.2 : Anaximăngđơ (khoảng 610 - 546 TCN)
Giá trị tích cực trong triết học Anaximăngđơ : Đó là
quan niệm ngây thơ về nguồn gốc sự sống, song trong cái
vẻ nghèo nàn, trừu tượng này đã thể hiện những đột phá táo bạo về thế giới quan,: lần đầu tiên trong triết học cổ đại Hy Lạp Anaximăngđơ đã cố gắng giải thích thế giới từ nguyên nhân tự thân, gạt bỏ yếu tố vật linh thuyết, vật hoạt luận, đưa ra tư tưởng biện chứng tự phát về tính phổ biến của vận động, biến đổi, sự thống nhất các mặt đối lập, về quá trình thành sự sống từ thế giới vô cơ, con
người từ loài vật
Những hạn chế trong triết học Anaximăngđơ : cũng
như Talet, triết học của Anaximăngđơ chịu ảnh hưởng củacác quan niệm thần thoại và tôn giáo, khẳng định điểm tận cùng giới hạn của thế giới, mọi sinh vật theo ông đều sinh ra từ apâyrôn và có lỗi lầm với nhau, những lỗi lầm của chúng phá vỡ các chuẩn mực và giới hạn của chúng Mọi cái cuối cùng đều trở thành apâyrôn Theo nghĩa này,apâyrôn trở thành một cái ít nhiều mang tính thần bí
II.1.1.3 : Anaximen (588 - 525 tr.CN)
Trang 18Những giá trị tích cực và hạn chế của triết học
Anaximet : cũng như hai nhà triết học trên, những quan
điểm của ông vẫn mang nặng tính ngây thơ, chất phác, nhưng nó phần nào cũng có giá trị nhất định trong thời kì đó
II.1.2 : Hêraclít (Heraclitos) - “mọi thứ đều tuôn chảy” :
Những giá trị tích cực trong triết học Hêraclít : triết
học của ông là triết học duy vật, ông cho rằng thế giới là
do vật chất sinh ra và dạng vật chất đầu tiên đó là lửa Ông đã nêu rõ tính thống nhất của thế giới và sự vận
động vĩnh viễn của vật chất Ông cho rằng nhận thức
được bắt đầu từ cảm tính : mắt và tai, nhưng mắt là nhânchứng chính xác hơn tai Ông đã đi tìm bản chất của tinh thần không phải là ở ngoài vật chất mà chính là ở trong thế giới vật chất; giá trị ấy có tính định hướng cho việc tìm bản chất đích thực của đời sống tinh thần
Hêraclít đã đưa triết học duy vật cổ đại tiến lên một bước mới với những quan điểm duy vật và những yếu tố biện chứng Học thuyết của ông sau này đã được các nhà triết học cận đại hiện đại kế thừa Mỗi nhà triết học từ lập
Trang 19trường triết học của mình đã tiếp cận và đánh giá khác nhau về triết học Hêraclit Ông là đại biểu xuất xắc của phép biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại.
Những hạn chế trong triết học Hêraclít : Quan niệm
của ông không thể tránh khỏi những hạn chế của những nhà triết học thời trước đó là sự ngây thơ, chất phác, cảm tính trong những quan niệm của mình.Ông còn có những sai lầm về mặt chính trị Đó là tính chất phản động, thù địch với nhân dân, với thường dân, đem một số người mà ông gọi là ưu tú đối lập với quần chúng nhân dân, và ông chủ trương phải dùng chính quyền để dập tắt nhanh
chóng phong trào dân chủ
II.1.3 : Thuyết nguyên tử của Lơxíp, Đêmôcrít,
Epiquya.
Nguyên tử luận là chương mới trong triết học tự nhiên
của Hy Lạp cổ đại, do Lơxíp (Leucippos, 500 - 440 TCN)
sáng lập, Đêmôcrít (Democritos, 460 - 370 TCN) phát
triển, Vào thời kỳ Hy Lạp hóa Epiquya (Epicuros, 342/341
-271/270 TCN) điều chỉnh và nhân bản hóa theo xu hướng thống nhất với duy cảm luận, chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa khoái lạc
Trang 20II.1.3.1 : Lơxíp (500 – 440 tr.CN) :
Những giá trị tích cực của triết học Lơxip : Ông là
người đầu tiên nêu lên học thuyết nguyên tử, đã đưa triết học Hy Lạp cổ đại lên một tầm cao mới Mà giá trị của họcthuyết nguyên tử vẫn còn đến ngày nay
Những hạn chế trong triết học Lơxip : tuy học thuyết
của ông là một tiên đoán tuyệt vời, nhưng ông cũng
không thể tránh khỏi những hạn chế của các nhà triết họctrước đó, do trình độ khoa học thời kì này còn thấp Triết học của ông vẫn còn mang nặng tính chất phác, thô sơ
II.1.3.2 : Đêmôcrít ( 460 – 370 tr.CN)
Những giá trị tích cực trong triết học Đêmôcrít :
Với những thành tựu rực rỡ của mình, Đêmôcrít đã đưa chủ nghĩa duy vật lên một đỉnh cao mới Học thuyết
nguyên tử của ông là một tiên đoán thiên tài mà cho đến nay nó vẫn giữ nguyên giá trị, các nhà khoa học hiện đại
đã chứng minh một số quan điểm của ông là đúng.Ngoài
ra quan điểm về nguồn gốc vũ trụ cũng có một số giá trị nhất định Tuy nhiên dưới ánh sáng của khoa học, thì
quan niệm của Đêmôcrít là sai lầm, nhưng nó đã góp
phần chống lại thế giới tôn giáo, duy tâm đang thống trị thời kì đó Quan điểm về vận động của ông cũng là một
Trang 21phán đoán có giá trị đặc biệt Theo đó ông đã đi tìm
nguồn gốc của sự vận động ở trong chính thế giới vật
chất Đây là một quan niệm đúng đắn mà sau này các nhàtriết học Macxit đã công nhận
Quan điểm quyết định luận cũng là một quan điểm của ông có giá trị đã đóng góp cho nền triết học Hy Lạp cổ đại Quan điểm này đã chống lại quan điểm mục đích
luận, thế giới quan duy tâm và tôn giáo Về quan điểm nguồn gốc của con người cũng có giá trị nhất định Nó cũng chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Ông đã đưa lý luận nhận thức duy vật lên một bước mới, khác với các nhà triết học trước, Đêmôcrit không phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hóa vai trò của lý tính Đây cũng là một quan điểm đúng đắn mà sau này các nhàtriết học Macxit cũng công nhận Ngoài ra, các quan điểm của ông còn có vai trò quan trọng trong chủ nghĩa vô
thần, đó là những quan điểm về nguồn gốc, phủ nhận sự tồn tại của thần linh
Những hạn chế của triết học Đêmôcrít :
Tuy có nhiều thành tựu rực rỡ, nhưng triết học của
Đêmôcrít vẫn có nhiều hạn chế không thể tránh khỏi
Triết học của Đêmôcrít vẫn thể hiện tính thô sơ, chất