1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác đá vôi huyện yên minh tỉnh hà giang làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp của huyện

79 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác nông lâm nghiệp trên địa hình núi đá vôi huyện yên minh tỉnh hà giang làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp của huyện
Tác giả Đỗ Tố Như
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Phú Hùng
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và nhiều chủ trương chính sách như giao đất, giao rừng cho cá nhân tậpthể để phát triển kinh tế nông lâm nghiệp.Để phát triển nông lâm nghiệp một cách bền vững, lâu dài trên địa bànmiền

Trang 1

đỗ tố như

Đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác nông lâm nghiệp trên địa hình núi đá vôi huyện yên minh tỉnh

hà giang làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển

nông lâm nghiệp của huyện

Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 60.62.60

tóm tắt luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà Tây, năm 2007

Trang 2

Đỗ Tố Như

Đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác nông lâm nghiệp trên địa hình núi đá vôi huyện yên minh tỉnh

hà giang làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển

nông lâm nghiệp của huyện

Trang 3

ĐặT VấN Đ ề

Yên Minh là một trong 4 huyện vùng cao núi đá nằm về Bắc của tỉnh

Hà Giang, có 17 xã và một thị trấn; trong đó có 4 xã biên giới với khoảng hơn

20 km đường biên tiếp giáp với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Huyện Yên Minh có tổng diện tích tự nhiên 78.346 ha, trong đó đất đồinúi chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên, là nơi cư trú của 15 dân tộc anh em với69.902 người sinh sống trong đó chủ yếu là người H'Mông Phương thức canhtác và phong tục tập quán canh tác của từng dân tộc cũng mang một sắc tháiriêng biệt Với hơn 97% số hộ có nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông lâmnghiệp và canh tác nương rãy

Mặc dù diện tích đất có khả năng sử dụng cho sản xuất nông lâmnghiệp còn nhiều, nhưng phương thức canh tác lạc hậu, tự phát, không tậptrung, thiếu vốn sản xuất, giống cây trồng, vật nuôi kém chất lượng canh tácchủ yếu nhờ vào điều kiện tự nhiên dẫn đến năng suất và thu nhập thấp Ngườidân vẫn nằm trong tình trạng thiếu lương thực, tỷ lệ hộ đói nghèo trong huyệncòn cao (61%) Do đó dẫn đến tình trạng đốt nương làm rãy nhiều, chủ yếu đểsản xuất lương thực (ngô), đất đai bị cào đi xới lại nhiều lần với các loài câytrồng ít có khả năng bảo vệ đất dẫn đến đất đai ngày càng bị thoái hoá, rửatrôi, tài nguyên rừng và đất rừng bị giảm sút nghiêm trọng cả về diện tích vàchất lượng dẫn đến chức năng phòng hộ của rừng bị giảm sút, khả năng giữ

đất, giữ nước của rừng bị hạn chế, hiện tượng lũ quét, lũ ống sảy ra vào mùamưa, thiếu nước trầm trọng vào mùa khô và nguy cơ đất đai bị sa mạc hoá cao.Nguyên nhân chính là chưa có một quy hoạch cụ thể và sự quan tâm đúngmức về sản xuất nông lâm nghiệp của địa phương

Để khắc phục tình trạng trên ở các tỉnh miền núi nhiều năm qua Đảng

và Nhà nước đã có chủ trương phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nâng cao đờisống người dân miền núi ổn định lương thực bằng nhiều chương trình dự ánnhằm phát triển nông lâm nghiệp bền vững, nâng cao đời sống kinh tế của

Trang 4

người dân địa phương cụ thể như dự án PAM, chương trình 327, chương trình661 và nhiều chủ trương chính sách như giao đất, giao rừng cho cá nhân tậpthể để phát triển kinh tế nông lâm nghiệp.

Để phát triển nông lâm nghiệp một cách bền vững, lâu dài trên địa bànmiền núi đất rộng người thưa với phương thức canh tác nương rãy là chủ yếuthì công việc không thể thiếu là phải quy hoạch sử dụng đất cho người dân,

định hướng người dân áp dụng khoa kỹ thuật mới vào sản xuất và lựa chọn tập

đoàn cây trồng phù hợp với từng vùng, từng địa phương và đổi mới phươngthức canh tác là việc làm cần thiết

Để góp phần vào việc định hướng quy hoạch lâu dài với các giải pháp

có hiệu quả thì đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác nông lâm nghiệp làm

cần thiết, tác giả tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: "Đánh giá hiệu quả các mô hình canh tác nông lâm nghiệp trên địa hình núi đá vôi huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp của huyện " Với hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nhỏ trong

công việc phát triển nông lâm nghiệp và ổn định đời sống dân cư của huyện

Trang 5

CHƯƠNG 1 TổNG QUAN VấN Đề NGHIÊN CứU

ở Việt nam và trên thế giới, vấn đề nghiên cứu, đánh giá khả năng canh tácnông lâm nghiệp chưa thực sự được các nhà khoa học quan tâm đúng mức Nhậnthức được hậu quả của sự suy giảm tài nguyên rừng, suy giảm đa dạng sinh họcnên trong những năm gần đây một số các nhà khoa học đã để ý và bước đầu tìmhiểu, nghiên cứu những giá trị mà rừng trên núi đá vôi đem lại cho con ngườinhư: Giá trị về cây thuốc, hoa, cây cảnh, gỗ, du lịch và thử nghiệm gây trồngmột số loài cây trên địa hình núi đá vôi

1.1 Trên thế giới

Những nghiên cứu phục hồi rừng trên núi đá ở các nước ôn đới diễn ramột cách thầm lặng vì phần lớn núi đá các nước này là không có cây cối hoặcnếu có cũng là các cây bụi nhỏ bé [20]

Khi nghiên cứu thảm thực vật trên núi đá, đặc biệt trên núi đá vôi ởnhiệt đới, nhiều chuyên gia về thực vật, thổ nhưỡng đã rất ngạc nhiên trước hệsinh thái hùng vĩ có vẻ đẹp kỳ diệu và lại cho nhiều sản phẩm quý giá Đồngthời những nghiên cứu này cũng khuyến cáo rằng: Một khi rừng núi đá vôi bịtàn phá nặng nề thì rừng rất khó có thể tự phục hồi trở lại, đặc điểm này kháchẳn vời rừng núi đất Sau khi thảm thực vật núi đá vôi bị mất, dưới các trậnmưa lớn và cường độ mưa mạnh ở vùng khí hậu nhiệt đới ảm như ở Việt Nam,

đất trên địa hình này mỏng, độ dốc lớn đất sẽ bị gột rửa xuống chân núi, hơnnữa khi núi đá không có tán rừng che phủ, biên độ giao động của nhiệt độ cao,tình trạng phong hóa sẽ xẩy ra rất mạnh, đá nứt thành từng tảng và sạt lởxuống chân núi gây thiệt hại lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân

ở Trung Quốc, Viện Lâm nghiệp Quảng Đông và Quảng Tây đã tiếnhành nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trồng trên núi đávôi, như: Tông dù, Nghiến, Lát hoa… trong thời kỳ 1985-1998 Những nghiêncứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học ở Học viện Lâm

Trang 6

nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầungành của nước này, những hướng dẫn tạm thời về phục hồi rừng trên núi đávôi áp dụng cho vùng nghiên cứu đã được xây dựng cho một số loài: Tông dù,Lát hoa, Xoan nhừ, Nghiến nhưng chưa được tổng hợp một cách có hệ thốngnên chưa đem áp dụng cho các vùng khác [20].

Việc nghiên cứu trên chứng tỏ bước đầu đã tìm hiểu đặc tính sinh vậthọc, sinh thái học của rừng trên núi đá vôi và hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi

Sự kế thừa các kết quả nghiên cứu này là rất cần thiết cho việc phát triển các đềtài có liên quan hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đặc biệt là phục hồi rừng vàphát triển các loại mô hình sản xuất nông lâm nghiệp trên địa hình núi đá vôi

1.2 ở Việt Nam

- Đào trọng Năng (1909) [6], đã có công trình nghiên cứu về địa hìnhKarst vùng núi đá vôi Đây là công trình nghiên cứu hết sức quan trọng về địahình và địa thế của các khoáng vật đá mẹ Sự tạo nền vật chất của các vùngkhác nhau sẽ quyết định các nhân tố trên nó khác nhau như: Tổ thành loài cây,cấu trúc rừng, chiều hướng diễn thế sự nghiên cứu này phần nào nó ảnhhưởng đến phương thức tái sinh phục hồi rừng, đặc biệt là lựa chọn tập đoàncây trồng thích hợp

- Thái Văn Trừng (1978) [17], trong quá trình phân loại thảm thực vậtrừng ở Việt Nam đã xem xét loại hình thực vật trên núi đá vôi Theo đó rừngtrên núi đá vôi được xác định thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên núi đávôi xương xẩu và nằm trong các kiểu thực vật sau:

Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới

Đây là kiểu thảm thực vật chủ yếu của rừng trên núi đá vôi với ưuhợp Nghiến + Trai lý xuất hiện ở những lèn, sườn núi đá vôi có độ dốc lớn,

đặc trưng của những cảnh quan Karst, có nhiều khoảng trống lớn để lộ đágốc, sườn núi thường lởm chởm thấp dưới 700m thuộc một số tỉnh miềnBắc Việt Nam

Trang 7

Tuy nhiên do quá trình khai thác và sử dụng quá mức nên diện tích rừngnguyên sinh ít bị tác động còn lại rất ít, thường nằm ở các vườn quốc gia và cáckhu bảo tồn thiên nhiên Loại thực bì này hiện nay chủ yếu là những khu rừngthứ sinh trên núi đá vôi, phân bố chủ yếu ở gần khu dân cư, ven các trục đường,nơi mà việc khai thác vận chuyển có nhiều thuận lợi Tại nhiều nơi do khai thácmạnh và cháy rừng đã trở nên nghèo kiệt, còn ít những loài cây gỗ, tổ thànhrừng đã thay đổi, các loài cây mọc nhanh chiếm ưu thế như Mạy tèo, Ô rô, Babét, Ràng ràng mít, Chẩn… Do vậy, kiểu thảm thực vật này còn được xác định

là kiểu phụ thứ sinh nhân tác trên đất đá vôi xương xẩu [20]

Kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhệt đới

Rừng trên núi đá vôi ở đây có sự kết hợp của nhiều loài cây khác nhaunhư Nghiến + Trai lý + Chò nhai + Ô rô cùng các loài rụng lá như Trườngsâng, Xoan nhừ, Gạo, Dâu da xoan, Lòng mang, Cui rừng…ở một số nơithuộc tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn và Quảng Bình Loại thảm thực vậtnày thường gặp trên các sườn núi đá vôi dốc đứng hoặc tại các thung lũng đávôi và đất dốc tụ, thấp ẩm, thực vật phát triển cao, lớn gần giống với các thựcvật trên núi đất

Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

Kiểu rừng này phân bố ở đai cao trên 700m: Chợ Rã (Bắc Kạn),Nguyên Bình (Cao Bằng), Quảng Bạ, Đồng Văn (Hà Giang), Khu bảo tồnthiên nhiên Du Già (Yên Minh Hà Giang) và vùng Tây Bắc… Đặc điểm nổibật là thực vật thuộc ngành hạt trần có tỷ lệ tương đối lớn và tập trung, có cácloài như Thông pà cò, Sam kim hỷ, Trắc bách Quảng Bạ,…ở độ cao 1.000mthuộc vùng Tây Bắc, xuất hiện ưu hợp Kiêng + Heo (Burretiodendron + Croton pseudoverticillata) thuộc kiểu phụ htổ nhưỡng kệt nước trên đất

rendzina giàu chất dinh dưỡng

Trang 8

Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp

Có ở Hà Giang, Tuyên Quang và Ninh Bình, nơi độ cao dưới 700m,với ưu hợp Nghiến + Kim dao + Hoàng đàn cùng một số loài cây thuộc họThích, Dẻ…

Ngoài ra, tại nhưỡng khu vực sau hoạt động nương rãy hoặc những khurừng đã bị khai thác nhiều lần đến cạn kiệt ở nhiều tỉnh như Lạng Sơn, CaoBằng, Hà Giang, Hoà Bình, Quảng Bình… xuất hiện một số dạng thực bì códiện tích tương đối lớn với những loài cây bụi, cây gỗ nhỏ như Ô rô, Mạy tèo,Xẻn gai… dạng thực bì này được gọi là Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trênnúi đá vôi

- Trần Ngũ Phương (1970) [13] khi đề cập đến rừng ở miền bắc Việt Nam

đã xếp rừng trên núi đá vôi vào đai rừng nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng nhiệt

đới lá rộng thường xanh trên núi đá vôi, kiểu này có 4 kiểu phụ thổ nhưỡngnguyên sinh 1-2 tầng cây gỗ, trong đó Nghiến là loài cây ưu thế; đai rừng á nhiệt

đới mưa mùa với kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi, kiểu này có 3 kiểuphụ một tầng, trong đó các loài Vân sam (Keteeleria cancarea), Hoàng đàn

(Cupressus terulu) và Kim giao (Podocarpus latiofilia) chiến ưu thế.

Đây là kiểu phụ xuất hiện chủ yếu ở miền Bắc với khí hậu á nhiệt đới

ẩm Đồng thời trong công trình nghiên cứu này tác giả còn đưa ra cơ chế phụchồi, nuôi dưỡng, tái sinh tự nhiên và diễn thế rừng trên núi đá vôi Đây là cơ

sở để bước đầu chúng ta tìm hiểu những đặc tính sinh thái học của hệ sinh tháirừng trên núi đá vôi

- Nguyễn Bá Thụ (1995) [25], đã xếp loại rừng trên núi đá vôi ở CúcPhương được xếp vào quần hệ phụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùacây lá rộng trên đất thấp (dưới 500m so với mặt nước biển) thoát nước phonghoá từ đá vôi và quần hệ phụ này gồm 6 quần xã, trong đó các loài cây chínhtham ra gồm Chò đãi, Sấu, Nhội, Vàng anh, Chò nhai, Mạy tèo, Sâng, Dẻ gai,

Re đá, Côm lá lớn, Trường nhãn, Vải guốc, Mang cát, Hồng bì rừng và ô rô

Trang 9

Trường đại học lâm nghiệp (1990 – 1999) [20] đã tiến hành nghiên cứu

đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và khả năng gây trồng các loài: Nghiến,Mạy sao, Trai lý, Hoàng đàn, Dầu choòng (Mắc rạc) (Delavaya toxocarpa

Franch), Xoan nhừ, Mắc mật… ở một số tỉnh biên giới phía Bắc và miền Trung

nước ta, kết quả nghiên cứu đã xác định được một số đặc điểm chính và đã đượctrồng thử nghiệm ở một số địa phương như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn.Thành quả bước đầu thu được rất khả quan, chi phí tạo rừng không quá cao.Tuy nhiên chưa có thể khẳng định việc áp dụng sẽ thành công ở các địa phươngkhác khi chưa được nghiên cứu và thử nghiệm một cách tổng hợp và hệ thốngtrong các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khác nhau

Viện Điều tra Quy hoạch rừng phối hợp với một số cơ quan khác như:Viện Sinh thái tài nguyên sinh vật, Viện Dược liệu đã tiến hành điều tra,nghiên cứu một số đặc điểm tài nguyên và đa dạng sinh học trên núi đá vôi,quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng và đa dạng sinh học trên núi đávôi và nghiên cứu chủ yếu ở Cao Bằng, và rải rác ở một số tỉnh khác như HàGiang, Tuyên Quang

Vườn Quốc gia Cát Bà, Thành phố Hải Phòng; Vườn Quốc gia Ba Bểtỉnh Bắc Kạn đã tiến hành trồng thử loài cây Kim giao trên núi đá vôi, nhưngvì thiếu những nghiên cứu cơ bản trước đó nên kết quả thu được rất hạn chế,quy mô rừng trồng không được mở rộng [20]

Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Tây Bắc thuộc viện khoa họclâm nghiệp Việt nam đã trồng thử loài cây Keo dậu trên núi đá vôi ở ChiềngSinh tỉnh Sơn La thấy rằng loài cây này sinh trưởng khá tốt, mô hình rừng này

có thể là những dẫn chứng về hiện trường cho các nghiên cứu tiếp theo nhằmphục hồi và phát triển hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi thì nhiều loài cây bản

địa khác của vùng núi đá nên được tiếp tục nghiên cứu làm cơ sở cho công tácxây dựng và phục hồi rừng trên núi đá vôi của các vùng khác

Trang 10

- Trung tâm Tài nguyên và Môi trường - (thuộc Viện Điều tra Quyhoạch rừng)

+ Báo cáo đặc điểm lâm học rừng trên núi đá vôi Cao Bằng - Lạng Sơncủa Nguyễn Huy Dũng và cộng sự (1996) [4]

Bước đầu đã nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng trên núi đá vôi đồngthời đưa ra một số quy trình kỹ thuật gieo trồng các loài cây nhằm mục đíchphục hồi rừng và làm giàu rừng bao gồm: Hoàng đàn(Cupressus terulus); Lát

hoa (Chukhasia tabularis A.Juss); Nghến (Sinocalamus Gig Anter w keng.f).

