Đặc biệt, trong sản xuất nông - lâm nghiệp quy hoạch sử dụng đất có nhiệm vụ quy hoạch sử dụng lại các loại đất nông - lâm nghiệp, các phương pháp thâm canh trong nông - lâm nghiệp, nâng
Trang 1TRẦN THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀM CĂN CỨ
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG TẠI XÃ HÒA SƠN - LƯƠNG SƠN- HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2010
Trang 2TRẦN THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀM CĂN CỨ
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG TẠI XÃ HÒA SƠN - LƯƠNG SƠN- HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LẾ SỸ VIỆT
HÀ NỘI, 2010
Trang 3- Hoà Bình” Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài tôi xin trân trọng
cảm ơn ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, khoa đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy giáo TS Lê Sỹ Việt, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban lãnh đạo và cán bộ Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hoà Bình, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Hoà Bình, UBND huyện Lương Sơn, Hạt kiểm lâm huyện Lương Sơn, trạm khuyến nông huyện Lương Sơn, Phòng Thống kê huyện Lương Sơn, Ban lãnh đạo xã Hoà Sơn vv … Cùng toàn thể bà con nhân dân xã Hoà Sơn và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thiện đề tài Cao học này
Mặc dù đã làm việc với tất cả sự nỗ lực của bản thân, nhưng về trình độ
và thời gian còn hạn chế nên đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập, kết quả nghiên cứu tính toán là trung thực, các thông tin đều được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 20 Tháng 09 năm 2010
Tác giả Trần Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời nói đầu i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
1.1.1 Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất vĩ mô 3
1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến sử dụng đất cấp vi mô có
sự tham gia của người dân
9
1.1.3 Những kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới 10
1.2.1 Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ 11 1.2.2 Một số nghiên cứu đánh giá ban đầu về việc vận dụng
phương pháp quy hoạch sử dụng đất vào thực tiễn ở Việt Nam
16
1.2.3 Những kết luận rút ra từ nghiên cứu và kinh nghiệm của
Việt Nam
20
Chương 2: MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
22
Trang 52.4.1 Quan điểm phương pháp luận 23
2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 23
3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất xã Hoà
3.1.1.2 Quy hoạch theo quan điểm hệ thống 32
3.1.1.3 Quy hoạch theo quan điểm về phát triển bền vững 33
3.1.1.4 Quy hoạch sử dụng đất Lâm - Nông nghiệp cấp xã trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất Lâm - Nông nghiệp
36
3.1.1.5 Quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia cuả người dân 37
3.1.1.6 Quy hoạch sử dụng đất cấp xã theo quản điểm của hệ thống 38
3.1.1.7 Quy hoạch sử dụng đất cấp xã theo quan điểm bền vững 40
3.1.1.8 Quy hoạch sử dụng đất cấp xã trong nền kinh tế thị trường 42
3.1.2.1 Cơ sở, căn cứ pháp lý cho quy hoạch sử dụng đất 43
3.1.2.2 Cơ sở kinh tế của công tác quy hoạch sử dụng đất 45
3.1.2.3 Cơ sở thực tiễn của quy hoạch lâm nghiệp cấp xã 49
3.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng SDĐ xã Hoà
Trang 63.2.1.4 Đặc điểm Khớ hậu 52
3.2.2 Đặc điểm kinh tế - xó hội và nhõn văn 53
3.2.2.1 Thực trạng phỏt triển kinh tế xó hội xó Hoà Sơn 53
3.2.2.2 Dân số, lao động việc làm và thu nhập 53
3.2.2.8 Thực trạng phỏt triển cỏc khu dõn cư 57
3.2.2.9 Đỏnh giỏ hiện trạng phỏt triển kinh tế xó hội và ỏp lực đối với sử dụng đất đai
57
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất nụng nghiệp 59
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nụng nghiệp 60
3.4 Phõn tớch hiệu quả của cỏc kiểu sử dụng đất trờn địa bàn xó
Hoà Sơn
61
3.4.4 Hiệu quả tổng hợp của hệ thống sử dụng đất 69
3.5 Lựa chọn và đề xuất tập đoàn cõy trồng lõm - nụng nghiệp 70
Trang 73.5.3 Lựa chọn cây hoa màu 71
3.6.1 Cơ sở quy hoạch phân bổ sử dụng đất xã Hoà Sơn 72
3.6.2 Đinh hướng sử dụng đất đến năm 2020 74
3.6.3 Quy hoạch phân bố sử dụng các loại đất 76
3.6.3.1 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 79
3.6.3.2 Quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp 86
3.7.1.1 Kế hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 92
3.7.1.2 Kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp 92
3.7.2 Kế hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp 93
3.7.3 Kế hoạch sử dụng đất chưa sử dụng 93
3.7.4 Dự tính đầu tư và hiệu quả kinh tế cho sản xuất lâm - nông
Trang 8Chương 4: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 102
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NLKH: Nông lâm kết hợp
SALT: Hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc
RRA: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
PRA: Đánh giá nông thôn có sự tham gia
Creative Process: Phương pháp quá trình sáng tạo
LEFSA (Land Evaluation and Farming System Analysis) là phương pháp kết hợp giữa đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho lập kế hoạch sử dụng đất cấp vi mô
QHSDĐ: Quy hoạch sử dụng đất
LNXH: Lâm nghiệp xã hội
CBA: Phương pháp phân tích chiphí - lợi ích
CPV: Giá trị hiện tại của chi phí
NPV: Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng
BPV: Giá trị hiện tại thu nhập
BCR: Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí
IRR: Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ
Ect: Chỉ số hiệu quả tổng hợp
RVAC: Ruộng vườn ao chuồng
RVACRu: Ruộng vườn ao chuồng rừng
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
3.2 Hiệu quả kinh tế các giống lúa nước tính trên 1 ha/10 năm lúa 2 vụ 61 3.3 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của một số loại cây hoa màu 63 3.4 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của một số cây ăn quả trên1ha/10 năm 64 3.5 Tổng hợp hiệu quả kinh tế loài cây Chè trên 1ha/10 năm 66 3.6 Tổng hợp hiệu quả kinh tế trồng Keo và Thông trên 1 ha/10 năm 67 3.7 Hiệu quả tổng hợp của hệ thống sử dụng đất 70 3.8 Tổng hợp kết quả lựa chọn cây trồng lâm nghiệp 70
3.10 Tổng hợp kết quả lựa chọn loài cây hoa màu 72 3.11 Quy hoạch phân bổ sử dụng đất xã Hoà Sơn đến năm 2020 78 3.12 Phân bố sử dụng đất SX nông nghiệp xã Hoà Sơn đến năm 2020 79
3.14 Quy hoạch phân bố sử dụng đất phi nông nghiệp đến năm 2020 86 3.15 Sơ đồ So sánh diện tích đất đai trước và sau khi quy hoạch 90 3.16 Kế hoạch sử dụng đất xã Hoà Sơn theo từng giai đoạn 92
3.17 Tổng hợp nhu cầu vốn và hiệu quả sản xuất nông lâm nghiệp
trong 1 chu kỳ sản xuất 10 năm
94
Trang 11tư liệu sống, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - Quốc phòng toàn dân
