1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động và sự phụ thuộc của người dân đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên và di tích vĩnh cửu tại xã phủ lý, huyện vĩnh cửu, tỉnh đồng nai

93 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 899,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, các nguyên tắc được lập ra trong công tác quản lý tài nguyên thiênnhiên và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia năm 1992-1996 là “Khuyếnkhích người dân cộng tác với Chính

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Bùi Minh Tân

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG VÀ SỰ PHỤ THUỘC CỦA NGƯỜI DÂN ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

VÀ DI TÍCH VĨNH CỬU TẠI XÃ PHÚ LÝ, HUYỆN VĨNH CỬU,

TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Học viên: Bùi Minh Tân Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS.Vũ Nhâm

Hà Nội, 2009

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nhiều thập kỷ qua, thế giới đã nhận thấy rằng, các KBTTN và VQG

có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và mang lại lợi ích chotoàn xã hội Các KBT là nơi lưu trữ các vật liệu thiên nhiên cho sự phát triển củacác ngành y tế, nông nghiệp và lâm nghiệp; đồng thời gìn giữ các chức năng tựnhiên của hệ sinh thái, bảo vệ đất đai, điều hòa khí hậu, giúp con người được sốngtrong bầu khí quyển trong lành Mặc dù các KBT có tầm quan trọng như vậy,

nhưng quản lý các KBT đó đang gặp rất nhiều khó khăn từ phía các cộng đồng địaphương, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [22]

Là một nước nhiệt đới với 3/4 diện tích đất đai là đồi núi, trong đó có rừng,Việt Nam rất giàu có về đa dạng sinh học Nguồn tài nguyên này không những cóvai trò quan trọng đối với toàn xã hội, có ý nghĩa quốc gia, mà còn là nguồn sinh

kế chủ yếu của con người từ bao đời, đặc biệt đối với các cộng đồng sống trong vàgần rừng Từ năm 1962 đến 2002, Việt Nam đã thành lập một hệ thống các khu

RĐD, gồm có 105 KBTTN và VQG Hầu hết các KBTTN và VQG này nằm ởvùng núi và là nơi có các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống Vì vậy, để ngăn

chặn những tác động bất lợi tới TNR và tham gia vào bảo tồn đa dạng sinh học,các KBTTN và VQG đều phải xây dựng một diện tích bao quanh để bảo vệ, gọi làvùng đệm [13]

Đối với người dân địa phương sống trong và gần rừng, việc thành lập các

KBTTN và VQG luôn có xu hướng làm thay đổi lớn tới cuộc sống của họ Bắt đầu

từ những thay đổi về vị trí nhà ở, về thói quen chiếm hữu đất đai canh tác, nguồnsản phẩm sẵn có ở rừng, dẫn tới nhiều thay đổi khác về tập quán canh tác, sinh kế,

văn hóa TNR, nguồn sống chủ yếu của người dân vùng núi bao đời nay dườngnhư không còn là của họ Trong khi đó, các sinh kế tạo nguồn thu nhập khác chưa

bù lại được sự thiếu hụt lớn lao này Chính vì vậy, đã gây ra mâu thuẫn giữaKBTTN, VQG và các cộng đồng địa phương Khi chưa tìm được tiếng nói chung

Trang 3

đối với việc bảo tồn TNR thì việc tồn tại những tác động bất lợi của người dân vào

rừng như là một tất yếu [13]

KBTTN và DT Vĩnh Cửu được thành lập muộn hơn so với các KBT kháctrong cả nước Ngày 01/01/2005, UBND tỉnh Đồng Nai quyết định thành lậpKBTTN và DT Vĩnh Cửu trên cơ sở của Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu với tổngdiện tích 68.173,6 ha Do vị trí nằm ở vùng địa hình chuyển tiếp từ phía Nam dải

Trường Sơn qua Đông Nam Bộ xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long Do vậy,

hệ động thực vật rừng phong phú ở đây có quan hệ chặt chẽ với hệ động thực vậtcủa dãy Trường Sơn Nam và miền Đông Nam Bộ Việc thành lập KBT với chức

năng bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo tồn quần thể cây họ Sao Dầu đặc trưng của

miền Đông Nam Bộ, bảo đảm tác dụng phòng hộ cho thủy điện Trị An, phòng hộ

từ xa cho tỉnh công nghiệp Đồng Nai Ngoài ra, KBTTN và DT Vĩnh Cửu nối liềnvới VQG Cát Tiên làm thành vùng sinh thái rộng hơn 130.000 ha và là môi trườngsinh sống cho các loài động vật rừng [25]

Do lịch sử hình thành, KBTTN và DT Vĩnh Cửu nằm trên địa bàn 3 xã Mã

Đà, Hiếu Liêm, Phú Lý, với số hộ sống trong vùng lõi là 908, số hộ sống ở vùngđệm là 4.507 hộ Tình hình phân bố dân cư như vậy gây khó khăn rất lớn cho công

tác QLBVR [25] Mặc dù nhà nước đã triển khai nhiều chương trình dự án để tạocông ăn việc làm, nâng cao đời sống người dân trong hoạt động sản xuất kinhdoanh, bảo vệ rừng, nhưng ngần đó chỉ giải quyết tạm thời trong một thời giannhất định Dự án ĐCĐC đồng bào dân tộc xã Phú Lý đã hoàn thành (2002) nhưngkhông phù hợp với phong tục tập quán, người dân lại vào rừng lấn chiếm đất làmnhà, canh tác trái phép Nhìn chung các chương trình, dự án chưa giải quyết đượcvấn đế cơ bản đời sống của người dân Vì vậy, việc tác động trái phép vào rừngvẫn tiếp tục xảy ra và dẫn đến làm suy giảm TNR

Các ngành, các cấp của tỉnh Đồng Nai quan tâm đầu tư cho công tácQLBVR đã cơ bản ngăn chặn nạn phá rừng, nhưng việc xâm hại rừng lén lút vẫnxảy ra Câu hỏi đặt ra là những nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng đó? Và có thể

có giải pháp nào làm giảm thiểu được những tác động bất lợi của người dân địa

phương tới TNR của KBTTN và DT Vĩnh Cửu hay không?

Trang 4

Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên c ứu

tá c động và sự phụ thuộc của người dân đến tài nguyên rừng Khu Bảo tồn thiên

nhiên và Di tích V ĩnh Cửu tại xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” Giả

thuyết chính được đặt ra cho đề tài này là sự tác động của cộng đồng có thể manglại giải pháp hữu hiệu về mặt quản lý rừng cũng như nâng cao đời sống của cộng

đồng vốn phụ thuộc vào TNR; ngược lại cũng có thể đem lại một kết cục là tài

nguyên bị suy giảm cả chất và lượng Theo đó, chiều hướng, hình thức và mức độ

tác động phụ thuộc vào các điều kiện bối cảnh và quan hệ hai chiều giữa người

dân và TNR Để có đủ cơ sở lý luận khoa học, đề tài này cố gắng thực hiện việcnghiên cứu một cách có hệ thống ở một trường hợp cụ thể của một cộng đồng và

đặt nó trong bối cảnh quản lý chung của tỉnh, huyện và BQL KBT Chúng tôi hy

vọng rằng, cách đặt vấn đề này có thể cung cấp các thông tin thiết yếu để làm nềntảng xây dựng những giải pháp phù hợp trong việc quản lý và phát triển hệ sinhthái rừng tự nhiên theo hướng bền vững và ổn định, phát huy và khai thác hếtchức năng có lợi do chúng mang lại

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến việc thành lập KBTTN và VQG