Trong báo cáo có các kiến nghị rất sát thực đáng quan tâm, việc nghiên cứusinh thái học trên núi đã vôi không thể ngày một ngày hai mà chúng ta phải

đầu tư hơn nữa cả về kinh phí, phương tiện và thời gian thì công tác này mới

đạt hiệu quả tốt hơn

Tuy chỉ là những báo cáo về đặc điểm của rừng núi đá vôi nhưng nómang giá trị khoa học nhất định, là cơ sở để phân loại các kiểu địa hình, kiểuloại rừng và từ đó có thể đề ra các giải pháp lâm sinh cho rừng Việc đưa racác quy trình kỹ thuật gây trồng một số loài cây sẽ giúp một số nơi áp dụngvào thực tế đồng thời là hướng mở ra cho việc nghiên cứu một tập đoàn cácloài cây trồng cho các vùng núi đá vôi

+ Báo cáo đặc điểm lâm học rừng trên núi đá vôi vùng Tuyên Quang

-Hà Giang (1997) [3]

Đã đưa ra đặc điểm lâm học của rừng trên núi đá vôi, các quy luật táisinh, diễn thế tự nhiên trên núi đá Việc nắm bắt các quy luật tái sinh và diễnthế tự nhiên là vần đề quan trọng nó sẽ góp phần vào việc phục hồi và pháttriển rừng Đồng thời báo cáo đã nêu rõ việc áp dụng các tiêu chuẩn phân loạirừng theo điều kiện trạng thái của Loeschau và theo Quy phạm QPN-6-84 của

Bộ Lâm nghiệp nay là Bộ NN và Phát triển Nông thôn để phân loại các trạngthái núi đá là không hợp lý, cần xây dựng các chỉ tiêu phù hợp khác Việc giao

đất giao rừng là rất cần thiết vì tái sinh phục hồi rừng là rất khó khăn cho nên

Trang 11

cần có một chế độ bảo vệ nghiêm ngặt thì quá trình tái sinh rừng mới thànhcông Cũng trong báo cáo này đã đề xuất ý kiến cho công tác quy hoạchkhoanh vùng, khai thác hợp lý cây thuốc trên địa bàn Đây là hướng kinhdoanh lợi dụng rừng mang nhiều ý nghĩa, cần được sự phối hợp giữa ngườidân bản địa, các cơ quan chuyên môn với đơn vị quy hoạch.

+ Báo cáo đặc điểm lâm học rừng núi đá vôi vùng Tây Bắc - Tây ThanhHoá, Nghệ An (1998) [22]

Trong báo cáo này đã nêu lên những vấn đề kết cấu rừng trên núi đávôi, khả năng tái sinh và xu hướng diễn thế rừng, đồng thời đưa ra những giảipháp kiến nghị cho việc kinh doanh sử dụng rừng trên núi đá vôi

+ Báo cáo đặc điểm lâm học rừng trên núi đá vôi vùng Trường Sơn Bắc(1999) [22]

Báo cáo đã nói lên đặc điểm của cấu tạo của lớp đá vôi vùng này Cácdạng địa hình thể hiện quá trình Karst đang phát triển mạnh, dòng chảy bềmặt ít, sông suối ngầm phát triển Báo cáo chỉ ra vùng này là nơi gặp gỡ của 2luồng thực vật di cư tới Một từ Hymalaya qua Vân Nam xuống và một từIndonêxia lên nên hệ thực vật trên núi đá vôi ở đây cũng khác so với vùngkhác Thực vật chủ yếu là các họ phân bố rộng ở rừng nhiệt đới như họ Xoan,

họ Đậu, họ Mộc lan, họ Dâu tằm

Nguyễn Huy Dũng và cộng sự (1999) [22] nghiên cứu mô hình cộng đồngquản lý rừng trên núi đá vôi xã Xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.Kết quả cho thấy nhân dân đã tiến hành trồng cây Mắc rạc(Delavaya toxocarpa

Franch) trên khu vực núi đá vôi toàn xã loài cây này đã sinh trưởng và phát triển

tốt cũng như cho thấy nguồn lợi từ trồng rừng trên núi đá Báo cáo đã kiến nghịvới Nhà nước, Uỷ ban nhân dân tỉnh cần có chương trình hỗ trợ để xây dựng xãPhúc Sen thành một điểm tham quan học tập, cung cấp giống và huấn luyệntrồng các loài cây trên núi đá vôi

Trang 12

Sở khoa học công nghệ tỉnh Hà Giang, Lâm trường Yên Minh đã trồng thửnghiệm loài cây Mắc rạc tại huyện Yên Minh vào năm 1998, sau hơn một nămcây sinh trưởng tốt, chiều cao bình quân là 50cm, tỷ lệ sống trên 90% [20].

Trần Hữu Viên - Trường Đại học Lâm nghiệp (2004) [20], cùng cáccộng sự đã nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng các giải pháp quản lý bềnvững rừng trên núi đá vôi Trong đó đã cung cấp cơ sở khoa học để xây dựngcác giải pháp kỹ thuật nhằm khôi phục và phát triển rừng trên núi đá vôi Xâydựng được các mô hình trình diễn tổng hợp theo hướng quản lý rừng bền vữngrừng núi đá vôi Đề xuất giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm khôi phục và pháttriển rừng trên núi đá vôi

Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác về tính chất đất của vùng núi đá vôi:

* Trần Khải, Nguyễn Vi (1965), [20] đã phân tích thành phần khoángsét của đất đen trên núi đá vôi của Mộc Châu Các mẫu đất được phân tích tạiViện Thổ nhưỡng, Bắc Kinh, Trung Quốc Kết quả cho thấy tầng đất mặt(0-27cm) khoáng sét chủ yếu là Montmorilonit và Illit, có thêm ít khoángKaolinit, Gibbsit và Gotit; ở độ sâu 28 – 100cm thì khoáng sét Vecmiculitchiếm ưu thế và có thêm ít khoáng Gibbsit và Illit

* Các nghiên cứu về thành phần khoáng sét của đất đen trên núi đá vôi

ở Sơn La của Phạm Tín (1978) [20] cũng nhận thấy: Khoáng sét chủ yếu củaloại đất này là Montmorilonit, Vecmiculit Khoáng sét thứ yếu là Hydromyca.Như vậy thành phần khoáng sét của đất đen trên núi đá vôi ở Sơn La cũnggiống với thành phần khoáng sét của Rugin, Grumosol và đất Macgalit

- Các nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất cấp xã, mô hình nông lâmkết hợp

- Nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất và mô hình nông lâm kết hợp lànền tảng cho sự phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp nhất là trên địa bàn đồinúi Khi có quy hoạch sử dụng đất phù hợp sẽ phát huy được các điểm mạnh,

Trang 13

khắc phục được các hạn chế tiềm năng đất đai và mang lại hiệu quả sử dụng

đất cao nhất trên cùng một mảnh đất

+ Nguyễn Bá Ngãi: Luận án tiến sĩ (2001) [8] - Nghiên cứu cơ sở khoahọc và thực tiễn cho quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã vùng Trungtâm vùng núi phía Bắc Việt Nam Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận, quan điểmnghiên cứu, trình tự các bước tiến hành quy hoạch nông lâm nghiệp cấp xãdựa trên hiện trạng sử dụng đất của xã, thị trường và nhu cầu của người dân

địa phương Luận án đã kế thừa các kinh nghiệm trong và ngoài nước để xâydựng lên cở sở lý luận khoa học cho phát triển nông lâm nghiệp cấp xã ở ViệtNam, đặc biệt là trung tâm vùng núi phía Bắc Việt Nam

* Nghiên cứu đánh giá dự án

Đánh giá hiệu quả dự án nhằm đưa ra những nhận xét theo định kỳ vềkết quả thực hiện các hoạt động dự án và những hiệu quả cũng như tác độngcủa dự án trên cơ sở so sánh một số tiêu trí, chỉ tiêu đã lập trước, hay nói cáchkhác, đánh giá hiệu quả là qua trình xem xét một cách có hệ thống và kháchquan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, tính hiệu quả và tác động của cáchoạt động ứng với các mục tiêu đã vạch ra

- Các mô hình thành công và hiệu quả nhất của các nhà nghiên cứu là

hệ thống canh tác trên đất dốc (SALT) được thế giới ghi nhận như mô hìnhSALT1, mô hình SALT2, mô hình SALT3 và mô hình SALT4

- Năm 1990 Per Hstahl và Krekula [16] đã tiến hành đánh giá hiệu quảkinh tế cho hoạt động kinh doanh rừng bạch đàn trồng làm nguyên liệu giấytại khu công nghiệp giấy Bãi Bằng - Phú Thọ Các chỉ tiêu kinh tế NPV, IRR

đã được đề cập và đánh giá

- Trần Đức Viên, Phạm Chí Thành (1995) [21], phân tích đánh giá tỷ lệcác thành phần dân tộc ít người Việt Nam để đưa ra một số biện pháp kỹ thuậtcanh tác trên đất dốc và phương thức nông lâm kết hợp

Trang 14

- Năm 1994 Trung tâm nghiên cứu phát triển lâm nghiệp Phù Ninh kếthợp với Trường đại học Lâm nghiệp đã nghiên cứu khả năng giữ nước và bảo

vệ đất của các phương thức canh tác trên đất dốc tại Tuyên Quang, đề tài doGS.TS Phùng Ngọc Lan và TS Vương Văn Quỳnh thực hiện [16]

Tóm lại: Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhànước cũng như tích cực của các đại phương Nhiều mô hình sản xuất nông lâmnghiệp đã được triển khai và đem lại những kết quả tốt đẹp Tuy nhiên, do

