1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hình thái, sinh thái, sinh trưởng và khả năng nhân giống bằng hom trà hoa vàng tam đảo (camellia tamdaoenis ninh et hakoda)

85 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự hướng dẫn của GS.TS Ngô Quang Đê và đồng ý củakhoa Sau đại học – Trường đại học Lâm nghiệp, tôi chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởn

Trang 1

DƯƠNG ĐỨC TRÌNH

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI, SINH THÁI, SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG BẰNG HOM TRÀ HOA VÀNG TAM ĐẢO

(Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2011

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS NGÔ QUANG ĐÊ

Hà Nội, 2011

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

“Trà hoa vàng với những kiểm nghiệm dược lý đầu tiên tiến hành trênđối tượng là động vật đã cho kết quả hết sức khả quan Trà hoa vàng có khảnăng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8% trong khi y học chorằng chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trịung thư Ngoài ra, nó giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu

mà nếu dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33.2% Hơn thế, Tràhoa vàng còn có tác dụng làm giảm tới 36.1% lượng lipoprotein trong máu,cao hơn 10% so với các liệu pháp chữa trị sử dụng tây dược hiện nay Đối vớinhững biểu hiện xơ cứng động mạch do lượng mỡ trong máu cao thì sử dụngcác chế phẩm từ Trà hoa vàng là một cách chữa trị rất có hiệu quả Saukhoảng 20 ngày những biểu hiện bệnh lý sẽ giảm hẳn Trà hoa vàng còn rấttốt cho bệnh cao huyết áp vì khả năng làm giảm và điều hoà huyết áp của nó

Pha 1-2 ml tinh chất từ Camellia chrysantha trong 100 ml nước, uống như

chè hàng ngày có thể chữa được rất nhiều bệnh

Báo cáo tổng kết trên đối tượng là người tình nguyện cho thấy thứcuống này có thể chữa được chứng táo bón nếu sử dụng trong vòng 1 tuần;uống liên tục trong khoảng 3 tháng có thể giúp hạ đường huyết, giảm lượngđường trong máu đối với bệnh nhân bị tiểu đường Nó có thể thay phươngpháp xạ trị trong điều trị ung thư như ung thư tuyến bạch huyết ngay cả ở giaiđoạn cuối đem lại kết quả hết sức khả quan Bên cạnh đó, một số bệnh vềđường hô hấp, bài tiết (chứng tiểu khó và vàng), khí thũng hay co thắt dạ con

ở phụ nữ đều có thể sử dụng thức uống này như một phương pháp chữa trịđơn giản lại sớm mang lại kết quả Sở dĩ Trà hoa vàng có nhiều công dụngnhư vậy là vì trong thành phần của nó có chứa các nguyên tố như Se, Ge, Mo,

Mn, V, Zn và một số nguyên tố khác có tác dụng trong việc bảo vệ sức khỏe,

Trang 4

ngăn ngừa ung thư, củng cố tính đàn hồi của thành mạch, điều hoà cácenzyme hoạt hoá cholesterol…

Trong công trình nghiên cứu “To demonstrate the medical treatmentand health protection value of GOLDEN CAMELLIA”, giáo sư Chen Jihui và

Wu Shurong đã đưa ra các kết luận, bằng chứng chứng minh cho tác dụngchữa bệnh của Trà hoa vàng dựa trên các thí nghiệm lâm sàng được tiến hànhtrong một thời gian dài Công trình của các ông đã được báo cáo ở Hội nghịUNESCO thế giới về hoá sinh học vô cơ ứng dụng, đồng thời được in trongtập ISHBC và xuất bản trên khắp thế giới Năm 1994 điều này đã được hơn

120 nhà khoa học và các học giả trên toàn thế giới khẳng định một lần nữa tạiHội nghị toàn cầu về Chrysantha ở Nam Ninh, Trung Quốc”[24]

Nhưng giá trị lớn nhất và dễ nhận thấy nhất của các loài thuộc chiCamellia là làm cây cảnh Hiện nay trên thế giới và Việt Nam có rất nhiềuloài thuộc chi Camellia có hoa rất đẹp với đủ các màu sắc khác nhau nhưtrắng, đỏ, hồng…và nhiều màu sắc lạ mắt, độc đáo được tạo ra do lai tạo đãthu hút sự quan tâm của những nhà chơi cây cảnh Trong số đó, các loài Tràhoa vàng rất hiếm chỉ gặp ở Việt Nam và Trung Quốc

Cho đến nay, giới khoa học chuyên về Trà của thế giới chỉ phát hiệnTrà hoa vàng (tên khoa học là Camellia) ở Việt Nam và một số khu vực hẹpthuộc vùng Nam Trung Quốc Trong khi Trung Quốc ngoài việc sử dụng,khai thác các loài Trà trong nghệ thuật cây cảnh, thức uống hàng ngày và đãxuất khẩu sản phẩm dược liệu và thực phẩm chức năng làm từ Trà hoa vàngthì loài cây đặc biệt quý này vẫn chưa được quan tâm đúng mức tại Việt Nam

Việt Nam nói chung và VQG Tam Đảo nói riêng nằm trong vùng nhiệtđới gió mùa Điều kiện thiên nhiên rất thuận lợi cho sự phát triển của các loàithực vật Tam Đảo đã trải qua một quá trình phát triển tạo nên sự đa dạng sinhhọc và tồn tại qua hàng nghìn năm Song chỉ trong khoảng thời gian vài trăm

Trang 5

năm con người đã làm cho thiên nhiên vùng Tam Đảo biến đổi nhiều, đa dạngsinh học bị thất thoát và suy giảm.

Rất đáng mừng trong nhiều thập kỷ gần đây các vấn đề liên quan đến

đa dạng sinh học được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu sinh học chú ý.Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học tại Tam Đảođược công bố Các kết quả liên quan đến nhiều đối tượng thuộc các ngànhsinh học khác nhau và được công bố trong nhiều công trình khác nhau Theoước tính của nhiều nhà thực vật khu hệ thực vật VQG Tam Đảo gồm khoảng

1200 loài thực vật bậc cao thuộc 478 chi của 176 họ Tuy nhiên các công trìnhnghiên cứu thực vật VQG Tam Đảo chỉ dùng ở mức thống kê các loài, phân

bố của một số loài có giá trị chứ chưa có một công trình nào đề cập chi tiếtcủa một đơn vị phân loại cụ thể nào Từ năm 1997 đến nay đã có đề tài đã tiếnhành nghiên cứu các loài Trà hoang dại của Việt Nam nói chung và Vườnquốc gia Tam Đảo nói riêng, phát hiện nhiều loài Trà mới cho khoa học chỉgặp ở VQG Tam Đảo Hơn thế nữa trong số các loài Trà mới gặp ở Tam Đảolại có nhiều loài Trà hoa vàng, một nguồn gen vô cùng quý hiếm chỉ gặp ởcác tỉnh Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam Tuy nhiên hầu hết chưa đượcnghiên cứu về các đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng và khả năng táisinh của chúng Vì thế việc khai thác, kinh doanh lợi dụng rừng còn gặp nhiềukhó khăn Đặc biệt là việc nghiên cứu sử dụng và bảo tồn bền vững các loàicây đặc hữu, quý hiếm và sự phong phú về đa dạng sinh học trong khu hệ

thực vật Tam Đảo, điển hình trong đó là Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda).

Ngày nay khi điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, cuộc sống của conngười ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về giải trí, thẩm mỹ, thưởng thức

về cái đẹp cũng được con người và xã hội chú trọng hơn và ngày càng trở nên

Trang 6

cần thiết vì nó làm cho cuộc sống của con người trở nên tươi đẹp hơn và thỏamãn nhu cầu thư giãn.

Do đó để nghiên cứu sử dụng và bảo tồn bền vững các loài cây đặchữu, quý hiếm Được sự hướng dẫn của GS.TS Ngô Quang Đê và đồng ý củakhoa Sau đại học – Trường đại học Lâm nghiệp, tôi chọn thực hiện đề tài

“Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng và khả năng nhân gi ống bằng hom Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh

et Hakoda).”