Điều 18 Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành
năm 1992 đã nêu rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy
hoạch và theo pháp luật, đảm bảo sử dụng và có hiệu quả”
Quy hoạch sử dụng đất có chức năng và vai trò vô cùng quan trọng Nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để tổ chức sử dụng đất có hiệu quả cao
Để duy trì hiệu quả này, quy hoạch sử dụng đất phải có nhiệm vụ bố trí, sắp xếp lại nền sản xuất nông - lâm nghiệp, công nghiệp, các công trình xây dựng
cơ bản, các khu dân cư và các công trình văn hoá phúc lợi một cách hợp lý hơn Đặc biệt, trong sản xuất nông - lâm nghiệp quy hoạch sử dụng đất có nhiệm vụ quy hoạch sử dụng lại các loại đất nông - lâm nghiệp, các phương pháp thâm canh trong nông - lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và các giải pháp bảo vệ đất, chống xói mòn, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái v.v … Việc sử dụng hợp lí và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như việc xây dựng một nền nông nghiệp bền vững của chúng ta hiện nay là một nhiệm vụ vô cùng cấp thiết Quy hoạch sử dụng đất bền vững nhằm mục tiêu định hướng cho sự thay đổi công nghệ và tổ chức thực hiện đảm bảo cho việc thoả mãn liên tục nhu cầu của con người cả ở hiện tại và tương lai
Lương Sơn là một huyện vùng cao nên công tác quy hoạch sử dụng đất trên toàn huyện nói chung và xã Hoà Sơn nói riêng mới đang trong giai đoạn bắt đầu triển khai Nhân dân xã Hòa Sơn sống chủ yếu dựa vào lâm - nông nghiệp là chính Hiện tại trên địa bàn xã chưa có quy hoạch sử dụng đất, hệ
Trang 12thống canh tác còn lạc hậu, người dân thiếu vốn sản xuất, thiếu kiến thức, việc
áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến vào sản xuất còn nhiều hạn chế, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mà chủ yếu chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn nhiều bỡ ngỡ và lúng túng
Do vậy, một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đặt ra hiện nay là tiến hành quy hoạch sử dụng đất cho xã, dựa trên phương pháp PRA có sự tham gia của người dân kết hợp với kỹ thuật canh tác Nông lâm kết hợp (NLKH)
Áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất nhằm tạo cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với từng gia đình và phù hợp với nền kinh tế thì trường Việc giúp xã phân bổ lại đất đai, lập kế hoạch phát triển sản xuất lâm - nông nghiệp, kết hợp với kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp nhằm tạo cho người dân có ý thức giác ngộ, quan tâm và tự phân tích, từ đó thúc đẩy cộng đồng phát triển Mục đích là giúp người dân đề xuất được cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với gia đình mình, phù hợp với nền kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay Với chức năng và vai trò vô cùng quan trọng như vậy, cùng với
sự phát triển của xã hội loài người, quy hoạch sử dụng đất không ngừng phát triển và ngày một hoàn thiện
Qua thực tiễn được tổng hợp thành lý luận và trở thành một phần không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong phát triển kinh
tế xã hội của nông thôn miền núi nước ta nói riêng
Quy hoạch sử dụng đất cấp xã có sự tham gia của người dân giữ một vị trí hết sức quan trọng, nhằm giúp người dân có thể tham gia tích cực vào quy hoạch trong việc sử dụng đất của mình một cách hợp lý, có hiệu quả trên nguyên tắc bền vững, bảo đảm hài hoà giữa lợi ích kinh tế, xã hội và môi
trường sinh thái Từ nhận thức và thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm căn cứ đề xuất các giải pháp quy hoạch sử dụng đất bền vững tại xã Hoà Sơn huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình”
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất vĩ mô
Quy hoạch sử dụng đất có vai trò và chức năng vô cùng quan trọng, nó tạo ra những điều kiện cần thiết để tổ chức sử dụng đất có hiệu quả cao Quy hoạch sử dụng đất có nhiệm vụ bố trí, sắp xếp lại nền sản xuất nông - lâm nghiệp, công nghiệp, các công trình xây dựng cơ bản, các khu dân cư và các công trình văn hoá phúc lợi một cách hợp lý hơn Đặc biệt trong sản xuất nông - lâm nghiệp quy hoạch sử dụng đất có nhiệm vụ quy hoạch sử dụng các loại đát nông - lâm nghiệp, các phương pháp thâm canh trong nông lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và các giải pháp bảo vệ đất chống xói mòn, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái
Lịch sử về quy hoạch sử dụng đất đã trải qua hơn 100 năm nghiên cứu
và phát triển, những thành tựu về phân loại đất, xây dựng bản đồ đất đã được
sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả
Hệ thống canh tác (Farming System) là sự bố trí một cách thống nhất
và ổn định các ngành trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với các mục tiêu mong muốn và nguồn lực của hộ (Shaner, Philip và Schemmedli, 1984) Hệ thống canh tác bao gồm các nguồn lực (đất, lao động, vốn) được sử dụng cho các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ để sản xuất các nông sản (lương thực, nguyên liệu thô, tiền mặt) trong nông trại với điều kiện nhất định (Wilem C.Beet, 1990)
Trên thế giới mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh (Shifiting cultivation), đó chính là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã được
Trang 14phát quang một thời gian, ngắn hơn thời gian bỏ hoá (Conklin, 1957) du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất, nó ra đời vào cuối thời
kỳ đồ đá mới, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về tự nhiên Tuy nhiên, về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng Bởi du canh được coi như sự phí phạm về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân chính gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá ngày càng nghiêm trọng
Sau du canh là sự ra đời của các phương thức Taugya (canh tác đồi núi)
ở vùng nhiệt đới Hệ thống Taugya được nhiều người biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, ở một số nước các tên gọi được biểu thị cho sự đặc biệt của phương thức du canh Ở Indonexia người ta gọi là Taubansang, ở Philipin người ta gọi là Kaigining, ở Malaixia người ta gọi là Ladang, ở Srilanka là China, Theo Von Hesmen (1966, 1970) và King (1979), hầu hết các rừng trồng ở vùng nhiệt đới đều được hình thành từ phương thức này, đặc biệt là ở Châu Á và Châu Phi Taugya được xem như một dấu hiệu báo trước cho các pphương thức sử dụng đất sau này (Nair, 1978) Hệ thống canh tác Taugya được cải tiến, sửa đổi và dần được hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và được coi như là một hệ thống sử dụng đất có hiệu quả kinh tế lẫn môi trường sinh thái Theo FAO, 1990 đến nay đã có 117 nước trên thế giới áp dụng phương thức này
