1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quy hoạch xây dựng và quản lý hiệu quả hệ thống rừng đặc dụng tỉnh quảng trị

76 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, những nghiên cứu về những loài cây chủ yếu củarừng khộp chưa nhiều mà mới dừng lại ở phân loại, cấu trúc quần thụ một cách định tính, các nghiên cứu về sinh học các loài cây h

Trang 1

VŨ VĂN KHOÁT

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA LOÀI

DẦU ĐỒNG (Dipterocarpus tuberculatus Roxb) VÀ CÀ CHÍT (Shorea obtusa Wall) PHÂN BỐ TRONG RỪNG KHỘP Ở TÂY NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Tây-2007

Trang 2

MỞ ĐẦU

Năm 1943, nước ta có khoảng 14.325.000ha rừng, với độ che phủ 43,70%

diện tích đất trong cả nước Đến năm 1990, chỉ còn lại 9.175.600ha, với độ chephủ 28% Cho tới năm 2000, nhờ những nỗ lực to lớn trong hoạt động phục hồirừng và trồng rừng, độ che phủ đã lên tới 33,20%, với tổng diện tích là10.915.292ha Tới năm 2006, thì tổng diện tích là 12.873.850ha với độ che phủ

là 38,8%[2]

Số liệu diễn biến tài nguyên rừng từ năm 1990 tới nay cho thấy đã cóchiều hướng tăng đáng kể Tuy nhiên, chất lượng rừng vẫn còn xa mức ổn định

và đang tiếp tục chịu những áp lực lớn Khai thác trái phép, bừa bãi, không tuân

thủ các nguyên tắc lâm sinh đang gây thiệt hại lớn vốn rừng, làm cạn kiệt tàinguyên rừng Canh tác nương rẫy đang làm cho diện tích rừng bị thu hẹp lại vànạn cháy rừng xảy ra ngày càng nhiều hơn Vì vậy diện tích rừng có tăng nhưng

chưa đạt hiệu quả phòng hộ môi trường Suy thoái tài nguyên rừng kéo theo suythoái tài nguyên đa dạng sinh học, mất rừng làm cho đất đai xói mòn, rửa trôi

Theo Vũ Biệt Linh và cộng sự (1998) [10] thì ở Việt Nam có khoảng500.000 ha rừng thưa ở các lập địa khô hạn (rừng khộp) Hồ Viết Sắc (1998)

[15] thì cho rằng diện tích rừng khộp có khoảng 700.000 ha, riêng ở khu vựcEasup và phía bắc tỉnh Đak Lak đã có khoảng 400.000 ha rừng khộp Trong giai

đoạn từ năm 1975 đến năm 1990, rừng khộp hầu như đã bị khai thác cạn kiệt,trong giai đoạn này gỗ khai thác chính của tỉnh Đak Lak chủ yếu là từ rừng

khộp Các loài cây họ Dầu hiện chỉ còn gặp nhiều trong các khu bảo tồn vì trongnhững năm qua do khai thác quá mức, chiến tranh tàn phá mà diện tích cây họDầu đã suy giảm nghiêm trọng Theo Viện điều tra quy hoạch rừng (1994) [24],

ở thời điểm năm 1959 diện tích các loại rừng có cây họ Dầu ở Đông Nam Bộ

chiếm 49% diện tích toàn vùng, đến năm 1968 đã giảm xuống còn 36%, năm

1982 giảm còn 18% và năm 1992 chỉ còn 8% Xét ở quy mô quốc gia, tài

Trang 3

nguyên cây họ Dầu nói chung và tài nguyên di truyền của từng cây họ Dầu nói

riêng đã bị suy kiệt mạnh

Với diện tích khoảng hơn nửa triệu ha, rừng khộp là một nguồn tài nguyên

đặc biệt của Tây Nguyên nói riêng và của cả nước nói chung Rừng khộp có

những loài cây gỗ lớn có giá trị, tài nguyên lâm sản ngoài gỗ như dầu nhựa, dượcliệu… và tài nguyên động vật khác Rừng khộp giữ vai trò phòng hộ môi trường

và bảo vệ đất Tây Nguyên, các loài cây rừng khộp có tính thích nghi cao với khôhạn và lửa rừng, khó có thể tìm ra loài cây nào khác thay thế Về ý nghĩa khoahọc, rừng khộp là hệ sinh thái rừng độc đáo chỉ có ở Tây Nguyên và làm phongphú thêm tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam

Việc tìm hiểu các đặc tính sinh học cơ bản của các loài cây gỗ trong thảmthực vật rừng đóng vai trò to lớn trong việc đánh giá, bảo tồn và phát triển nguồntài nguyên thực vật nói riêng và hệ sinh thái rừng nói chung Nghiên cứu, tìmhiểu các đặc điểm về sinh thái học và lâm học của loài cây bản địa là hết sức cầnthiết, nhưng cũng là công việc khó khăn và tốn nhiều sức người, sức của Đây làcông việc lâu dài và có tính nghiên cứu cơ bản về lâm học

Trong những năm qua đã có những nghiên cứu về rừng khộp và đạt nhữngkết quả nhất định Tuy nhiên, những nghiên cứu về những loài cây chủ yếu củarừng khộp chưa nhiều mà mới dừng lại ở phân loại, cấu trúc quần thụ một cách

định tính, các nghiên cứu về sinh học các loài cây họ dầu thường tập trung vàocác loài thường xanh ở rừng mưa nhiệt đới, riêng các loài họ dầu rụng lá chiếm

ưu thế trong rừng Khộp thì còn rất ít các nghiên cứu về từng loài cụ thể

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và lý luận, đề tài: “Nghiên cứu một số

đặc tính sinh học của loài Dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus Roxb) và

Cà chít (Shorea obtusa Wall) phân bố trong rừng khộp ở Tây Nguyên” được

chọn nghiên cứu

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Những nghiên cứu về rừng khộp

- Cấu trúc quần thụ

Ogawa và cộng sự (1961) thực hiện nghiên cứu bước đầu về thảm thựcvật của Thái Lan đã chia rừng khộp thành ba kiểu quần thụ chính[28]:

(1) Quần thụ Cà chit-Cẩm liên thường phân bố ở sườn đồi dốc, những nơi

có nhiều đá sỏi, granít-gneiss hoặc bazan Đất nói chung lẫn sỏi, cát và laterit

Đặc trưng bằng ưu thế hai loài Shorea obtusa và Shorea siamnensis với thảm cỏ

dày, rải rác có các loài Cycas siamnensis, Zizyphus và Cratoxylum Hai loài cuối

là những loài cây bụi có gai đặc trưng cho khô hạn

(2) Quần thụ Dầu đồng-Dầu trà beng phân bố trên những diện tích lượnsóng nhẹ ở độ cao thấp hơn quần thụ Cà chí-Cẩm liên

(3) Quần thụ hỗn hợp rừng khộp với thành phần các loài Dầu đồng, Dầutrà beng, Cà chít và Cẩm liên Bốn loài này hỗn giao đều với nhau và không có

loài ưu thế rõ rệt

Kutintara (1975) nghiên cứu các kiều quần thụ và mối quan hệ với môi

trường của rừng khộp ở huyện Hot, tỉnh Chiangmai phía bắc Thái Lan đã phân

rừng khộp ở vùng này thành 6 kiểu ưu hợp dựa vào tầm quan trọng của loài ưuthế[27]:

(1) Ưu hợp Cẩm liên-Cà chít: kiểu ưu hợp này chiếm ưu thế ở đất có tầngmỏng lẫn đá trên sườn dốc ở vùng có độ cao thấp, Cẩm liên là cây chiếm ưu thếquan trọng nhất

(2) Ưu hợp Dầu đồng-Cà chít: phân bố ở vùng đất thấp, có hàm lượng kalicao với có hoặc không có tầng lateric hóa

Trang 5

(3) Ưu hợp Dầu đồng-Dầu trà beng.