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Trên Thế giới

Theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiềuthành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, QuảngChâu, đã du nhập tập tính uống Trà của người Tàu về bản quốc Hàng tháng

để kịp có Trà, nhiều cuộc đua gọi là Đua Trà, bằng thuyền buồm chở các loạiTrà quý từ Trung Hoa sang London rất hào hứng

Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX nhà sưu tập G.Forest củavườn thực vật Hoàng gia Anh vào Vân Nam đã thu thập hạt các loài Trà

Camellia Resculata, Camellia Saluenensis,…về trồng.

Năm 1610 người Hòa Lan (Hà Lan) mang Trà từ Trung Hoa về ÂuChâu Vua Ludwig XIV, Marquise de pompadour, và Goethe là những ngườiuống trà xanh Nữ hoàng Kathrina von Bragaza (1638-1705) con vua Johanns

IV Bồ Ðào Nha (Portugal) cùng đoàn tùy tùng đến Anh Quốc làm lễ thànhhôn năm 1665, dâng lễ vật quà cưới đến vua Charle II (1660-1685) trong đó

có nửa kilô Trà Chứng tỏ Trà lúc đó rất quý đối với giới quý tộc Âu Châu

Các quốc gia Ấn Ðộ, Tích Lan (Sri Lanka) bị Anh quốc chiếm làmthuộc địa, các thương gia Anh độc quyền nhập Trà năm 1657 về các cảngCornwall, Dorset, Kent chở về cho 2000 đại lý ở London bán trà đen tại ÂuChâu Trà nhập Âu Châu bằng đường thủy, trong thời gian này những đoàn lữhành, vượt sa mạc dùng lạc đà chuyên chở trà từ Trung Hoa, Ấn Ðộ đến báncho Liên Xô Nhưng đến cuối thế kỷ XIX trà xanh tràn ngập thị trường ÂuChâu, nhờ phương tiện lưu thông tiến bộ, thời gian chuyên chở làm cho tràxanh không mất phẩm chất

Các Tổng thống Hoa Kỳ: Lincoln, Roosevelt, Hoover, Kennedy đềuuống trà Năm 1650 thương thuyền Hòa Lan nhập trà vào New York, thời ấy

Trang 8

gọi là Amsterdam mới (new Amsterdam) Năm 1773 ở Boston vì tranh cãi vềthuế trà, bị phản đối một phần trà nhập cảng bị ném xuống biển.

Theo Trương Hồng Đạt cho thấy ở Trung Quốc cây Trà có phân bố tựnhiên ở 16 tỉnh và có nhiều loài có giá trị thẩm mỹ cao Việc nghiên cứu vềcác loài Trà hoa được bắt đầu ở Trung Quốc từ những năm 40 của thế kỷ XX,kết quả của việc chọn giống và nhân gây tạo giống đã đưa số chủng loại Tràhoa từ 20 loài lên 120 loài

Đầu những năm 1950 ở Côn Minh (Trung Quốc) đã đưa việc nghiêncứu ứng dụng Trà hoa thành trọng điểm và đi sâu vào nghiên cứu nguồn gốc,phân loại, lai tạo ra các giống mới để phát triển Trà hoa, thiết lập các nguồngiống, xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho các mục tiêu sản xuất nguyênliệu công nghiệp, đồ uống và nghệ thuật cây cảnh

Trình Kim Thủy và Trương Hồng Đạt đã tiến hành phân loại chiCamellia thành 4 chi phụ: Potocamelli, Camellia, Thea và Metacamellia Saunày nghiên cứu tiếp của Chung Hung Ta đã được giới thiệu trong cuốn

“Camellius” xuất bản năm 1981 ở Trung Quốc vẫn thống nhất với cách chia

Trang 9

chi Camellia thành 4 chi phụ và đồng thời chia tiếp 4 chi phụ thành 20 chinhánh Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu của ông cho thấy sự phân bố củachi Camellia tập trung ở một số tỉnh ở miền Nam Trung Quốc và kéo xuốngmiền Bắc Việt Nam.

Trà vào Nhật Bản thế kỷ thứ VI, Hòa Thượng Huimeng (638-713)truyền Phật Giáo từ Trung Hoa sang Đại Hàn vào Nhật Bản và phát triểnmạnh trong thời Nara Zeit (710-794) Trà du nhập vào cùng giai đoạn trên,nhưng đến thời Hoàng đế Shômu thế kỷ thứ VIII trà dùng phổ thông hơn Kếtiếp qua nhiều triều đại văn hóa phát triển Thượng phụ Murato Shuko (1422-1502) chế biến trà xanh (Matcha) thường dùng trong các Chùa và các Hiệp sĩđạo (Samurai) Đến đời sư phụ Sen-No Rikyu (1522-1591) được nâng lên mộtnghệ thuật, trở thành nghi thức uống trà (Tea ceremony/ Chanoyu) khởi đầutại Daitoku-Ji-Tempel

1.3.Ở Việt Nam

Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: câychè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núiphía bắc: cây chè Suối Giàng

Lê Quý Đôn trong sách “ Vân Đài loại ngữ ” (1773) có ghi trong mục

IX, Phẩm vật như sau: “…Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới

và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổnhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nướcuống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon Hoa và nhịchè càng tốt, có hương thơm tự nhiên…”

Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buônbán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ HàNội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùngXípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ

Trang 10

Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam(1923), và tây nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đãviết “…những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sôngDương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ(Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sôngSalouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam.”

Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, saunhững nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất Cafein trongchè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, và cácvùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An…), đãviết: “…Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các Cafein đơn giản nhiều hơn câychè Vân Nam… Từ đó có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới sau đây ” Camellia

→ Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc → Chè Assam(ấn Độ)”

Tháng 2 năm 1923, Alfred Petelot thầy thuốc người Pháp đã tiến hànhthu thập một số loài thực vật của vùng núi Tam Đảo nay trở thành Vườn quốcgia Tam Đảo Dựa trên mẫu vật mang số hiệu 848 lưu giữ tại phòng tiêu bảnthuộc trường đại học California (UC) nhà thực vật người Pháp Elmer DrewMerrill đã công bố loài mới và đặt tên là Thea petelotii vào năm 1924 (inUniv Publi Bot 10:427) Theo luật danh pháp quốc tế, Robert Sealy một nhà

thực vật người Anh đổi thành Camellia petelotii (Merr.) Sealy vào năm 1958

trong tác phẩm “Revesion of the genus Camellia” Đây là loài Camellia đầutiên ghi nhận có ở VQG Tam Đảo

Trong những năm nửa đầu thế kỷ XX nhiều nhà thực vật đã tiến hànhnhiều đợt khảo sát và thu thập các mẫu vật trong đó có các loài thuộc chi

Camellia, Eberhardt và Petelot đã thu thập được các mẫu Camellia

Trang 11

amplexicaulis và Camellia caudate Các loài này đã được Gagnepain công bố

trong “Thực vật chí Đông Dương” bổ sung xuất bản năm 1943

Từ năm 1990 đến 1998 nhiều cuộc khảo sát của các nhà nghiên cứuthuộc Viện điều tra quy hoạch rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên, Trườngđại học Lâm nghiệp Các kết quả nghiên cứu thực vật được thông báo hayđăng tải trên các kỷ yếu của các hội thảo Trong các bảng danh lục có đề cậpđến một số loài thuộc chi Camellia mà các nhà thực vật người Pháp đã thuđược ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam

Nghiên cứu của GS.TS Ngô Quang Đê bằng phương pháp điều tra theotuyến đã điều tra phát hiện khu vực phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái củamột số loài Trà hoa tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Tây (nay là Hà Nội) đã chothấy ở Vườn quốc gia Ba Vì có hai loài Camellia có triển vọng thuần hóa làmcây cảnh Phần lớn những loài này đều phân bố ở độ cao trên 600m, nơi cótầng đất dày, xốp ẩm, hơi chua dưới tán rừng, là các loài sinh trưởng chậm,chịu bóng nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh nên cần có kỹ thuật tốt Tuynhiên GS.TS Ngô Quang Đê đã di thực thuần hóa thành công 2 loài: Trà hoa

thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis) và Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard) Cohen Stuart) tại vườn ở Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà

Nội, hiện 2 loài này sinh trưởng phát triển tốt đồng thời cho hoa đẹp vào dịpxuân về Hiện nay đó cũng là một trong số rất nhiều loài Trà hoa mà GS.TSNgô Quang Đê đã thuần hóa trồng thành công tại vườn Trà của mình

Ngô Quang Đê, Ngô Quang Hưng và Lê Sỹ Doanh với nghiên cứukhảo sát điều kiện sống của Trà hoa vàng tại Ba Vì – Hà Tây và Sơn Động –Bắc Giang đã đánh giá được điều kiện sống cũng như các đặc điểm hình thái

sinh thái đặc trưng của hai loài Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard) Cohen Stuart) và Trà hoa vàng Sơn Động (Camellia euphlebia Merret

Sealy var microphylla)

Trang 12

Hoàng Minh Chúc và Bùi Văn Khánh đã nghiên cứu hình thái, sinhthái, sinh trưởng của 2 loài Camellia hoa trắng và Camellia hoa vàng tại Vườnquốc gia Ba vì – Hà Tây Tuy nhiên 2 tác giả mới chỉ dừng lại ở việc điều tra

tổ thành loài cây, xác định quan hệ của loài với môi trường sống thông quayếu tố khí hậu tại khu vực phân bố của loài nghiên cứu

Năm 1997, nghiên cứu của Lê Xuân Trường về đặc điểm hình thái, sinhthái, sinh trưởng của loài Camellia hoa vàng tại Sơn Động – Bắc Giang.Nghiên cứu đã chỉ ra được các đặc điểm hình thái, sinh thái của cũng như cácđiều kiện môi trường tác động trực tiếp tới loài Trà hoa vàng Tuy nhiên đề tàichưa xác định chính xác được tên khoa học của đối tượng nghiên cứu, khảnăng ứng dụng thực tiễn cũng như các biện pháp nhân giống bảo tồn, pháttriển bền vững

Năm 2000, nghiên cứu của Đỗ Đình Tiến về đặc điểm hình thái, sinh

thái, và khả năng nhân giống bằng hom loài Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii (Merrill) Sealy) Tác giả đã đánh giá được các đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng của loài Trà hoa vàng (Camellia petelotii) cũng như các

điều kiện môi trường tác động tới sự sinh trưởng phát triển của loài, và thửnghiệm nhân giống vô tính thành công phục vụ trong công tác bảo tồn, pháttriển trồng rừng và làm cảnh

Tháng 1 năm 1998 trong đợt khảo sát sự đa dạng sinh học chi Camellia

ở VQG Tam Đảo, PGS.TS Trần Ninh cùng GS Taoshi Hakoda trường

ĐHNN Tokyo Nhật Bản đã công bố 3 loài mới trong đó có 2 loài Camellia crassiphylla Ninh et Hakoda và Camellia rubiflora Ninh et Hakoda thu thập ở

VQG Tam Đảo các loài mới này được công bố trong tạp chí trà quốc tế(International Camellia Journal)

Năm 2002 PGS.TS Trần Ninh đã công bố trên tạp chí trà quốc tế 50loài Trà ghi nhận có ở Việt Nam Trong số 50 loài có 12 loài Trà gặp ở VQG

Trang 13

Tam Đảo trong nhiều năm tiếp theo PGS.TS Trần Ninh đã tiến hành nhiềuđợt khảo sát ở các địa điểm khác nhau của vườn.

Năm 2007 trong tạp chí khoa học của trường Đại học Quốc gia Hà Nội,

PGS.TS Trần Ninh đã công bố 2 loài Trà mới cho khoa học: Camellia hakoda Ninh và Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda.

Năm 2008 PGS.TS Trần Ninh và đồng nghiệp đã thu thập được ở Tam

Đảo 3 loài Trà trong đó có 2 loài Camellia hirsute Hakoda et Ninh; Camellia phanii Hakoda et Ninh lần đầu tiên ghi nhận có ở VQG Tam Đảo cùng với 1

loài Trà mới cho khoa học Tính đến nay 17 loài Trà được ghi nhận có ở VQGTam Đảo

Nghiên cứu và tìm hiểu về Trà hoa vàng và chi Camellia ở Việt Namcòn chưa được toàn diện và đồng bộ, chưa có một hệ thống phân loại đầy đủ

và chi tiết Đặc biệt với việc tìm hiểu về các đặc điểm, đặc tính sinh vật họccủa loài thì mới chỉ tiến hành được ở một số loài ở trên một số địa điểm nhấtđịnh Các nghiên cứu còn chưa sâu và đồng bộ, chưa đề cập đến biện phápchọn giống, nhân giống để bảo vệ, bảo tồn nguồn gen của các loài có giá trịkinh tế và giá trị thẩm mỹ cao Do đó việc nghiên cứu bổ sung về các đặcđiểm hình thái, sinh thái, phân loại, chọn giống và nhân giống để từng bướcgóp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng tăng về các giá trị của Trà hoavàng cũng như chi Camellia, bên cạnh đó xác định biện pháp cụ thể trong việckhai thác, sử dụng một cách hợp lý và phát triển bền vững Đặc biệt là đối với

loài Trà hoa vàng đặc hữu quý hiếm của Tam Đảo (Camellia tamdaoensis

Ninh et Hakoda)

Trang 14

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng và khả năng nhân

giống bằng hom Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et

Hakoda) Từ đó đề xuất phương hướng, biện pháp bảo vệ và sử dụng bềnvững loài này, làm tiền đề và cơ sở ban đầu nhằm tìm hiểu kỹ thuật nhângiống chuẩn bị cho bước phát triển nghiên cứu tiếp theo

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda) tại Vườn quốc gia Tam Đảo cùng với các yếu

tố sinh thái tại vị trí có phân bố tự nhiên của Trà hoa vàng này

2.3 Giới hạn đề tài

Nghiên cứu về các đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng và khả

năng nhân giống bằng hom của Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda).

2.4 Nội dung nghiên cứu

Nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra, đề tài tập trung tiến hành nghiêncứu với các nội dung sau:

2.4.1 Tìm hi ểu về đặc điểm hình thái và vật hậu của Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda)

Bao gồm các nội dung:

- Đặc điểm hình thái thân cây, rễ, vỏ cây, cành cây, lá cây, tán cây, hoa vàquả (nếu có) của Trà hoa vàng

- Đặc điểm vật hậu: mùa ra lá, mùa rụng lá, mùa ra hoa, kết quả của Tràhoa vàng

Trang 15

2.4.2 Tìm hi ểu đặc điểm nhân tố sinh cảnh và cấu trúc rừng nơi có cây Trà hoa vàng phân b ố

Xác định các đặc điểm sinh thái, quan hệ giữa nhân tố khí hậu, nhân tốđất đai với Trà hoa vàng Tam Đảo và quan hệ của loài này với một số loàikhác trong quần thể rừng tự nhiên tại Tam Đảo nơi có cây Trà hoa vàng phânbố

2.4.3 Tìm hi ểu các đặc điểm tái sinh tự nhiên và cấu trúc rừng có Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda)

 Đặc điểm tái sinh tự nhiên

 Đặc điểm của tầng cây bụi thảm tươi của rừng có Trà hoa vàng

2.4.4 Th ử nghiệm nhân giống bằng hom Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda)

 Kỹ thuật chọn hom, cắt hom

 Số lượng hom, công thức thí nghiệm,…

 Thu thập số liệu

So sánh kết quả giữa các công thức thí nghiệm, đánh giá về khả năngnhân giống bằng hom Trà hoa vàng Tam Đảo

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp luận trong nghiên cứu

Để quá trình thực hiện đề tài đạt kết quả tốt thì cần phải có phươngpháp nghiên cứu thích hợp Vì vậy phải căn cứ vào đối tượng nghiên cứu, nộidung cần nghiên cứu và các điều kiện, phương tiện, thiết bị phục vụ cho côngtác nghiên cứu cùng với việc tiếp thu, tham khảo dựa trên nguyên tắc kế thừanhững kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước

Đề tài nghiên cứu này thuộc lĩnh vực sinh học và đối tượng nghiên cứu

là các thực thể cây rừng và môi trường sống của nó Nếu với môi trườngnghiên cứu là những cây có vòng đời ngắn, kích thước nhỏ bé thì có thể bố trí

Trang 16

thí nghiệm trên diện tích nhỏ và có các thiết bị hiện đại để khống chế, điềuchỉnh và tạo ra điều kiện hoàn cảnh đáp ứng với yêu cầu của công tác nghiêncứu Còn đối với đối tượng nghiên cứu là những loài cây có kích thước lớn,tuổi đời dài thì những công thức thí nghiệm trong phòng chỉ phù hợp với giaiđoạn hạt – mầm, cây con Còn ở giai đoạn cây có kích thước lớn thì chỉnghiên cứu nó trên các cây tiêu chuẩn, trong ô tiêu chuẩn định vị hoặc tạmthời.