Như vậy, có thể thấy du canh là một hệ thống canh tác, trong đó các loài cây nông nghiệp, lâm nghiệp sinh trưởng kế tiếp nhau Còn Taugya bao gồm sự kết hợp đồng thời của cả hai loài cây trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành rừng trồng Đứng trên quan điểm quản lý, sử dụng đất thì cả hai quá trình trên đều có sự tương đồng là những cây nông nghiệp được sử
Trang 15dụng một cách tốt nhất bởi độ phì của đất được tăng lên chính là nhờ thảm mục của cây gỗ
Theo FAO, hiện nay dân số thế giới đã trên 6 tỷ người, sử dụng 1,476
tỷ ha đất nông nghiệp Trong đó đất có độ dốc trên 10o (đất đồi, núi) là 937 triệu ha chiếm 63,5% (Sheng, 1988; Hudson, 1988; Cent, 1989)
Trong quá trình sử dụng con người đã làm thoái hoá khoảng 1,4 tỷ ha đất Theo Norman Mayer (1993), hàng năm trên toàn cầu mất khoảng 11 triệu
ha đất Theo FAO đến năm 1980 các loại hình quảng canh và du canh trên toàn thế giới chiếm đến 45% diện tích đất nông nghiệp Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng xói mòn, thoái hoá đất làm giảm năng suất cây trồng Do những yêu cầu của mình, con người ngày càng xâm hại đến rừng,
để lấy lâm sản và đất canh tác đã làm cho diện tích đất rừng ngày càng thu hẹp, đe doạ đến môi trường sống Diện tích trồng rừng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất, riêng ở Châu Á Thái Bình Dương trong thời gian từ năm 1976 -
1980 mất 9 triệu ha rừng Cũng trong khoảng thời gian này ở Châu Phi mất khoảng 37 triệu ha rừng, Châu Mỹ mất khoảng 18,4 triệu ha rừng Do tình trạng mất rừng mà hiện tượng xói mòn, sa mạc hóa ngày càng diễn ra nghiêm trọng (khoảng 875 triệu người phải sống ở những vùng sa mạc hóa) Sa mạc hóa đã làm mất đi mỗi năm khoảng 26 tỉ đô giá trị sản phẩm mỗi năm, hiện tượng xói mòn mỗi năm làm thế giới mất đi 12 tỉ tấn đất (ước tính mất khoảng
50 triệu tấn lương thực, hàng ngàn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn dần làm tuổi thọ của nhiều công trình thủy điện vùng này bị rút ngắn tuổi thọ)
Theo dự báo của Tổ chức dân số thế giới, nếu tốc độ tăng trưởng dân số diễn ra như hiện nay thì đến năm 2025 dân số thế giới trên 8 tỷ người, tập trung ở các nước đang phát triển và kém phát triển Nếu mức tiêu thụ lương thực theo đầu người vẫn giữ nguyên như hiện nay thì sự tăng dân số thế giới đòi hỏi phải tăng năng suất lương thực thô thêm 2,6 tỷ tấn vào năm 2025, tức
Trang 16là tăng 57% so với năm 1990 Nhưng nếu khẩu phần được cải thiện cho thế giới người nghèo đói (ước tính 1 tỉ người) thì nhu cầu lương thực thế giới phải tăng gấp đôi, tức 4,5 tỉ tấn nữa Nếu bằng con đường tăng năng suất cây trồng (năng suất các hạt ngũ cốc phải tăng trên 80% trong thời kỳ 1990-2025), theo
kỷ yếu của FAO và tính toán của Norman E.BlorLaug thì nguồn lương thực hạt ngũ cốc thế giới chỉ mới đạt 3,97 tỉ tấn vào năm 2025 Trên thực tế thì đất đai mở mang có hạn và không thể đáp ứng được với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên trên toàn cầu Vì vậy, để thoả mãn nhu cầu về lương thực ngày càng cao, con người tìm cách giải quyết theo một trong hai hướng chính đó là: Tăng năng suất cây trồng bằng việc tận dụng tối đa tiềm năng của các loại đất, thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích cach tác Để làm được điều đó thì công tác điều tra, khảo sát, phân loại và đánh giá đất đai để tìm ra giải pháp sử dụng đất có hiệu quả nhất trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất hợp lí, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và đặc biệt là theo hương nghiên cứu đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai cho các mục tiêu sử dụng bền vững đã trở thành một yêu cầu cấp bách
Công cuộc tìm giải pháp nhằm nâng cao sản lượng lương thực và khắc phục tình trạng thiếu hụt về lương thực đã thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu tìm biện pháp về sử dụng đất đai màu mỡ một trong những thành công của quá trình nghiên cứu đó là đã tìm ra Hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững và được trung tâm đời sống nông thôn Bapstic Mintanao Philippin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến nay
- Mô hình SALT 1 (Sloping Agriculture Land Technology) với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên (NN) + 50% cây nông nghiệp hàng năm
Trang 17- Mô hình SALT 2 (Simple Agro - Livestock Technology) với cơ cấu 40% NN + 20% LN + 20% chăn nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại
- Mô hình SALT 3 (Sustainable Agro - Forest Land Technology) với
Qua tổng kết các tài liệu nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch ở địa phương Cho thấy, có rất nhiều cách tiếp cận: Tiếp cận Sodeo của Peter Hildebrand (Hildebrand,1981); Tiếp cận “nông thôn - trở lại - nông thôn” của Robert (Rhoades Rhoades, 1892); Tiếp cận của Robert Chambers; Tiếp cận “chẩn đoán và thiết kế của ICRAF” (Raintree); Tiếp cận của L.W Harrington Nhìn chung, các phương pháp tiếp cận này đi theo hai hướng chính đó là: Tiếp cận từ trên xuống (Top - down approach) và tiếp cận từ dưới lên (Bottom - up approach) Cách tiếp cận thứ nhất ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, kém hiệu quả khi các chương trình thực hiện ở cấp vĩ mô và khi không có sự tham gia của cộng đồng dân cư Cách tiếp cận thứ 2 được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh sự “không thể thiếu được” vai trò của nông thôn trong quản lý tài nguyên cộng đồng (Robert Chambers) Từ đó
“Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng ” (Community - based Planning) bắt đầu xuất hiện khi nghiên cứu hệ thống canh tác năm 1990, FAO đã xuất bản cuốn
“Phát triển hệ thống canh tác” Công trình đã chỉ rõ những ưu thế và hạn chế của 2 phương pháp tiếp cận
Trang 18Từ cuối thập kỷ 70 nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm phát triển các
phương pháp thu thập thông tin cho quy hoạch với các nhóm thông tin chính
như: Khí hậu, độ dốc, địa mạo, thổ nhưỡng gồm cả thủy văn, đất, nước, tài
nguyên nhân tạo như hệ thống tưới tiêu, thảm thực vật… Các phương pháp
điều tra đánh giá cùng tham gia như đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh
giá nông thôn có sự tham gia (PRA), phương pháp quá trình sáng tạo (Creative Process), đặc biệt phương pháp phân tích các hệ thống canh tác cho
quy hoạch sử dụng đất vi mô được nghiên cứu rộng rãi Những nghiên cứu,
thử nghiệm các phương pháp RRA vào thập kỷ 80 và PRA vào đầu thập kỷ
90 trong phát triển nông thôn và kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trên 30
nước phát triển (Robert Chambers, 1994) đã cho thấy ưu thế của phương pháp
này trong quy hoạch Một số kết quả thử nghiệm phân tích hệ thống canh tác
tại Châu Âu, Châu Phi và Nam Mỹ đã chứng minh hệ thống canh tác là công
cụ trong quy hoạch sử dụng đất cấp địa phương LEFSA (Land Evaluation