điều kiện tự nhiên ở mỗi vùng sinh thái khác nhau, tập quán cánh tác cũngkhác nhau Vì vậy cần thiết phải tiến hành công tác đánh giá hiệu quả các môhình sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn vùng núi nói chung và trên địa bànvùng núi đá vôi riêng, nhằm cung cấp những thông tin cần thiết và sát thựccho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế của địa phương vùng núi đá,

đồng thời giúp cho người dân vừa phát triển kinh tế hộ gia đình vừa có thể

đem lại hiệu quả về đa dạng sinh thái và môi trường trên địa bàn núi đá vôi

đang bị suy thoái nơi họ đang sinh sống một cách thực tiễn

Trang 15

CHƯƠNG 2

MụC TIÊU - ĐốI TƯợNG - NộI DUNG - PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp trên địa hình núi đá vôi

- Hiện trạng các loại đất đai

2.3 Địa điểm

Trong khuôn khổ giới hạn về điều kiện và thời gian đề tài chỉ tập trungnghiên cứu một số mô hình sản xuất nông lâm nghiệp đã được người dân sảnxuất canh tác tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang, vì lý do sau đây:

- Nhu cầu tham gia của nhiều hộ gia đình và yêu cầu bức thiết của việc sửdụng hiệu quả diện tích đất trên vùng núi đá vôi vào sản xuất nông lâm nghiệp

- Đa dạng hóa về các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp

- Đây là địa bàn thuận tiện cho việc điều tra, thu thập thông tin

2.4 Giới hạn của đề tài

- Đánh giá hiệu quả kinh tế tập trung vào các mô hình sản xuất nônglâm nghiệp trên địa hình núi đá vôi trên địa bàn Đề tài chỉ giới hạn phân tíchhiệu quả kinh tế thông qua các chỉ tiêu như NPV, BCR và IRR của các môhình hiện đang được canh tác trên địa hình núi đá vôi của huyện Yên Minhtỉnh Hà Giang

Trang 16

- Đánh giá hiệu quả xã hội các mô hình giới hạn trong việc tạo công ănviệc làm, nâng cao nhận thức hiểu biết của người dân địa phương trong việc ápdụng các biện pháp kỹ thuật cho cây trồng, vai trò phòng hộ của cây trồngtrên các mô hình.

- Đánh giá hiệu quả môi trường các mô hình giới hạn trong việc đánhgiá một số chỉ tiêu cải thiện đất, vai trò chống xói mòn, điều tiết nguồn nướcnhưng chỉ dừng lại ở việc đánh giá định tính

2.5 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dungchủ yếu sau:

2.5.1 Điều tra, đánh giá tình hình cơ bản, hiện trạng đất đai

2.5.1.1 Điều tra đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất đai, dân sinhkinh tế xã hội và các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn huyệnYên Minh

2.5.1.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang2.5.2 Tổng kết được các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp và hiệu quảcủa các mô hình sản xuất trên địa bàn huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang

2.5.2.1 Thống kê, phân loại được các mô hình trên địa bàn

2.5.2.2 Đánh giá chung về các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng và thựchiện trên địa bàn

2.5.2.3 Phân tích hiệu quả của các mô hình

2.5.2.4 Tổng hợp đầu tư và thời gian cần hỗ trợ của các mô hình

2.5.3 Định hướng sử dụng đất nông lâm nghiệp

+ Định hướng sử dụng đất nông nghiệp

+ Định hướng sử dụng đất lâm nghiệp

2.5.4 Quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp

+ Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp

+ Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp

Trang 17

2.5.5 Tổng hợp dự kiến vốn đầu tư

2.5.6 Đánh giá hiệu quả đầu tư

2.5.3.1 Hiệu quả kinh tế

2.5.3.2 Hiệu quả xã hội

2.5.3.3 Hiệu quả môi trường

2.5.3.4 Đánh giá và đề xuất chung cho các mô hình sản suất nônglâm nghiệp

và môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bao gồm:

+ Tài liệu về điều kiện khí tượng thủy văn

+ Tài liệu về dân sinh kinh tế - xã hội

+ Tài liệu về địa lý, đất đai, thổ nhưỡng

+ Tài liệu đã có về nông lâm nghiệp

+ Thu thập các tài liệu liên quan khác như: địa giới hành chính, cácnguồn tài nguyên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước,khoáng sản…)

2.6.2 Lựa chọn một số mô hình sản xuất nông lâm nghiệp được ngườidân ưa thích

Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (Rapid RuralAppraisal - RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của

Trang 18

người dân (Participatory Rural Appraisal - PRA) (Chi tiết xem mẫu phiếuphỏng vấn tại phần phụ biểu 7).

2.6.3 Phương pháp điều tra chi tiết

+ Điều tra khảo sát các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp và tình hìnhphát triển trên địa bàn nghiên cứu

Căn cứ vào thu thập thông tin, kết quả làm việc với chính quyền địaphương các cấp đặc biệt là chính quyền cấp xã và bản đồ hiện trạng sử dụng

đất ở từng xã để tiến hành xác định các điểm điều tra cụ thể, điều tra bổ sung

Quá trình điều tra được tiến hành theo 2 bước

Bước 1: Điều tra khảo sát tổng thể các mô hình sản xuất nông lâmnghiệp trên địa bàn ngiên cứu để nắm được đặc điểm chung trên cơ sở để tiếnhành phân loại và tổng kết các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp

Bước 2: Trên cơ sở phân loại các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp ởbước 1 tiến hành điều tra chi tiết các loại mô hình sản xuất nông lâm nghiệptrên địa bàn

+ Điều tra chi tiết các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp và thu thập sốliệu điều tra

Đây là công việc quan trọng, nó ảnh hưởng đến độ chính xác và chấtlượng đề tài từ đó có đề xuất hợp lý cho từng mô hình

Trong từng mô hình tiến hành điều tra thu thập các thông tin như: loàicây, năm trồng, các biện pháp kỹ thuật, tình hình sâu bệnh hại, chi phí chotừng giai đoạn và cả mô hình, phương thức canh tác, thu nhập…

Trong từng loài mô hình sản xuất nông lâm nghiệp sau khi đã phân loạitiến hành lựa chọn một số mô hình để điều tra chi tiết Dung lượng mẫu điều tra

được quyết định dựa vào độ phong phú và đặc thù của các mô hình sản xuấtnông lâm nghiệp hiện có trên địa bàn huyện, sự biến động của các nhân tố điềutra, đặc biệt là về loài cây, tuổi, sinh trưởng Dựa trên kết quả điều tra tổng thểcác mô hình sản xuất nông lâm nghiệp trong địa bàn nghiên cứu

Trang 19

Quá trình điều tra gồm 2 phần:

Phần 1: Phỏng vấn trực tiếp các hộ tham gia sản xuất có các mô hình

nông lâm nghiệp Mẫu phiếu điều tra được soạn sẵn dưới dạng câu hỏi mở đểngười dân có thể tham gia trực tiếp đối thoại

Phần 2: Khảo sát hiện trường, đo đếm các số liệu Đối với cây lâm

nghiệp trồng phân tán tiến hành đo đếm sinh trưởng của 30 cây trên một môhình Đối với loài cây lâm nghiệp trồng tập trung lập ô tiêu chuẩn tạm thờidiện tích 500 m2 đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng các cây trong ô, thống kêlượng cây nông nghiệp và cây công nghiệp trồng xen

Sự phân chia quá trình điều tra này chỉ mang tính tương đối trong thực

tế phần phỏng vấn và khảo sát hiện trường có thể được tiến hành đồng thời,người dân được trực tiếp tham gia vào quá trình đánh giá

+ Giá trị lợi nhuận ròng (NPV - Net Present Value)

NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sảnxuất sau khi đã triết khấu để quy về thời điểm hiện tại Công thức tính như sau:

t t t)i1(

CB

Trang 20

i là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)

t là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)

- Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR - Internal Rate of Return):

IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi

CB

= 0 thì i = IRR (2-2)IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tốthời gian thông qua tính chiết khấu Nếu IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao,khả năng thu hồi vốn càng sớm

- Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR (Benefits to cost rat)

BCR là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biếtmức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất

BCR =

CPVBPV)

i1(C

)i1(Bn

Các chỉ tiêu trên được tính trên máy vi tính

Trang 21

Yên Minh là một trong bốn huyện vùng cao núi đá của tỉnh Hà Giang,

ở toạ độ địa lý nằm trong khoảng:

22016' đến 22052' vĩ độ Bắc

104057' đến 105023' kinh độ Đông

Phía Bắc giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Phía Nam giáp tỉnh Cao Bằng và huyện Bắc Mê

Phía Tây giáp huyện Quản Bạ và huyện Vị Xuyên

Phía Đông giáp huyện Đồng Văn và Mèo Vạc

Huyện có 17 xã và một thị trấn với tổng diện tích tự nhiên 78.346 ha,trung tâm huyện cách Thành phố Hà Giang 100 km về phía Bắc