Đối với những cây gỗ sống lâu năm, để nghiên cứu đặc tính sinh thái vàcác yếu tố khác ở các giai đoạn tuổi của cây thì thời gian cần cho nghiên cứu

có thể phải hàng chục năm mới có kết quả Để khắc phục hạn chế này, rútngắn thời gian nghiên cứu người ta thường mở rộng không gian và cùng mộtlúc tiến hành nghiên cứu trên nhiều cá thể ở các giai đoạn tuổi khác nhautrong cùng một hoàn cảnh sinh thái Đây là phương pháp thường dùng tronglâm nghiệp để nghiên cứu rừng tự nhiên, phương pháp này cho kết quả nhanhchóng nhưng độ chính xác còn chưa cao phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên vàquá trình thực hiện

Hiện nay trên thế giới vẫn trong lĩnh vực nghiên cứu đặc điểm sinh vậthọc Các nhà khoa học vẫn dựa trên các quan điểm sau để nghiên cứu

 Quan điểm cá thể:

Đại diện cho trường phái này là các nhà khoa học như Ramenski (Nga),Fournier và Lenoble (Pháp), Whittaker và Brow (Anh), Negri (Ý), Curtis vàGleason (Mỹ),…cho “loài là thực thể duy nhất trong tự nhiên”, nên nhữngnghiên cứu thường chỉ tập trung hướng vào cá thể loài, thậm chí là các cá thểtrong loài Những đặc điểm chung của quần xã, hệ sinh thái được hình thành

từ các đặc điểm cá thể loài dù chúng có tác động, ảnh hưởng hỗ trợ hoặc kìmhãm lẫn nhau nhưng trong quan điểm này nó không được đề cao

Trang 17

 Quan điểm quần thể:

Điển hình cho quan điểm này là các nhà khoa học như Sukasop (Nga),Walter (Đức), Braun và Blanquet (Pháp), Clement (Anh), Pavlovxki (BaLan),… Trong trường phái này lại nhấn mạnh tầm quan trọng của đặc điểmquần thể loài và hệ sinh thái, hướng nghiên cứu tập trung vào đặc trưng củaquần thể loài tạo nên, không nhấn mạnh vào các đặc trưng cá thể

 Quan điểm trung lập:

Những nhà khoa học nghiên cứu trong trường phái này lại có tính dunghòa hai quan điểm cá thể và quan điểm quần thể, không nghiêng về quan điểmnào mà các nghiên cứu có sự kết hợp của cả 2 quan điểm Đại diện cho quanđiểm này có các nhà khoa học như Thái Văn Trừng (Việt Nam),Poniatovxkaia (Nga), Tensley (Anh),…

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.2.1 Tìm hiểu một số đặc điểm hình thái của Trà hoa vàng Tam Đảo

Để nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm hình thái của Trà hoa vàng, tôi sửdụng phương pháp quan sát kết hợp với mô tả ở thực địa, đồng thời thu thậpcác thông tin phỏng vấn từ người dân và các cán bộ lâm nghiệp có kinhnghiệm trong vùng nghiên cứu và so sánh, đối chiếu với các tài liệu nghiêncứu trước đây để xác định được những nội dung sau:

- Mô tả về hình thái của thân, lá, hoa, quả (nếu có) của Trà hoa vàng

- Quan sát hiện tượng chồi, nụ, hiện tượng ra hoa, rụng lá, quả non, quảgià của Trà hoa vàng Tam Đảo

Từ kết quả điều tra D1.3, Hvnchọn ra một vài cây (gọi là cây tiêu chuẩn)

có D1.3, Hvn bằng hay xấp xỉ với D1.3, Hvn bình quân của mỗi ô Trên các cây

đó chọn ra 9 cành: 1 cành ở ngọn, 4 cành ở giữa tán, 4 cành gần dưới tán, theocác hướng Đông – Tây – Nam – Bắc Trên các cành chọn ngẫu nhiên 80 lá đã

Trang 18

thành thục, không sâu bệnh, không bị dị dạng và không bị tổn thương cơ giới

để đo đếm các chỉ tiêu về lá

Kích thước lá thì đo chiều dài phiến lá từ sát cuống đến đỉnh, chiềurộng phiến lá đo theo bề ngang rộng nhất bằng thước có độ chính xác đến

mm, số gân lá kết quả ghi vào mẫu biểu sau:

Biểu 2.1: Đo kích thước lá Trà hoa vàng Tam Đảo

Ô tiêu chuẩn Địa điểm điều tra

Ngày điều tra Người điều tra

STT Chiều dài lá

(cm)

Chiều rộng lá (cm)

Số gân lá Ghi chú

Kích thước nụ, hoa, quả (nếu có) Trong thời gian thực hiện đề tài nếugặp thì thu các mẫu nụ, hoa, quả (n>30) Cách thu mẫu một cách ngẫu nhiên,các bộ phận này phải là bộ phận phát triển bình thường, không sâu bệnh,không bị tổn thương cơ giới Dùng thước kẹp Palme đo kích thước về chiềurộng hoặc đường kính và ghi vào biểu

Biểu 2.2: Kích thước nụ (hoa, quả)

Tính số lượng lá bắc, đài, tràng, nhị, nhụy: chọn ngẫu nhiên một hoa(n>30), đồng thời với việc quan sát tiến hành mô tả các bộ phận, giải phẫuhoa, vẽ hoa đồ và đo đếm các bộ phận Ghi kết quả vào mẫu biểu:

Trang 19

Biểu 2.3: Biểu giải phẫu hoa STT

(hoa)

Số lá

bắc

Số đài Số tràng Số nhị Số ô bầu Ghi chú

Mô tả cây, hình dáng chung của thân cây, tán, dạng thân, màu sắc vỏ,

đo Hvn, D1.3, Dt, …cho tất cả các cây Trà hoa vàng có trong các ô tiêu chuẩn

Lấy mẫu tiêu bản, chụp ảnh các bộ phận của cây đã nghiên cứu

2.5.2.2 Đặc điểm vật hậu

- Tình hình sinh trưởng trong năm

- Mùa nở hoa

- Thời kỳ ra hoa kết quả

2.5.2.3 Đặc điểm sinh thái Trà hoa vàng Tam Đảo (Cammellia tamdaoensis

2.5.2.4 Điều tra tình hình sinh trưởng, tái sinh tự nhiên và một số đặc điểm

cấu trúc của quần thể rừng tự nhiên có Trà hoa vàng Tam Đảo (Cammellia tamdaoensis Ninh et Hakoda).

* Điều tra tình hình sinh trưởng tự nhiên

Lập 3 ô tiêu chuẩn đại diện cho khu vực nghiên cứu, mỗi ô có diện tích

1000 m2(kích thước 25m x 40m) tiến hành điều tra, đo đếm hết các cây

* Mô tả tình hình chung của ô tiêu chuẩn như số thứ tự ô tiêu chuẩn, loạirừng, đơn vị quản lý, lô khoảnh, kinh độ – vĩ độ, khoảng cách tới kênh nước

và đường giao thông gần nhất,…(vẽ sơ đồ nếu cần)

Trang 20

* Điều tra độ tàn che, độ che phủ của thảm tươi cây bụi và thảm khô trong

ô tiêu chuẩn Trong các ô tiêu chuẩn tiến hành điều tra độ tàn che, che phủcủa thảm tươi cây bụi và thảm khô kết quả thu được ghi vào biểu sau:

Biểu 2.4: Biểu điều tra độ tàn che, độ che phủ của thảm tươi cây bụi

và thảm khô

* Điều tra tầng cây cao trong ô tiêu chuẩn Tiến hành đo đếm đường kính

D1.3 (cm), đường kính tán (Dt1, Dt2) (m), chiều cao vút ngọn Hvn (m), chiềucao dưới cành Hdc (m) của những cây tham gia vào các tầng rừng chính của ôtiêu chuẩn, đo tất cả những cây có D1.3> 6 cm

Biểu 2.5: Biểu điều tra tầng cây cao

D 1.3 (m) D t1 (m) D t2 (m)

H vn (m)

H dc (m) Ghi chú

* Điều tra cây Trà hoa vàng Tam Đảo có trong ô tiêu chuẩn: tiến hành đođếm tất cả những cây Trà hoa vàng Tam Đảo có chiều cao lớn hơn chiều caocây tái sinh ( Hvn > 100cm) có mặt trên ô tiêu chuẩn Kết quả thu được ghivào biểu sau

Trang 21

Biểu 2.6: Biểu điều tra Trà hoa vàng trên ô tiêu chuẩn

(m)

Dt1 (m)

Dt2 (m)

Hvn (m)

Hdc (m)

KC (m)

* Điều tra tái sinh tự nhiên

Lập 5 ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn để điều tra cây tái sinh ở 4 góc và ở giữa

ở ô tiêu chuẩn, mỗi ô dạng bản có diện tích 25 m2(kích thước 5m x 5m)

Trang 22

Tiến hành đo đếm tất cả các cây Trà hoa vàng tái sinh có trong ô dạngbản và chia theo cấp chiều cao, chất lượng (tốt, trung bình, xấu), nguồn gốc(hạt, chồi) Kết quả đo đếm cây tái sinh được nghi vào biểu:

Biểu 2.8: Biểu điều tra tầng cây tái sinh

vệ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc bảo tồn, phát triển nguồn gen của loài

2.5.4 Th ử nghiệm nhân giống bằng hom Trà hoa vàng Tam Đảo

* Cách lấy hom: hom được lấy của những cây mẹ đã thành thục phân

bố trong tự nhiên, có thân và hình tán đẹp, cây sinh trưởng tốt, không sâubệnh, có hoa to đẹp (nếu có) Chọn các cành thứ cấp (cành cấp 2, 3), hoặchom chồi vượt càng tốt, các cành có hom được chọn là cành bánh tẻ, mới ratrong mùa sinh trưởng, khoảng cách các đốt tương đối đều, mỗi hom sau khi

về cắt phải được ít nhất 2 đốt (khoảng 3 lá)

Trang 23

* Cách cắt hom: dùng kéo thật sắc bén để cắt hom, vết cắt cần dứtkhoát để tránh dập và trầy xước, chiều dài hom từ 8 – 10 cm, cắt bỏ một phần

lá của hom để giảm bớt sự thoát hơi nước cho hom (thường cắt bỏ 2/3 lá trênhom)

* Xử lý và cắm hom: hom cắt xong được thả ngay vào chậu nước sạch

để tránh khô héo khi chưa xử lý kịp thời Trước khi xử lý hóa chất hom đượcngâm vào dung dịch benlat 0,1 % trong 15 phút để diệt nấm Sau đó với ra vàlần lượt xử lý hóa chất IBA, NAA theo những công thức có nồng độ khácnhau Các nồng độ được xử lý là 0,5%, 1%, 1,5%, 100ppm, 150ppm và200ppm Sau khi xử lý hom thì tiến hành cắm hom Dùng que nhỏ chọc lỗ,tay kia cắm hom, cắm xong dùng ngón tay ấn cát chặt vào gốc hom, hom cóthể cắm sát nhau (cách nhau 3 – 4 cm), cắm xong cần tưới nước giữ ẩm

* Thể nền để giâm hom: diện tích đất ở vườn để làm thí nghiệm phảiđược làm sạch cỏ dại, nhặt sỏi đá, dọn sạch, san bằng nền đất, sau đó đổ cátvàng (đã được sàng bỏ sỏi, rác, tạp chất và đã được phơi khô nhiều nắng đểdiệt khuẩn và hạn chế sâu bệnh) Cát được lên luống cao khoảng 5 – 10cm

* Theo dõi chăm sóc hom: Chăm sóc hom giâm là công việc cực kỳquan trọng, nó không thể thiếu được trong quá trình giâm hom Sau khi cắmhom, tưới đủ ẩm cho đất nền (thể nền), chụp khung nilong Hàng ngày tưới

ẩm 2 - 3 lần (những ngày trời nắng to thì phun 3 lần), 2–3 ngày thì tưới ẩmcho nền cát một lần, nền cát luôn giữ ẩm 60–70% Ở giai đoạn đầu, khi homtách rời hoàn toàn khỏi cơ thể mẹ, hom bị mất nước rất nhanh nếu không tướinước kịp thời và thường xuyên thì hom sẽ bị chết Tưới nước vừa đủ, nếu tướinhiều sẽ dẫn đến hom dễ bị thối và chết, nếu tưới ít thì lượng nước này sẽkhông cung cấp đủ cho mọi hoạt động sống của hom, dần dần hom mất nướcnhiều sẽ dẫn đến chết Khi hom ra rễ thì tưới nước ít hơn

Trang 24

Trong khâu chăm sóc, ngoài việc tưới nước còn phải chú ý đến nhiệt độ

và ánh sáng trong cả quá trình giâm hom Hàng ngày đều theo dõi nhiệt độ, độ

ẩm của luống giâm Lồng Polyetylen có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho

quá trình ra rễ của hom giâm Theo nghiên cứu của Hudson T Hartmann và Dale E Kester thì màng Polyetylen có chiều dày từ 0,1 đến 0,15mm cho 85%

ánh sáng đi qua và trong đó có tất cả các ánh sáng cần thiết cho sự phát triểncủa thực vật, đồng thời cho ôxy, cacbon đi qua nhưng lại ngăn cản sự bốc hơinước Như vậy trong lồng Polyetylen có thể duy trì được độ ẩm cao

- Lập sổ theo dõi các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giâm hom theo mẫubiểu sau:

Biểu 2.9: Biểu theo dõi nhân giống bằng hom

Ngày bắt đầu liền sẹo

Ngày bắt đầu ra rễ

Ngày ra bầu

Ghi chú

- Sau 4 tháng giâm hom khi hom đã ra rễ được một thời gian có thể ra bầuđược thì tiến hành ra bầu, thống kê mô tả hom loài Trà hoa vàng Tam Đảo,kết quả thu được ghi vào bảng sau:

Trang 25

Biểu 2.10: Biểu mô tả hom Trà hoa vàng Tam Đảo

Người cấy hom:

Stt

hom Số rễ

Chiều dài rễ dài nhất

Ghi chú

Stt hom Số rễ

Chiều dài rễ dài nhất

Ghi chú

 Tính toán nội nghiệp: từ số liệu thu thập được tiến hành tính toán nộinghiệp theo các chỉ tiêu: số rễ trung bình, chiều dài rễ trung bình, tỉ lệ ra rễ,

sử dụng tiêu chuẩn X 2 với mức ý nghĩa 5 % ( số bâc tự do k = (m – 1)( n-1))

để so sánh tỉ lệ ra rễ của các công thức thí nghiệm

Biểu 2.11: Biểu tổng hợp nhân giống bằng hom Trà hoa vàng Tam Đảo

Stt Công

thức

Số hom/

lần lặp

Ngày bắt đầu

ra rễ

Tỉ lệ

ra rễ (%)

Chiều dài rễ

TB (cm)

Số rễ TB (cái)

% sống sau khi ra bầu 4 tháng

Biểu 2.12: Biểu tổng hợp các chỉ tiêu so sánh cho các công thức thí

nghiệm theo tiêu chuẩn X 2

TT Các chỉ tiêu so sánh X 2lt X 2tt Kết luận

Từ các kết quả thu được so sánh, kết hợp với các chỉ tiêu theo dõi khácđưa ra công thức thí nghiệm thích hợp nhất để giâm hom loài Trà hoa vàng

Trang 26

2.5.5 S ử lý số liệu

Tính toán các chỉ số trung bình của loài: dung lượng mẫu quan sát sửdụng tính toán cho các nội dung đều > 30 và được rút ra từ kết quả điều tracủa từng nội dung