and Farming System Analysis) là phương pháp kết hợp giữa đánh giá đất đai
và phân tích hệ thống canh tác cho lập kế hoạch sử dụng đất cấp vi mô
Luning (1990), Anaman (1994) và một số tác giả khác đã nghiên cứu và áp
dụng LEFSA tại Thái Lan Tác giả Erwin, 1990 đã phân tích hệ thống canh
tác là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại hộ gia đình,
đề xuất mục tiêu quy hoạch, xác định các kiểu sử dụng đất hiện tại và phương
án sử dụng đất, đánh giá phương án sử dụng đất khác nhau nhằm chọn ra
phương án tốt nhất
Trong những năm gần đây nhiều thiên tai như hạn hán, lũ lụt, trái đất
nóng lên, hiệu ứng nhà kính… xuất hiện đã làm chết rất nhiều người, phá hoại
nhà cửa, mùa màng và gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân
Từ đó con người mới bắt đầu nhận thức được việc chặt phá rừng bừa bãi, sử
dụng đất đai không hợp lý, không khoa học là nguyên nhân chủ yếu gây nên
Trang 19những hiện tượng thiên tai đó Chính vì vậy, việc sử dụng hợp lí và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như việc xây dựng một nền nông nghiệp bền vững là một nhiệm vụ vô cùng cấp thiết hiện nay Qua nghiên cứu và thực tiễn đã đưa ra phương pháp tiếp cận mới nhằm phát triển các hệ thống trang trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững Đồng thời quy hoạch sử dụng đất bền vững nhằm mục tiêu định hướng cho sự thay đổi công nghệ và
tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo cho việc thoả mãn liên tục nhu cầu của con người thuộc thế hệ hôm nay mà không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ mai sau
1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến sử dụng đất cấp vi mô có sự tham gia của người dân
Quy hoạch đất có sự tham gia của người dân đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong nước nghiên cứu và công bố kết quả:
- Năm 1995, nhóm chuyên gia quốc tế về quy hoạch sử dụng đất được
tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình quy hoạch sử dụng đất với 4 câu hỏi:
1 Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu của quy hoạch là gì?
2 Có các phương án sử dụng đất nào đang tồn tại?
3 Phương án nào là tốt nhất?
4 Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?
- Tại hội thảo giữa trường Đại học lâm nghiệp Việt Nam với Trường tổng hợp Kỹ thuật Dresden, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được Holm Uibig đề cập khá đầy đủ và toàn diện Tài liệu đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, phân cấp hạng đất, phương pháp tiếp cận mới trong quy hoạch sử dụng đất
Trang 20- Tại hội thảo quốc tế Việt Nam năm 1998 về vấn đề quy hoạch sử dụng đất cấp làng bản đã được FAO đề cập khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất các chiến lược quy hoạch sử dụng đất và giao đất cấp làng bản
Cũng trong chương trình hội thảo quốc tế tại Việt Nam (1998), tài liệu hội thảo về QHSDĐ của FAO đã đề cập một cách chi tiết khái niệm sự tham gia và đề xuất các chiến lược QHSDĐ và giao đất, về cơ bản chiến lược nêu lên:
- Sự tham gia của người dân trong hoạt động QHSDĐ và giao đất
- Điều tra ranh giới làng, khoanh vẽ đất đang sử dụng, điều tra rừng và xây dựng bản đồ đất
- Thu thập số liệu và phân tích
- QHSDĐ và giao đất
- Xác định đất canh tác nông nghiệp
- Sự tham gia của người dân trong hợp đồng (khế ước) và chuyển nhượng đất nông - lâm nghiệp
- Mở rộng quản lý và sử dụng đất
- Kiểm tra và đánh giá
1.1.3 Những kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới
Từ các tài liệu nghiên cứu và kinh nghiệm quy hoạch sử dụng đất trên thế giới rút ra một số kết luận sau:
- Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch, phương pháp chuyển giao sử dụng đất Song nhìn chung các phương pháp đều phục
vụ mục tiêu phát triển kinh tế, chưa quan tâm tới lợi ích của người dân cũng như vấn đề đang nóng bỏng hiện nay là đảm bảo an toàn sinh thái theo hướng phát triển bền vững
Trang 21- Việt Nam có thể áp dụng những thành tựu nghiên cứu về quy hoạch
sử dụng đất trên thế giới nhưng phải thực hiện một cách linh hoạt cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể đối với từng cộng đồng nông thôn Việt Nam Quy hoạch phát triển nông - lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng quy hoạch sử dụng đất, kết hợp quy hoạch từ trên xuống bằng các định hướng chiến lược, đồng thời ưu tiên nhu cầu và phạm vi của cộng đồng thông qua quy hoạch phát triển - xây dựng kế hoạch cấp thôn bản
- Phương pháp cùng tham gia, phân tích hệ thống canh tác phải được vận dụng vào đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội và thể chế chính sách của Việt Nam
- Hệ thống canh tác trên đất dốc, quan điểm sử dụng đất bền vững là những giải pháp quan trọng và là cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ
Ở Việt Nam sự hiểu biết về nghiên cứu đất đai, quy hoạch sử dụng đất được bắt đầu từ rất sớm Từ thế kỷ 15, Lê Quý Đôn đã tổng kết kinh nghiệm của mình về canh tác nông nghiệp trong “Vân Đài loại ngữ” khuyên nông dân
áp dụng luân canh cây họ đậu nhằm giúp người dân đạt năng suất cao nhất trong sản xuất nông nghiệp
Trong thời kỳ Pháp thuộc, các công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất được các nhà khoa học Pháp nghiên cứu phát triển với quy
mô rộng lớn
- Giai đoạn 1955 - 1975, công tác điều tra phân loại được tổng hợp một cách có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc Nhưng đến sau 1975 các số liệu nghiên cứu phân loại đất mới được thống nhất Đã có nhiều công trình triển khai thực hiện chủ đề phân loại đất trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994, ) Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu
Trang 22trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất, công tác điều tra phân loại không gắn liền với công tác sử dụng đất Những thành tựu về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả trên toàn quốc
Ở nước ta vấn đề QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân được nghiên cứu và ứng dụng trong những năm gần đây Cấp vi mô thực chất được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, cho đến nay những nghiên cứu đó vẫn còn hết sức tản mạn và chưa có sự phân tích tổng hợp thành cơ sở lý luận để có thể áp dụng vào thực tiễn Công trình
“Sử dụng đất tổng hợp và bền vững”của Nguyễn Xuân Quát (1996) đã phân tích tình hình sử dụng đất đai cũng như mô hình sử dụng đất bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt Nam, những điều kiện cần biết về đất đai Đồng thời đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững
Tài liệu “Đất rừng Viêt Nam”, Nguyễn Ngọc Bình đã đưa ra quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam
Về luân canh, tăng vụ, trồng xen, trồng gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai đã được nhiều tác giả đề cập tới như: Phạm Văn Chiểu, 1964, Bùi Huy Đáp, 1977; Vũ Tuyên Hoàng, 1987; Lê Trọng Cúc, 1971; Nguyễn Ngọc Bình, 1987; Bùi Quang Toản, 1991 nhằm mục đích lựa chọn hệ thống cây trồng phù hợp trên đất dốc vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
Năm 1996, công trình “Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi nước ta”, Bùi Quang Toản đã đề xuất sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi núi và trung du Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ trợ LNXH của Trường Đại học lâm nghiệp
Trang 23đưa ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống, kỹ thuật
sử dụng đất bền vững trong điều kiện Việt Nam Từ đó, các tác giả đã đi sâu phân tích về:
Vấn đề hệ thống sinh thái và những quy định về quản lý sử dụng đất,
hệ thống quản lý đất các cấp được đề cập khá đầy đủ và chi tiết trong “Tóm tắt báo cáo khảo sát đợt 1 về LNXH” nhóm luật và chính sách 1998 của Trường Đại học lâm nghiệp vấn đề hệ thống chính sách và những quy định về quản lý sử dụng đất cũng như hệ thống quản lý sử dụng đất các cấp được đề cập khá đầy đủ và chi tiết Tài liệu tập huấn “Những quy định và chính sách
về quản lý sử dụng đất “ của Trần Thanh Bình,1977, “Các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại
Vấn đề sử dụng đất đai gắn với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất và môi trường ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, Lê Vĩ (1996) đã nêu:
- Tiềm năng đất vùng trung du
- Hiện trạng sử dụng đất trung du
- Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững
Trang 24Quan điểm về vấn đề hệ thống và hệ thống sử dụng đất được đề cập trong chương trình tập huấn dự án LNXH, Trường Đại học lâm nghiệp, các tác giả Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) dựa trên quan điểm của hệ thống sử dụng đất của FAO đã đề cập tới:
Trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước các tác giả Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên (1993) đã xây dựng giáo trình hệ hống nông nghiệp Ngoài phần hệ thống hóa nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất chiến lược phát triển,
dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệp, công trình hỗ trợ đắc lực cho công tác nông nghiệp trên cả 2 phương diện lý luận và thực tiễn
Năm 1994, Tổng cục địa chính xây dựng quy trình quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 1995 - 2000 trên quy mô cả nước Trong đó, việc lập kế hoạch
ra đất nông nghiệp, nông nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới Năm 1996, tác giả Trần An Phong nghiên cứu các mô hình
sử dụng đất dốc đã đi đến kết luận, biện pháp sử dụng đất có hiệu quả là bố trí một chế độ thâm canh hợp lý, triệt để lợi dụng nước trời, áp dụng các biện pháp canh tác nhằm bảo vệ, giữ gìn độ ẩm tối đa ở các lớp đất đảm bảo cây trồng phát triển tốt Năm 1997, chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH của trường ĐH Lâm Nghiệp đã đề cập đến các phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân Các tác giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên và Trần Ngọc Bình đã phối hợp với các chuyên gia trong và ngoài nước biên soạn tài liệu với những vấn đề chính sau:
Trang 25- Các khái niệm và phương pháp tiếp cận trong quá trình tham gia
- Các công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
- Tổ chức quá trình đánh giá nông thôn
- Thực hành tổng hợp
Để làm cơ sở cho chiến lược sử dụng đất đai hợp lý có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu dài, Nguyễn Huy Phồn , trong luận án phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp đã tiến hành đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong nông - lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm của miền núi Bắc bộ Việt Nam Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối
có hệ thống về đất đai và hiện trạng sử dụng đất nông - lâm nghiệp, tác giả đã xây dựng bản đồ thích nghi sử dụng đất tỷ lệ 1/250000 đối với một số loại hình sử dụng đất bền vững phục vụ các mục tiêu kinh tế và môi trường cho toàn vùng
Tài liệu tập huấn về QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân tác giả Trần Hữu Viên (1997) đã xây dựng tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất nông nghiệp có sự tham gia của người dân đã kết hợp phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng dự án tại Việt Nam Trong đó tác giả đã trình bày khái niệm và nguyên tắc chỉ đạo QHSDĐ và giao đất cho người dân tham gia
Trong tài liệu hướng dẫn công tác quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân, Đoàn Diễm (1997) đã tập trung vào các chủ đề sau:
- Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam
Trang 26- Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp của dự án GCP/VIE/024/ITA
- Những tồn tại của quy hoạch sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam và thế giới
- Kiến nghị phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp đơn giản có sự tham gia của người dân
Tác giả Ngô Đình Quế, Đinh Thanh Giang, năm 2001 nghiên cứu về
mô hình canh tác nương rẫy hợp lý, nhằm nâng cao năng suất cây trồng, duy trì sản suất của đất nương rẫy, thúc đẩy quá trình phục hồi độ phì đất bỏ hóa Tác giả cũng kết luận cùng với các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, các giống cây trồng mới cho năng suất cao, phẩm chất tốt cần đưa vào sản xuất thì mô hình luân canh nương rẫy
1.2.2 Một số nghiên cứu đánh giá ban đầu về việc vận dụng phương pháp quy hoạch sử dụng đất vào thực tiễn ở Việt Nam
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch
sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp được tiến hành với quy mô rộng rãi Việc nghiên cứu đầu tiên được tiến hành tại các xã: Tử Nê, huyện Tân Lạc, xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình vào năm 1993 do Dự án đổi mới chiến lược pháp triển lâm nghiệp thực hiện Sau khi tổng hợp những bài học kinh nghiệm từ dự án cho thấy công tác quy hoạch sử dụng đất được coi
là nội dung chính cần được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có
sự tham gia tích cực của người dân, Già Làng, Trưởng bản và chính quyền xã Cần phải có kế hoạch sử dụng chi tiết, tránh được các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch
Chương trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam - Thủy Điển giai đoạn 1996 - 2001 trên phạm vị năm tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên
Trang 27Quang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển cấp thôn bản và hộ gia đình Công tác quy hoạch sử dụng đất trong giai đoạn này đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất với cách tiếp từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn
Năm 1996, tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges đã thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân Quảng Ninh đã đề suất 6 nguyên tắc và các bước cơ bản trong quy hoạch sử dụng đất trong đó cấp xã đóng vai trò phát triển trong phương pháp quy hoạ ch Các nguyên tắc
đó là:
- Kết hợp hài hòa giữa ưu tiên của Quốc gia và nhu cầu, nguyện vọng của người dân địa phương
- Tiến hành trong khuôn khổ luật pháp hiện hành và các nguồn lực hiện
có tại địa phương
- Đảm bảo tính công bằng, chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi, nhóm người nghèo và vai trò của phụ nữ
- Đảm bảo phát triển bền vững
- Đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia
- Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng
Khi thử nghiệm các phương pháp này cho các tỉnh Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Sa Đéc tác giả đã cho rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng
sử dụng đất hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước
và nhu cầu, nghĩa vụ của nhân dân Xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai
và sử dụng tài nguyên Cho thấy cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện này phù hợp với xu thế chung của thế giới hiện nay về áp dụng các phương pháp quy hoạch tổng hợp
Trang 28Năm 1996, trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm nhiều nơi Cục Kiểm Lâm cho ra tài liệu hướng dẫn “Nội dung, biện pháp và trình tự tiến hành giao
5 đất lâm nghiệp trên địa bàn xã” Đây là tài liệu sửa đổi lần thứ 2 có nhiều bổ sung vào tài liệu năm 1994, nó đáp ứng phần nào về hướng dẫn cơ bản, về nội dung và nguyên tắc Những yêu cầu về chuyên môn và phương pháp trong tài liệu hướng dẫn này còn mang nhiều phương pháp điều tra truyền thống phù hợp với điều tra rừng trước đây Bản hướng dẫn cần hoàn thiện và dừng lại ở những nguyên tắc và phương pháp cơ bản, (không nên có bản hướng dẫn chi tiết) dẫn đến ngộ nhận rằng việc quy hoạch lâm - nông nghiệp cấp địa phương theo một chu trình cứng
Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà năm 1997 ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Chương trình hợp tác Việt - Đức đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp tại 2 xã của huyện Yên Châu tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) trên cơ sở hướng dẫn của Chi cục Kiểm lâm với cách làm 6 bước lấy cấp thôn bản làm đơn vị quy hoạch và giao đất lâm nghiệp để áp dụng tiếp cận LNXH đối với cộng đồng dân tộc vùng cao
Kết quả nghiên cứu “Đề tài” của Nguyễn Bá Ngãi cùng nhóm tư vấn của dự án khu vực Lâm nghiệp Việt Nam - ADB đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch, xây dựng tiểu dự án cấp xã Mục tiêu là đưa
ra một phương pháp quy hoạch lâm - nông nghiệp cấp xã có sự tham gia của người dân để xây dựng tiểu Dự án lâm - nông nghiệp cho 50 xã của 4 tỉnh: Thanh Hoá, Gia Lai, Phú Yên và Quảng Trị
Trong đầu những năm 1990, vấn đề quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp được nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập tới Nghiên cứu của Reichenberg, (1992) cho rằng Việt Nam chưa có quy hoạch sử dụng đất cấp
Trang 29vi mô, được xây dựng dựa trên cơ sở xem xét các khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai
Trong giai đoạn 2000 - 2005, Dự án phát triển nông lâm Sơn La, Lai Châu do Liên minh Châu Âu tài trợ bằng nguồn vốn ODA, Mục tiêu của dự
án là cải thiện an toàn lương thực ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam thông qua việc sử dụng bền vững và hữu ích nguồn tài nguyên thiên nhiên ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu Những hoạt động chính của dự án đó là: Quy hoạch sử dụng đất và giao đất, quản lý rừng đầu nguồn và phân loại đất lâm nghiệp, cải thiện giống cây trồng trên nương, cải tiến chăn nuôi, tăng cường dịch vụ khuyến nông và đào tạo
Dự án phát triển nông thôn Cao Bằng, Bắc Cạn thực hiện các hoạt động quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp, tăng cường kỹ năng nông lâm kết hợp cho 41 bản với 1.155 người tham gia bao gồm các kỹ thuật viên nông nghiệp, quản lý trồng trọt và lập kế hoạch phát triển thôn bản, đồng thời phát triển được 612 mô hình ở Bắc Cạn và 89 mô hình ở Cao Bằng
Trong những năm gần đây, các chương trình và dự án nông lâm nghiệp như dự án PAM, dự án trồng rừng Việt - Đức (KWF) tại Lạng sơn, Bắn Giang, Thanh Hoá, Quảng Ninh….do GTZ tài trợ cũng đã sử dụng triệt để phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia Về mặt lý luận, một số đề tài nghiên cứu của Đinh Văn Đề, Nguyễn Hữu Tân, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Phúc Cường … đã tiến hành ở một số địa phương, có sự đánh giá và kết quả mang ý nghĩa thực tiễn nhất định
Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng quan điểm quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cấp địa phương nên đi theo các hướng sau:
- Tiến hành nghiên cứu khả năng chuyển từ quy hoạch nông lâm nghiệp chủ yếu dựa trên chức năng sử dụng đất sang dựa trên tiềm năng đất đai
Trang 30- Rà soát, xem lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục đích sử dụng đất bằng đa dạng hoá các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch của cộng đồng
- Gắn 2 quá trình quy hoạch và giao đất, coi đó là hai bộ phận có quan
hệ chặt chẽ để làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp ở mỗi địa phương và cộng đồng
- Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp cùng tham gia trong quá trình quy hoạch, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ thể trong quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cấp xã
1.2.3 Những kết luận rút ra từ nghiên cứu và kinh nghiệm của Việt Nam
Việc đánh giá, phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau:
Việt Nam đã có nghiên cứu khá đầy đủ về quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ
mô song cấp vi mô còn nhiều hạn chế mới nghiên cứu chủ yếu đối tượng đất phục vụ cho sản xuất mà chưa chỉ ra được vai trò quan trọng của môi trường sinh thái
Phương pháp quy hoạch còn nhiều hạn chế và thiếu thống nhất, phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân đã được áp dụng ở một số địa phương nhưng chưa tổng kết xác định đối tượng cụ thể tham gia và vai trò của
Trang 31Mâu thuẫn giữa một bên là cá nhân, hộ gia đình thiếu đất sản xuất với một bên là các tổ chức lâm nghiệp của nhà nước được giao nhiều đất nhưng quản lý sử dụng không hiệu quả
Kết quả nghiên cứu về sử dụng đất dốc mới chỉ áp dụng cho đối tượng đất sản xuất nơi người dân có trình độ canh tác khá cao, còn những nơi vùng sâu, vùng xa nơi trình độ dân trí thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn thì chưa được nghiên cứu đầy đủ
Công tác quy hoạch thường dựa vào ý kiến chủ quan của các nhà quy hoạch, thiếu sự đóng góp và tham gia của người dân Vì vậy, không khai thác được kinh nghiệm của người dân địa phương và tính khả thi không cao Hơn nữa phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai, ít xét đến tiềm năng đất đai, nhu cầu và khả năng của cộng đồng Cơ sở khoa học cho quy hoạch lâm - nông nghiệp cấp xã chưa rõ ràng, thực tiễn về quy hoạch cấp xã chưa nhiều để tổng kết đánh giá
Phương pháp tiếp cận và chuyển giao kỹ thuật còn nặng về xây dựng
mô hình, chưa thúc đẩy mạnh mẽ công tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền, huấn luyện đồng thời ít chú ý đến các yếu tố phi kỹ thuật như tổ chức sản xuất, thị trường tiêu thụ và yếu tố tiếp thị nhằm đảm bảo cho các tiến bộ
kỹ thuật được chuyển giao và trình diễn, phát huy hiệu quả và bền vững
Từ những hạn chế trên, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu một số vấn đề như phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong quy hoạch, phương pháp đánh giá đất đai, phân tích hệ thống canh tác, lựa chọn cơ cấu tập đoàn cây trồng, xác định phương thức, phương pháp và định hướng sử dụng các loại đất trên địa bàn khu vực nghiên cứu
Trang 32Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu của để tài
-Về lý luận: Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc đề
xuất các giải pháp quy hoạch sử dụng đất bền vững
Góp phần làm sáng tỏ tác động của một số chính sách, kinh tế - xã hội,
tự nhiên và kỹ thuật đến quy hoạch sử dụng đất bền vững tại xã Hoà Sơn huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình
- Về thực tế: Đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất bền vững tại
xã Hoà Sơn huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Do yêu cầu của luận văn tốt nghiệp và thời gian có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi là xã Hòa Sơn - Lương Sơn - Hoà Bình
Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai, chính sách bảo vệ, phát triển rừng; Người dân và các hộ gia đình; Điều kiện
tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã; Các cơ chế chính sách đã và đang áp dụng ảnh hưởng đến QHSDĐ; Một số mô hình sử dụng đất tại xã Hòa Sơn - Lương Sơn - Hoà Bình
Trong đó, tập trung nghiên cứu sâu về đất nông lâm nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Xã Hòa Sơn - Lương Sơn - Hoà Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất bền vững
- Khảo sát một số yếu tố chính sách và luật pháp tác động đến công tác quy hoạch sử dụng đất bền vững tại xã Hoà Sơn - Lương Sơn - Hoà Bình
Trang 33- Phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, và nhân văn tác động đến công tác quy hoạch sử dụng đất bền vững tại xã Hoà Sơn - Lương Sơn - Hoà Bình
- Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế, phân loại cây trồng xã Hoà Sơn - Lương Sơn - Hoà Bình
- Đề xuất một số giải pháp quy hoạch sử dụng đất bền vững tại xã Hoà Sơn - Lương Sơn - Hoà Bình
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm phương pháp luận
QHSDĐ là một hệ thống các biện pháp về kinh tế - kỹ thuật và pháp luật của Nhà nước được mục tiêu trước mắt và lâu dài phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong toàn khu vực Để làm được vấn đề này chúng ta cần giải quyết các mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai, giữa cung và cầu, nắm bắt được sức sản xuất về đất đai để quy hoạch đạt hiệu quả cao nhất mà vẫn đảm bảo được tính ổn định bền vững
2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
2.4.2.1 Những thông tin cần thu thập
(1) Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lí
- Điều kiện địa hình
- Điều kiện khí hậu thủy văn
- Điều kiện đất đai thổ nhưỡng
- Hiện trạng sử dụng đất đai tài nguyên rừng
(2) Điều kiện kinh tế xã hội
- Dân số, dân tộc, lao động, văn hóa giáo dục và y tế
- Một số chủ trương chính sách
- Thực trạng cơ sở hạ tầng
Trang 34- Thực trạng sản xuất lõm nụng nghiệp trờn địa bàn
2.4.2.2 Phương phỏp kế thừa số liệu tài liệu liờn quan
Thu thập số liệu, những vấn đề cần biết nhờ vào các tài liệu, văn bản có sẵn điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, hiện trạng tài nguyên rừng, tình hình sản xuất kinh doanh, điều kiện về cơ sở hạ tầng
2.4.2.3 Phương phỏp điều tra thực địa
Tựy theo yờu cầu, đặc trưng của cỏc loại tài liệu mà đề tài sử dụng cỏc phương phỏp thu thập khỏc nhau:
(1) Phương điều tra nhanh nụng thụn
Phương phỏp điều tra nhanh RRA được ỏp dụng để thu thập cỏc tài liệu
về điều kiện tự nhiờn, kinh tế xó hội, thực trạng sử dụng đất, nguyện vọng của người dõn địa phương trong việc phõn bổ sử dụng đất đai thụng qua cỏc cụng
cụ phỏng vấn và tiếp xỳc lónh đạo, cỏc ban ngành liờn quan
(2) Phương phỏp điều tra chuyờn đề
Phương phỏp điều tra chuyờn đề được sử dụng để điều tra bổ sung cỏc thụng tin khụng cú trong tài liệu RRA tại cỏc thụn bản theo cỏc lĩnh vực:
- Lĩnh vực trồng trọt
- Lĩnh vực chăn nuụi
- Lĩnh vực lõm nghiệp
(3) Phương phỏp đỏnh giỏ nụng thụn cú sự tham gia của người dõn
Phương phỏp tiếp cận cú sự tham gia (PRA) là phương phỏp mới đang được sử dụng phổ biến hiện nay nhằm thay đổi phương phỏp tiếp cận truyền thống theo một chiều từ trờn xuống trước đõy trờn tất cả cỏc cấp bậc quy hoạch và tỏ rừ tớnh ưu việt của nú trong điều kiện của Việt Nam hay ở cỏc nước cú hoàn cảnh tương đồng Với những ưu thế đặc biệt đú nú cú khả năng khuyến khớch, hỗ trợ mọi khả năng hiện cú của cộng đồng để họ xỏc định
Trang 35chính xác yêu cầu của minh, đề ra các mục tiêu rồi kiểm tra và đánh gia chúng
Bản chất của phương pháp tiếp cận này trong quy hoạch sử dụng đất là tất cả những ai liên quan đến sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn đều được tham gia vào quá trình này với đúng vai trò và khả năng của mình bằng các công cụ thích hợp Như vậy, tất cả các nhà quản lí, người lập chính sách, chuyên gia kỹ thuật, cán bộ địa phương và nhân dân cũng như các chủ sự dụng đất đều được tham gia vào quá trình quy hoạch sự dụng đất
(5) Các công cụ được sử dungtrong phương pháp PRA
- Sử dụng công cụ ma trận phân loại để xác định cây trồng chính trong thôn
- Thảo luận nhóm nông dân trên sơ đồ về các vấn đề sử dụng đất và ranh giới các loại hình sử dụng đất, nhu cầu về sản xuất, những khó khăn và thách thức
- Sử dụng công cụ vẽ sơ đồ hiện trạng thôn, bản có sự tham gia của người dân và thảo luận trên sơ đồ
- Đi Lát cắt để xác minh lại trên bản đồ, đánh giá bổ sung về hiện trạng
sử dụng đất và phân tích hệ thống canh tác
- Sử dụng phương pháp phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức
để đánh gia hiện trạng sử dụng đất
- Họp thôn để trình bày kết quả, thảo luận và củng cố thông tin
(6) Đánh giá đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất có sự tham gia
Các bước tiến hành:
- Sử dụng tài liệu có sẵn như bản đồ địa giới hành chính xã, bản đồ hiện trạng và các tài liệu có liên quan