(4) Ưu hợp Dầu đồng-Thông nhựa

(5) Ưu hợp Dầu trà beng-Cà chít thấy ở độ cao lớn trên đất có hàm lượngkali thấp

(6) Ưu hợp Dầu trà beng-Thông nhựa xuất hiện ở độ cao lớn

Bunyavejchevin (1983) nghiên cứu cấu trúc quần thụ của rừng khộp ởmiền Bắc, Tây bắc và miền Tây Thái Lan đã chia thành 5 kiểu ưu hợp dựa vào

các loài ưu thế chính[24]:

(1) Ưu hợp Cẩm liên, được chia thành hai kiểu phụ: kiểu phụ dạng cây bụi

và kiểu phụ dạng cây vừa

(2) Ưu hợp Cà chít chiếm ưu thế trên các lập địa dốc nhẹ đến dốc vừa ở

nơi cao hơn ưu hợp Cẩm liên Đất dưới kiểu ưu hợp này biến động từ đất sét cátđến đất thịt cát, hàm lượng chất hữu cơ và nitơ thấp Ưu hợp này cũng chia thành

hai kiểu phụ: kiểu cây bụi và kiểu cây vừa

(3) Ưu hợp Dầu trà beng-Cà chít chiếm lĩnh các sườn dốc ở cùng một độcao với ưu hợp Cà chít, một vài lâm phần có thể ở độ cao cao hơn Kiểu ưu hợpnày có thành phần loài phong phú hơn và thường ở trên đất sét với hàm lượngchất hữu cơ và nitơ cao và tỷ trọng hạt thấp

(4) Ưu hợp Dầu đồng-Cà chít phân bố ở độ cao thấp hơn trên các lập địachứa hydro cũng là môi trường thích hợp cho kiểu ưu hợp này Cây trong kiểu

ưu hợp này lớn hơn các kiểu ưu hợp khác Đất thường là sét, có hàm lượngcalcium cao nhưng chất hữu cơ và nitơ thấp

(5) Ưu hợp Thông-Cây họ dầu cấu tạo bằng các cây vừa đến lớn phân bố

từ độ cao vừa đến cao Đất cát với hàm lượng calcium cao ở tầng mặt Kiểu ưuhợp này có thể chia thành 4 kiểu phụ, trong đó có kiểu ưu hợp phụ Dầu đồng-Càchít-Thông nhựa ở độ cao vừa, dốc mạnh

Trang 6

Nghiên cứu về cấu trúc, tốc độ hình thành khoảng trống và chu kỳ tầng tán,tác giả Siripa Nilroungo (1986) đã tiến hành nghiên cứu tại Trạm nghiên cứu môitrường Sakaerat, Pak Thong Chai, Nakhon Ratchasima từ tháng 212/1985 trên 4 ô

tiêu chuẩn (1ha/ô) tại 4 ưu hợp cho kết quả như sau[30]:

Cấu trúc theo chiều thẳng đứng được chia làm hai tầng cho cả 4 ưu hợp.Chiều cao của tầng thứ nhất lần lượt lớn hơn 10,5 m, 13 m, 10,5 m và 14 m ở ưuhợp 1, 2, 3 và 4 Những loài ưu thế ở tầng thứ nhất tương ứng cho ưu hợp 1, 2, 3

và 4 là Shorea floribunda, Shorea obtusa, Shorea obtusa và Shorea siamensis Ở tầng thứ hai là Shorea floribunda, Shorea obtusa, Shorea obtusa and Shorea

floribunda lần lượt cho ưu hợp 1, 2, 3 và 4 Năm loài cây quan trọng là Shorea floribunda, Quercus kerrii, Pterocarpus macrocarpus, Shorea obtusa and Xylia xylocarpa đối với ưu hợp thứ nhất (Shorea floribunda-Quercus kerrii) trong khi Shorea obtusa, Shorea siamensis, Pterocarpus macrocarpus, Xylia xylocarpa, Mangifera caloneura đối với ưu hợp 2 (Shorea obtusa-Shorea siamensis); Shorea obtusa, Pterocarpus macrocarpus, Sindora maritima, Dipterocarpus intricatus, Morinda coreia đối với ưu hợp 3 ( Shorea obtusa-Pterocarpus macrocarpus); và Shorea siamensis, Shorea floribunda, Quercus kerrii, Pterocarpus macrocarpus, Sindora maritima với ưu hợp 4 (Shorea siamensis- Shorea floribunda).

Trữ lượng tính cho mỗi ha tại ưu hợp 1, 2, 3 và 4 lần lượt là 98, 82, 110 và

105 m2 Tỷ lệ cây chết trung bình là 0,38%, 0,88%, 0,58% và 0,77% tương ứngtại ưu hợp 1, 2, 3 và 4, lỗ trống do cây chết tạo ra là 0,360,73%, 0,500,10%,

0,511,02% và 0,420,84% cho mỗi ha ở ưu hợp 1, 2, 3 và 4 Chu kỳ của tầng

tán trong rừng được tính từ tỷ lệ hình thành khoảng trống là 122244 năm,

81162 năm, 79158 năn và 100199 năm đối với ưu hợp 1, 2, 3 và 4

- Tái sinh

Trang 7

Nghiên cứu về tái sinh rừng khộp tại Sakaerat -Pak Thong Chai-Nakhom

Ratchasina trên 4 ưu hợp (subcommunity type): (1) Shorea floribunda - Quercus Kerrii; (2) Shorea obtusa - Shorea siamesis; (3) Shorea obtusa - Pterocarpus macrocarpus; (4) shorea floribunda - Shorea siamensis Tác giả DuangdaoFaidang (1988) đã tiến hành điều tra những cây có đường kính ≤ 4,5 cm và xácđịnh các chỉ tiêu là tên loài, mạng hình phân bố, đường kính sát gốc tại 3 thờiđiểm [25], lần đầu tiên đo vào cuối mùa mưa (10/1986), lần 2 đo vào đầu mùa

mưa năm sau (4/1987), lần 3 đo vào cuối mùa mưa năm sau (9/1987) và đưa ra

kết luận như sau:

Các chỉ số về sinh trưởng cũng như số lượng cây tái sinh tăng nhanh vào cuối

mùa mưa và giảm dần vào mùa khô

Sinh trưởng của những loài cây ưu thế tái sinh tại hai ưu hợp của Cà chít

(Shorea obtusa) cũng như hai ưu hợp còn lại là tương tự nhau.

Tại lần đo đếm thứ nhất và 3 có tổ thành cây tái sinh giống nhau và khác vớilần đo đếm thứ 2

Loài cây tái sinh ưu thế có sự sai khác với tầng cây cao Như tại ưu hợp

Shorea obtusa- Shorea siamesis thì cây tái sinh ưu thế tại lần 1 và 3 là Shorea obtusa, Cratoxylum formosum và lần 2 là Shorea obtusa, xylia xylocarpa; tại ưu

hợp Shorea obtusa- Pterocarpus macrocarpus thì cây tái sinh ưu thế tại lần 1 và

3 là Shorea obtusa, Pterocarpus macrocarpus và lần 2 Shorea obtusa, Albizia

odoratissima.

1.1.2 Những nghiên cứu về cây họ Dầu

Tác giả Cronquist (1981) phân chia họ Dầu (Dipterocarpaceae Blume)

thành 3 phân họ sau[12]:

Trang 8

* Dipterocarpoideae: bao gồm các loài gặp ở vùng nhiệt đới châu Á và

Malesia, đặc trưng bởi bao phấn đính gốc, lá đài cùng phát triển thành cánh, bầu

2 hoặc 3 ngăn, mỗi ngăn chứa 2 noãn

* Monotoideae: có các loài của nhiệt đới châu Phi và Mađagaxca, có các

bao phấn lắc lư, lá đài ít phát triển cùng và chỉ đôi khi thành cánh, bầu có 2 ngăn

và ít khi 4 ngăn với 12 noãn mỗi ngăn

* Pakaraimoideae: đặc hữu của vùng cao Guayana, nhiệt đới Nam Mỹ, gần gũi với họ phụ Monotoideae nhưng có cánh hoa ngắn hơn lá đài và không có

cuống hoa lưỡng tính, bầu có 4 tới 5 ngăn, mỗi ngăn có 2 hoặc 4 noãn

Tác giả Ashton (1982) đã mô tả cây họ Dầu châu Á là cây có nhựa, kíchthước từ nhỏ tới lớn, thường có bạnh vè[23] Lá đơn, mọc cách, lá kèm phát triển

để bảo vệ chồi và cành lá non có lông bao phủ Hoa tự chuỳ, cánh hoa dài hơn láđài và có lông tơ ở các mức độ khác nhau, có 3 hoặc 5 cánh đài phát triển thành

cánh trên quả Bao phấn thường có hai túi phấn, bầu 3 ngăn, mỗi ngăn mang 2noãn Đặc trưng của cây họ Dầu châu Á là sự có mặt của ống nhựa trong gỗ

Kostermans (1985) mô tả cây họ Dầu châu Á thường có 15 nhị và chúngsắp xếp thành 2 vòng[26], 5 nhị vòng trong và 10 nhị vòng ngoài Vòi nhị ngắn,

thường phẳng Bao phấn thường có 4 ngăn và nhẵn

1.1.3 Những nghiên cứu về Dầu đồng và Cà chít

- Phân loại, hình thái

Theo Roxb, Dầu đồng có tên khoa học là Dipterocarpus tuberculatus thuộc chi

Dipterocarpus Gaertn, họ Dipterocarpaceae Blume[4].

Theo Wall (1914) Cà chít có tên khoa học là Shorea obtusa thuộc chi Shorea Roxb, họ Dipterocarpaceae Blume[4].

Theo kết quả nghiên cứu về hình thái hoa của Dầu đồng, tác giả Presert

Sornsathapornkul và Jintana Bupabanpot (2002) thì Dầu đồng thuộc hoa đầy đủ

Trang 9

[29] Chùm hoa có tới 4 nhành, 5 cánh đài và 5 cánh tràng, nhị từ 28 tới 68 vàmọc vòng quanh nhuỵ Bầu nhuỵ chia thành 3 thuỳ, mỗi thuỳ mang 2 noãn.

-Tái sinh

Sự phát triển của hoa Dầu đồng được tác giả Presert Sornsathapornkul vàJintana Bupabanpot (2002) nghiên cứu tại rừng khộp [29], trạm bảo tồn geneInthakil, huyện Maetaeng, tỉnh Chiangmai trên 10 cây có hoa nhiều và khả năng

đậu quả cao và cho kết quả: mùa ra hoa từ giữa tháng 2 tới cuối tháng 3, hoa phát

triển trong khoảng từ 15 tới 20 ngày, hoa bắt đầu nở từ 8 tới 9 giờ đêm và quátrình thụ phấn diễn ra tới sáng hôm sau, khả năng thụ phấn thành công thấp vàchỉ đạt 5,6%

1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1 Những nghiên cứu về rừng khộp

- Thảm thực vật

Thành phần rừng khộp xét về loài đơn giản hơn nhiều so với rừng thường

xanh Cho đến nay đã ghi nhận được 68 họ, 204 chi và 309 loài thực vật,Vũ BiệtLinh và cộng sự (1988) [10] Trong đó có 98 loài cây gỗ, 46 loài cây bụi, gỗ

dạng bụi và dây leo thân gỗ, 168 loài cỏ và cây nửa bụi nhỏ Có 54 loài cho gỗ to

và trung bình, quan trong nhất có 4 loài đặc trưng chỉ mọc trong rừng khộp đó là:Dầu trà beng, Dầu đồng, Cẩm liên và Cà chít Một số loài cây gỗ họ Dầu và

không họ Dầu có số lượng cá thể ít hơn, đang chú ý là: Gõ đỏ (Sindora

chochichinenensis), Căm xe (Xylia dolabriformis), Trắc (Dalbergia bariensis),

Chiêu liêu (Terminalia sp).

Theo tác giả Ngô Tiến Dũng (2004) [7], thảm thực vật Vườn Quốc gia

Yok Đôn được phân loại như sau: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rưng thưa

nửa rụng lá; kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá (rừng khộp)

Trang 10

Với kiểu rừng khộp: phân quần xã này rất đặc trưng, độc đáo và bao trùmnhất Vườn Quốc gia, các họ thực vật chủ yếu trong phân quần xã này khôngnhiều và phải kể đến họ Dầu là nhiều nhất, ngoài ra còn sự xuất hiện của họ Đàolộn hột, họ Đậu, họ Mã tiền.

Đặc điểm cơ bản của phân quần này là rừng thưa, lá rộng, rụng lá và cấutrúc đơn giản về tầng thứ, nghèo về tổ thành loài, mật độ thấp và được chia thành

những quần thể Dầu đồng thuần loài

* Ưu hợp Cẩm liên (Shorea siamensis)-Chiêu liêu đen (Terminamia alata)-Căm xe (Xylia xylocarpa): rừng có cấu trúc tầng tán không rõ ràng.

* Ưu hợp Chiêu liêu đen (Terminamia alata) - Cẩm liên (Shorea siamensis): quần xã này thường phân bố ở những nơi chuyển tiếp từ rừng bán

thường xanh và rừng khộp

- Cấu trúc quần thụ

Thái Văn Trừng (1970) đề nghị chỉ nên chia ra 2 ưu hợp khác nhau về

hình thái và loài cây[20]:

Ưu hợp cây thấp: Cẩm liên, Cà chít, Chiêu liêu

Ưu hợp cây cao chủ yếu là các loài thuộc chi Dipterocarpus.

Trang 11

Trần Văn Con (1990) nghiên cứu về cấu trúc tổ thành rừng khộp ở TâyNguyên đã dùng phương pháp mô phỏng cấu trúc tổ thành loài rừng khộp bằng

phương trình entropie có dạng[5]:

h = H’(1-exp(-ks))

của Stocker và Bergmann (1977) và đã phân biệt được 5 kiểu ưu hợp chính dựa

theo các loài ưu thế chính có tầm quan trọng nhất (>30%) và 16 kiểu ưu hợp phụ

dựa theo các loài ưu thế phụ (>1030%), cụ thể tại bảng 1.1

Bảng 1.1 Cấu trúc tổ thành rừng khộp ở Tây Nguyên

(Dipterocarpaceae), kiểu rừng thưa cây lá rộng - cây lá kim hơi khô nhiệt đới

Trang 12

với ưu thế thông hai lá (Pinus merkusii) và cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) Hai

kiểu rừng này phát sinh trong điều kiện khí hậu bán nhiệt đới mưa mùa Khí hậuchia thành 2 mùa khô và ẩm rõ rệt và mùa khô kéo dài tới 6 tháng

Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới với ưu thế cây họ Dầu phân

bố ở độ cao 200 700 m so với mặt nước biển

Thành phần thực vật gồm 20 loài: Dầu trà beng (Dipterocarpus

obtusifolius), Cẩm liên (Shorea siamensis), Cà chít (Shorea obtusa), Sao đen (Hopea odorata), Thị rừng (Diosperos sylvatica), Căm xe (Xylia xylocarpa),

Bằng lăng (Lagestroemia sp), Chiêu liêu ổi (Terminalia corticosa), Kơnia

(Irvingia malayana), Trâm (Eugenia sp), Bình linh (Vitex pubescens), Xoài rừng (Magifera duperena), Lành ngạnh (Cratoxylon formosum), Xoay (Dialium cochinchinensis), Cẩm lai (Dalbergia mammosa), Thẩu tấu (Apososa microcalyx), Sổ lá lớn (Dillenia pentagyna), Me rừng (Phyllanthus emblica),

Gáo (Anthocephalus indicus), Gõ mật (Sindora cochinchinensis) Trong đó 4

loài cây họ dầu (Dầu trà beng, Sao đen, Cà chít, Cẩm liên) chiếm 50,7% tổng số

cá thể

Mật độ cây tái sinh trung bình là 8.400 cây/ha trong đó Dầu trà beng, Cẩmliên, Cà chít chiếm 75% (6.300 cây/ha) 52,4% cây tái sinh có nguồn gốc từ hạtcòn lại nguồn gốc từ chồi 40% cây tái sinh có chất lượng kém hay không cótriển vọng tạo rừng

- Tương quan H/D

Đối với rừng khộp, xuất phát từ giả thuyết cho rằng: lúc còn non cây rừng

khộp phát triển chiều cao mạnh để vượt khỏi phạm vi nguy hiểm của lửa rừng,

sau đó chiều cao phát triển chậm lại để phát triển đường kính Do đó tỷ số H/D là

một hàm giảm theo thời gian Giả thuyết này có thể biểu diễn bằng phương trìnhtích phân sau:

(dH/dD) D = b với b là hằng số

Trang 13

Giải phương trình này ta có: H = a + b lnD Số liệu thực nghiệm cho thấy quan

hệ H/D các cây ưu thế trong rừng khộp là:

- Cấu trúc chất lượng cây rừng khộp

Chất lượng của cây rừng khộp được xem xét theo các chỉ tiêu: hình dángthân cây, tỷ lệ lợi dụng kinh tế, mức độ rỗng ruột… đã phân thành ba cấp chất

TheoHồ Viết Sắc (1984)thì tỷ lệ rỗng ruột của cây rừng khộp tại bảng 1.3[14]:

Bảng 1.3 Tỷ lệ rỗng ruật của rừng khộp theo cấp đất

Trang 14

- Đặc điểm tái sinh

Đặc điểm vật hậu của rừng khộp phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, nhất làlượng mưa và thời kỳ mưa hàng năm sẽ là nhân tố quyết định sự ra hoa kết quả

Thời gian ra hoa kết quả của các loài cây chính trong rừng khộp không giốngnhau,Đinh Quang Diệp (1990) [6]

Bảng 1.5 Thời gian ra hoa kết quả của 4 loài cây chính

Theo Trung tâm tài nguyên môi trường - Viện sinh thái và Tài nguyên

sinh vật (2003) [18] và Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [12] Việt Nam có khoảng

Trang 15

43 loài cây họ Dầu thuộc 6 chi: Anisoptera (Vên vên), Dipterocarpus (Dầu),

Hopea (Sao), Parashorea (Chò), Shorea (Cẩm), Vatica (Táu).

- Phân bố

Theo các nhà nghiên cứu tại Phân viện Điều tra quy hoạch II (1994) đãphân chia cây họ Dầu tại vùng Đông Nam Bộ vào 4 nhóm chính[15]:

* Nhóm cây họ Dầu ưa ẩm trên vùng đồi núi thấp: gồm các loài cây

thường xanh, ít rụng lá hoặc rụng lá một phần như Dầu nước (Dipterocarpus alatus), Dầu mít (Dipterocarpus costatus), Dầu lá bóng (Dipterocarpus turbinatus), Sao đen (Hopea odorata), Sến mủ (Shorea roxburghii), Vên vên (Anisoptera costata).

* Nhóm cây họ Dầu ưa ẩm trên vùng bán bình nguyên gợn sóng: các loài

chủ yếu là Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri), Chai thorel (Shorea thorelii),

và Táu trắng (Vatica odorata).

* Nhóm cây họ Dầu trên đất xám xương xẩu: bao gồm những loài cây

rụng lá mùa khô như Dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus), Dầu lông

(Dipterocarpus intricatus), Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), Cà chít (Shorea obtusa).

* Nhóm cây họ Dầu trên đất cát ven biển: bao gồm những loài cây họ Dầu

thường xanh và một số loài rụng lá mùa khô như Sến mủ (Shorea roxburghii),

Dầu cát (Dipterocarpus caudatus aff condorensis), Vên vên (Anisoptera

costata), Cẩm liên (Shorea siamensis).

Dựa trên chế độ khô ẩm, GS.TS.Thái Văn Trừng (1999) phân chia cây họdầu thành 3 vùng phân bố chủ yếu sau[19]:

* Vùng rừng khô cây họ dầu: Đây là loại rừng khộp điển hình thường gặp

ở Tây Nguyên Phân bố tại đây là những loài chịu được nhiệt độ khô hạn và lửa

rừng, là những loài có vỏ dầy, rụng lá vào mùa khô, có thể mọc thuần loài hay

Trang 16

ưu thế tại các ưu hợp Những loài chủ yếu phân bố tại đây: Cà chít (Shorea obtusa), Cẩm liên (Shorea siamensis), Sến mủ (Shorea roxburghii), Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), Dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus), Dầu lông (Dipterocarpus intricatus).

* Vùng rừng thường xanh/nửa rụng lá mưa mùa: rừng cây họ Dầu mọcthuần loài hoặc hỗn giao trên đất cát ven biển miền Trung tới Đông Nam Bộ

Cây họ Dầu ưu thế là Dầu cát (Dipterocarpus caudatus aff condorensis), Sến cát (Shorea roxburghii), ngoài ra còn có Dầu nước (Dipterocarpus alatus), Vên vên

(Anisoptera costata), Cẩm liên (Shorea siamensis), Táu duyên hải (Vatica mangachapoi).

* Rừng kín ẩm thường xanh mưa mùa: tại đây không có những loài rụng

lá và chịu lửa rừng, những loài phân bố tại đây có khuynh hướng mọc thành

đám, thành cụm như loài Vên vên (Anisoptera costata), Dầu mít (Dipterocarpus costatus), Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri), Sao đen (Hopea odorata) và

Dầu nước (Dipterocarpus alatus).

- Gây trồng

Cây họ Dầu được gây trồng từ những năm 1920 do nhà lâm nghiệp ngườiPháp tên Paul Moral thực hiện với loài Dầu nước và Sao đen tại Trạm thựcnghiệm lâm nghiệp Trảng Bom (Đồng Nai) [12] Cho tới nay thì nhiều loài cây

họ Dầu được đem từ rừng tự nhiên ra gây trồng tại nhiều nơi

Các loài cây họ dầu được trồng thử nghiệm nhiều nhất tại vùng Đông Nam

bộ, đặc biệt là các loài của rừng ẩm như Dầu song nàng, Dầu nước, Sao đen, Vênvên, Sến mủ Tại Đồng Nai, Dầu nước được trồng thuần loài hoặc xen với Điều,Keo lá tràm tại Xuân Lộc, La Ngà, Mã Đà, Hiếu Liêm; Sao đen được trồng thuầnloài hoặc xen với Điều, Keo lá tràm, Tếch tại Thống Nhất, Long Thành, La Ngà,

Mã Đà, Tân phú và Lâm trường 600 Tại Bình Dương, Sao đen trồng xen với Keo

lá tràm tại Tân Uyên; Dầu nước trồng xen với Xà cừ tại Phú Bình Tại Bình Phước,

Trang 17

Sao đen được trồng xen với Keo lá tràm tại Bình Long, trồng thuần loài tại Đồng

xoài; Dầu nước được trồng thuần loài tại Thống Nhất, xen với Điều tại Bù Đăng,Nghĩa trung, Thống nhất, xen với Keo lá tràm tại Bình Long, Nghĩa Trung và LộcNinh, xen với Xà cừ tại Minh Đức Tây Ninh, Sao đen được trồng xen với điều tại

Dương Minh Châu, với Keo lá tràm tại Dương Minh Châu, với Xà cừ tại Dầu

Tiếng; Dầu nước được trồng thuần loài tại Tân Biên, Dương Minh châu và trồngxen với Keo lá tràm tại Tân biên Bà Rịa –Vũng Tầu, Sao đen được trồng thuầnloài tại Xuyên Mộc, xen với Keo lá tràm tại Châu Đức và xen Tếch tại XuyênMộc; Dầu nước trồng thuần loài và xen Điều tại Xuyên mộc Bình thuận, Sao đen

được trồng xen Điều tại Tánh Linh, xen Keo lá tràm tại Hàm Thuận Bắc; Sến mủxen Điều tại Tánh Linh và tại nhiều nơi Dầu nước và Sao đen được trồng làm câyđường phố

Những kết quả về gây trồng cho thấy trồng thuần loài các cây họ Dầu cho

sinh trưởng tốt hơn trồng hỗn giao với các loài cây khác Tuy nhiên đây mới chỉ là

những kết quả đánh giá sơ bộ ban đầu và việc trồng xen với những loài khác nhưKeo, Xà cừ, Điều, Sắn không phải là những loài tham gia vào tổ thành cùng vớicác loài thuộc họ Dầu trong rừng tự nhiên

1.2.3 Những nghiên cứu về Dầu đồng và Cà chít

- Phân loại, hình thái, một số tính chất gỗ và giá trị sử dụng

Theo Võ Văn Chi (2003), Dầu đồng là cây gỗ lớn, cao 15÷25 m, đườngkính ngang ngực có thể tới 60 cm, rụng lá theo mùa [4]; cây phân cành sớm, tánxoè rộng; vỏ thân màu xám xẫm, nứt dọc sâu, thường bong mảng cứng và dày,vết đẽo vỏ mầu nâu đỏ; cành non thô, màu hơi đỏ tím, có lông tơ mềm; lá đơn,xếp cách và xoắn ốc, mép nguyên, phiến lá rất lớn, nhất là lá ở chồi và cây non,

gân bên 9÷16 đôi, nổi rõ ở mặt dưới lá, gân nhỏ rất sát nhau; cuống lá thô, hơi

dẹt, dài từ 5÷7,5 cm; lá kèm màu đỏ bao chồi, dài từ 4÷5 cm, khi rụng để lại sẹovòng quanh cành, mùa lá rụng từ tháng 9 tới tháng 10; hoa tự chùm thưa, mang từ

Trang 18

6÷8 hoa, hoa màu đỏ tía, không có cuống, hoa đều lưỡng tính, mẫu 5, đài hợpthành ống bao quả, ống đài không dính với quả, hai cánh đài phát triển thànhcánh bao quả; quả hình cầu hay trứng, dài từ 2÷3 cm, nhẵn hay thường có lônghình sao, đầu quả gần như có 5 múi, 2 cánh.

Theo Võ Văn Chi (2004), Cà chít là cây gỗ trung bình tới lớn, cao 15÷30 m,

đường kính 30÷70 cm, vỏ mầu đo đỏ, nứt dọc sâu không đều; lá thuân hơi không

cân ở gốc, tù tới tròn ở đỉnh, nhẵn ở mặt trên, có lông mềm rải rác ở mặt dưới, gân

bên 15÷20 đôi, cuống lá từ 1÷1,4 cm; cụm hoa ở ngọn và ở nách lá, thành chùy dài

6÷16 cm, mang 5÷12 nhánh mang hoa không cuống; bầu hình trái xoan, có lông,vòi rất ngắn; quả hình dải thuân, dài 1,8 cm, có 5 cánh không đều[4]

Gỗ mầu nâu đỏ, cứng và rất nặng, có thể chịu được thời tiết khắc nghiệt 10÷15

năm, có thể dùng trong xây dựng, đóng đồ, làm cột điện…

- Phân bố, sinh thái

Theo tác giả Trần Hợp, Hoàng Quảng Hà (1997) thì Dầu đồng phân bốchủ yếu ở rừng thưa [8], khô, rụng lá (rừng khộp), đôi khi mọc thành các quầnthụ thuần loài, chịu được đất cát khô nóng và nạn cháy rừng Cây ưa sáng, mọckhỏe, sinh trưởng chậm, tái sinh hạt tốt (nếu không có lửa rừng) và tái sinh chồikhỏe Mùa hoa tháng 12÷1, quả chín tháng 4÷8

Theo tác giả Võ Văn Chi (2003) [4], ở nước ta Dầu đồng được phát hiệnphân bố tự nhiên từ các tỉnh Kon Tum, Gia Lai (Hậu Bổn, Cheoreo), Đăk Lắc

(Easup, Buôn Đôn, Ealop), Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai (Biên Hoà,

Trảng Bom) và Tây Ninh

Theo tác giả TrầnHợp, Hoàng Quảng Hà (1997) [8], Cà chít mọc chủ yếu

ở rừng thưa, khô (rừng khộp) ở khắp Tây Nguyên, thường mọc lẫn với các cây

rụng lá theo mùa trong họ đậu, chịu được hoàn cảnh sống khó khăn, đất cát phanhiều sạn sỏi đá, khô cằn và qua nạn lửa rừng Cây ưa sáng, mọc khỏe và tăng

Trang 19

trưởng chậm, tái sinh trồi và hạt đều tốt nếu không bị cháy Mùa hoa tháng 1 ÷ 2,

quả tháng 4 ÷ 6

Theo tác giả Võ Văn Chi (2004) [4], ở nước ta Cà chít phân bố tự nhiên ởcác tỉnh: Gia Lai (Cheoreo), Đak Lak (Easup, Buôn Đôn), Lâm Đồng (Đà Lạt), KhánhHoà (Ba Ngòi), Ninh Thuận, Bình Thuận và Tây Ninh

Theo Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường -Viện Sinh thái vàTài nguyên sinh vật (2003) [18], Cà chít phân bố ở Mianma, Thái Lan,Campuchia, Lào và Nam Việt Nam Ở nước ta, có gặp tại Đak Lak, Lâm Đồng,Khánh Hòa, Ninh Thuận và Tây Ninh Cây mọc trong rừng khô rụng lá, giữa độcao 200 và 1000 m Ra hoa tháng 23, có quả tháng 45

Tỷ lệ tổ thành của một số loài cây phổ biến tại rừng khộp được ghi tại bảng 1.6

Bảng 1.6 Tỷ lệ tổ thành của một số loài cây phổ biến tại rừng khộp

* Quy lật phân bố số cây theo đường kính (N/D)

Để nghiên cứu quy luật N/D cho loài Dầu đồng, Nguyễn Thành Tân(1997) đã sử dụng hàm Weibull và có nhận xét [16]: hàm Weibull mô phỏng rấttốt cho quy lật phân bố số cây theo đường kính, thể hiện qua hai tham số  và 

Trang 20

được chọn theo phương pháp tối ưu với khi bình phương nhỏ nhất Mức độ phù

hợp 100% ở mức ý nghĩa 0,5%, tham số   2,2 phân bố lệch trái, điều này cho

thấy lượng cây tập trung ở cỡ kính nhỏ, chứng tỏ khu vực nghiên cứu những cây

có đường kính lớn đã được khai thác

* Phân bố số cây theo chiều cao (N/H)

Để mô phỏng quy luật này tác giả đã dùng hàm Weibull và cho kết quả

Bảng 1.8 Phương trình tương quan H/D1.3theo cấp năng suất

* Quy luật tương quan Dt/D1.3

Theo kết quả nghiên cứu thì tác giả[16]dùng phương trình bậc nhất mô tả

tương quan giữa Dtvà D1.3cho kết quả tại bảng 1.9

Trang 21

Bảng 1.9 Phương trình tương quan Dt/D1.3theo cấp năng suất

- Mô hình hoá sinh trưởng và tăng trưởng

Trong nghiên cứu của mình tác giả Nguyễn Thành Tân (1997) đã tiếnhành mô hình hoá quy luật của các chỉ tiêu D1.3, H, V, Pv và dự đoán tăng trưởngtrữ lượng cho kết quả như sau[16]:

* Sinh trưởng về đường kính

Bảng 1.10 phương trình mô hình hoá sinh trưởng đường kính theo tuổi với cáccấp năng suất

A: tuổi cây

* Sinh trưởng về chiều cao

Bảng 1.11 phương trình mô hình hoá sinh trưởng trưởng đường kính theo tuổivới các cấp năng suất

* Tăng trưởng về thể tích

Trang 22

Bảng 1.12 phương trình mô hình hoá tăng trưởng thể tích theo tuổi với các cấp

* Dự đoán tăng trưởng trữ lượng

Bảng 1.13 phương trình mô hình hoá tăng trưởng trữ lượng theo tuổi với các cấp

Vi: thể tích cây bình quân

Những nghiên cứu về rừng khộp và cây họ Dầu đã được một số tác giả thựchiện Nhìn chung các nghiên cứu có liên quan tới loài Dầu đồng và Cà chít mớichủ yếu nặng về phân loại rừng, mô tả thảm thực vật định tính, cấu trúc quần thụ.Những nghiên cứu về những loài cây ưu thế của rừng khộp chưa được nhiều tácgiả nghiên cứu tới Đặc biệt là loài Dầu đồng và Cà chít, mới dừng lại ở nhữngnghiên cứu về phân loại, quần thể nơi có Dầu đồng và Cà chít phân bố và một ítnghiên cứu về sinh trưởng và tăng trưởng mà chưa nghiên cứu sâu về sinh thái,cấu trúc tổ thành, mối quan hệ giữa Dầu đồng, Cà chít với các loài cây khác trongquần thể, đất đai và tái sinh tự nhiên

Trang 23

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí địa lý, địa hình

Vườn Quốc gia Yok Đôn có vị trí địa lý và phạm vi ranh giới sau:

Easup Cách 48 km theo đường chim bay so với Buôn Ma Thuật

Về địa hình: toàn bộ bờ trái sông Serepok là vùng đồng bằng bóc mòn vàbồi tụ ít, chính vì vậy kiểu địa hình chung cho cả vùng điều tra là kiểu địa hình

đồng bằng bóc mòn với dạng các đồi thấp theo các dòng chảy (suối nông), vừa

thuộc chân các vùng đồi còn sót lại và vừa có bờ dốc đứng nơi ven sông Độ caotuyệt đối trung bình của khu vực điều tra nằm dưới 200m với độ dốc trung bình

từ 380

, thấp dần từ Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc Nhìn chung đây là khuvực tương đối bằng phẳng với các dải đồi thấp xen kẽ với các suối nông, đôi chỗ

có hơi trũng, tụ nước vào mùa mưa, hoặc vùng bằng phẳng thấp là nơi canh tác

của đồng bào, độ cao tương đối trung bình của khu vực chỉ là 20251m, do đó

cảnh quan rừng và đất rừng ở đây liền một dải rộng, khu vực nghiên cứu có hoàncảnh sống gần giống nhau

2.2 Khí hậu

Khí hậu theo mùa ở đây đóng một vai trò rất lớn trong quá trình sinh

trưởng và phát triển của các loài cây thân gỗ Khí hậu Vườn Quốc gia Yok Đôn

mang tính chất khí hậu nhiệt đới khô, có tổng nhiệt độ năm khoảng 93000C, nhiệt

Trang 24

382mm/tháng, còn lại chỉ khoảng 6  7% lượng mưa cả năm rơi vào tháng 12

tới tháng 3 năm sau Như thế sự phân hoá thành mùa khô nóng đối lập hẳn vớimùa ẩm là đặc điểm khí hậu rất cơ bản của khu vực nghiên cứu

2.3 Đất đai

Do quá trình bóc mòn triệt để, đá trầm tích cát-bồ kết mà hình thành Vào

mùa mưa, quá trình bóc mòn bề mặt vẫn diễn ra mạnh mẽ làm nền đất mặtthường bị mỏng dần, trơ cả sỏi cuội Tuy nhiên, ven theo các con suối, ở đây

tầng đất có dầy hơn làm số lượng loài cây ưa ẩm phát triển mạnh Đất dọc sôngSerepok có nước quanh năm làm thành hành lang ven sông với chiều rộng thay

đổi từ 100200m Đất khá sâu dày từ 100120cm, với lượng mùn trung bình ở

tầng mặt 2,72% và độ sâu từ 2237cm đạt 4,42%, độ chua gần trung tính từ 6 6,6, hàm lượng lân và kali dễ tiêu vào loại trung bình (P2O3= 1,252,25mg/100gđất, K2O=8,5015,5mg/100g đất) Thành phần cơ giới cát pha, thành phần sét

vật lý thấp, chỉ chiếm 3,2  13,2% Đi sâu vào phía Tây, tiếp theo vùng hành

lang là phần đất còn ảnh hưởng của đất phù sa, nhưng địa hình đã bằng phẳng

hơn và đất bị ảnh hưởng của bóc mòn, vùng đất này nhỏ bé, chiếm khoảng 20%vùng đất điều tra, diện tích đất còn lại là loại đất feralit vàng, vàng xám phát

triển trên cát kết, bột kết và kết von Đất ảnh hưởng phù sa hình thành trên mộtmặt tương đối bằng phẳng nằm giữa 2 nhánh sông Serepok So với đất phù sanêu ở trên thì đất này hơi chua hơn, pHkcl từ 4,45,2, hàm lượng mùn trung bình

khoảng 2,92% ở bề mặt, nhưng xuống các tầng sâu thì giảm đi nhanh chóng, chỉcòn 0,30,6%, thành phần cơ giới từ cát pha tới thịt nhẹ

2.4 Hệ thực vật

Qua nghiên cứu cho thấy, hệ thực vật ở Vườn Quốc gia Yok Đôn chịu ảnh

hưởng rất lớn của chế độ mưa mùa Vào mùa mưa, cây cỏ (cây sống hàng năm

hay cây thân củ) phát triển rất mạnh làm thành bụi lớn, có khi lút kín đầu người.Các dòng chảy và nơi đất trũng, các loài cây đầm lầy và thuỷ sinh xuất hiện và

Trang 25

che hết cả mặt nước nông Ngược lại, vào mùa khô chỉ trơ lại các loài cây gỗ lớn

và lác đác các bụi le bụi mua Rừng khộp chiếm 7080% diện tích, diện tích

rừng nửa rụng lá rất ít hoặc nằm ở chân hai dãy núi hoặc xen lẫn đám rừng khộp

nơi ven hai bên suối, đất trũng, nơi nhiều cây ít rụng lá xuất hiện các loài cây họđậu để tiến tới rừng thường xanh lá rộng của 2 ngọn núi nằm gọn trong Vườn

Quốc gia

Hệ thực vật trên diện tích 582 km2 có 566 loài thuộc 290 chi và 108 họ.Các họ đa dạng nhất có 16 họ chiếm 14% tổng số họ trong hệ thực vật nhưng cótới 288 loài chiếm 50,9% tổng số loài của hệ thực vật Các chi đa dạng nhất là 19chi chiếm 6,5% tổng số chi của hệ thực vật nhưng có tới 115 loài chiếm 20,3%tổng số loài của cả hệ thực vật Các cây có nguy cơ bị tiêu diệt có 14 loài chiếm 2%tổng số loài cây trong hệ thực vật

Hệ cây gỗ Yok Đôn rất đa dạng về yếu tố địa lý với 523 loài được xếp vào

19 yếu tố địa lý khác nhau Trong đó yếu tố nhiệt đới châu á gồm 342 loài chiếm60,4% tổng số loài của hệ thực vật Tiếp theo là yếu tố đặc hữu có 101 loài chiếm17,8% tổng số loài của hệ thực vật, còn các yếu tố khác không đáng kể

Phổ dạng sống của hệ cây gỗ Yok Đôn được thể hiện như sau: SB = 71,73

Ph + 1,41 Ch + 7,77 HC + 4,59 Cr + 6 Th Trong đó dạng sống Ph(Phanerophytes) chiếm ưu thế với 71,73% Điều này khẳng định rằng hệ cây gỗ

ở đây ổn định và ít bị tác động

Trang 26

CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu

3.1.1 Về lý luận

Xác định một số đặc tính sinh học cơ bản của loài Dầu đồng, Cà chít phân

bố trong rừng khộp ở Tây Nguyên và góp phần hiểu biết sâu hơn về hai loài câynày làm cơ sở khoa học để đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong côngtác bảo tồn và phát triển loài

3.1.2 Về thực tiễn

Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong công tác bảo tồn và phát

triển loài Dầu đồng và Cà chít ở vùng Tây Nguyên

3.2 Giới hạn của đề tài

3.2.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu một số đặc tính sinh học cơ bản có liên quan trực

tiếp tới sinh trưởng và phát triển của loài Dầu đồng và Cà chít: hình thái, vật hậu,sinh thái, cấu trúc tổ thành, mối quan hệ giữa loài Dầu đồng và Cà chít với một

số loài ưu thế trong tổ thành, tương quan giữa D1.3- Dt, và tái sinh tự nhiên

3.2.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Loài Dầu đồng và Cà chít được tiến hành nghiên cứu tại ưu hợp Dầu đồng

và ưu hợp Cà chít của rừng khộp phân bố tự nhiên tại Vườn Quốc gia Yok Đôn

3.2.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 4 năm 2006 tới tháng 9 năm 2007

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Đặc điểm hình thái, vật hậu

Hình thái thân cây, lá, hoa và quả;

Trang 27

Thời vụ rụng lá, nảy chồi, ra lá, ra hoa, ra quả và quả chín trong năm.

3.3.2 Đặc điểm phân bố và sinh thái

Phân bố của Dầu đồng, Cà chít;

Đặc điểm khí hậu nơi Dầu đồng, Cà chít phân bố;

Đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng nơi nghiên cứu

3.3.3 Đặc điểm lập quần của loài

Cấu trúc tổ thành tầng cây cao;

Quan hệ giữa Dầu đồng, Cà chít với một số loài cây bạn;

Tương quan giữa Dtvà D1.3;

Mạng hình phân bố

3.3.4 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài

Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh;

Chất lượng cây tái sinh;

Cây tái sinh có triển vọng;

Mạng hình phân bố của cây tái sinh;

Nguồn gốc cây tái sinh;

Cây bụi thảm tươi

3.3.5 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh

Giải pháp bảo tồn;

Giải pháp phát triển

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận chung của đề tài là áp dụng các phương pháp

nghiên cứu sinh thái cá thể và sinh thái quần thể, kết hợp với các phương pháp

điều tra lâm học truyền thống

Trang 28

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Sử dụng phương pháp ô tiêu chuẩn tạm thời với diện tích 900 m2 (30 x 30m) bố trí một cách ngẫu nhiên hệ thống tâm các ô cách nhau 60 m; ô 6 cây bố trímột cách ngẫu nhiên hệ thống có tâm các ô cách nhau 30 m; và theo dõi định kỳtrên các cây mẫu

Hình 3.1 Sơ đồ mô phỏng ô 6 cây

3.4.1.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, vật hậu

3.4.1.2 Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái

Số liệu khí tượng nơi Dầu đồng và Cà chít phân bố được lấy theo số liệu

khí tượng thuỷ văn Việt Nam[1] [3]

Cây 0

Trang 29

Đặc điểm đất có Dầu đồng và Cà chít phân bố được nghiên cứu trên các

phẫu diện ở ưu hợp Dầu đồng và ưu hợp Cà chít Sáu phẫu diện đất (3 phẫu diệntại ưu hợp Dầu đồng, 3 phẫu diện tại ưu hợp Cà chít) được đào để mô tả và lấy

đất phân tích ở các độ sâu từ 0÷30 cm, 30÷60 cm, 60÷90 cm Tiến hành mô tả và

lấy mẫu phân tích theo phương pháp nghiên cứu đất, cụ thể:

Xác định độ pH bằng phương pháp pH metress;

Xác định hàm lượng mùn tổng số bằng phương pháp Walkley-Black;Xác định hàm lượng đạm tổng số bằng phương pháp Kjeldhall;

Xác định hàm lượng lân dễ tiêu bằng phương pháp Kirsanốp;

Xác định hàm lượng kali dễ tiêu bằng phương pháp Kirsanốp;

Xác định thành phần cơ giới bằng phương pháp của FAO

3.4.1.3 Nghiên cứu đặc điểm lập quần của loài

- Điều tra tầng cây cao để xác định cấu trúc tổ thành

40 ô tiêu chuẩn tạm thời được được lập ngẫu nhiên hệ thống ( 20 ô tại ưuhợp Dầu đồng, 20 ô tại ưu hợp Cà chít), diện tích mỗi ô là 900 m2 (30 x 30 m).Trên các ô tiêu chuẩn ta tiến hành xác định các chỉ tiêu: chiều cao vút ngọn (H),chiều cao dưới cành (Hdc), đường kính ngang ngực (D1.3) và đường kính tán (Dt)của những cây tham gia vào tầng tán chính

Trên cơ sở phân tích phẫu diện đứng tại ưu hợp Dầu đồng, Cà chít để nghiên

cứu mối quan hệ của loài cây nghiên cứu với các loài cây bạn trong ưu hợp

- Điều tra tầng cây cao để xác định tương quan giữa các loài

Diện tích ô mẫu 6 cây được xác định dựa vào phương pháp xác định diện

tích dinh dưỡng của ô có khoảng cách 6 cây gần nhất làm căn cứ Trước hết

trong khu vực nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 10 cây làm tâm và từ đó đo khoảngcách từ cây làm tâm tới 6 cây gần nhất, chẳng hạn khoảng cách tới 6 cây được kýhiệu X1 X2 X3 X4 X5 và X6 Diện tích Siđặc trưng khoảng cách bình quân cho

Trang 30

một cây chọn ngẫu nhiên thứ i được xác định theo phương pháp hình tròn có bánkính là khoảng cách trung bình của 6 cây nói trên, tức là:

2 i

Qua kết quả nghiên cứu thì diện tích ô mẫu bằng 124,6 m2

Trên các ô ta tiến hành xác định tên loài cây (tên Việt Nam, tên khoa học)

và thống kê toàn bộ những cây tham gia vào tầng tán chính;

Để xác định mối quan hệ giữa loài nghiên cứu với các loài khác, dùngphương pháp sinh thái học định lượng để xác định hai chỉ tiêu  n được sử

dụng để đánh giá mối quan hệ theo từng cặp loài (Nguyễn Hải Tuất, 1991 [21],

2006 [22]) Tổng số 200 ô 6 cây được lập và quan sát (100 ô tại ưu hợp Dầu

đồng, 100 ô tại ưu hợp Cà chít)

3.4.1.4 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh

- Điều tra cây tái sinh

40 ô dạng bản (ODB) với diện tích 4 m2/ODB được lập để điều tra cây tái

sinh (trên mỗi ưu hợp 20 ODB được lập) Dưới mỗi ô tiêu chuẩn tạm thời ta tiếnhành lập một ô dạng bản

Tất cả những cây chưa tham gia vào tầng tán chính thì được coi là cây tái sinh

Xác định tên loài cây, nếu có loài cây chưa biết thì thu thập tiêu bản đểgiám định

Đo chiều cao vút ngọn bằng thước sào chia vạch tới đơn vị cm

Trang 31

Xác định phẩm chất và phân thành 3 cấp chất lượng là tốt, trung bình và xấu:

Cây tốt (A): những cây có tán lá phát triển đều đặn, tròn, thân tròn thẳng,không khuyết tật, không sâu bệnh

Cây trung bình (B): những cây có tán lá bình thường, ít khuyết tật

Cây xấu (C): những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởngkém, khuyết tật nhiều và sâu bệnh

- Xác định nguồn gốc cây tái sinh

Cây tái sinh được xác định có nguồn gốc từ hạt hay từ chồi

- Cây bụi thảm tươi

Điều tra cây bụi ta tiến hành xác định các chỉ tiêu: tên loài cây, số lượng,

chiều cao vút ngọn đo bằng thước mét chia tới cm, độ che phủ được xác địnhbằng phương pháp mục trắc

Thảm là lớp cây cỏ phủ trên bề mặt đất rừng, chỉ tiêu xác định là loài phổbiến, độ che phủ được xác định bằng phương pháp mục trắc và tính phần trămche phủ

Tổ thành loài cây rừng là tỷ lệ các loài tham gia tạo nên quần thụ, được

xác định theo chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value - IV%) của loài nào có

trong tổ thành lâm phần[9]

Chỉ số giá trị quan trọng biểu thị tốt hơn, toàn diện hơn cho các tính chấtcủa hệ sinh thái so với các giá trị đơn tuyệt đối của mật độ, tần suất …

Trang 32

(%) (%)

(%) R

Tần suất xuất hiện của một loài nghiên cứu

Số lượng các ô mẫu có loài xuất hiện

về mặt sinh thái) Theo Thái Văn Trừng (1978) [19] thì tỉ lệ chung của các loài

ưu thế của rừng nhiệt đới hỗn loài phải chiếm trên 50% Dựa vào hai quan điểm

trên và kết hợp với thực tế nghiên cứu, đề tài xác định nghiên cứu mối quan hệgiữa loài cây nghiên cứu và những cây bạn có IV ≥ 2%

3.4.2.2 Xác định quan hệ giữa Dầu đồng với một số loài cây bạn

- Phương pháp dựa vào bảng chéo

Phương pháp này trong thống kê toán học gọi là phương pháp kiểm tratính độc lập theo mẫu biểu 2 x 2 (hai hàng và hai cột) như bảng sau:

Trang 33

Trong bảng trên ô a chỉ số ô không có mặt của cả loài A và B, ô b chỉ số ô

có loài A nhưng không có loài B, ô c chỉ số ô có loài B nhưng không có loài A, ô

d chỉ số ô vừa có loài A vừa có loài B Trị số đặc trưng để kiểm tra là khi bình

phương được tính theo công thức:

) )(

bc ad n n

ncho thấy hai loài có quan hệ với nhau hay không,

nhưng nó không cho ta biết mối quan hệ của hai loài là hỗ trợ hay bài xích nhau

nên ta kết hợp với phương pháp tương quan giữa các sự kiện

- Phương pháp tương quan giữa các sự kiện

Nghiên cứu mối quan hệ giữa hai loài A và B nào đó với nhau, n ô đượcquan sát theo kiểu ngẫu nhiên hệ thống Qua quan sát ta thấy có nAô có mặt loài Athuần tuý, nBô có mặt loài B thuần tuý và nABcó mặt vừa loài A vừa loài B

Để xác định mức độ liên hệ giữa hai loài ta dùng

P

B P A P AB P

1

PAAB

là xác suất xuất hiện loài A

Trang 34

 

n

n n B

Nếu = 0 thì quan hệ giữa hai loài mang tính chất trung tính nếu > 0thì quan hệ giữa hai loài mang tính chất hỗ trợ nhau Nếu < 0 thì quan hệ giữa

2 loài mang tính chất bài xích nhau Ta có thể tạm thời quy ước cho trường hợpquan sát ở mẫu như sau:

0 ≤ < 0,3: quan hệ trung tính

0,3 ≤ < 0,5: quan hệ dương vừa phải (trung bình)

0,5 ≤ < 0,7: quan hệ dương tương đối chặt

0,7 ≤ < 0,9: quan hệ dương chặt

0,9 ≤ < 1: quan hệ dương rất chặt

-0,3 <≤ 0: quan hệ trung tính

- 0,5 <≤ - 0,3: quan hệ âm vừa phải

- 0,7 <≤ - 0,5: quan hệ âm tương đối chặt

- 0,9 <≤ - 0,7: quan hệ âm chặt

- 1 <≤ - 0,9: quan hệ âm rất chặt

3.4.2.3 Xác định tương quan giữa D 1.3 và D t

Đường kính tán cây là bộ phận quyết định đến sinh trưởng, tăng trưởng

của cây rừng, nó là chỉ tiêu quan trọng để xác định không gian dinh dưỡng củacây rừng Từ kết quả này có thể tính hệ số khép tán cho từng loài và từng giai

đoạn Qua nghiên cứu của nhiều tác giả đã khẳng định giữa đường kính tán vàđường kính ngang ngực luôn tồn tại mối quan hệ đồng biến Phương trình tuyến

tính một lớp được dùng để xác định tương quan giữa D1.3và Dt

Trang 35

3.4.2.4 Đặc điểm tái sinh tự nhiên

- Xác định cấu trúc tổ thành loài cây tái sinh

100 (%)  

n

m

Trong đó: A: phần trăm tổ thành cây tái sinh

m: số cá thể của loài nào đón: tổng số cây trong các ô dạng bản

- Xác định cấu trúc mật độ cây tái sinh và cây tái sinh có triển vọng

S n

Trong đó: N: mật độ cây tái sinh

n: số cây trung bình cho mỗi ô dạng bảnS: diện tích ô dạng bản

Qua khảo sát điều tra tại khu vực nghiên cứu, tầng cây bụi thảm tươi cóchiều cao trung bình ≈ 1 m vì vậy những cây tái sinh có chiều cao ≥ 1 m đượccoi là cây có triển vọng

n

Trong đó: Ntv: tỷ lệ phần trăm cây tái sinh có triển vọng

ntv: số cây triển vọng

Nt: tổng số cây tái sinh

- Xác định tần suất phân bố cây tái sinh

Trang 36

Ti: số ô dạng bản có loài x xuất hiệnT: Tổng số ô dạng bản đo đếm

- Xác định chất lượng cây tái sinh

100 (%)  

N

n

Trong đó: Nc: tỷ lệ phần trăm cây tái sinh tốt; trung bình; xấu

n: Tổng số cây tốt; trung bình; xấuN: Tổng số cây tái sinh

Trang 37

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Cây Dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus Roxb)

4.1.1 Đặc điểm hình thái, vật hậu

Cây gỗ lớn, cao tới 25m, chiều cao dưới cành khoảng 1015m, đường

kính ngang ngực tới 50cm, rụng lá theo mùa, cây phân cành sớm, tán xoè rộng,

vỏ thân màu xám xẫm, nứt dọc sâu, thường bong mảng cứng và dày, vết đẽo vỏmầu nâu đỏ, cành non thô, màu hơi đỏ tím, có lông tơ mềm

Hình 4.1 Quả Dầu đồng Hình 4.2 Tán lá Dầu đồng

Lá đơn, xếp cách và xoắn ốc, mép nguyên, phiến lá rất lớn, nhất là lá ở

chồi và cây non, dài từ 20÷50cm, rộng từ 18÷34cm hình trứng trái xoan, đầu lá

có mũi nhọn hoặc tù, đuôi lá hình tim, ở những lá già mép lá gợn sóng, gân bên

9÷16 đôi, nổi rõ ở mặt dưới lá, gân nhỏ rất sát nhau, cuống lá thô, hơi dẹt, dài từ

5÷7,5cm, có lông mềm, thưa

Trang 38

Lá kèm màu đỏ bao chồi, dài từ 4÷5cm, khi rụng để lại sẹo vòng quanh

cành, mùa lá rụng từ tháng 9 tới tháng 10

Hình 4.3 Vỏ Dầu đồng Hình 4.4 Vết đẽo vỏ Dầu đồng

Hình 4.5 Búp Dầu đồng Hình 4.6 Lá Dầu đồng ở cây tái sinh

Hoa tự chùm thưa, mang từ 6÷8 hoa, hoa màu đỏ tía, không có cuống, hoa

đều lưỡng tính, mẫu 5, đài hợp thành ống bao quả, ống đài không dính với quả,hai cánh đài phát triển thành cánh bao quả

Quả hình cầu hay trứng, dài từ 2÷3cm, nhẵn hay thường có lông hình sao, đầuquả gần như có 5 múi, 2 cánh dài từ 9÷16cm có 3 gân dài tới 3/4 chiều dài cánh

Ngày đăng: 15/05/2021, 18:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm