Claude Louis Marie Henry Navier (Trang 21).. Mét yÕu tè quan träng n÷a cña gi¶ng d¹y lµ bµi tËp. Ngay c¶ nh÷ng vËn ®éng viªn thÓ thao tµi n¨ng còng ph¶i luyÖn tËp hµng ngµy.. b)VËn dô[r]
Trang 12
Hội đồng biên tập
Tổng biên tập: TS Khuất Văn Ninh
Phó tổng biên tập (kiêm Trưởng Ban biên tập): TS Bùi Kiên Cường
Thư ký Ban biên tập: ThS Nguyễn Ngọc Tú
Các biên tập viên:
TS Trần Minh Tước, TS Nguyễn Quang Huy, NCS Trần Văn Bằng, NCS Nguyễn Huy Hưng, ThS Dương Thị Hà, ThS Đào Thị Hoa, ThS Đinh Thị Kim Thuý, ThS Dương Thị Luyến, ThS Nguyễn Thị Kiều Nga, CN Nguyễn Trung Dũng, CN Hà Thị Thu Hiền, CN Nguyễn Thị Thuý Hằng, CN Nguyễn Văn Tuyên, CN Hoàng Ngọc Tuấn
Cộng tác viên: Phan Thành Nam K29G Toán, Nguyễn Quỗc Tuấn K29G Toán,
Giảng dạy toán phổ thông như thế nào là tốt? (Trang 3)
ứng dụng lý thuyết xấp xỉ đều vào giải một số bài toán cực trị ở bậc THPT (Trang 4)
Sử dụng tính chẵn lẻ trong giải toán số học (Trang 7)
Về bài toán nhận dạng hình tam giác, hình chữ nhật ở tiểu học (Trang 10)
Đề thi Olimpic toán sinh viên toàn quốc năm 1996 (Trang 14)
Đáp án đề thi olimpic toán sinh viên toàn quốc năm 1995 (Trang 15)
Đề ra kỳ này(Trang 20)
Giải bài kỳ trước (Trang12)
Lịch sử lý thuyết toán tử (Trang 17)
Claude Louis Marie Henry Navier (Trang 21)
Tiếng anh qua các bài toán (Trang 22)
Giải trí toán học – Sai lầm ở đâu(Trang 25)
Suy nghĩ về một bài báo (Trang 23)
Bốn cách chứng minh sự phân kỳ của Chuỗi điều hoà (Trang 24)
Tham gia biên tập số này gồm có:
Khuất Văn Ninh, Bùi Kiên Cường, Trần Minh Tước, Trần Văn Bằng, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Ngọc Tú
Trang 2Diễn đàn
Diễn đàn –––– Thông tin Thông tin
Giảng dạy toán phổ thông
như thế nào là tốt?
GS.TSKH Ngô Việt Trung
(Viện Toán học)
Một lần nữa cả xã hội chúng ta lại phải “đón
nhận“ một cuộc cải cách giáo khoa, giáo trình cho học
sinh các bậc học phổ thông Nhiều ý kiến về nội dung
chương trình, về những bộ sách giáo khoa vẫn còn chưa
thống nhất được thì năm học tới việc đưa bộ sách giáo
khoa mới vào giảng dạy vẫn cứ được thực hiện
Nhằm giúp cho các bạn hiểu thêm về một ý kiến
xoay quanh vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu ý kiến
của GS.TSKH Ngô Việt Trung (Viện toán học) về việc
gảing dạy Toán học đăng trên Nội san Thông tin Toán
học (tháng 9 năm 2005)
GS Ngô Việt Trung vừa được Nhà nước tặng thưởng
Huân chương Lao động hạng III về những đóng góp của
ông trong việc đào tạo và nghiên cứu Toán học
Chúng ta sắp bước vào một cuộc cải cách giáo
trình nữa, lần này nhằm mục đích giảm thiểu
chương trình Dư luận đều cho rằng chương trình
giảng dạy ở phổ thông như vậy là quá nặng Vậy
thì nó nặng ở điểm nào?
Gần đây, Hội Toán học có tiến hành nghiên
cứu sách giáo khoa toán phổ thông qua các thời kỳ
cải cách Phát hiện kinh ngạc nhất đối với mọi
người là nội dung kiến thức con em chúng ta học
ngày nay về tổng thể không nặng hơn những gì
chúng ta được học cách đây hàng chục năm, chỉ có
cái khác là bố cục chương trình ngày nay đã làm
việc học hành của con em chúng ta khổ lên rất
nhiều Nhiều kiến thức bị xé nhỏ để dạy ở nhiều
lớp (với mục đích mưa dầm thấm lâu) đã làm cho
học sinh hiểu các khái niệm toán học một cách
phiến diện dẫn đến hiện tượng học trước quên sau
Nhiều dạng khác nhau của cùng một công thức
(cũng dạng mưa dầm thấm lâu) được nhồi nhét vào
trong giáo trình làm cho học sinh không hiểu cái
gì là gốc Đây chỉ là hai ví dụ về sự bất cập của
sách giáo khoa hiện nay Những cải cách kiểu này
có lẽ được bắt nguồn từ một số quan niệm sai lầm
Chúng ta thường lấy sách giáo khoa của các nước
khác để biện minh cho các thay đổi trong giáo
trình Nhưng sách giáo khoa của các nước này có
thực sự tốt hơn sách giáo khoa cũ của chúng ta
không thì không thấy ai nói đến
Hiện nay, đại đa số mọi người đều cho rằng
không nhất thiết phải giảng các chứng minh của
các công thức hay các mệnh đề trong toán học phổ
thông Lý do là sau này chỉ cần biết áp dụng các
kiến thức toán học là đủ, mà việc áp dụng lại
không đòi hỏi phải biết các chứng minh Gần đây
các nhà khoa học của Viện nghiên cứu
Max-Planck về giáo dục của Đức (xem
www.mpiber-lin.mpg.de/pisa) đã phát hiện ra rằng học sinh sẽ
nhớ công thức hơn nếu được giảng về suy luận
chứng minh so với việc chỉ giảng về công thức qua các ví dụ cụ thể Điều làm cho mọi người ngạc nhiên nhất chính là việc các học sinh kém về toán lại tiến bộ nhanh nhất khi được học theo một chương trình “toán học suy luận” so với một chương trình “toán học thực tiễn”
Việc nghiên cứu này được tiến hành sau một cuộc điều tra năm 2000 về trình độ học sinh ở các nước Cuộc điều tra này có tên là PISA (xem
www.pisa.oecd.org) Người Đức đã phát sốt khi biết tin trình độ hiểu biết toán học của con em mình chỉ đứng thứ 20 trong tổng số 43 nước được
điều tra Theo báo cáo của PISA thì học sinh Đức
ít có khả năng chuyển đổi các vấn đề hàng ngày thành các bài toán và cũng không biết ứng dụng các công thức toán đã học Trong các thử nghiệm của PISA, học sinh không cần phải tìm công thức tường minh cho các vấn đề đặt ra mà chỉ cần hiểu nội dung toán học của các câu hỏi Qua PISA người Đức hiểu rằng việc giảng dạy toán của họ có cái gì đó không ổn
Người lãnh đạo nhóm nghiên cứu tại Viện Max-Planck về giáo dục là nhà tâm lý học Elsbeth Stern nói rằng: “Bản chất toán học là trừu tượng,
điều này không cần phải bàn cãi Việc nhồi nhét các công thức sẽ không giúp học sinh hiểu được thế giới các con số” Học sinh chỉ có thể hiểu toán học qua việc giảng dạy một cách hệ thống các mối liên hệ trong toán học hay nói một cách khác là các suy luận toán học Bà Stern cũng cho rằng quan niệm học sinh chỉ có thể thích toán nếu việc giảng dạy tập trung vào các bài toán thực tiễn là hoàn toàn sai Sách giáo khoa của Đức thường chú trọng đến việc dạy đi dạy lại các kỹ năng tính toán thực hành Cách dạy này không giúp cho học sinh hiểu bản chất vấn đề Kết quả thực nghiệm cho thấy nếu dạy cho học sinh biết cách suy luận thì những học sinh bình thường cũng đạt được các kết quả rất tốt Quan trọng hơn là việc dạy như thế giúp học sinh nắm vững kiến thức lâu dài
Công trình nghiên cứu cũng đưa ra khuyến cáo
là không nên dạy toán quá đơn giản với các ví dụ
từ cuộc sống hàng ngày chỉ vì trong lớp có nhiều học sinh kém Các thử nghiệm cho thấy trình độ những học sinh này tiến bộ lên nhiều nhất nếu
được giảng dạy về các suy luận toán học Có lẽ chính vì những học sinh kém ít có khả năng suy luận nhất nên chúng không thể áp dụng được kiến thức đã học Điều này đi ngược lại quan điểm thông dụng là chỉ nên dạy các kỹ năng thực hành cho học sinh ở bậc học phổ thông do chúng chưa
có khả năng khái quát hóa
Nói cho cùng thì việc giảng dạy các suy luận toán học cũng như các ví dụ thực tế đều quan trọng GS Peter Bapstist của trường Đại học Bayreuth của Đức, người đứng đầu chương trình
“Nâng cao hiệu quả giảng dạy toán học và các môn khoa học tự nhiên” của chính phủ Đức nói rằng: “Cuộc sống hàng ngày dẫn đến các vấn đề
Trang 3toán học và việc giải quyết này vấn đề này sinh ra
các lý thuyết toán học trừu tượng” Các ví dụ thực
tế là minh họa tốt nhất cho các kiến thức trừu
tượng Một yếu tố quan trọng nữa của giảng dạy là
bài tập Ngay cả những vận động viên thể thao tài
năng cũng phải luyện tập hàng ngày Học sinh học
toán cũng phải làm bài tập thường xuyên thì mới
có kỹ năng áp dụng các kiến thức đã học
Tóm lại, giảng dạy toán học không thể chỉ
gồm các công thức và các mệnh đề không hồn Vì
vậy việc giảm thiểu chương trình nên tập trung vào
việc phân bố nội dung hợp lý chứ không nên cắt
bớt các suy luận toán học
Sử dụng tính chẵn lẻ
(Tié p the o tra ng 7)
Thí dụ 3 Cho a, b, c là các số nguyên dương
và các số p= +a b ,qc = +b c , ra = +c ab đều
là các số nguyên tố Chứng minh rằng ít nhất
hai trong ba số p, q, r bằng nhau
Lời giải: Do vai trò của a, b, c bình đẳng nên
không giảm tính tổng quát ta xét các trường
chung lớn nhất của a và b
Đào sâu, nghiên cứu toán họcứng dụng lý thuyết xấp xỉ đều vào giải một số bài
vào giải một số bài toán cực trị toán cực trị
ở bậc THPT
ở bậc THPT
Lê Thị Tú Anh K29D Toán
ở bậc THPT khi nghiên cứu về hàm số, bài toán
cực trị là bài toán quan trọng Đây cũng là bài toán khó Trong bài này tôi xin nói tới vấn đề vận dụng lý thuyết xấp xỉ đều (Giải tích số) vào một
số bài toán về cực trị.
I Bài toán tổng quát
Cho hàm f xác định trên [a,b] Gọi P n là tập hợp tất cả các đa thức bậc không quá n trên [a,b] Ta phải tìm đa thức P∈P n có “độ lệch” nhỏ nhất so với f trên [a,b], tức là
Ta có X0 ⊂ X và dim X0=n+1 Các định lí:
Định lí 1: (Vallee – Poussin) Giả sử f ∈C a,b , Q[ ] ∈P n, nếu tồn tại n+2
điểm phân biệt a≤ x0 < x1 < <x n+1 ≤bsao cho f x( )i ưQ x( )i lần lượt đổi dấu
Điều kiện cần và đủ để P∈P n là đa thức xấp
xỉ tốt nhất của f ∈C a,b[ ] là tồn tại (n+2)
(1)
Trang 4điểm luân phiên Chebysev
f ∈C a,b là duy nhất
Định lí 4 Đa thức xấp xỉ đều tốt nhất P∈P n
2 1
1 1
2 1
n n
n
n n
+
+ +
+
∈
ư
≤+
thể tham khảo trong cuốn “Giải tích số” của
nhóm tác giả: Nguyễn Minh Chương (Chủ
biên) – Nguyễn Văn Khải – Khuất Văn
Ninh – Nguyễn Văn Tuấn – Nguyễn Tường
II Một số bài toán vận dụng
8
a= a) Vận dụng lí thuyết xấp xỉ đều
Ta ứng dụng mệnh đề trên giải bài toán 1 Lời giải:
f x = ư x + x, Q(x)=-a
Bài toán 1 trở thành [ ] ( ) ( )
Nhận xét: Việc vận dụng lý thuyết xấp xỉ đều
vào giải bài toán 1 giúp chúng ta nhanh chóng tìm được a Hơn nữa cách giải cũng giúp chúng ta kiểm nghiệm kết quả của cách 1 có chính xác hay không
Bài toán 2 Tìm a, bsao cho 2
Trang 5 min khi
12
b= −Nếu
⇒ = ∈ − +∞ min khi
12
thức sinh bởi 2 phần tử { }1, x ta phải tìm đa
thức bậc nhất Q x( )= −ax− sao cho b
nhỏ nhất Nh− vậy bài toán trở thành tìm Q(x)
là xấp xỉ đều tốt nhất của ( ) 2
f x =x trên [-1,1] Vì f là hàm chẵn nên Q là hàm chẵn,
( ) ( )
2
3 3
đ−a bài toán đã cho về một bài toán mới đã có thuật giải cụ thể
Trang 6+ Việc vận dụng lý thuyết xấp xỉ đều có ưu
điểm khi hàm trong dấu giá trị tuyệt đối
Bài toán trên tương đương tìm đa thức xấp xỉ
đều tốt nhất bậc 3 của hàm ( ) 2
x
f x =e trên [-1,1] Việc vận dụng lý thuyết xấp xỉ đều
cho chúng t a kết quả nhanh chóng và chính
Bất đẳng thức đóng vai trò rất quan trọng
trong toán học Vì các nhà toán học làm việc
với bất đẳng thức nhiều hơn so với đẳng thức
Có rất nhiều cách giải các bài toán BĐT Sau
đây tôi xin giới thiệu về phương pháp sử dụng
tính chẵn lẻ trong giải bài toán về bất đẳng
thức Số học
Thí dụ1 Cho số tự nhiên n Kí hiệu ν(n) là
số các ước nguyên tố của n Chứng minh rằng
tồn tại vô hạn số n có dạng n = 2k sao cho ta
có bất đẳng thức ν(n) < ν(n+1)
Lời giải: Giả sử có một số tự nhiên k 0
0
n =2sao cho ta có BĐT ν(n0) ≥ ν(n0 + 1) Vì
2 =(p ư1)(p +1) (2) Theo lời giải thí dụ 3 của mục A ta có:
l
p ư =1 2 ⇒ l = 1 & p = 3 ⇒ k0 = 3 ii) Xét m lẻ, ta có m = 1, thật vậy nếu m
≠ 1 tức m > 1 (m ∈ℕ) thì từ (1) ta đặt:
m 1 j
2 (0< < kr 0, r∈ℕ)
Mặt khác S là tổng của m số nguyên lẻ và
m lẻ suy ra S lẻ
Từ S =2r& S lẻ suy ra chỉ thoả mãn khi r
= 0 (mâu thuẫn với r>0), suy ra m = 1, từ (1) suy ra k 0
2 + =1 p (3)
Từ (3) suy ra q 0
0
k =2 (q0∈ℕ) Thật vậy,
n =2 nếu k0 = 3 hoặc k0 = q 0
2 suy ra ta luôn có: ν(n) < ν(n+1), với
q
k≠3, k≠2 (q∈ ℕ )Vậy có vô hạn số k thoả mãn bài toán
Thí dụ 2 Tìm tất cả các số tự nhiên n để nn +
Với n =2 ⇒ nn + 1 =22 +1 =5 <1019 và 5 nguyên tố suy ra n = 2 thoả mãn
Với n = 4 ⇒ nn + 1 = 44 + 1 =257 <1019
và 257 nguyên tố suy ra n = 4 thoả mãn Với n = 8 ⇒ nn + 1 = 88 +1 = 8 3 8
[(2 ) +1] (2⋮ +1)
Trang 72) Cho số tự nhiên n ≥1 thoả mãn : 3n –
1chia hết cho 22002 chứng minh rằng n ≥
C Tính chẵn lẻ trong các bài toán chia hết
Trong các bài toán chia hết có rất nhiếu
phương pháp để giải Tuy nhiên có một
phương pháp khá đơn giản mà khá hay đó là
sử dụng tính chất chẵn lẻ của số vào để giải
các bài toán đó cụ thể ta xét các thí dụ sau:
Thí dụ 1 Tìm bậc k của 1991 để 1991k chia
với số lẻ a ≥ 3, mọi n nguyên dương và sn là
số nguyên dương nào đó không chia hết cho a
số nguyên dương nào đó không phải bội của
b
Từ (1) và (2) ta suy ra:
* Khi a = 1991, n = 1990, 19911991 là ước của 1991 1990
1992 ư và 19911 1992 không là ước của 19911990
* Khi b = 1991, n = 1992, 19911993 là ước của 1991 1992
Lời giải : Kí hiệu
Mặt khác ta thấy nếu p, q, r không cùng tính chẵn lẻ thì R(p, q, r) không nguyên vậy p,
q, r phải cùng tính chẵn lẻ
* Nếu p ≥ 4 thì
1 < R(p, q, r) ≤ R(4, 6, 8) R(4, 6, 8) = 4.6.8 1 191
3.5.7 105
ư
= < 2 và R(p, q, r) p , q, r không thể nguyên
* Nếu p = 3 thì
Trang 83) Xác định tất cả các số nguyên n sao
cho với số n này sẽ tồn tại mộ số nguyên m để
Trong một số bài toán mới nhìn không hề
có liên quan đến Số học nhưng thực ra nó lại
là một bài toán Số học khá hay Ta xét thí dụ
sau:
Thí dụ 1 Cho tam giác vuông có độ dài các
cạnh là các số nguyên dương Hai trong ba
cạnh của nó là số nguyên tố và hiệu của chúng bằng 50 Tính diện tích tam giác
Lời giải: Gọi độ dài ba cạnh tam giác là a,b,
c (giả sử c là cạnh huyền) áp dụng định lý pitago ta có:
a2 + b2 = c2 (1)
Từ (1) suy ra ít nhất một trong hai số a, b phải
là số chẵn Giả sử a, b cùng là số lẻ suy ra: a
có dạng a = 2k + 1, b có dạng b = 2t + 1 (t, k∈ℕ) Từ (1)suy ra:
(2k+1)2 + (2t+1)2 = c2
⇒ 4k(k + 1) + 4t(t + 1) + 2 = c2 (2)
⇒ c là số chẵn, c = 2m (m∈ ℕ )
⇒ 4k(k + 1) + 4t(t + 1) + 2 = 4m2 Vì 4m2 chia hết cho 4 suy ra 2 chia hết cho 4 (vô lí) Vậy trong hai số a, b có ít nhất một số lẻ Vì a, b là hai cạnh góc vuông suy ra a, b không đồng thời là số nguyên tố
Thật vậy giả sử a, b cùng là số nguyên tố theo giả thiết ta có aưb= 50, mà theo chứng minh trên ít nhất một trong hai số a, b phải là
số chẵn suy ra số còn lại cũng là số chẵn (vô
lí vì a, b nguyên tố) Suy ra điều giả sử là sai Tam giác có một cạnh góc vuông và cạnh huyền là số nguyên tố
Giả sử a, c nguyên tố Suy ra c – a = 50,
áp dụng định lí pitago ta có:
b2 = c2 – a2 =(c – a)(c + a) = 50 (2a + 50) = 100(a + 25)
⇒ a + 25 = s2⇒ a = (s – 5)(s + 5) Vì a nguyên tố nên s – 5 = 1 và s + 5 = a ⇒ s = 6
và a = 11 ⇒ b = 60 và c = 61 Vậy diện tích tam giác là: S = 1/2.11.60 = 330 (đvdt)
Thí dụ 2 Tìm 3 số tự nhiên a, k, n thoả mãn:
n2 = (a – k)2 + + a2 + +(a + k)2 , (1) với n lẻ nhỏ nhất, a, k là các số nguyên tố và a
Trang 9(Ti ếp theo số 22)
B) Bài 4 ở bài toán 4 (sau đây tạm gọi là
“Bài toán ngược lại”):
1 Giải: Để giải bài toán này có thể có các cách :
Cách 1 Lập bảng tương ứng giữa số đường thẳng phải kẻ (lần lượt từ 0,1,2 ) với số tam giác tạo ra:
Số đường thẳng phải kẻ)
0 1 2 3 19 20
Số tam giác tương ứng tạo ra
đó là n = 20 và n –1 = 19
Vậy phải kẻ: 20 – 2 = 18 đường thẳng ( 2 là
số cạnh bên)
Tuy nhiên, việc phân tích 1 số cho trước
thành nửa tích của 2 số tự nhiên liên tiếp
không phải là việc dễ dàng, chẳng hạn số
2009010 nêu trên
Do đó để nghiên cứu sâu thêm, ta đi xét bài toán tổng quát như sau:
Cách 3. Xét bài toán tổng quát:
Để có m tam giác tạo thành thì phải vẽ bao nhiêu tia phân biệt có cùng 1 điểm gốc cho trước và cắt 1 đường thẳng cho trước trong mặt phẳng?
Trang 10Giải: Giả sử số tia phải kẻ là x tia (x nguyên
Giải phương trình (2) này, tìm các nghiệm,
loại bỏ các nghiệm âm và không nguyên
Những nghiệm nguyên dương chính là số tia
Tóm lại: Ngoài các cách: lập bảng, tìm nửa
tích của 2 số tự nhiên liên tiếp, ta đi giải một
PT bậc 2 Việc giải 1 phương trình bậc 2 sẽ
nhanh hơn , hơn nữa ta có thể giải được “ Bài
toán ngược lại” với số tam giác lớn rất nhiều,
chẳng hạn: Để có 499500 tam giác tạo thành,
ta phải kẻ 998 đường thẳng (không kể 2 cạnh
bên) từ đỉnh O xuống cắt cạnh đáy của tam
giác cho trước
2) Tìm điều kiện cho các số m biểu thị số tam
giác tạo thành “ làm cơ sở để ra đề trong
“Bài toán ngược lại“:
a) Hiển nhiên công thức (1) là dạng biểu diễn
thứ nhất , nghĩa là m phải là các số phân tích
được thành nửa tích duy nhất của 2 số tự
nhiên liên tiếp
b) Bây giờ ta đi tìm dạng biểu diễn khác nữa của các số m trong “Bài toán ngược lại” thông qua phương trình (2)
- Việc tìm dạng biểu diễn của các số m , dẫn đến việc giải bài toán sau đây:
(2) đã biết :
x2 – x “ 2m = 0
có nghiệm nguyên dương ? Giải: Phương trình (2) luôn có nghiệm vì có
∆= 1+8m > 0, ∀ m nguyên dương Bây giờ ta chỉ còn xét 2 điều kiện là nghiệm phải
nguyên và dương
Dễ thấy (2)⇔x(x-1) = 2m (3)
+ x nguyên, dương thì chỉ có thể là số chẵn hoặc lẻ
- Nếu x chẵn thì tồn tại ít nhất một số k để sao cho: x = 2k với k = 0,1,2,3 Thay vào (3) ta có:
2k(2k-1) = 2m ⇒ m = k(2k-1) (I)
- Nếu x lẻ thì tồn tại ít nhất một số k để sao cho: x =2k +1 với k = 0,1,2,3 Thay vào(3) ta có:
(2k+1)[(2k+1)ư1]= 2m
⇒ m = k(2k+1) (II) Kết hợp (I)và (II) ta đi đến kết luận : Nếu m là
số tam giác tạo thành thì có ít nhất một số k
để sao cho:
m = k(2k ∓ 1) với k = 0,1,2,3 (4) Công thức (4) chính là dạng tổng quát thứ hai của các số m (dãy số hình tam giác ở trên) Chẳng hạn, với 2 số hạng (cùng hệ số k) của dãy là 499500 và 500500, ta tìm được k =
500 để:
499500 = 500 ì ( 2ì 500 – 1) và
500500 = 500 ì ( 2ì 500 + 1)
Trang 11Vậy : chỉ có các số biểu diễn được dưới dạng
công thức (1) hoặc (4) mới được chọn là các
số tam giác tạo thành để ra đề cho “Bài toán
ngược lại“
Kết luận : Bài viết đã góp phần :
- Giúp giáo viên và học sinh dễ dàng tính
nhẩm được kết quả của các bài toán dạng
“Đếm các hình tam giác, hình chữ nhật…” ở
trên
- Nêu ra được một số bài toán mở rộng cố thể
dùng cho học sinh học ngoại khoá hoặc bồi
dưỡng học sinh giỏi
- Tìm điều kiện cho các số biểu thị số hình
tam giác tạo thành, làm cơ sở cho người dạy
ra đề trong “Bài toán ngược lại”
Tài liệu tham khảo
Tài liệu tham khảo
1 Irving Adler (Người dịch Lê Đình Phi),
2000
2 Trần Diên Hiển, 10 chuyên đề bồi dưỡng
học sinh giỏi toán 4-5, NXB Giáo dục,
Chứng minh rằng
2002 2 6x
2 0
1(1 3x) e dx
max f(x)≤ ∫ f (x) dx′ x ư0với mọi x mà2 1 x2 2003
1(1 2x) e dx
Trang 122 2
2 2
≥ thì 1
g(x) x
2≤ ≤ và do đó f(x) cũng là hằng số trên nửa đường thẳng này Mặt khác, từ giả thiết suy ra f(x) f( x)= ư hay f là hàm chẵn Vậy f là hàm hằng
Bài 5 (Số 22T10/05). Giả sử f : (0, )∞ → ℝthỏa mãn điều kiện
a) f là hàm tăng nghiêm ngặt, b) f (x) 1, x 0
CBK