Trang 36- Căn cứ vào bản đồ, tiến hành xác minh hiện trạng sử dụng đất trên thực địa, khoanh vẽ xác định ranh giới xã, thôn và các kiểu sử dụng đất
- Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nông nghiệp
Phương pháp tiến hành:
- Tiến hành điều tra theo tuyến (đi lát cắt) và khảo sát điểm cụ thể có sự tham gia của người dân để xác định các loại hình sử dụng đất của từng thôn sau đó tổng hợp trên cơ sở mặt cắt về sử dụng đất của xã
- Vẽ bản đồ được thực hiện theo 2 bước
Bước 1: Hoàn chỉnh bản đồ ngoại nghiệp bằng cách chuyển họa ranh giới các loại đất, loại rừng và bổ sung địa hình địa vật lên bản đồ Ghi các kết quả của các lô khoảnh trạng thái và tính toán diện tích trên giấy kẻ ô li
Bước 2: Xây dựng bản đồ thành quả tỷ lệ 1:10.000 theo quy phạm của Viện điều tra quy hoạch rừng năm 1994
Sau khi hoàn chỉnh bản đồ tiến hành họp thôn để trình bày kết quả, thảo luận và củng cố thông tin thu thập trên bản đồ
(7) Phân 3 loại rừng và phân cấp phòng hộ
Phương pháp phân ra 3 loại rừng, phân cấp phòng hộ được thực hiện dựa trên tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành kết hợp với sự tham gia, điều chỉnh trên thực địa có sự tham gia của người dân Ranh giới 3 loại rừng dựa vào kết quả chương trình rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng Nội dung phân chia 3 loại rừng là xác định ranh giới 3 loại rừng, xác định vị trí giữa bản đồ và thực tế, tính toán và tổng hợp diện tích các loại rừng, xác định các giải pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng rừng, chuyển hóa ranh giới và trạng thái các loại rừng lên bản đồ phân chia 3 loại rừng
(8) Phân chia các loại trạng thái rừng
Việc phân chia các loại trạng thái rừng được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành kết hợp
Trang 37đi điều tra khảo sát thực địa, bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Bổ sung hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất bằng phương pháp khoanh vẽ trạng thái rừng, lập ô tiêu chuẩn điều tra thu thập các tiêu chí lâm học chủ yếu và các thông tin liên quan khác
(9) Thảo luận nhóm và phỏng vấn hộ gia đình
- Chọn thôn điều tra
- Chọn hộ phỏng vấn
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp phỏng vấn hộ
2.4.3 Phương pháp xử lý tổng hợp và phân tích số liệu
(1) Tổng hợp, phân tích thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội
Các nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội được tổng hợp
và phân tích theo các nhóm sau:
- Nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn, được thu thập từ các tài liệu, báo cáo của xã
- Nhóm tài liệu về điều kiện kinh tế - xã hội: Dân số, dân tộc, lao động
và việc làm, các dịch vụ xã hội và cơ sở hạ tầng, được thu thập từ các phòng, ban liên quan và tài liệu gốc của xã, sau đó tổng hợp, phân tích qua hệ thống phụ biểu báo cáo
- Nhóm tài liệu về hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất đai được tổng hợp với các chỉ tiêu về diện tích, tình hình sinh trưởng, phát triển, trữ lượng và chất lượng rừng
- Nhóm thông tin liên quan đến tổ chức và thể chế: Tổ chức cộng đồng, dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, quản lý bảo vệ rừng, dịch vụ thú y, được tổng hợp và phân tích bằng phương pháp SWOT
- Bản đồ Hiện trạng sử dụng đất và bản đồ Quy hoạch sử dụng đất bền vững được xây dựng có sự trợ giúp của phần mềm Mapinfo 10.0
Trang 38Các nhóm tài liệu điều tra được xử lý tổng hợp theo từng nội dung, được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, mức độ quan trọng Những thông tin thu thập được bằng định tính và định lượng đều có giá trị quan trọng như nhau, được sử dụng làm số liệu xây dựng dự án và được thực hiện bằng 2 phương pháp sau:
(2) Phương pháp SWOT: là phương pháp phân tích điểm yếu, điểm mạnh cơ hội và thách thức của hệ thống sự dụng đất
(3)Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
- Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế (CBA) được vận dụng phân tích các mô hình sản xuất, trên cơ sở đó lựa chọn các mô hình sử dụng đất có hiệu quả nhất để tiến hành QH sản xuất Việc tính toán, phân tích số liệu được thực hiện bằng phương pháp động thông qua sử dụng các hàm số: NPV, BCR, IRR
+ NPV: Gi¸ trÞ hiÖn t¹i cña lîi nhuËn rßng (Net Present Value) đạt được trong cả chu kỳ đầu tư
Trang 39IRR: Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (Internal Rate of Return) (%): Chính là chỉ tiờu thể hiện tỷ suất lợi nhuận nếu vay vốn với lói suất bằng với chỉ tiờu này thỡ mụ hỡnh hũa vốn (NPV = 0 thì i = IRR)
0
0 1
(2 5)
Trong đó:
Bt là giá trị thu nhập năm thứ t
Ct là giá trị chi phí năm thứ t
i là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)
t thời gian thực hiện kế hoạch
Chỉ tiêu BCR dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư của phương án sản xuất, BCR lớn hơn 1 thì có hiệu quả kinh tế, BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Hoặc IRR > r thỡ mụ hỡnh cú lói; IRR = r thỡ mụ hỡnh hũa vốn và IRR < 0 thỡ mụ hỡnh bị lỗ
- Phương phỏp phõn tớch đỏnh giỏ hiệu quả xó hội
Cỏc chỉ tiờu đỏnh giỏ hiệu quả xó hội: Mức độ đầu tư, khả năng ứng dụng của mụ hỡnh, khả năng cho sản phẩm, giải quyết việc làm, đời sống của người dõn được nõng cao hơn Mụ hỡnh rừng trồng cú mức độ đầu tư thấp, kỹ thuật đơn giản, nhanh chúng cho hiệu quả, mức độ rủi ro thấp, người dõn cú thể chấp nhận được
- Phương phỏp phõn tớch đỏnh giỏ hiệu quả về mụi trường
Thụng qua phỏng vấn hộ gia đỡnh trong địa bàn đối với khả năng bảo
vệ đất chống xúi mũn của một số mụ hỡnh và kế thừa một số mụ hỡnh đó được cụng bố
- Phương phỏp tớnh hiệu quả tổng hợp
Trang 40Phương thức canh tác hiệu quả là phương thức canh tác phải có hiệu quả kinh tế nhất, mức độ chấp nhận xã hội cao nhất, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Áp dụng phương pháp tính chỉ số hiệu quả tổng hợp các phương thức canh tác (Ect) của W.Rola (1994)
Ect =
n f
f hoăo f
f f
f hoăo f
f
n n
l
max min
+ Ect là chỉ số hiệu quả tổng hợp Nếu Ect = 1 thì phương thức canh tác
có hiệu quả cao nhất, phương thức nào có giá trị của Ect càng gần 1 thì phương thức đó hiệu quả tổng hợp càng cao
+ f : là các đại lượng tham gia vào tính toán (NPV, CPV, IRR)
+ fmax : là giá trị cực đại của đại lượng tham gia tính toán và được sử dụng tính toán trong hiệu quả tổng hợp thường là các chỉ tiêu NPV, CPV, IRR Hoặc các chỉ tiêu về xã hội là các giá trị đầu tư công lao động, giá trị sản phẩm hoặc các chỉ tiêu về môi trường là các giá trị về khả năng giữ nước của cây, tính đa dạng sinh học,
+ fmin : là giá trị cực tiểu của đại lượng tham gia tính toán và được sử dụng tính toán trong hiệu quả tổng hợp là chỉ tiêu về xã hội như giá trị đầu tư thấp
n : là số đại lượng tham gia vào tính toán