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Huyện Yên Minh có đặc điểm địa hình vùng núi, gồm các dãy núi đá,núi đất phân bố không đều tạo nên nhiều các khe, lạch thung lũng hiểm trở,xen kẽ là các làng, bản

Địa hình huyện Yên Minh có các dạng như sau:

- Địa hình núi cao: Phân bố chủ yếu ở các xã vùng cao như xã Lao VàChải, Ngam La, Ngọc Long, Du Già với độ dốc lớn (>250) Tỷ lệ đá lộ đầulớn, nhiều nơi thành từng cụm Các loại đất hình thành trên địa hình này cótầng dày từ 30 - 70 cm

- Địa hình núi thấp: Có độ cao dưới 700 m phân bố ở các xã Mậu Duệ,

Na Khê, Thị trấn Yên Minh, Bạch Đích, ở dạng địa hình có độ dốc và mức độchia cắt phức tạp, nhiều khu vực có độ dốc > 250, độ chia cắt mạnh do đá lộ

đầu nhiều, tầng đất thường mỏng, một số khu vực có độ dốc dưới 250 độ chiacắt yếu hơn, tầng đất trung bình

Trang 22

- Địa hình thung lũng: Thung lũng nằm xen kẽ các dãy núi Điển hìnhnhư ở Thị trấn Yên Minh, Mậu Duệ, Bạch Đích, Lũng Hồ, Đường Thượng.

Địa hình có độ dốc nhỏ khá bằng phẳng Đất được hình thành chủ yếu do bồi

tụ của Aluvi và Deluvi

- Địa hình Krast: Phân bố ở các xã nhưng nhiều ở xã Thắng Mố, PhúLũng, Sủng Thài, Sủng Tráng, Lũng Hồ và Đường Thượng Đất hình thànhthường là đất đỏ vàng, nâu vàng, tầng đất thường mỏng đến trung bình, kếtcấu đất tốt, song hạn chế là có nhiều đá lộ đầu Về mùa khô thường thiếu nướcnghiêm trọng

Nhìn chung các trên địa bàn huyện có các dạng địa hình khác nhau đãtạo nên những loại đất khác nhau Do đó chi phối tới hướng sản xuất nông lâmnghiệp trên địa bàn huyện

3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu

Huyện Yên Minh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa hàng năm

có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông tuy nhiên có 2 mùa rõ rệt:

Mùa nóng thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch, vào mùa nàythời tiết nóng nực, nhiệt độ và độ ẩm không khí tăng cao, mưa nhiều Mùa

đông lạnh trùng với gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 nămsau, thời tiết lạnh khô và mưa ít, bên cạnh đó thỉnh thoảng xuất hiện sươngmuối gây bất lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp

- Lượng mưa: lượng mưa trung bình 1.745 mm, lượng mưa phân bốkhông đều trong năm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm tới 85% lượng

Trang 23

mưa của cả năm Cường độ mưa lớn, tập trung do đó ảnh hưởng rất lớn tới sảnxuất nông lâm nghiệp, nhất là những nơi đất trống, dộ dốc lớn, gây xói mònmạnh, có thể gây ra lũ quét cục bộ trong mùa mưa.

3.1.2 Các nguồn tài nguyên

3.1.2.1 Tài nguyên đất

Dựa trên kết quả bản đồ thổ nhưỡng huyện Yên Minh tỷ lệ 1/50.000 doViện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (năm 1999), điều tra xây dựng theotiêu chuẩn phân loại định lượng của FAO-UNESCO Tổng diện tích tự nhiêncủa huyện là 78.346,0 ha Diện tích đất trên được chia thành 5 nhóm sau:

- Nhóm đất phù sa (Fluvisols): Diện tích 475 ha chiếm chiếm 0,61%tổng diện tích tự nhiên, Phân bố ở các xã Đường Thượng, Du già, Lũng Hồ,Ngọc Long và Bạch Đích Nhóm đất này thích hợp với cây trồng ngắn ngày,

đặc biệt là cây lương thực chủ yếu là lúa nước

- Nhóm đất Gley (Gleysols): Diện tích 813 ha, chiếm 1,04% diện tích

tự nhiên, phân bố ở các xã có địa hình thấp, trũng như Thị trấn Yên Minh,Mậu Duệ, Du Già Nhóm đất này có tính hơi chua nhưng hàm lượng mùn,

đạm, lân và kali tổng số giàu, chủ yếu trồng lúa nước, đất chặt, bí Vì vậytrong canh tác cần chú ý tưới tiêu nước và bón lân, vôi cải tạo đất

- Nhóm đất đen (Luvisols): có diện tích nhỏ nhất 83 ha, được hìnhthành ở vùng ven chân núi đá vôi có độ dốc thấp phân bố ở bản Pó Mới (Mậu

Trang 24

Duệ) Đất tốt, có tính kiềm, giàu dinh dưỡng nhưng khi thiếu nước đất traicứng, nứt nẻ làm giảm năng suất cây trồng.

- Nhóm đất xám (Acrisols): Diện tích 57.858 ha chiếm 74% diện tích

tự nhiên, phân bố khắp các xã trên địa bàn huyện Đất có phản ứng chua.Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, đất nghèo dinh dưỡng Đây là đốitượng chính để trồng các loài cây nông lâm nghiệp dài ngày Cần có biện phápchống xói mòn và bảo vệ đất

- Nhóm đất đỏ (Ferralsols): Diện tích 4.599 ha, chiếm 5,88% diện tích

tự nhiên Nhóm đất này là sản phẩm phong hoá của của đá vôi Đất có thànhphần cơ giới nặng, phản ứng của đất chua hoặc ít chua, đất giàu dinh dưỡng,thích hợp với nhiều loài cây trồng

và trong các thung lũng núi đá Vào mùa mưa, do độ dốc lớn, mức độ che phủcủa thảm thực vật thấp đã tạo nên dòng chảy mạnh gây ra lũ cục bộ làm sạt lở

ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, nhà cửa và các công trình đã và đang xâydựng trong vùng

- Tài nguyên nước ngầm

Chưa thấy có tài liệu điều tra khảo sát cụ thể nào về tài nguyên nướcngầm ở khu vực nhưng qua thực tế sử dụng của người dân, nước ngầm trongkhu vực thường sâu (6-10m), chất lượng nước tốt Nhưng bên dưới có nhiều đátảng, đá cục khó đào để khai thác sử dụng

- Tình hình sử dụng: Trong huyện tuy có những con sông, suối lớn

Trang 25

nhưng khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất là rất hạn chế.Nguồn nước cung cấp chủ yếu là nước mưa, nước ở các hồ chứa và nước sông,suối Về mùa khô tình trạng thiếu nước xảy ra rất trầm trọng, ảnh hưởng lớn

đến sự phát triển kinh tế cũng như đời sống của đồng bào các dân tộc trongvùng Do đó, trong thời gian tới cần có những công trình nghiên cứu về khaithác nguồn nước từ suối ngầm, xây dựng thêm các "hồ treo" để dự trữ và cungcấp nước cho người dân trong vùng

đất trống có cây rải rác IC)

- Khu vực phía Nam của huyện gồm: Các xã Du Già, Du Tiến, Lũng

Hồ, Ngọc Long Đây là khu vực có độ che phủ của rừng cao nhất trong toànhuyện, khu vực này còn rừng tự nhiên với các loài cây quý hiếm như Pơmu,Trai, Nghiến, Giẻ…

- Khu vực phía Tây của huyện gồm: Các xã Na Khê, Lao Và Chải,Ngam La, Đường Thượng, thị trấn Yên Minh Diện tích rừng tự nhiên còn ởmức trung bình với các loài cây lấy gỗ và rừng vầu, tre, nứa ở các khu vựcven trục giao thông chính, rừng trồng chủ yếu là Thông, Sở

- Khu vực phía Đông của huyện gồm: Các xã Đông Minh, Hữu Vinh,Mậu Long, Mậu Duệ do địa hình phức tạp gồm các dãy núi đất và núi đá vôixen lẫn nên diện tích rừng còn ít và không tập trung Thực vật chủ yếu là một

số loài cây bản địa như Kháo, Tống quá sủ, Vầu, Tre nứa, lau lách

Trang 26

Ngoài tài nguyên rừng của huyện còn phải kể đến các loại cây có tácdụng tăng độ che phủ mặt đất, chống xói mòn, rửa trôi như: cây công nghiệpdài ngày (chè), cây ăn quả (xoài, hồng, lê), nghề nuôi ong đã góp phầnkhông nhỏ vào kinh tế vườn rừng và góp phần nâng cao độ che phủ mặt đất,hạn chế xói mòn, rửa trôi góp phần đắc lực cho việc bảo vệ đất đai và cảithiện môi trường sinh thái của huyện.

Tuy tiềm năng tài nguyên rừng của Yên Minh rất lớn nhưng ý thức bảo

vệ và phát triển rừng của người dân chưa cao Uỷ ban nhân dân huyện đã cónhững định hướng phát triển và khai thác tài nguyên đất rừng nhưng vốn đầutư xây dựng cơ sở hạ tầng còn thấp, việc áp dụng quy trình công nghệ và đưatiến bộ khoa học kỹ thuật đầu tư vào ngành lâm nghiệp còn hạn chế dẫn đếnviệc khai thác tài nguyên đất rừng còn nhiều bất cập, hiệu quả kinh tế thấp

3.1.2.4 Tài nguyên khoáng sản

Qua thăm dò khảo sát, hiện nay trên địa bàn huyện có mỏ Antimonthuộc xã Mậu Duệ bước đầu đã đi vào khai thác với trữ lượng có thể khai tháchàng năm ước tính hàng ngàn tấn

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

3.1.3.1 Lợi thế

- Yên Minh có vị trí địa lý tương đối thuận lợi trong mối giao lưu kinh

tế, văn hoá, thương mại với Trung Quốc và các huyện, các tỉnh trong vùng

- Là huyện có tổng diện tích tự nhiên khá lớn, đất đai đa dạng với nhiềuloại đất, thích hợp với nhiều loài cây trồng đây là điều kiện thuận lợi phát triểnkinh tế nông lâm nghiệp Nếu định hướng đầu tư đúng sẽ đẩy nhanh nền kinh

tế toàn huyện và cải thiện đời sống nhân dân trong vòng 5 đến 10 năm tới

3.1.3.2 Tồn tại

- Là huyện miền núi có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh nên điều kiện

đi lại và xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi rất khó khăn

- Dân cư ở phân tán, nhiều thôn bản nhỏ, trình độ học vấn còn hạn chế

Trang 27

so với mặt bằng chung của tỉnh Mặc dù nhân dân trong huyện đã cố gắng tậndụng triệt để quỹ đất nông nghiệp nhưng do thiếu vốn đầu tư và thiếu nguồnnước nên diện tích có khả năng mở rộng thêm diện tích ruộng trong nhữngnăm gần đây không tăng lên được bao nhiêu.

Tài nguyên khoáng sản không nhiều, đất đai tuy rộng lớn nhưng nhữngkhu vực đất bằng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp ít và phân tán Nhữngkhu vực đồi núi dốc do canh tác không hợp lý đã làm đất đai bị xói mòn,nhiều đá lộ đầu gây khó khăn cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp

Với những đặc điểm trên đặt ra cho tỉnh Hà Giang cần có những nhiệm

vụ cấp bách trong thời kỳ mới là:

+ Quản lý bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có

+ Tổ chức khoanh nuôi phục hồi làm giàu rừng trên những diện tích đấttrống có đủ điều kiện khoanh nuôi phục hồi rừng

+ Sử dụng hợp lý và hiệu quả đối với diện tích đất trống đồi núi trọctrong công tác trồng rừng giai đoạn từ nay đến năm 2015 Đặc biệt quan tâmloài cây trồng có năng suất, giá trị kinh tế cao, đa tác dụng, nhằm mục tiêunâng cao chất lượng rừng trồng trong giai đoạn mới

Hiện nay do chưa có điều kiện nên việc đánh giá và lập bản đồ về hiệntrạng xói mòn đất chưa được thực hiện để đánh giá chính xác mức độ suythoái đất trên địa bàn toàn tỉnh Nguồn nước sạch cho sinh hoạt và nước phục

vụ sản xuất rất khan hiếm nhất là vào mùa khô ở các huyện vùng cao Rừng đã

bị tàn phá dẫn đến khả năng giữ nước và cung cấp nước sinh hoạt cho nhândân không đảm bảo Do vậy việc khôi phục rừng phòng hộ ở vùng đầu nguồncung cấp nước sinh hoạt là rất cấp thiết

3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Biểu 3.1: Cơ cấu kinh tế của huyện giai đoạn 2000 – 2005

Trang 28

Từ số liệu biểu 3.1 cho thấy trong 5 năm qua, cơ cấu kinh tế của huyện

có bước chuyển biến với sự tăng trưởng kinh tế công nghiệp - xây dựng vàthương mại - dịch vụ, khu vực kinh tế nông lâm nghiệp cũng có bước tăngtrưởng nhưng chậm hơn Cơ cấu kinh tế có sự thay đổi đó là giảm tỷ trọngngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thươngmại - dịch vụ Tuy nhiên, sự tăng trưởng của ngành công nghiệp và xây dựng là

do chủ yếu được đầu tư trực tiếp của Nhà nước theo các chương trình dự án

3.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội

3.2.1.1 Trồng trọt

Mặc dù gặp nhiều khó khăn về địa hình, thiên tai, song dưới sự chỉ đạocủa Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân, toàn dân tích cực khai hoang phục hoá, mởrộng diện tích gieo trồng Diện tích gieo trồng của cây lúa năm 2006 là2.084ha, sản lượng lúa đạt 10.049 tấn tăng so với năm 2000 là 3.321 tấn, trong

đó diện tích thâm canh là 1.927ha chiếm 93% diện tích lúa Diện tích gieotrồng cây Ngô là 6.334 ha, với 2.320 ha Ngô vụ xuân, 4.014ha Ngô chính vụ.Sản lượng ước đạt 14.965 tấn tăng so với năm 2003 là 3.496 tấn

Cây đậu tương được quan tâm chú trọng, đầu tư thâm canh đưa các loạigiống mới có năng xuất cao vào sản xuất, diện tích cây đậu tương tăng đáng

kể từ 391 ha năm 2000 lên 2.500 ha năm 2005 và 2.630 ha năm 2006, sảnlượng đạt 1.423 tấn tăng 1.188 tấn so với năm 2000

Cây chè được huyện xác định là cây mũi nhọn trong sản xuất Nôngnghiệp, toàn huyện có 276 ha chè cho thu hoạch, năng xuất búp tươi đạt 30tạ/ha/năm, Trong những năm tới huyện cần đầu tư phát triển diện tích cây chè

và quan tâm đến việc thâm canh diện tích chè hiện có Ngoài ra trong các hộgia đình đã xuất hiện mô hình trang trại với các giống cây trồng phong phúnhư Xoài, Nhãn, Vải, mía, Lê, Mận,… cho giá trị kinh tế cao làm tăng thunhập của người dân Bên cạnh các cây công nghiệp, ở mỗi hộ gia đình trongtoàn huyện, cây rau đậu các loại cũng được chú trọng và mở rộng được diệntích 850 ha bước đầu đã đáp ứng nhu cầu thực phẩm của nhân dân trong vùng

Trang 29

3.2.1.2 Chăn nuôi:

Với dự án Bò thế giới, đầu tư cho vay mua bò, cho vay mua Dê theonghị quyết 05 của Tỉnh uỷ nên chăn nuôi chủ yếu trong huyện là Trâu, Bò,Dê…Trong những năm qua đàn gia súc của huyện phát triển tốt và ổn định

Đến nay tổng đàn gia súc của huyện có: 70.389 con, tăng 17.236 con (32,4%)

so với năm 2000, trong đó:

- Đàn Trâu: 15.850 con, tăng 1.612 con, bình quân mỗi năm tăng 6,04%

- Đàn Bò: 14.580 con, tăng 4.197 con, bình quân mỗi năm tăng 8,08%

- Đàn Ngựa: 3.330 con, giảm 839 con, giảm mỗi năm là 4%

- Đàn Dê: 9.539 con, tăng 2.788 con, bình quân mỗi năm tăng 8,26%

- Đàn Lợn: 27.052 con, tăng 9.440 con, mỗi năm tăng 10,72%

- Đàn ong: 1.376 đàn, tăng 372 đàn, bình quân mỗi năm tăng 7.4%

(Nguồn: Phòng thống kê, năm 2006)

Từ đó cho thấy những năm gần đây người dân đã chú trọng hơn đến chănnuôi, tỷ lệ gia súc hàng năm tăng bình quân 8%/năm nhờ có sự quan tâm củacác cấp thông qua các dự án về chăn nuôi, trồng cỏ Voi phục vụ chăn nuôi,một phần người dân cũng đã xác định được chăn nuôi ngoài cung cấp sức kéo

nó còn là nguồn thu nhập lớn trong hộ gia đình

3.2.1.3 Sản xuất lâm nghiệp

Trên địa bàn huyện cơ bản đã hoàn thành việc giao đất giao rừng, côngtác trồng rừng, bảo vệ rừng đã từng bước được nhân dân nhận thức rõ hơn đã

có những hộ gia đình đã vươn lên làm kinh tế từ mô hình trang trại vườn rừng

có thu nhập cao và ổn định Bằng các nguồn vốn như: Chương trình 327, dự án

661, định canh định cư, dự án HPM.Từ năm 2000- 2006 toàn huyện đã trồngmới được; 3.924ha rừng trong đó: trồng rừng phòng hộ tập chung: 2.271 ha,trồng rừng sa mộc, thông phân tán theo hộ gia đình: 1.023 ha Ngoài ra nhândân tự trồng rải rác một số diện tích như: cây Sở, Thông, Tre luồng…góp phần

Trang 30

nâng cao độ che phủ rừng từ 24% năm 2000 lên 26% năm 2006, tuy nhiên sovới nghị quyết Đảng bộ khoá 14 của huyện đề ra vẫn còn thấp (38%).