Xác định tổ thành loài cây: sử dụng công thức Ntb> N/m

Trong đó: Ntblà số cây TB của một loài, N là số cây điều tra, m là số loài điều tra

Những loài được xác định là loài chính khi có N > Ntb, đây là nhữngloài tham gia vào trong công thức tổ thành rừng tự nhiên có cây Trà hoa vàngphân bố

Lựa chọn các phương trình hợp lý để mô tả các mối quan hệ và tươngquan giữa các nhân tố điều tra trong các nội dung nghiên cứu Phương trìnhđược sử dụng là phương trình mô tả tất cả các mối quan hệ và có hệ số tươngquan (R) cao, trong giới hạn sai số cho phép đồng thời thỏa mãn các tiêuchuẩn kiểm tra mà thống kê toán học đã đặt ra Trong sử lý và tính toán các sốliệu đều quán triệt các nguyên tắc sử dụng và tôn trọng các quy trình tính toán

số liệu do thống kê toán học yêu cầu và luôn dùng các tiêu chuẩn kiểm tra đểđánh giá kết quả

Trang 27

Chương 3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1 V ị trí địa lý

Hình 3.1: B ản đồ Vườn quốc gia Tam Đảo

Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trong khoảng 21o 21’ đến 21o42’ độ vĩbắc, 105o23’ đến 105o44’ độ kinh đông

Địa giới hành chính Vườn quốc gia được giới hạn như sau: Phía bắc làđường quốc lộ 13A từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang qua Đèo Khế Phíađông-bắc bởi đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến gặp quốc lộ 13A

Trang 28

tại xã Phú Xuyên huyện Đại Từ Phía nam bởi ranh giới các huyện Tam Đảo,

Mê Linh thuộc Vĩnh Phúc; Phổ Yên, Đại Từ thuộc Thái Nguyên Phía nam bởi đường ô tô phía trái sông Phó Đáy nối từ Đường 13A tại xã KhángNhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương, dọc theo chân Tam Đảo gặp sông Bà Hanhtại xã Mỹ Khê bên hồ Đại Lải

tây-3.1.2 Địa hình, địa mạo Tam Đảo

Hình 3.2: Địa hình, địa mạo

Vườn quốc gia Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạohình khối đồ sộ, nằm ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, chạy dài theo hướng TâyBắc – Đông Nam Cả khối núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn rất dốc,

độ chia cắt sâu và dầy Chiều dài khối núi gần 80km, có gần 20 đỉnh cao sànsàn trên 1000m được nối với nhau bằng đường dông núi sắc, nhọn Đỉnh caonhất là đỉnh Nord (1592m) là ranh giới địa chính của ba tỉnh Vĩnh Phúc,Tuyên Quang và Thái Nguyên Chiều ngang biến động trong khoảng 10-

Trang 29

15km Núi cao, bề ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình quân 25-35 độ,nhiều nơi trên 35 độ nên rất hiểm trở và khó đi lại.

Dựa vào độ cao, độ dốc, địa mạo có thể phân chia dãy núi Tam Đảo thànhbốn kiểu địa hình chính:

- Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối: độ cao tuyệt đối

<100m, độ dốc cấp I (<70) Phân bố dưới chân núi và ven sông suối

- Đồi cao trung bình: Độ cao tuyệt đối 100-400m Độ dốc cấp II (80 –

150) trở lên Phân bố xung quanh chân núi và tiấp giáp với đồng bằng

- Núi thấp: Độ cao tuyệt đối 400 – 700m Độ dốc trên cấp III (160– 260).Phân bố giữa hai kiểu địa hình đồi cao và núi trung bình

- Núi trung bình: Độ cao tuyệt đối >700m – 1590m Độ dốc >cấp III.Phân bố ở phần trên của khối núi Các đỉnh và đường dông đều sắc và nhọn

Như vậy có thể nói địa hình Tam Đảo cao và khá đều (cao ở giữa vàthấp dần về hai đầu nhưng độ chênh không rõ), chạy dài gần 80km theohướng Tây-bắc – Đông-nam nên nó như một bức bình phong chắn gió mùaĐông Bắc tràn về đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Vì vậy ảnh hưởng lớn đếnchế độ khí hậu và thủy văn trong vùng

3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng

3.1.3.1 Địa chất

Dãy núi Tam Đảo được cấu tạo từ đá phun trào axít tuổi Triat thuộc hệtầng Tam Đảo (T2td) Thành tạo phun trào này kéo dài theo phương Tây Bắc– Đông Nam với chiều dài khoảng 80km, rộng khoảng 10km, có quan hệ kiếntạo với các thành tạo tuổi Devon ở phía Bắc và Tây Nam Các đá phun tràoTam Đảo bị xâm nhập phức hệ Núi Điêng xuyên cắt

Hệ tầng phun trào axit Tam Đảo bao gồm chủ yếu là đá riolit, riolitpocphia, riodacit và tuf của chúng, bề dày tổng cộng khoảng 800m Đá riolitchứa các ban tinh fenspat và thạch anh cỡ nhỏ đến vừa, chiếm khoảng 5-10%khối lượng Thành tạo riolit Tam Đảo bị phân cắt bởi hệ thống khe nứt, tạo ra

Trang 30

các khối kích thước khác nhau, bị ép thành tấm, đôi chỗ thành phiến, dập vỡmạnh Lấp đầy các khe nứt trong đá là các mạch thạch anh.

Theo tài liệu của Tổng cục Địa chất, tuổi tuyệt đối mẫu cục lấy ở khunghỉ mát Tam Đảo là 267 triệu năm, hơi cao hơn rionit ở dãy Phiabioc có tuổi

từ 230 đến 240 triệu năm Như vậy rionit Tam Đảo có tuổi Triat giáp Nori

Ở phần phía tây của vùng (mỏ thiếc), các thể xâm nhập granit kết hợp chặtchẽ với rionit kết tinh khá cao (giống ở dãy núi pháo Đồng Hỷ) chỉ có các đágranit chứa thiếc chắc chắn có tuổi trẻ hơn (ở cuối chân núi xuất hiện cuội kếtthuộc trầm tích kỷ Jura)

Trong quá trình phát sinh và phát triển của địa hình và lịch sử địa chất

đã tạo nên một số loại khoáng sản có nguồn gốc nội sinh như thiếc, vonfram.Hiện nay (1992) mỏ này đang được khai thác Diện tích mỏ lên đến hàngnghìn hecta, nằm ở phía bắc khu bảo tồn

Nhìn chung các loại đá này rất cứng Thành phần khoáng vật có nhiềuthạch anh, mouscovit khó bị phong hóa và hình thành các loại đất có thànhphần cơ giới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị xói mòn và rửa trôi, nhất là những nơi có

độ dốc cao hơn 35o Đất bị xói mòn rất mạnh để trơ lại tầng đá gốc cứng rắn.Nếu vì một lí do nào đó làm lớp phủ rừng bị phá hoại trên lập địa này, thì dù

có đầu tư cao cũng khó phục hồi lại lớp phủ rừng như xưa

3.1.3.2 Thổ nhưỡng

Về yếu tố đất đai, đã điều tra được 4 loại đất chính gồm:

 Đất Feralit mùn vàng, phát triển trên đá Macma axit, loại đất này xuấthiện ở độ cao từ 700m trở lên, có diện tích là 8968ha, chiếm 24,31% diện tíchcủa Vườn

 Đất Feralit mùn vàng đỏ phân bố trên núi thấp, phát triển trên đáMacma kết tinh, loại đất này có diện tích 9292ha, chiếm 25,19% diện tích vàxuất hiện ở độ cao từ 400m - 700m

Trang 31

 Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau, loại đất nàythường thấy ở độ cao từ 100m - 400m, có diện tích là 17.606ha, chiếm47,33% diện tích Vườn.

 Đất dốc tụ và phù sa, loại đất này ở độ cao từ 100m trở xuống, thườngthấy ở ven chân núi, thung lũng hẹp, ven sông suối lớn, có diện tích là1017ha, chiếm 2,76% diện tích Vườn

3.1.4 Khí h ậu, thủy văn

3.1.4.1 Khí hậu

Dãy Tam Đảo là dãy núi lớn, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng và có sựphân hóa theo độ cao rất đa dạng, vì vậy khái quát hóa các đặc trưng khí hậutoàn vùng không phải là vấn đề đơn giản Các nhà lâm học dựa trên các sốliệu khí tượng của trạm Tam Đảo và các trạm xung quanh (Tuyên Quang,Vĩnh Yên, Đại Từ) để đưa ra các nhận định khái quát cho toàn vùng như sau:Thuộc chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng cao Dựa vào các số liệuquan trắc bình quân nhiều năm của các đài khí tượng Đại Từ, Tuyên Quang,Vĩnh Yên, Tam Đảo (thị trấn Tam Đảo)

Bảng 3.1: Số liệu khí tượng của các trạm trong vùng

Tuyên Quang

Trạm Vĩnh Yên

Trạm Đại Từ

Trạm Tam Đảo

Trang 32

Có thể nói rằng trạm Tuyên Quang và Vĩnh Yên đặc trưng cho khí hậusườn phía Tây, trạm Đại Từ đặc trưng cho khí hậu sườn phía Đông; trạm TamĐảo ở độ cao gần 900m trên mực nước biển đặc trưng cho khí hậu trên caocủa VQG Tam Đảo.

Sườn tây có vũ lượng trên 1600mm/năm, vào loại trung bình Sườn đông

có vũ lượng trên 1900mm/năm, vào loại nhiều; Đó là sườn đón được giómang hơi ẩm thổi từ biển vào Trên đỉnh còn có lượng mưa trên 2600mm/năm, vào loại mưa rất nhiều vì ngoài lượng mưa giống như vùng thấp nócòn được hưởng lượng nước do mưa địa hình mang lại

Tổng lượng mưa trong mùa hè và thu rất cao (>90% tổng lượng mưa năm),mùa mưa kéo dài hơn 7 tháng (suốt từ tháng 4 đến tháng 10).Về mùa đông vàxuân, lượng mưa không đáng kể, chỉ chiếm dưới 10% lượng mưa năm

Số ngày mưa khá nhiều, sườn tây trên 140 ngày/năm, sườn đông và vùngđỉnh trên 190 ngày/năm Cường độ mưa rất lớn, có nhiều trận mưa trên350mm/ngày

Tần suất xuất hiện những trận mưa to và rất to trong mùa mưa trên 20%,tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9; cao nhất là các tháng 8 và 9 (đỉnh mưa đềunằm trong tháng 8), xói mòn và những trận lũ lớn đều xảy ra vào những thờigian này

Hàng năm có trên 60 ngày dông tại trạm và một trận bão đi qua với tốc độgió trên cấp 8 Vì thế khi xây dựng các công trình trong vùng đều có hệ thốngchống sét và gió giật cẩn thận, điển hình là cột phát sóng truyền hình trên đỉnhTam Đảo

Do điều kiện địa hình, địa mạo đã chi phối mạnh mẽ đặc điểm khí hậutrong vùng nên nhiệt độ vùng thấp biến động từ 22,90C đến 23,70C, thánglạnh nhất trên 150C (tháng 1), tháng nóng nhất trên 280C (tháng 7) Riêngvùng đỉnh có nền nhiệt độ thấp hơn cả, bình quân 18oC, lạnh nhất là 10,8oC

Trang 33

(tháng 1), nóng nhất 230C (tháng 7) Vùng thấp số giờ nắng đều trên 1600giờ/năm, lượng bức xạ dồi dào; Riêng Tam Đảo chỉ có 1200 giờ/năm vìthường có mây che phủ trong mùa xuân – hè.

Đầu mùa đông thường có dạng thời tiết khô hanh, cộng với gió mùa đông bắc mạnh làm cho lượng bốc hơi tăng Sang xuân có mưa phùn (vùng thấp có

-20 ngày/năm, vùng cao số ngày mưa phùn lên đến trên 46 ngày) làm giảmđáng kể lượng bốc hơi Lượng bốc hơi, vì vậy, có sự khác biệt rõ rệt giữavùng thấp (xấp xỉ 1000mm/năm) và vùng cao (Tam Đảo chỉ có 560mm/năm)

Độ ẩm bình quân vùng thấp >80%, vùng cao >87% Mùa mưa, nhất là khi

có thời tiết mưa phùn độ ẩm lên tới trên 90%, nhưng mùa khô chỉ còn 75%, cá biệt có ngày chỉ 6%, vì vậy thời tiết rất khô hanh, dễ gây ra cháyrừng

70-3.1.4.2 Thủy văn

Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trong vùng phân thuỷ của hai con sôngchính: ở phía Đông bắc của khối núi là lưu vực sông Công, trong khi phía Tâynam của khối núi nằm trong đường phân thủy của sông Đáy Hầu hết các sôngsuối bên trong Vườn quốc gia Tam Đảo đều dốc và chảy xiết Tam Đảo có khíhậu nhiệt đới gió mùa; lượng mưa trung bình hàng năm đạt đến 2.800 mm vàtập trung trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 với khoảng 90% tổng lượngmưa của năm Trong mùa khô, lượng mưa và độ ẩm ở các đai cao rất thấp làmcho những vùng này rất dễ bị cháy

3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Trang 34

chính là người Kinh và nhóm cộng đồng các dân tộc thiểu số Trong đó ngườiKinh đông nhất chiếm 63%, 7 dân tộc còn lại chiếm 37% và xếp theo tỷ lệgiảm dần: Sán dìu, Sán chỉ, Dao, Tày, Nùng, Cao lan, Hoa Do sống lâu đờigần người Kinh và có điều kiện thuận lợi để tiếp cận với các trung tâm vănhóa, kinh tế nên tập quán phong tục của đồng bào 7 dân tộc không khác nhaunhiều so với người Kinh.

Bảng 3.2: Thống kê thành phần các dân tộc

Thành phần các dân tộc Đơn vị hành chính quản lý

Vĩnh Phúc Tuyên Quang Thái Nguyên

(Nguồn: tổng hợp từ số liệu thống kê của UBND các xã vùng đệm)

Hầu hết số dân trên sống ở các vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảovới số lượng là 148.090 người, số dân sống ở thị trấn Tam Đảo là 174 hộ với

616 người Đây là khu vực thuộc địa giới Vườn quốc gia Tam Đảo ở độ cao

800 – 1000m Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình trong toàn vùng đệmVườn quốc gia Tam Đảo là 1,66%, cao nhất là xã Hợp Châu (Tam Đảo –Vĩnh Phúc) 2,08%, thấp nhất là xã Tam Quan 1,33%

3.2.2 Đời sống kinh tế

Vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng bán sơn địa, nhiều sỏi đá,đồi trọc Đất nông nghiệp với tổng số 7.537 ha chiếm 4,38% trong tổng diệntích tự nhiên Cây lúa nước là cây lương thực chính của đồng bào, nhưng diệntích lại ít Diện tích đất canh tác bình quân cho một nhân khẩu là 776 m2, khá

Trang 35

thấp so với yêu cầu tối thiểu của bộ phận cư dân nông nghiệp còn ở trình độsản xuất thấp Do điều kiện thiếu thốn dẫn tới các hoạt động khai thác phárừng để làm nương rẫy, săn bắn động vật,…tất cả các hoạt động tác động tiêucực của người dân làm cho Vườn quốc gia Tam Đảo ngày càng suy thoái vàkhan hiếm động vật rừng, đặc biệt là các loài quý hiếm Trong những năm gầnđây được sự quan tâm của Đảng và nhà nước cùng với sự quản lý chặt chẽkhoa học của ban giám đốc Vườn quốc gia Tam Đảo đã tạo điều kiện thuậnlợi về cơ sở vật chất, đưa những giống mới năng xuất cao vào sản xuất giúpcho nhân dân trong vùng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.