Sau nhiều thập kỷ, rừng trên thế giới bị xâm hại dẫn đến diện tích bị thuhep, chất lượng bị giảm sút Cộng đồng thế giới đã có nhiều biện pháp bảo tồn vàcông tác bảo tồn rừng đã trở thành vấn đề bức xúc Những qui định về pháp luậtngày càng hoàn thiện, công tác đầu tư phương tiện, thiết bị, con người được quantâm Mặc dù cũng rất cố gắng nhưng rừng vẫn bị tàn phá ngày càng tăng

Diện tích rừng trên thế giới vào cuối thập kỷ 20 vào khoảng 4,06 tỷ ha,chiếm khoảng 32% diện tích tự nhiên toàn thế giới Phân bố theo vùng nhiệt đới và

ôn đới như sau [16]:

Bảng 1.1: Phân bố rừng theo vùng nhiệt đới và ôn đới

Diện tích

tự nhiên (triệu ha)

Diện tích rừng (triệu ha)

Diện tích %

Các nước nhiệt đới 5.790 1.730 42,60

Các nước ôn đới 6.970 2.330 57,40

Sự suy giảm độ che phủ trong vòng 10 năm (1980 - 1990), nếu lấy mốc độche phủ của năm 1980 là 100% thì độ che phủ đã thay đổi như sau: các nước đangphát triển là 95,3%; các nước phát triển là 101% và chung toàn cầu là 98,2% [16]

Trang 6

dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở

tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định [21]

Tuy vậy, các KBT đều được thiết lập chủ yếu vì mục đích quốc gia, mà ítnghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương Dựa trên mô hìnhcủa Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc

ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR Phương

thức này gọi là biện pháp “rào và phạt” Tại các nước Đông Nam Á, phương thứcnày tỏ ra không thích hợp, vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa

phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi ấy sự phụ thuộc của họ

vào rừng là rất lớn [18]

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã trởthành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những nămgần đây Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc tế về Môi trường vàPhát triển bền vững ở Rio De Janeiro (Brasin), vấn đề này đã chính thức đượccông nhận, các chính phủ đã đưa ra một kế hoạch hành động cải thiện sinh kế của

người dân trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và

các loại tài nguyên thiên nhiên khác [11]

Trang 7

1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của người dân trong các KBTTN và VQG

Trên thế giới, các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn của cácKBT và VQG khẳng định rằng, để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản

lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hóa của người dân địa phương ỞKakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG

một cách hợp pháp mà còn được thừa nhận là chủ rừng của VQG và được tham gia

quản lý thông qua các đại diện của họ trong BQL Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫntồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [9], [16]

Ở Châu Á, sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo tồn đa

dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả Lý do để khuyếnkhích sự tham gia này là nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng rakhỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diệnquản lý TNR và kinh tế xã hội Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của

họ đến một nơi mới chẳng khác nào “bắt cá khỏi nước” và khi đó lực lượng khác

có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ Người dân địa

phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các

thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyênnày [18]

Ở Thái Lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60%nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26% Hơn 170.000 km2 rừng bị tàn phá

Năm 1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái Lan thành lập các KBT để bào vệ

diện tích rừng còn lại Điều này đã dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địa

phương với các BQL Một thử nghiệm của dự án “Quản lý rừng bền vững thông

qua sự cộng tác” thực hiện tại khu Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ở

Đông Bắc Thái Lan đã được tiến hành Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản

lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt

là phải bao gồm cả việc phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm

tăng thu nhập của họ (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên [21])

Trang 8

Theo đó, các nguyên tắc được lập ra trong công tác quản lý tài nguyên thiênnhiên và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia năm 1992-1996 là “Khuyến

khích người dân cộng tác với Chính phủ trong bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

thông qua việc đề cao vai trò của các tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ, từ

trung ương đến địa phương; trong việc quyết định các dự án quản lý tài nguyên

thiên nhiên cũng như trong việc theo dõi, giám sát và đánh giá thành công của dự

án này” Nhận rõ sự cần thiết phải xem xét điều kiện kinh tế xã hội xung quanh

KBT, các nhà quy hoạch quản lý đã bắt đầu đề xuất và thiết lập các vùng đệm để

ngăn chặn sự xâm hại từ bên ngoài vào các KBT [18]

Tại Nepan, Apple G.B và Gilmour D.A (1987) khi nghiên cứu kinh nghiệmtác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nepan đã hình thành mốiquan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi Tác giả chorằng, các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh Sự bềnvững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dưới bất

cứ các dạng che phủ thực vật nào [26]

Ở Philippines, chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nêu rõ rằng:

“Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo đảm

rằng, các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọiquyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập

kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học” [18]

Theo Peluso (1986), tại Indonesia đã công bố một bản tóm tắt các kết quảcủa việc nghiên cứu về lâm nghiệp xã hội (LNXH) tại 12 điểm dự án ở Java vàSulawesi Các ảnh hưởng qua lại giữa đất và rừng của nhà nước như: rừng sảnxuất, rừng trồng, rừng tự nhiên đều đã được nghiên cứu Sản phẩm là những mặthàng sinh lời được và khó quản lý đối với cơ quan lâm nghiệp nhưng có giá trị tolớn đối với nhân dân địa phương Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ởIndonesia cũng ghi nhận rằng: “Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặcbiệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạngsinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiến quyết

đối với việc thục hiện kế hoạch [18], [26]

Trang 9

Bink Man (1988) trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết vềlàng Ban Pong, tỉnh Risaket (Thái Lan) đã chỉ ra rằng, các tầng lớp nghèo phải phụthuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như củi đun vàhoa quả trong rừng Tuy nhiên, đây là một minh họa rất cần thiết cho việc người

dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển

[26]

Colfer C.P (1980) trong tác phẩm: “Thay đổi và nông lâm kết hợp bản địa”tại Đông Kalimamtan, qua mô tả việc đi thu hái lâm sản phụ, tác giả đã nhận địnhrằng, những sản vật ấy được coi như là những mặt hàng không phải trả tiền, aicũng có thể thu lượm được Thế nhưng, những quyền đó không được quy định cụthể, nó đã trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng gỗ làm nhà, có lúc dùng

để biện hộ cho việc thu hoạch gỗ và bán [26]

Năm 1986, trong tác phẩm “LNXH và hành động của cộng đồng”, các tác

giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu lànguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả vàchuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức

ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệđất và nước trên vùng đất dốc [26]

Theo Gadgil và V.P Vatok (1976) trong tác phẩm: ”Những lùm cây thiêngmiền Tây dãy Ghats ở Ấn độ” cho rằng: Người dân địa phương đã bảo vệ được các

đám rừng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của

lùm cây Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình thành từ các xã hộichuyên về săn bắn và hái lượm Mọi hoạt động lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bịcấm kỵ Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những

di sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượmmột số sản phẩm như: cây thuốc, lá rụng, gỗ khô, … Việc khai thác gỗ đã bị cấm,

nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm [26]

Trang 10

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1 Hệ thống chính sách và các vấn đề liên quan đến rừng đặc dụng

Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh, kinh tế đất nước ở những năm đầusau chiến tranh khó khăn Dân số tăng nhanh, nhu cầu về đất canh tác nông nghiệp

về lương thực, nhu cầu về gỗ và LSNG ngày một gia tăng đối với cộng đồng dân

cư sinh sống giáp rừng và gần rừng của các KBT và VQG, từ đó gây sức ép lên

TNR

Việc đầu tư quản lý bảo vệ và phát triển các khu RĐD được nhà nước quantâm Việc xây dựng triển khai, thực thi các chính sách, pháp luật của nhà nước

được coi trọng Nhưng rừng vẫn bị xâm hại, một trong những nguyên nhân là đời

sống người dân sống trong rừng và ven rừng chưa được cải thiện Vì thế, dẫn đến

có nhiều vi phạm và vi phạm nghiêm trọng vào rừng

Việt Nam đã thành lập các khu RĐD Bắt đầu từ tháng 7/1962, Quyết định

số 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng25.000 ha Các năm sau đó, Chính phủ còn ra các quyết định thành lập các khurừng cấm Nam Cát Tiên (1978); VQG Cát Bà (1978); KBTTN Mom Rây-Ngọc

Vin (1982); VQG Côn Đảo (1984); VQG YokDon (1991); KBTTN đất ngập nước

Xuân Thủy (1994); KBTTN Tràm Chim Tam Nông (1994)…Ngoài ra, các nhàkhoa học trong và ngoài nước đã phát hiện nhiều khu rừng có giá trị cao về đadạng sinh học không những đối với Việt Nam mà còn trong cả khu vực và thế giới

như: KBTTN Vũ Quang (Hà Tĩnh); Pù Mát (Nghệ An); Phong Nha (Quảng Bình);

Xuân Liên, Phù Luông (Thanh Hóa)… Từ đó cho đến nay (thời điểm 2006), Việt

Nam đã có 128 khu RĐD được thành lập [21]

Công tác bảo tồn phải được thực thi trên cơ sở các quy định pháp luật LuậtBVPTR sửa đổi ban hành ngày 03/12/2004, Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ban

hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc BQL xây dựng các quy định về phạm vi

sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT, VQG Năm

2006, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg về quy chế quản

lý rừng, thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg; trong đó quản lý RĐD được quy

định rất cụ thể:

Trang 11

- Rừng đặc dụng bao gồm các loại: VQG, KBTTN, khu bảo vệ cảnh quan,khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học…

- Trong VQG và KBTTN được chia thành các phân khu chức năng như sau:phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ -hành chính

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến quan hệ người dân và TNR

Ở nước ta trong những năm gần đây, các nhà khoa học, nhà quản lý đã chú

trọng đến quan điểm bảo tồn – phát triển và nghiên cứu thực hiện các giải phápgiải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế -

xã hội của người dân địa phương

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên và các cộng tácviên (1997) đã để cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa

phương vào rừng Các tác giả đã chỉ ra rằng, diện tích rừng già ở miền núi phía

Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản

khác như: tre nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là

nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi [1]

Trần Ngọc Lân (1999) và các cộng sự đã kết luận rằng: Các nông hộ trong

vùng đệm KBT Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai

thác lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhậpcủa mỗi nông hộ Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, songmới chỉ có rất ít ở các hộ có hiểu biết và có vốn đầu tư [11]

Đỗ Anh Tuấn (2001) đã thực hiện một nghiên cứu điểm tại KBT Pù Mátcho đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của bảo tồn tới kế sinh nhai của cộng đồng địaphương và thái độ của họ về chính sách bảo tồn” Tác giả chủ yếu đánh giá sự thayđổi sinh kế của người dân địa phương do sự hưởng lợi của KBT và mức độ chấp

nhận của cộng đồng qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và TNR.Nghiên cứu đã xác định các tỷ trọng thu nhập từ TNR trong tổng thu nhập chungcủa thôn, nhưng chưa cụ thể cho từng dân tộc và từng nhóm kinh tế hộ Tác giảcho rằng, hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách hợp pháp.Tại thời điểm nghiên cứu, 34% tổng thu nhập hằng năm của một hộ gia đình trong

Trang 12

vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình trong vùng bảo vệ nghiêm

ngặt là từ rừng Việc thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm giảm 30% đến 71,4%diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương Mặc dù

đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện, nhưng chúng chưa bù lại được

những mất mát do thành lập KBTTN [19]

Các nghiên cứu thực hiện đã phân tích, đánh giá sự phụ thuộc của cộng

đồng địa phương vào rừng và đất rừng, nhưng chưa đưa ra được các giải pháp để

giảm thiểu tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR Một số nghiêncứu trong những năm gần đây đã để cập đến vấn đề tác động của cộng đồng địa

phương tới TNR, nhưng chỉ giới hạn ở tác động của cộng đồng địa phương ở vùngđệm đến các VQG hoặc KBTTN

Nguyễn Thị Phượng (2003) khi: “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa

phương vùng đệm đến TNR VQG Ba Vì – Hà Tây ” đã tổng hợp và phân tích hình

thức tác động và các nguyên nhân tác động Tác giả chỉ ra rằng: cộng đồng ở đâychủ yếu sống bằng nghề nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suấtlúa rất thấp Vì vậy, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hằng ngày, họ tác động tớiTNR dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hóa, khai thácsản phẩm với mục đích tiêu dùng, chăn thả gia súc…trong đó hình thức sử dụng

đất rừng để sản xuất hàng hóa cho tỷ trọng thu nhập cao nhất trong cơ cấu thu nhập

của cộng đồng (36,4%) Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá được mức độ tác động tớiTNR của các dân tộc, các nhóm hộ khác nhau [15]

Theo Quách Đại Ninh (2003) khi đánh giá tác động của chính sách giao đất

lâm nghiệp đến quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình Qua nghiên cứu một số hộ

gia đình có đất lâm nghiệp và không có đất lâm nghiệp trong địa bàn xã Bắc An,

huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; tác giả kết luận rằng: chính sách giao và khoán

đất lâm nghiệp đã làm thay đổi nhận thức của người dân vào rừng Sau khi nhậnđất, các hộ gia đình yên tâm sản xuất và sử dụng đất một cách hợp lý nâng cao thu

nhập, cải thiện đời sống Tuy nhiên, đề tài chưa đưa ra được một số mô hình sảnxuất mà người dân ưa thích, đồng thời phù hợp với điều kiện tự nhiên – kinh tế xãhội của vùng nghiên cứu để các hộ gia đình tham khảo và phát triển sản xuất [14]

Trang 13

Hoàng Quốc Xạ (2005) với nghiên cứu “Tác động của cộng đồng địa

phương đến TNR vùng đệm VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ”, đã có sự kết hợp tốt

giữa phân tích định tính và định lượng trong việc tồ chức các hình thức tác động và

nguyên nhân tác động, tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu tácđộng bất lợi đến TNR và hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của địa phương [22]

Vấn đề giảm đất canh tác của các cộng đồng do hình thành VQG là mộtthực tế đang diễn ra ở nhiều nơi Nghiên cứu của Đỗ Thị Hà (2002) cho rằng, saukhi thành lập VQG Tam Đảo, đất của các hộ trong thôn bị mất đi, thu nhập về lâmnghiệp tập trung vào một số chủ rừng, ảnh hưởng tới sự phân công lao động trong

hộ gia đình [4]

Với đề tài: “Đánh giá vai trò kinh tế của lâm sản ngoài gỗ ở hai thôn ngườiDao tại xã Ba Vì” của Trần Ngọc Hải và cộng sự (2002); tác giả cho rằng: lâm sảnngoài gỗ, đặc biệt là nhóm tre hương và cây dược liệu đóng vai trò rất quan trọngtrong kinh tế hộ gia đình [8]

Tóm lại, qua các nghiên cứu về tác động qua lại giữa con người và TNRtrong thời gian qua, đã đề cập đến nhiều mặt khác nhau của vấn đề nghiên cứu

- Trước hết, các nghiên cứu trên thế giới đã phân tích định tính về sự phụthuộc của các cộng đồng dân cư vào tài nguyên, khẳng định cần thiết phải có sựtham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR Tuy nhiên, còn ít cácnghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và nhữngnguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó

- Tiếp theo, một số nghiên cứu đã phân tích phương pháp lý luận và thựctiễn để nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và TNR Tuy nhiên, các nghiêncứu tập trung nhiều ở vùng đệm của các VQG hoặc KBT mà chưa chú ý mở rộng ở

các địa phương khác nhau, loại rừng phòng hộ, rừng sản xuất

- Mặt khác, các nghiên cứu cũng chưa xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu,chỉ số để đánh giá mức độ tác động của các dân tộc khác nhau, loại hộ khác nhaunên các giải pháp còn chung chung, không tập trung vào giải quyết những khó

khăn thực tế của người dân Vì vậy, những vấn đề này cần tiếp tục được nghiên

cứu trong thời gian tới

Trang 15

Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài góp phần xây dựng cơ sở lý luận bảo tồn và phát triển rừng có người

dân tham gia, giải quyết mối quan hệ giữa người dân sống gần rừng và TNR; đồngthời là cơ sở khoa học và thực tiễn cho chính quyền địa phương xã Phú Lý,KBTTN và DT Vĩnh Cửu đề ra các giải pháp BVPTR bền vững

2.2 Đối tượng, giới hạn và nội dung nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những diện tích rừng thuộc khu bảo vệ nghiêm

ngặt hoặc vùng đệm của KBTTN và DT Vĩnh Cửu, mà người dân có thể tác động

và những hộ dân sống giáp rừng hoặc gần rừng thuộc xã Phú Lý đã và đang canthiệp vào TNR vì cuộc sống của họ

2.2.2 Giới hạn và nội dung nghiên cứu

Quan hệ giữa con người và tài nguyên thiên nhiên ở đâu và bao giờ cũng làquan hệ hai chiều Trong khuôn khổ của đề tài chỉ nghiên cứu những tác động bấtlợi của người dân địa phương sống giáp rừng và gần rừng tới diễn biến của TNR

2.2.2.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Người dân sống gần rừng, hoặc do nhận thức đã có tác động có lợi cho rừngnhư nhận khoán bảo vệ rừng, tham gia phòng cháy, trực tiếp chữa cháy rừng, tham

Trang 16

gia các hoạt động trồng rừng, chăm sóc rừng, tuần tra bảo vệ rừng, tố giác các đối

tượng phá rừng… Bên cạnh các hoạt động có lợi, do nhu cầu về cuộc sống, cũng

có các tác động bất lợi tới TNR; thậm chí ảnh hưởng của những tác động bất lợiđối với rừng còn lớn hơn nhiều so với tác động có lợi, chính nó làm suy giảm

TNR Vì vậy, đề tài nghiên cứu tác động bất lợi nhằm tìm hiểu và phân tích

nguyên nhân tác động, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp giảm thiểu tác động củangười dân tới TNR

Hình 2.1: Những yếu tố chi phối tác động bất lợi của người dân tới TNR

Yếu tố kinh tế, yếu tố xã hội và yếu tố công nghệ đều có chi phối tới những

tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR Trong điều kiện hoàn cảnhngười dân sống gần rừng, nguyên nhân chính dẫn đến tác động vào rừng thường làkhó khăn về kinh tế và các vấn đề xã hội, yếu tố công nghệ chưa phải là yếu tố ảnhhưởng mạnh đến TNR [17] Theo đó, hướng của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu yếu

tố kinh tế và xã hội là những yếu tố phổ biến, có ảnh hưởng quyết định tới hìnhthức tác động bất lợi của người dân tới TNR Tìm hiểu các tác động bất lợi tớiTNR xuất phát từ nguyên nhân về kinh tế - xã hội và đề xuất ra giải pháp về kinh

tế - xã hội để có thể hạn chế tác động bất lợi tại KBTTN và DT Vĩnh Cửu

2.2.2.2 Nội dung nghiên cứu

(1) Các hình thức và mức độ tác động bất lợi của người dân địa phương đếnTNR

(2) Các nguồn thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ gia đình, quan hệ giữathu nhập với các yếu tố thành phần

Những tác động bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng

nghệ

Trang 17

(3) Các nguyên nhân cơ bản dẫn tới những tác động bất lợi của người dânđịa phương đến TNR.

(4) Các giải pháp làm giảm thiểu những tác động bất lợi của người dân địa

phương đến TNR

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp luận

Mỗi đề tài khi được nghiên cứu đều phải có cơ sở phương pháp luận của nó,

điều đó giúp cho việc nghiên cứu không bị lạc hướng và có cơ sở khoa học

Nghiên cứu đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết hệthống; quan điểm sinh thái nhân văn; quan điểm bảo tồn và phát triển; phươngpháp tiếp cận có sự tham gia

2.3.1.1 Vận dụng lý thuyết hệ thống

Hệ thống được hiểu là cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều

bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật tự tồn tại và vận

động theo những qui luật thống nhất [10] Mỗi hệ thống luôn bao gồm những hệthống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thống phụ Mọi sự vật hiện tượng

đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn [17]

Sự tác động của người dân đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế xãhội và tác động tới hệ thống tự nhiên Nó là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi

vì mức độ tác động của người dân gắn liền với các hoạt động kinh tế của con

người như sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc…Sự tácđộng này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống nhu cầu thị trường, khả năng đầu

tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử

dụng TNR của người dân địa phương Ngược lại, mức độ giàu có của TNR cũng

tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương Chính quan hệ chặt

chẽ giữa tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh tế nên

có thể làm giảm thiếu tác động bất lợi tới TNR bằng cách tác động vào các yếu tốkinh tế Đây là lý do đề tài nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế dẫn tới những tác

động bất lợi của người dân địa phương đến TNR và nghiên cứu đề xuất giải pháp

kinh tế để giảm thiếu tác động bất lợi này

Trang 18

Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động xã hội vì cáchoạt động này là của con người Sự tác động bị chi phối bởi các yếu tố xã hội nhưnhận thức của người dân về tầm quan trọng của TNR, ý thức về luật pháp, tráchnhiệm của cộng đồng, tập quán sử dụng TNR Sự tác động của người dân địa

phương còn phụ thuộc vào những vấn đề như thể chế và chính sách, chính sách đối

với người dân trong KBT, hệ thống quản lý, việc thực thi luật BVPTR Các tổchức cộng đồng và những qui định của cộng đồng cũng có ảnh hưởng tới những

tác động của người dân địa phương vào TNR Sự hiện diện của chúng sẽ hổ trợnhà nước trong việc tuyên truyền chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng

thống nhất trong việc thực thi quản lý bảo vệ TNR Vì vậy, đề tài nghiên cứu cácnguyên nhân xã hội chi phối sự tác động của người dân địa phương đến TNR vànghiên cứu các giải pháp xã hội nhằm làm giảm thiếu những tác động bất lợi này

TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ chặtchẽ Bất cứ tác động nào từ bên ngoài tới TNR cũng dẫn đến sự thay đổi các thànhphần và chức năng của hệ thống TNR vốn tồn tại khách quan và vận động theoqui luật tự nhiên Vì vậy, để bảo tồn TNR, những tác động của con người phải phùhợp với qui luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động bất lợi tới nó [21]

2.3.1.2 Quan điểm sinh thái nhân văn

Thực tế cho thấy, các hoạt động kinh tế xã hội trong cộng đồng hay trongmỗi hộ gia đình đều rất đa dạng và phong phú Nó phản ánh đặc điểm sinh thái vàmối quan hệ kinh tế xã hội Điều này chỉ ra rằng, các hoạt động trong cộng đồngchịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò quan trọngtrong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải quan trọng trong thời

điểm khác hoặc trong cộng đồng khác Để nghiên cứu sự tác động bất lợi củangười dân đến TNR, chúng tôi dựa theo tháp sinh thái – nhân văn của Park, đề xuất

năm 1936 (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007 [21])

Theo Teherani Kroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi (2001), mô hình sinhthái - nhân văn được Park thiết kế theo hình tháp dựa trên các hoạt động xã hội củacộng đồng chịu sự chi phối của 4 bậc của các nhóm nhân tố theo trình tự (hình2.2): bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức Mô hình

Trang 19

này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc các nhóm nhân tố với các hoạt động

của cá nhân và sự bền vững [12] Dựa trên hình tháp này có thể giải thích:Quan hệgiữa tác động bất lợi của người dân đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa

phương là quan hệ có xu hướng nghịch; tức là khi kinh tế - xã hội địa phương càngphát triển, điều kiện sống về vật chất, tinh thần được đảm bảo và công tác bảo tồnTNR được thực hiện tốt thì tác động bất lợi tới TNR sẽ giảm

Hình 2.

Hình 2.2: Tháp sinh thái – nhân văn (mô hình của Park, 1936)

- Bậc sinh thái là sự tác động bất lợi của người dân địa phương vào TNR

đều có cơ sở sinh thái và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội Cơ

sở sinh thái được giải thích bằng các yếu tố vật lý sinh học và chia làm 2 loại:những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa hình… vànhững yếu tố có thể kiểm soát được cần nghiên cứu bằng các giải pháp khoa họccông nghệ

- Bậc kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu cầu thị

trường, những nhân tố này có ý nghĩa đối với sự tác động của người dân địaphương tới TNR

Bậc đạo đức Bậcthể chế

Bậc kinh tế

Bậc sinhthái

-Các yếu tố

văn hoá

-Các yếu tố thểchế, chính sách-Các yếu tốkinh tế

-Các yếu tốsinh thái- côngnghệ

Trang 20

- Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chứccộng đồng …ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân đến TNR.

- Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức độ cao hơnnữa là văn hóa của các cộng đồng dân cư Mọi tác động của các yếu tố khác có thể

làm thay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng

Theo tháp sinh thái nhân văn bất kỳ giải pháp nào nhằm giảm thiểu nhữngtác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát triển TNR đều phải dựa trên cơ sở sinh

thái và bảo đảm được các yếu tố về kinh tế xã hội của người dân địa phương [21]

2.3.1.3 Quan điểm bảo tồn – phát triển

Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999), quan điểm bảo tồn và pháttriển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển của địa

phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) như sau:

- Thứ nhất là, nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể

đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được

giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế

- Thứ hai là, nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào

quan tâm đến mặt bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng cònchưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nổ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của

họ đủ tốt để họ quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: cách tiếp cận phát triểnkinh tế

- Thứ ba là, cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài

nguyên thiên nhiên nếu như họ có thể tham gia một cách tích cực vào việc quihoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó.Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bảncủa người dân được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên mộtcách hợp lý và bền vững: cách tiếp cận tham gia qui hoạch [3]

2.3.1.4 Phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu

Sự tham gia định nghĩa như một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng

tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan

trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các triển vọng của họ về TNR

Trang 21

với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lai, các cơ quan này có thểhiểu và đáp ứng các nguyện vọng được nêu ra Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độcủa sự tham gia từ thấp đến cao, đó là tham gia có tính chất vận động, tham gia bị

động, tham gia qua hình thức tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các hổ trợ

từ bên ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hổ trợ, tự huy động và tổ chức(dẫn theo Bùi Việt Hải, 2007 [5])

Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng,

trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức

tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) vàphương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thu

thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu thập và phân tíchthông tin của chính người dân địa phương, nên thông tin có thể sử dụng được chonhiều nhu cầu của địa phương như sự ủng hộ về quyền sử dụng tài nguyên, các giảipháp giải quyết xung đột [5], [10]

2.3.2 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

Đề tài được thực hiện theo các bước như trình bày ở hình 2.3

2.3.2.1 Thu thập các tài liệu thứ cấp có liên quan

- Các văn bản chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đềnghiên cứu Các văn bản chính sách của tỉnh Đồng Nai, huyện Vĩnh Cửu liên quan

đến vấn đề nghiên cứu

- Các số liệu về dân sinh kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên, các báo cáo vềcông tác quản lý bảo vệ rừng, số liệu theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp

được thu thập, phỏng vấn tại KBTTN và DT Vĩnh Cửu; UBND huyện Vĩnh Cửu;

UBND xã Phú Lý, Phòng thống kê huyện Vĩnh Cửu; Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai;Hạt Kiểm lâm Vĩnh Cửu

- Các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu về LNXH được tham khảotrên Internet, tài liệu có trong và ngoài nước

2.3.2.2 Chọn địa điểm nghiên cứu

Chọn địa điểm nghiên cứu là công việc được thực hiện trước khi điều trathu thập số liệu Nguyên tắc chọn điểm nghiên cứu là đại diện tương đối cho khu

Trang 22

vực nghiên cứu Các tài liệu, số liệu thứ cấp thu thập được là cơ sở cho việc chọn

điểm nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Lựa chọn điểm nghiên cứu

Thu thập thông tin, số liệu

Trang 23

Hình 2.3: Các bước thực hiện quá trình nghiên cứu

Theo Donovan và cộng tác viên (1997), tiêu chuẩn chọn điểm nghiên cứulà: thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận và địa hình (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên,

Không gầnrừng

được chọn để điều tra tại các ấp 1, 2, 4 mỗi ấp là 30 hộ gia đình; ấp 3 và ấp Lý

Lịch 2 mỗi ấp là 10 hộ gia đình, riêng ấp Lý Lịch 1 là 50 hộ gia đình Sở dĩ chọn

ấp Lý Lịch 1 có 50 hộ gia đình là để làm rõ hơn cách thức, tập quán tác động vào

Trang 24

TNR có thể có sự khác nhau giữa dân tộc Kinh và dân tộc Châu-ro Như vậy, sẽ cótổng cộng 160 hộ gia đình là đối tượng của điều tra và phỏng vấn.

Khảo sát và phỏng vấn hộ với số lượng nhiều ở các Lý lịch 1, ấp 1, ấp 2 và

ấp 4 là vì những lý do sau:

- Có nhiều người dân tộc bản địa, ví dụ ấp Lý Lịch 1 có 115 hộ trên tổng số

382 hộ là người dân tộc Châu-ro

- Có nhiều hộ tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, cụ thể ấp 1

có đến 120 hộ trong tổng số 241 hộ của xã nhận hợp đồng trồng và chăm sóc rừng

- Sống giáp rừng hoặc gần rừng và phụ thuộc vào rừng như nhận khoán bảo

vệ rừng và chăm sóc rừng Ngoài ra, còn tác động vào rừng nhiều như chặt cây, lấy

gỗ, lấy măng, săn bắt thú rừng

- Có mối liên kết trong cộng đồng (người dân tộc) khá chặt chẽ, có thể doquan hệ huyết thống và cũng có thể do tập quán sinh sống của người dân nơi đây

2.3.2.3 Thu thập thông tin và số liệu điều tra hiện trường

Sử dụng các công cụ PRA để thu thập thông tin và số liệu Những hướngdẫn chi tiết được tham khảo từ các tài liệu [5],[6],[12] Cụ thể là:

- Phỏng vấn Chủ tịch UBND xã Phú Lý, một số trưởng ấp, Hạt trưởngKiểm lâm để thu thập thông tin khái quát về tình hình kinh tế xã hội, các hình thức,mức độ tác động vào TNR, các hổ trợ từ bên ngoài…

- Phỏng vấn hộ gia đình theo bảng câu hỏi bán định hướng Các hộ phỏngvấn chọn theo phương pháphệ thống - ngẫu nhiên trên cơ sở danh sách hộ gia đình

đã thu thập được

- Tiến hành 3 cuộc thảo luận nhóm được thực hiện sau khi hoàn thànhphỏng vấn hộ Nhóm thảo luận gồm 5 – 7 người đại diện cho các thành phần kinh

tế của ấp Mục đích thảo luận nhằm bổ sung và thống nhất các hình thức và mức

độ tác động, nguyên nhân của sự tác động, giải pháp khắc phục và những kiến nghị

của cộng đồng trong việc QLBVR

- Phân tích tổ chức, xác định tổ chức tồn tại có nghĩa trong cộng đồng, thểchế của cộng đồng và sự ảnh hưởng của chúng tới việc quản lý bảo vệ tới việc sửdụng TNR

Trang 25

2.3.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu

Số liệu thu thập qua bảng câu hỏi bán định hướng, được xử lý và phân tích

định lượng bằng phần mềm Excel 2003 và SPSS 15.0 (Statistical Package for

Social Science) Kết quả xử lý và phân tích được thể hiện theo dạng phân tích, mô

tả bằng bảng và biểu đồ Ngoài ra, các kết quả thảo luận, các thông tin định tính

như chính sách, tổ chức cộng đồng, thể chế cộng đồng, thị trường được phân tíchtheo phương pháp định tính

2.3.3.1 Xác định sự phụ thuộc của người dân địa phương tới TNR bằng phương pháp định tính

Công cụ hỗ trợ cho xử lý và phân tích dữ liệu là phần mềm SPSS 15.0 Sốliệu nhập vào bảng tính theo các hàng và các cột, ở đó hàng là hộ gia đình và cột làbiến chỉ tiêu Dữ liệu nhập vào là các mã ứng với các mức đã xác định ở bảng câuhỏi Xác định tỷ lệ hay tần số cho từng vấn đề theo nguyên tắc số đông (tức tần sốgặp nhiều hơn), xác định mối quan hệ phụ thuộc giữa các biến định tính bằng trắcnghiệm thống kê Chi-square Ngoài ra:

- Xác định, phân loại và xếp hạng bằng cách cho điểm các giá trị của TNR

theo các nhóm người dân sử dụng TNR, từ đó chọn ra được loại sản phẩm theo

từng nhóm để sử dụng và quản lý một cách phù hợp

- Họp riêng các nhóm liên quan khác nhau để xác định, thảo luận nhữngthuận lợi và khó khăn, các cách thức sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên

theo quan điểm hay cách nhìn của họ

2.3.3.2 Xác định thu nhập của người dân địa phương từ TNR bằng phương pháp định lượng

Nhằm xác định mối quan hệ giữa tổng thu nhập của các hộ gia đình với cácbiến số trong khai thác TNR của từng dân tộc Nếu X là đại lượng không ngẫunhiên còn Y là đại lượng ngẫu nhiên thì Y là hàm số phụ thuộc vào X Sự phụthuộc này biễu diễn bởi biểu thức sau: Y = f(X)

Chúng tôi giả sử biến phụ thuộc là tổng thu nhập (Y); biến độc lập (X) làthu nhập từ đất lâm nghiệp; thu nhập từ khai thác rừng; thu nhập từ chăn thả giasúc Mối quan hệ giữa biến X và biến Y thường được lượng hóa mức độ chặt chẽ

Trang 26

bằng hệ số R Đánh giá sự tồn tại của các quan hệ này có thể thông qua kết quảANOVA của mô hình hồi qui [7].

Nếu mối quan hệ đó có thể là dạng đường thẳng Y = a + bX, ta có hệ số

tương quan Pearson (ký hiệu là r) để xác định mức độ quan hệ Nếu mối quan hệ

đó là các dạng khác ngoài đường thẳng, ta có hệ số xác định (ký hiệu là R2) để

đánh giá múc độ phụ thuộc giữa biến X và biến Y [7],[20]

Trang 27

Chương 3

ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm tự nhiên KBTTN và DT Vĩnh Cửu

3.1.1 Vị trí địa lý

Trang 28

KBTTN và DT Vĩnh Cửu có vị trí địa lý như sau:

- Từ 11005’077’’ đến 11030’765’’ vĩ độ Bắc

- Từ 132047’652’’ đến 139005’747’’ kinh độ Đông

Phạm vi ranh giới: KBTTN và DT Vĩnh Cửu nằm ở phía Bắc sông Đồng

Nai, trên địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm Diện tích tự nhiên 68.173,6

ha

- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước

- Phía Nam giáp xã Trị An và hồ Trị An

- Phía Đông giáp Vườn quốc gia Cát Tiên và hồ Trị An

- Phía Tây giáp tỉnh Bình Phước và Bình Dương

3.1.2 Địa hình và đất đai

Nằm trong địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Bảo Lộc - Lâm Đồng xuống

vùng địa hình bán bình nguyên của Đông Nam bộ Khu vực phía Bắc, phía Tây và

một phần phía Đông địa hình gồm nhiều đồi dốc và thấp dần từ Bắc xuống Nam,

về hai phía Đông, Tây Độ cao lớn nhất 368 mét, thấp nhất 20 mét Độ dốc lớnnhất 350, độ dốc bình quân 150 Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống khe suối nhỏ đổ

vào lòng hồ Trị An, sông Mã Đà và sông Bé

- Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch, là loại đất chủ yếu

và phổ biến trên khu vực, chiếm khoảng 2/3 diện tích KBT, phân bố ở độ cao từ

150 – 250m Loại đất này có độ phì trung bình, tầng đất trung bình, có tầng kết vonchặt hoặc kết von giả hay sỏi kết

- Nhóm đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá bazan, có kết cấu thịt trungbình, tầng đất trung bình, độ phì cao tập trung tại vài khu đồi trong khu vực, có độcao khoảng 100 m

Trang 29

Nhìn chung, phần lớn diện tích đất trong vùng có tầng đất canh tác mỏng,kết von nhiều, nghèo chất dinh dưỡng, đặt biệt rất nghèo các nguyên tố vi lượng.

(Nguồn: Phân viện điều tra qui hoạch rừng, 2000)

3.1.3 Khí hậu và thủy văn

KBTTN và DT Vĩnh Cửu nằm trong vùng khí hậu Đông Nam Bộ Hàng

năm có hai mùa rõ rệt [26]:

- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm từ 10 – 15%

lượng mưa cả năm; lượng bốc hơi cao chiếm 64 – 67% lượng bốc hơi cả năm và

nền nhiệt cao

- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, lượng mưa chiếm từ 90%

lượng mưa cả năm; nền nhiệt thấp

Lượng mưa trong năm trung bình từ 2.000-2.800 mm, tập trung vào tháng

7, 8, 9 Nhiệt độ trung bình là 26,40C, cao nhất 380C vào tháng 4 và thấp nhất 220C

vào tháng 1 Độ ẩm tương đối từ 80 - 82% Hướng gió chính là Đông Bắc - Tây

Nam

Về hệ thống sông, suối: phía Bắc và Tây có suối Mã Đà là ranh giới củaKBTTN và DT Vĩnh Cửu, đồng thời là ranh giới giữa tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình

Dương, Bình Phước; nội bộ có các suối Sai, suối Linh, suối Dakinde, suối Sa

Mách, suối Cây Sung, suối Rộp, suối Trao, suối Bà Hào

Về hệ thống hồ: hồ Bà Hào, hồ Vườn Ươm, hồ thủy điện Trị An cung cấp

điện cho các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh

3.1.4 Tài nguyên rừng

KBTTN và DT Vĩnh Cửu có tổng diện tích tự nhiên là: 68.173,6 ha Trong

đó, rừng tự nhiên: 52.380,7 ha với các loại rừng chính sau [26]:

+ Rừng hỗn giao gỗ - lồ ô (tre, nứa) 7.774,6 ha

Rừng gỗ chiếm 89,7% tổng diện tích rừng tự nhiên, thuộc kiểu rừng lá rộng

thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, tổ thành loài cây rất phong phú và đa dạng Phần

Trang 30

diện tích còn lại là rừng hỗn giao tre lồ ô chiếm 10,3%, phân bố chủ yếu trong lâmphần của phân khu Vĩnh An.

Thảm thực vật rừng trong KBTTN và DT Vĩnh Cửu gồm các kiểu rừng và

ưu hợp thực vật sau:

+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

+ Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới

Với vị trí ở vùng địa hình chuyển tiếp từ phía Nam dải Trường Sơn qua

Đông Nam Bộ xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long Do vậy, hệ động thực vật

rừng ở đây có quan hệ chặt chẽ với hệ động thực vật của dãy Trường Sơn Nam,miền Đông Nam Bộ và của Việt Nam

Trang 31

kiện tốt cho sự phục hồi của khu hệ động vật như đảm bảo nơi cư trú, cung cấpthức ăn, mở rộng phạm vi hoạt động

Tuy nhiên, do tình trạng khai thác gỗ, củi và săn bắn động vật rừng trongnhiều năm đã làm suy giảm về số lượng các loài cây gỗ quý hiếm, nhiều loài độngvật rừng có nguy cơ diệt vong, nhất là các thú nhỏ và thú có phạm vi hoạt độngrộng [24]

3.2 Sơ lược tình hình kinh tế - xã hội KBTTN và DT Vĩnh Cửu

3.2.1 Lịch sử hình thành KBTTN và DT Vĩnh Cửu

Có thể điểm lại những nét chính lịch sử hình thành KBTTN và DT Vĩnh Cửu,

từ lúc thành lập các lâm trường đến nay đã trải qua 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1 (từ 1977 đến 1992): Thành lập các Lâm trường Mã Đà, Lâm

trường Vĩnh An, Lâm trường Hiếu Liêm và đi vào hoạt động

+ Giai đoạn 2 (từ 1992 đến 1997): Thành lập các Doanh nghiệp nhà nước là

các Lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An

+ Giai đoạn 3 (từ 1997 đến 2003): Chuyển các Lâm trường Mã Đà, Hiếu

Liêm và Vĩnh An thành loại hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích

+ Giai đoạn 4 (từ 2004 đến nay): Thành lập Khu Dự trữ thiên nhiên Vĩnh

Cửu (2004) trên cơ sở sát nhập lâm phần của Lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm vàmột phần của Lâm trường Vĩnh An Từ tháng 02/2006, đổi tên thành KBTTN và

DT Vĩnh Cửu

3.2.2 Dân số, dân tộc và sự phân bố dân cư

Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế năm 2007, dân cư sinh sống trong vàgiáp ranh KBTTN và DT Vĩnh Cửu gồm 5.415 hộ - 24.180 khẩu, phân theo đơn vịhành chính quản lý như sau:

Trang 32

Bảng 3.1: Dân số các xã trong và giáp ranh KBTTN và DT Vĩnh Cửu

Tên xã Số ấp Tổng số

hộ

Số hộ sốngtrong vùnglõi

Số hộ sốngtrong vùng

đệm

Tổng sốnhân khẩu

3.3 Sơ lược đặc điểm kinh tế - xã hội xã Phú Lý

3.3.1 Thành phần dân tộc, lao động và hiện trạng phân bố dân cư

Xã Phú Lý thành lập năm 1976, chủ yếu là người Châu-ro sinh sống Năm

1987 xã được tái thành lập là xã vùng sâu vùng xa, kinh tế kém phát triển Trongquá trình phát triển, nhiều dân di cư tự do từ mọi miền đất nước đến định cư Dântộc Châu-ro sinh sống lâu đời tại đây có tập quán du canh du cư Đến năm 1989,

nhà nước tổ chức định cư cấp nhà ở, đất nông nghiệp, giếng nước, điện, … nhưng

do xây dựng cơ sở hạ tầng chưa phù hợp và tổ chức sản xuất chưa có hiệu quả nênmột số hộ đồng bào trở về nhà ở cũ và canh tác theo tập quán truyền thống

Xã Phú Lý có 9 ấp là ấp 1, 2, 3, 4, Lý Lịch 1, Lý Lịch 2, Bầu Phụng, CâyCầy, Bình Chánh Xã có 7 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa sốvới 92,2%, dân tộc Châu-ro chiếm 4,2%, dân tộc Khơ Me chiếm 1,4%, dân tộc

Mường chiếm 1,0%, dân tộc Tày 0,4%, dân tộc Hoa 0,4% và các dân tộc khác

0,4%

Số lao động trong độ tuổi có 6.667 người, chiếm 56,5% tổng số dân của xã;

trong đó tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm tới 85%, còn lại là lao động trong các

lĩnh vực buôn bán, dịch vụ và công nhân viên của KBTTN và DT Vĩnh Cửu

Trình độ văn hoá: Số người không biết chữ chiếm 26,1%; số trẻ em chưa

đến tuổi đi học chiếm 26,1% và số người đọc thông viết thạo chiếm 47,8% và một

số ít có trình độ phổ thông trung học, nhưng chưa qua đào tạo chuyên môn kỹthuật, lao động chân tay là chính [26]

Trang 33

ha Các hoạt động sản xuất khác có sử dụng nhân công theo thời vụ là trồng rừng,

chăm sóc rừng, phòng cháy chữa cháy rừng KBTTN và DT Vĩnh Cửu chưa tổ

chức được phương án tạo công việc làm ổn định lâu dài cho người dân Đây cũng

là nguyên nhân người dân xâm hại vào rừng như lượm trai cục, hái măng, lồ ô, lá

giang, mây, lá nón, tre, nấm, cây thuốc để phục vụ nhu cầu trong gia đình

Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp có diện tích 3.078,19

ha, đất lâm nghiệp có diện tích 23.348,69 ha đất nuôi trồng thủy sản 52,79 ha Đất

tập trung vào các hộ giàu, nếu chia bình quân cho tổng số hộ 2.652 và 11.629 nhânkhẩu trong toàn xã thì chưa đáp ứng an toàn lương thực cho người dân toàn xã.Bên cạnh, vấn đề thiếu đất canh tác, vốn đầu tư hạn chế, kỹ thuật thâm canh thấpdẫn đến đời sống người dân khó khăn, thường xảy ra thiếu ăn vào mùa giáp hạt

Trang 34

Hình 3.2: Sơ đồ tài nguyên và hiện trạng sử dụng đất của xã Phú Lý

3.3.3 Thực trạng hoạt động sản xuất của xã Phú Lý

3.3.3.1 Sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất chính, có khoảng 90-95% người dân sống

bằng nghề nông Dân cư trên địa bàn gồm nhiều thành phần từ mọi miền đất nướcđến sinh cơ lập nghiệp, cho nên tập quán canh tác đa dạng mang màu sắc của nhiềumiền khác nhau

Trang 35

3.3.3.2 Sản xuất lâm nghiệp

- Nhận khoán bảo vệ rừng thuộc dự án 661

KBTTN&DT Vĩnh Cửu giao khoán bảo vệ rừng 3.059,6 ha rừng tự nhiênthuộc TK 31, 47, 58 – Khu vực Vĩnh An cho 15 hộ đồng bào dân tộc Châu-ro cưngụ tại xã Phú Lý làm công tác bảo vệ rừng theo chương trình 661

- Hoạt động khai thác lâm sản trái phép

Rất nhiều các hoạt động khai thác, xâm hại tài nguyên của KBT mang tính

cơ hội, nghĩa là người dân không có chủ định trước mà chỉ thực hiện hành vi xâm

phạm khi điều kiện thuận lợi Mặc dù đơn vị đã rất cố gắng để tăng cường công táctuần tra, QLBVR nhưng các hoạt động xâm phạm rừng trái phép vẫn còn diễn ra

3.3.3.3 Các ngành nghề khác

Các ngành nghề phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại chủyếu tập trung tại khu trung tâm các xã và nhìn chung chưa phát triển, do trongvùng hiện tại chưa phát triển được nền sản xuất hàng hoá, nên khả năng tiêu thụ và

giao lưu sản phẩm còn yếu Sức mua bán mới chỉ dừng ở các sản phẩm phục vụ

nhu cầu thiết yếu của đời sống hàng ngày và sản xuất Trong khu vực chỉ mới có 1

xưởng chế biến đũa xuất khẩu của BQL rừng phòng hộ Vĩnh An (cũ), thu hút 138lao động (dân tộc Kinh: 80 người, dân tộc Châu-ro: 58 người), mức thu nhập bìnhquân trên 1.000.000 đồng/người/tháng

3.3.4 Tình hình y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng

Hiện nay, hệ thống y tế tuyến cơ sở đã được Nhà nước quan tâm đầu tư.Trạm y tế xã có 1 phòng khám đa khoa 16 giường bệnh được xây dựng kiên cố.Tất cả các điểm dân cư sống trên địa bàn gần như không có hệ thống cung cấp

Trang 36

nước sạch, chủ yếu sử dụng giếng khoan và một số giếng đào phục vụ cho sinh

hoạt gia đình

Hiện nay, xã có trường mẫu giáo, tiểu học; xã còn được đầu tư xây dựng

trường phổ thông trung học (phân hiệu của trường PTTH Trị An) Cơ sở giáo dục

trên địa bàn xã bao gồm: truờng Tiểu học Phú Lý, truờng Tiểu học Bàu Phụng,

trường Mẫu giáo (1 trường)

Các trục đường chính trong khu vực bao gồm: đường 761, xuất phát từ

đường 767 tại chợ Mã Đà vào xã Phú Lý; đường 322 xuất phát từ ngã 3 Bà Hàođến sông Mã Đà Ngoài ra, còn có trên 200 km đường be nối từ các trục đườngchính đến các chốt trạm Kiểm Lâm và cụm dân cư

Hệ thống điện trong khu vực được Nhà nước quan tâm đầu tư cơ bản,

đường điện trung thế đã được đầu tư xây dựng đến trung tâm xã và dọc trục lộchính (đường tỉnh 761)

Trang 37

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Các hình thức và mức độ tác động của người dân địa phưong tới TNR KBTTN và DT Vĩnh Cửu

4.1.1 Sơ lược về tình hình kinh tế xã hội xã Phú Lý và các hộ dân điều tra

Bảng 4.1: Điều kiện kinh tế xã hội và tỷ lệ giàu nghèo của xã Phú Lý

số hộ

Tổng sốnhânkhẩu

Hộnghèo(%)

Hộ trungbình(%)

Hộ giàu(%)

tỷ lệ hộ giàu rất thấp (chỉ 5,0%), số hộ có thu nhập trung bình chiếm tỷ lệ là caonhất (71,4%) và tỷ lệ hộ nghèo chiếm gần 1/4 số hộ (23,6%)

Trang 38

Bảng 4.2: Tóm tắt số liệu đặc điểm kinh tế xã hội ở các hộ điều tra

Nơi khác đến 17 11,8

Như trình bày trong phần phương pháp nghiên cứu, chúng tôi đã rút 160 hộ

ở các ấp Lý Lịch 1, Lý Lịch 2, ấp 1, 2, 3 và 4 ra điều tra Sau đây là những nhận xét

về đặc điểm kinh tế xã hội của các hộ gia đình này:

Trang 39

- Về kinh tế: Trong 160 hộ điều tra có 16 hộ giàu (10%), số hộ trung bình lànhiều nhất: 88 hộ (55%), còn lại là hộ nghèo (35%) Những con số này có khác vớikết quả thống kê của xã, lý do là tiêu chí phân loại giàu nghèo có khác nhau, ở đâyviệc phân cấp giàu nghèo dựa trên cảm nhận của chính người dân trong các ấptham gia và phân loại, còn tiêu chuẩn phân loại giàu nghèo của xã dựa trên thunhập Song, quan trọng là tỷ lệ giàu nghèo này ít nhiều có liên quan đến số khẩutrong một hộ, cũng theo kết quả ở bảng 4.2 thì có tới 35,6% số hộ có 5 người trở

lên, như vậy nếu tính bình quân có 2 lao động chính cho một hộ thì số người ăn

theo nhiều hơn số người đi làm, có thể đó là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo đãchiếm đến 1/3 tổng số hộ tại địa phương

- Về xã hội: Trong 160 hộ này có 46 là dân tộc Châu-ro, có 3 hộ là dân tộckhác, còn lại chiếm đa số là người Kinh Như vậy, người Kinh chiếm 69,4% và

người dân tộc chiếm 31,6%, nghĩa là bình quân cứ 3 hộ dân thì có 1 hộ là dân tộc

thiểu số, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ hộ dân tộc của toàn xã (5,4%) Cũng theokết quả, có 127 hộ (88,2%) là người đang định cư tại Phú Lý, có 17 hộ (11,8%) là

người từ nơi khác di cư đến Trong tổng số các hộ điều tra cho thấy, các hộ làm rẫy

là chủ yếu nhất (72,5%), kế tiếp là đi làm thuê (16,3%), số còn lại là các công việckhác và chỉ có 2 trên 160 hộ là cán bộ nhà nước Tỷ lệ nghề nghiệp này có lẽ cũngphản ánh phần nào trình độ học vấn của chủ hộ điều tra, cụ thể là trình độ tiểu họcchiếm cao nhất (50%), chỉ có 9,4% có trình độ phổ thông trung học và không mộtchủ hộ nào qua các trường đào tạo trung học hay đại học chuyên nghiệp

Tất cả các kết quả trên đi đến một nhận xét về đặc điểm kinh tế xã hội chungcủa xã là: chủng loại dân tộc ít, kinh tế hộ trung bình hoặc gần nghèo, ngành nghề

tương đối thuần, trình độ học vấn thấp Những đặc điểm này có liên quan đến tậpquán dân tộc và tính địa phương ở đây Điều đó có thể dẫn đến những tác động bắtbuộc vào TNR như sẽ phân tích ở các phần sau

Dưới đây, bảng tiêu chí xếp hạng trên đây chỉ mang tính chất như là một tài

liệu tham khảo, do những người dân trong nhóm thảo luận trọng tâm cung cấpthông tin, nhằm phân biệt về tình trạng kinh tế của 160 hộ được phỏng vấn chínhthức, đại diện cho cả cộng đồng

Trang 40

Bảng 4.3 Kết quả về tiêu chí xếp hạng giàu nghèo ở các ấp điều tra

Tiện nghi sinh hoạt

T.gian đủ ăn trong năm

Đầy đủ

12 tháng

> 50% NK

> 4THPT

Bán kiên cố1,5 -2,5 ha

Ít thuận lợi

Tương đối

11-12 th35- 40%

2 – 3

Dưới THPT

Tạm

< 1,0 haKhôngThiếu

< 11 tháng

< 35%

< 2Tiểu học

Việc phân tích thông tin về đặc trưng kinh tế - xã hội của các nhóm dân cưtại địa bàn nghiên cứu đã thể hiện được thực trạng phân hóa giàu – nghèo tại cộng

đồng Tỷ lệ hộ nghèo theo các tiêu chí trên so với tiêu chuẩn thu nhập hộ nghèo của

tỉnh có thay đổi Điều quan trọng là việc phân loại này sẽ là cơ sở để xem mối quan

hệ giữa kinh tế hộ và tác động vào TNR như thế nào

4.1.2 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ và sử dụng TNR ở xã Phú Lý

4.1.2.1 Công tác quản lý bảo vệ rừng của các cơ quan nhà nước

Trong 19 năm từ 1989 đến 2007 Hạt Kiểm lâm phát hiện xử lý 2.044 vụ vi

phạm Luật BVPTR tại KBTTN và DT Vĩnh Cửu

Bảng 4.4: Bảng thống kê các vụ vi phạm giai đoạn 1989 - 2007

STT Năm Số vụ Gổ tròn tịch thu (m3) Gổ xẻ tịch thu (m3)

Ngày đăng: 15/05/2021, 18:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w