3.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

Theo số liệu thống kê, dân số của toàn huyện đến ngày 10/1/2007 là71.062 người, với 12.864 hộ, bình quân 5,5 người/hộ, trong đó hộ sản xuấtnông lâm nghiệp chiếm 97,24% tổng số hộ Trên địa bàn có 16 dân tộc sinhsống trên 18 xã, thị trấn Trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là người H’mông:53% Dân số nông thôn 63.644 người, chiếm 93,15% tổng dân số Mật độ dân

số trên toàn huyện là 89,22 người/km2, nhưng phân bố không đồng đều Dân

số tập trung đông ở thị trấn, thị tứ và ven các trục giao thông chính

Tổng số lao động trong toàn huyện là 35.533 người, chiếm 52% tổng dân số,trong đó lao động nông thôn chiếm trên 90% tổng lao động xã hội toàn huyện Vềchất lượng lao động, Yên Minh được đánh giá tương đối thấp so với các vùng kháctrong tỉnh, công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật còn rất ít, mức sống của nhân dâncòn thấp Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,75% (năm 2000 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là2,02%) bình quân mỗi năm giảm 0,05% Công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

và các chương trình y tế quốc gia được thực hiện có hiệu quả

Thông qua chương trình 135 của Chính phủ với tổng vốn đầu tư là xấp xỉ

49 tỷ cho xây dựng 148 công trình “Chương trình mái nhà, bể nước, con bò”với 4.232 hộ được hỗ trợ vay 6.305 tỷ đồng “Di dân ra biên giới” với tổng sốvốn đầu tư 900 triệu đồng thuộc 4 xã vùng biên, dự án “Định canh - định cư”với tổng số vốn đầu tư 4.151,3 triệu đồng giúp nhân dân ổn định cuộc sống tănggia sản xuất Các chủ trương chính sách xã hội, xây mới và mở rộng các khucông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã tạo thêm nhiều công ăn việc làm chongười lao động như: Công nhân cho mỏ quặng, các cơ sở sản vật liệu xây dựng,chế biến gỗ, sản xuất gạch, ngói, cho hộ gia đình cá nhân vay vốn đầu tư làm ăn

đã làm giảm bớt lượng lao động nhàn dỗi trong huyện Tuy nhiên lượng lao

động nông nhàn trong huyện vẫn còn ở mức cao

Trang 31

Trong những năm qua thu nhập bình quân của người dân có mức tănglên, đời sống được nâng cao, nhưng tỷ lệ hộ đói nghèo theo tiêu chí mới còncao với tổng số 7.519 hộ.

3.2.3 Cơ sở hạ tầng

3.2.3.1 Giao thông

Quốc lộ 4C chạy qua địa bàn huyện với chiều dài 42 km đường cấp IVmặt đường trải nhựa Đây là tuyến đường huyết mạch của huyện chạy dọctheo hướng Bắc Nam nối với các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc Còn lại hệ thống

đường giao thông của huyện chưa phát triển, chất lượng đường kém đã ảnhhưởng đến phát triển kinh tế, đặc biệt là vận chuyển hàng hoá, đi lại của nhândân nhất là vào mùa mưa

3.2.3.2 Thuỷ lợi

Trong địa bàn huyện có 2 con sông lớn là sông Miện và sông Nhiệmchảy qua Yên Minh Đây là 2 nguồn cung cấp nước tưới chủ yếu cho sản xuấtnông lâm nghiệp của huyện Được sự quan tâm của Nhà nước, đến nay trên

địa bàn huyện đã xây dựng được hơn 100 công trình thuỷ lợi và 22 công trìnhkiên cố hoá kênh mương đảm bảo nước tưới ổn định cho diện tích vụ xuân là

360, 8 ha, vụ mùa là 1362,7 ha

3.2.3.3 Y tế – giáo dục

- Y tế

Với sự đầu tư của Nhà nước, các nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức quốc

tế, mạng lưới y tế từ huyện xuống cơ sở ngày càng được củng cố, cho đến nay18/18 xã, thị trấn đã có trạm y tế trong đó thiết bị và nhân lực cũng được củng

cố và tăng cường đảm bảo khám chữa bệnh kịp thời cho nhân dân trên địa bàn

ở tuyến cơ sở

- Giáo dục

Hiện nay trên địa bàn huyện có 754 phòng học, có 18/18 xã, thị trấn

được công nhận xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học quốc gia Tỷ lệ huy

Trang 32

động trẻ từ 6-14 tuổi đến trường đạt 96,7% Tuy nhiên công tác giáo dục trongnhững năm qua cũng còn một số vấn đề cần quan tâm đó là: Chất lượng dạy

và học của các nhà trường chưa đồng đều, đội ngũ giáo viên còn thiếu về sốlượng, nhất là giáo viên cấp II và cấp III ở một số địa bàn vùng sâu, vùng xacơ sở vật chất như phòng làm việc, phòng học, nhà ở cho giáo viên còn tạm

bợ, chủ yếu là nhà tranh tre nứa lá

3.2.4 Kinh tế hộ gia đình

Theo số liệu thống kê của Phòng thống kê huyện Yên Minh thu nhậpbình quân của hộ gia đình từ các nguồn thu khác nhau trên địa bàn huyện thểhiện trong bảng sau:

Biểu 3.2: Thu nhập bình quân của hộ gia đình/năm

bố không đều trong các huyện

Trang 33

Kết quả phân tích thu nhập của hộ gia đình tại biểu 2 cho thấy người dântrong xã có thu nhập chủ yếu là nông lâm nghiệp (78%) trong đó chủ yếu là từnương rãy, trồng lúa nước và chăn nuôi.

3.2.5 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội

3.2.5.1 Những lợi thế

+ Là huyện có diện tích tự nhiên rộng, điều kiện khí hậu thuỷ văn thuậnlợi, đất đai thích hợp với nhiều loài cây trồng

+ Lực lượng lao động dồi dào, cần cù chịu khó, nhân dân các dân tộc

đoàn kết gắn bó, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông lâm nghiệp

+ Cơ cấu cây trồng và mùa vụ đang chuyển dịch theo hướng tập trung,một phần chuyển đổi cây trồng, vật nuôi với các loài cây và con giống chonăng xuất chất lượng cao Nông nghiệp phát triển theo chiều hướng năm saucao hơn năm trước, tổng sản lương lương thực quy thóc hàng năm liên tục tăngtrong những năm qua bước đầu giải quyết dần tình trạng thiếu hụt lương thựctrong các hộ gia đình

+ Là huyện có các xã nằm trong Chương trình 135 (xã đặc biệt khó khăn)nên có những dự án, đề án được đầu tư Do đó thu nhập của người dân vùngnông thôn được đa dạng hoá và trình độ sản xuất được nâng cao

3.2.5.2 Những hạn chế

+ Nền kinh tế còn ở mức thấp, số hộ đói nghèo còn ở mức cao, cơ cấukinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp, việc chuyển dịch còn chậm,công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển

+ Là huyện vùng cao núi đá, hệ thống giao thông chất lượng còn thấp,khả năng đi lại, vận chuyển khó khăn nhất là vào mùa mưa, gây cản trở trongviệc đi lại và trao đổi hàng hoá

+ Sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tự sản tự tiêu là chính Năng suất cây trồngvật nuôi còn thấp Trong thời gian qua người dân chỉ tập trung vào sản xuất,

Trang 34

gây trồng cây lương thực, hiệu quả kinh tế không cao dẫn đến thu nhập bìnhquân đầu người trong huyện còn thấp.

+ Tình trạng chăn nuôi còn mang tính tự phát chưa có định hướng phát triển,gia súc còn thả dông nhiều, do vậy nguy cơ mắc dịch bệnh cao Mặc dù chăn nuôimang lại nguồn thu nhập tương đối lớn, nhưng chưa có quy hoạch cụ thể

+ Lượng mưa phân bố không đều, địa bàn núi đá nên khả năng giữ nướctrong đất thấp dẫn đến thiếu hụt nước trong mùa khô Hiện tượng bất thườngnhư lốc, mưa đá, sương muối làm thiệt hại đến cây trồng vật nuôi

+ Nguồn lao động dồi dào nhưng phần lớn chưa qua đào tạo và thiếu việclàm, là huyện có nhiều dân tộc sinh sống, có phong tục tập quán và trình độcanh tác khác nhau Do vậy, rất khó khăn trong việc tiếp cận thông tin vàchuyển giao khoa học kỹ thuật và ứng dụng các mô hình sản xuất tiên tiến

Trang 35

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Hiện trạng sử dụng đất

4.1.1 Tình hình quản lý đất đai

Thực hiện chỉ thị 364/CP ngày 05/11/1991 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc lập hồ sơ địa giới hành chính cho các cấp, Ban tổ chức chính quyền tỉnhphối hợp với Sở Địa chính tiến hành lập hồ sơ địa giới hành chính cho các cấp

đến nay huyện đã xác định hoàn chỉnh về ranh giới

Phần biên giới giữa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoathuộc địa bàn huyện đã được Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Hoacắm mốc ranh giới rõ ràng nên không có hiện tượng tranh chấp địa giới vớinước bạn thuộc các xã biên giới trên địa bàn huyện

Hàng năm uỷ ban nhân dân huyện tiến hành rà soát lại toàn bộ diện tích

đất tự nhiên, thống kê các loại đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đấtchưa sử dụng nhằm đánh giá hiện trạng sử dụng và biến động đất đai

Phòng địa chính huyện đã đã phối hợp với uỷ ban nhân dân các xã, tổchức đo đạc xây dựng bàn đồ giải thửa và tiến hành giao đất, cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân

sử dụng ổn định lâu dài từ năm 2000, theo Nghị định 64/CP ra ngày27/9/1993; Quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sửdụng ổn định và lâu dài vào mục đích nông nghiệp và Nghị định 02/CP rangày 15/4/1994: Quy định về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân và hộgia đình vào mục đích lâm nghiệp

Tình hình tranh chấp khiếu nại, tố cáo ít xảy ra, những vụ việc xảy ra đã

được Uỷ ban nhân dân huyện phối hợp với các phòng chức năng kịp thời giảiquyết đúng pháp luật

Trang 36

4.1.2 Hiện trạng sử dụng đất

- Căn cứ vào luật đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua tại kỳ họpthứ 4 Quốc hộ khoá XI và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004

- Căn cứ Thông tư 28/2004/TT-BTNMT ngày 1/11/2004 về hướng dẫnthực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng

đất Kết quả thu thập số liệu và điều tra khoanh vẽ bổ sung hiện trạng các loại

đất được thống kê cụ thể ở biểu 4.1

Biểu 4.1: Hiện trạng diện tích các loại đất đai

1.1.1.2 Đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi coc 1.287

(Chi tiết phần phụ biểu 1.1)

Từ số liệu biểu 4.1 cho thấy:

Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 92,6% tổng diện tích tự nhiên toànhuyện Diện tích đất để sản xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm và đấttrồng cây lâu năm) chiếm 25,6% diện tích đất nông nghiệp, phân bố không

đều tại các xã trong huyện và tập trung chủ yếu ở Thị trấn, các xã ĐườngThượng và Lũng Hồ

Trang 37

Cũng theo kết quả tại biểu 4.1, bình quân mỗi hộ có 1,5 ha diện tích đểsản xuất nông nghiệp và chủ yếu là đất đồi núi được người dân canh tác nươngrãy, trồng cây lâu năm như Chè, cây ăn quả

Diện tích đất sản xuất lâm nghiệp 53.961 ha chiếm tỷ lệ 74,4% diện tích

đất nông nghiệp Theo kết quả quy hoạch rà soát phân 3 loại rừng theo Chỉ thị

số 38/2005/TTg-CT và Quyết định số 61/2005/QĐ-BNN ngày 12 tháng 10năm 2005 về việc ban hành quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ vàQuyết định số 62/2005/QĐ-BNN ngày12 tháng 10 năm 2005 về việc ban hànhquy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng của Bộ Nông nghiệp và pháttriển Nông thôn Diện tích 3 loại rừng của huyện cụ thể tại biểu 4.2

Đất lâm nghiệp giành cho sản xuất có diện tích 23.632 ha chiếm 43,8%diện tích đất lâm nghiệp

Diện tích đất phòng hộ 27.535 ha chiếm 51,0% diện tích đất lâm nghiệp.còn lại là diện tích đất rừng đặc dụng 2.794 ha, chiếm 5,2% thuộc Khu bảotồn thiên nhiên Du Già

Biểu 4.2: Hiện trạng đất lâm nghiệp

Đơn vị: ha

TT Loại đất, loại rừng

Đất lâm nghiệp Tổng đất

Trang 38

Trong diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng tự nhiên là 18.466 ha chiếm34,2% diện tích đất lâm nghiệp, chủ yếu là rừng phòng hộ (chiếm 58,7% diệntích có rừng) diện tích này nằm ở nơi cao, xa Rừng giàu không còn, rừngtrung bình và rừng nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ tập trung chủ yếu ở khu bảo tồnthiên nhiên Du Già và những nơi cao, xa, địa hình phức tạp, đi lại khó khăn.Rừng nghèo kém chất lượng, cây cong queo, sâu bệnh nhiều, trữ lượng thấp,tán rừng bị phá vỡ, dây leo bụi dậm xâm lấn mạnh Tổ thành loài cây đa phầnthuộc loài cây tiên phong ưa sáng từ nhóm IV đến nhóm VIII như: Trám,Trâm, Giẻ, Kháo, Chẹo, Thẩu tấu Đó là kết quả của việc khai thác quá mứctrước đây Diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng non phục hồi chiếm tỷ lệ66,8% diện tích rừng tự nhiên Rừng đã phục hồi được vài năm, nhưng chưa

được quan tâm làm vệ sinh và luỗng phát dây leo bụi rậm dưới tán nên tốc độtăng trưởng bị hạn chế, rừng đã có trữ lượng nhưng còn thấp Tổ thành loàicây hỗn giao gỗ tre nứa, Giẻ, Chẹo, Kháo, Re, Tre nứa, Vầu tái sinh

Rừng trồng 3.704 ha, chiếm tỷ lệ nhỏ so với diện tích đất lâm nghiệp(6,9%) Loài cây trồng chủ yếu là Thông, Sở, Sa mộc, Kháo, Keo Diện tíchnày được trồng chủ yếu bằng nguồn vốn ngân sách theo các dự án như dự án

327, dự án 661 Rừng phần đa đã khép tán đang được bảo vệ

Tổng diện tích có rừng 22.170 ha chiếm 28,3% diện tích tự nhiên Điều đónói lên tỷ lệ độ che phủ của rừng so với diện tích tự nhiên là rất thấp chưa tươngxứng với tiềm năng đất lâm nghiệp của huyện nhất là một huyện miền núi cótới hơn 90% diện tích là đất lâm nghiệp, điều này cũng phản ánh tỷ lệ đất trốngcòn nhiều chưa được sử dụng có hiệu quả vẫn còn bỏ hoang hoá một diện tíchtương đối lớn

Diện tích đất chưa có rừng 31.791 ha (gồm cả đất lâm nghiệp chưa sửdụng) Diện tích này gồm có trạng thái thực bì là cỏ Lau, Chít và cây bụi rảirác với diện tích 6.086 ha, trong đó có 2.659 ha được quy hoạch cho đất rừngphòng hộ và 3.091 ha đất rừng sản xuất Trạng thái Ic đất có cây gỗ rải rác và

Trang 39

có cây tái sinh diện tích 12.217 ha, đây chính là diện tích trước đây là nươngrãy nay đã bỏ hoang được 2-3 năm và có thể bị tái làm nương rãy.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng trên diện tích đất chưa có rừng, hoanghoá này thì việc tìm ra những loài cây trồng và những mô hình canh tác hợp lý

là cần thiết Trước hết là những diện tích từ nương rãy không cố định và diệntích không có khả năng phục hồi thành rừng bằng tái sinh tự nhiên trạng thái

IA, IB và IC nhưng có mật độ tái sinh không đảm bảo về số lượng và chấtlượng bằng những loài cây trồng có giá trị, năng suất, hiệu quả kinh tế cao đểngười dân có thể ổn định cuộc sống, dần từng bước ngăn chặn tình trạng làmnương rãy, gây nguy cơ cháy rừng, tăng độ che phủ của rừng để giữ nước, điềuhoà nguồn nước, giảm tình trạng thiếu nước cho người dân vùng cao là việclàm cần thiết

4.2 Các mô hình canh tác nông lâm nghiệp tại địa phương và hiệu quả kinh tế từng mô hình

Để làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp và xác địnhloài cây trồng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai hiện có trên địa bànhuyện các mô hình canh tác của địa phương kể cả các huyện lân cận có cùng

điều kiện tự nhiên tương đồng được phân tích đánh giá hiệu quả của từng môhình, trên cơ sở phân tích hiệu quả lựa chọn ra được mô hình canh tác nào cóhiệu quả nhất về kinh tế và bảo vệ môi trường mà người dân địa phương có thể

áp dụng để người dân ổn định cuộc sống một cách bền vững trên mảnh đất họ

được giao

4.2.1 Phân loại các mô hình canh tác

Để tiện cho việc đánh giá tác giả phân loại các mô hình canh tác hiện cóthành 4 dạng Nhưng trong thực tế các mô hình này thường xuyên được ngườidân canh tác linh hoạt như những năm đầu tiên phát nương họ trồng cây lươngthực, vào những năm tiếp theo họ trồng xen những cây dài ngày, cây côngnghiệp, cây ăn quả hay cây lâm nghiệp

Ngày đăng: 15/05/2021, 18:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w