3.2.3 Cơ sở hạ tầng

Mạng lưới phân phối điện tuy đã có ở hầu hết các xã trong vùng nhưngphân bố không đồng đều và chất lượng Một số thôn bản sát chân núi TamĐảo còn có nguồn thủy điện nhỏ do các hộ gia đình tự xây dựng cung cấpđiện cho sinh hoạt hàng ngày: thắp sáng, quạt điện, ti vi,…

Với hệ thống giao thông phát triển gồm hệ thống đường bộ khá nhiều

và quan trọng như các tuyến Quốc lộ 2B, 2C tỉnh lộ 35, 37, 302 và nhữngtuyến đường thủy (sông Công, sông Phó Đáy), đường sắt Quán Triều – Đại

Từ đi qua vùng là những tuyến đường trọng yếu giúp phát triển kinh tế xã hộitrong vùng Ngoài ra còn những tuyến đường nội bộ khác phục vụ nhu cầucủa nhân dân trong vùng được xây dựng khá tốt

Các xã trong vùng đệm đều có các trường tiểu học, trường trung học cơ

sở, tại cụm Tam Quan có trường trung học phổ thông Tam Đảo Cơ sở vậtchất các trường học được cải thiện đáng kể, không còn các phòng học tranhtre, tình trạng học ca 3 Trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập cũng đượctăng cường như: sách cho thư viện, thiết bị dạy học, thí nghiệm, máy vi tính,

Tất cả các xã đều có trạm y tế xã, mạng lưới y tế cơ sở cũng được chú ýđầu tư về cơ sở vật chất: nhà trạm, giường bệnh và trang thiết bị khám chữa

Trang 36

bệnh khác Hầu hết các xã đều có 1 – 2 y sỹ và nữ hộ sinh, nhiều xã có bác sỹ.Công tác chăm sóc sức khỏe đã có nhiều tiến bộ, thực hiện có kết quả cácchương trình chăm sóc, bảo vệ bà mẹ trẻ em, tiêm chủng mở rộng,…

3.2.4 Nh ững ảnh hưởng tác động đến rừng

Cư dân vùng đệm giữ một vai trò quan trọng và liên quan mật thiết đến

sự suy giảm hay phát triển của các hệ sinh thái trong Vườn quốc gia TamĐảo Tập quán của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở đây đều cho rằng toàn bộrừng, tài nguyên thiên nhiên là của trời đất ban cho họ, là chung của làng Cácchủ gia đình là người có quyền sở hữu, sử dụng trực tiếp

Tập quán canh tác nương rẫy với phương thức “phát, đốt, chặt, tỉa” tồntại qua nhiều đời đã gây ảnh hưởng tới rừng, làm suy giảm nghiêm trọng diệntích rừng Tam Đảo Trước năm 1970 rừng Tam Đảo còn từ cốt 400m và đếnnay, trước khi thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo dân đã phát đến cốt 500m,thậm chí có chỗ lên tới cốt 600 – 700m Khai thác gỗ, săn bắn động vật hoang

dã để buôn bán đã làm suy giảm đa dạng sinh học rừng Tam Đảo

Tháng 6 năm 1996, Vườn quốc gia Tam Đảo thành lập Đây là cơ quanquản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Nhưng do đời sống của nhân dântrong vùng đệm vẫn còn khó khăn và do tập quán canh tác lạc hậu nên tàinguyên rừng của Vườn quốc gia Tam Đảo không tránh khỏi bị tác động

Trang 37

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Xác định phạm vi phân bố của Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda)

Xác định phạm vi phân bố Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda) là một khâu rất quan trọng trong công tác điều

tra nghiên cứu

“Theo PGS.TS Trần Ninh, người đã tìm ra Trà hoa vàng Tam Đảo thìcho biết nó chỉ tìm thấy ở dãy núi Tam Đảo, ở độ cao 300 – 400m, là loài Trà

có hoa màu vàng tươi, đẹp”[24] Qua tiến hành điều tra hiện trạng, tìm hiểu vàxác định sự phân bố của Trà hoa vàng Tam Đảo tại khu vực Tây Thiên – Vườnquốc gia Tam Đảo tôi nhận thấy Trà hoa vàng Tam Đảo cũng phân bố nhiều ở

độ cao 300 – 400m khu vực Tây Thiên – Tam Đảo, ngoài ra còn rải rác ở một

số nơi nhưng số lượng ít không nhiều

Cho đến nay cùng với tất cả 17 loài Trà hoa vàng được tìm thấy ở Tam

Đảo, thì Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda) chỉ

xuất hiện ở khu vực Tây Thiên – Tam Đảo – Vĩnh Phúc được coi là loài đặchữu của Tam Đảo cần được bảo vệ, phát triển nguồn gen phục vụ công tácnghiên cứu, trồng rừng và sử dụng hiệu quả hơn đối với loài đặc hữu quýhiếm này Do mùa ra hoa vào khoảng tháng 11 đến tháng 2 năm sau nên nó làloài có hoa đẹp vào đúng dịp tết cổ truyền của Việt Nam, có thể sử dụng làmcây cảnh đẹp

4.2 Các đặc điểm hình thái của Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda)

4.2.1.R ễ cây Trà hoa vàng Tam Đảo

Trà hoa vàng Tam Đảo là loài cây gỗ nhỏ có rễ cọc, ăn sâu có thể 60 – 70

cm, có màu nâu đen do địa hình phức tạp, nhiều đá nên chúng thường phát

Trang 38

triển nhiều rễ phụ từ rễ cọc ra, đối với những cây tái sinh vô tính bằng hom thì

thường có rễ chùm.(hình 4.1)

Hình 4.1: R ễ loài Trà hoa vàng Tam Đảo 4.2.2.Thân cây Trà hoa vàng Tam Đảo

Là cây thường xanh, cây bụi

hay cây gỗ nhỏ, thân có hình trụ

thon đều, thường mọc thẳng, phân

cành thấp

Vỏ thân nhẵn có màu xám trắng

và nhẵn, chồi và cành non có màu

nâu nhạt, có lông thưa mịn, đến

cành trưởng thành thì nhạt dần đến

xám trắng, nhẵn và không có lông

Qua điều tra thực tế tôi nhận

thấy cây Trà hoa vàng trưởng

thành có thể ra hoa thường có

chiều cao từ 2m trở lên Bên cạnh

đó tôi tiến hành đo đếm sử lý số

liệu về D1.3, Dt, Hvn, Hdc của cây

Trà hoa vàng Tam Đảo tại 3 ô Hình 4.2: Cây Trà hoa vàng Tam Đảo

Trang 39

tiêu chuẩn có kích thước (25 m x 40 m) với diện tích đo đếm là 1000 m2 mỗi

ô, kết quả đo đếm thu được ghi vào bảng sau:

Bảng 4.1: Kết quả tính H vn bình quân ở 3 ô tiêu chuẩn

Ô tiêu chuẩn H vn bình quân

(m) H vn max (m) H vn min (m)

Sai số (%)

Bi ểu đồ 4.1: So sánh H vn bình quân c ủa 3 ô tiêu chuẩn

Do số lượng cá thể Trà hoa vàng có số lượng ít nên tiến hành điều tra tất

cả các cá thể cây Trà hoa vàng có chiều cao > 0.3 m có trong các ô tiêu chuẩn

Từ kết quả ở bảng tổng hợp trên cho chúng ta thấy chiều cao Hvn bình quântrong các ô tiêu chuẩn dao động trong khoảng 1.74 m – 2.36 m, chiều cao Hvn

bình quân của những cây trưởng thành phát triển tốt của Trà hoa vàng thườngdao động trong khoảng từ 4 m – 6 m

Trang 40

4.2.3 Đường kính thân Trà hoa vàng Tam Đảo

Do cây Trà hoa vàng là loài cây gỗ nhỏ, thấp nên việc xác định và đánhgiá chính xác được về hình dạng và kích thước D1.3của cây cũng rất khó khăn

vì vậy để đo được chính xác đường kính thân cây tôi tiến hành đo chu viđường kính thân cây từ đó tính ra đường kính thân

Bảng 4.2: Kết quả tính D 00 bình quân ở 3 ô tiêu chuẩn

C 00 max (cm)

D 00 max (cm)

Sai số (%)

Bi ểu đồ 4.2: So sánh D 00 bình quân c ủa 3 ô tiêu chuẩn

Từ kết quả thu được ở bảng trên cho chúng ta thấy đường kính thân củaTrà hoa vàng bình quân trong các ô tiêu chuẩn dao động trong khoảng 1.46

cm – 3.54 cm Đường kính thân của những cây trưởng thành phát triển tốt củaTrà hoa vàng dao động trong khoảng 5.1 cm – 8.92 cm

Ngày đăng: 15/05/2021, 18:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm