1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hiện nay

88 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hiện nay
Tác giả Nguyễn Văn Lan
Trường học Học Viện Chính Trị Quân Sự
Chuyên ngành Nghiên cứu khoa học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 72,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên còn bộc lộ không ít những hạn chế, thiếu sót cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện. Một số cán bộ, giảng viên, cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo chưa thật sự coi trọng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học viên, coi đó là nhiệm vụ của các bậc học cao hơn. Công tác bảo đảm cơ sở vật chất, tài liệu cho học tập và nghiên cứu còn hạn chế; chưa tạo được môi trường thuận lợi cho phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của người học. Đối với học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hiện nay, nhận thức về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học trong quá trình học tập ở trường chưa đầy đủ, còn có biểu hiện cho rằng nghiên cứu khoa học chỉ là công việc của các nhà khoa học: các tiến sỹ, thạc sỹ, các giảng viên.

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo bộ quốc phòng

Luận văn thạc sĩ triết học

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 BẢN CHẤT PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN

CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO BẬC ĐẠI HỌC Ở TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 2 81.1 Khái niệm và vai trò phát triển năng lực nghiên cứu khoa

học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường Sĩ quan

1.2 Một số vấn đề có tính quy luật về phát triển năng lực

nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở

Chương 2 TÌNH HÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO BẬC ĐẠI HỌC Ở TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 2 HIỆN NAY 432.1 Tình hình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của

học viên đào tạo bậc đại học ở Trường Sĩ quan Lục quân

2.2 Một số giải pháp cơ bản phát triển năng lực nghiên cứu

khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường Sĩ

Trang 3

Nghiên cứu khoa học là một lĩnh vực quan trọng luôn được Đảng và Nhànước ta hết sức quan tâm Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII của Đảng đã chỉrõ: cùng với giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, làđộng lực phát triển kinh tế xã hội; là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dântộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Ngày nay, trước yêu cầu đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp "xây dựng quân đội nhân dân cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại" đòi hỏi càng phải coi trọng hoạtđộng nghiên cứu khoa học

Để hoạt động nghiên cứu khoa học có hiệu quả cao, trong quá trình giáodục, đào tạo, đặc biệt là đào tạo bậc đại học và sau đại học ở các học viện, Nhàtrường trong và ngoài quân đội phải hết sức chú trọng phát triển năng lực nghiêncứu khoa học của học viên

Trường sĩ quan Lục quân II là một trung tâm lớn, đào tạo sĩ quan cấp phânđội của quân đội Những năm qua Nhà trường đã có nhiều đổi mới trong giáodục, đào tạo, đã chú trọng hơn đến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học củahọc viên Chính vì vậy đã đào tạo được một đội ngũ sỹ quan sau khi tốt nghiệp

ra trường có tri thức vừa toàn diện vừa chuyên sâu chuyên ngành quân sự, biếtvận dụng tri thức vào phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảysinh trong quá trình quản lý, chỉ huy, giáo dục, huấn luyện đơn vị, góp phần nângcao sức mạnh chiến đấu của quân đội, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới

Tuy nhiên, việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên cònbộc lộ không ít những hạn chế, thiếu sót cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện.Một số cán bộ, giảng viên, cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo chưa thật sự coitrọng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học viên, coi đó là nhiệm vụcủa các bậc học cao hơn Công tác bảo đảm cơ sở vật chất, tài liệu cho học tập

Trang 4

và nghiên cứu còn hạn chế; chưa tạo được môi trường thuận lợi cho phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của người học Đối với học viên đào tạo bậc đạihọc ở Trường sĩ quan Lục quân II hiện nay, nhận thức về phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học trong quá trình học tập ở trường chưa đầy đủ, còn có biểuhiện cho rằng nghiên cứu khoa học chỉ là công việc của các nhà khoa học: cáctiến sỹ, thạc sỹ, các giảng viên Vì vậy dẫn đến tư tưởng tự ti, thiếu tích cực, chủđộng, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu, chưa chú trọng rèn luyện phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học Do đó một số học viên sau khi tốt nghiệp ratrường chưa phát triển kịp với yêu cầu nhiệm vụ mới của sự nghiệp xây dựng vàchiến đấu của quân đội.

Từ đó, việc nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống cơ sở lý luận, thực tiễn

và đề ra những giải pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viênđào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hiện nay dưới góc độ triết học

là vấn đề vừa có tính thời sự cấp bách vừa có ý nghĩa cơ bản lâu dài Vì vậychúng tôi chọn vấn đề "Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viênđào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hiện nay" làm đề tài luận văn

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề xây dựng và phát huy nguồn lực con người, phát triển toàn diệnnăng lực con người, trong đó có phát triển năng lực nghiên cứu khoa học luôn làmột đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học

Liên quan đến vai trò của nguồn lực con người và vai trò của nghiên cứu

khoa học đối với sự phát triển xã hội có các công trình như: "Con người và

nguồn lực con người trong phát triển", Viện Thông tin Khoa học Xã hội [29];

"Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học xãhội nhân văn" tập thể tác giả, Học viện Chính trị quân sự [11]; Lê Hữu Nghĩa,

"Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ" [20]

Trang 5

Liên quan đến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học có các công trình

như: Phạm Thị Ngọc Trầm "Trí tuệ, nguồn lực vô tận của sự phát triển"[25];Nguyễn Văn Tài "Tích cực hoá nhân tố con người của đội ngũ sỹ quan trong xâydựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay"[24]; Lê Quang "Vấn đề nắm vữngphương pháp khoa học trong cách tiếp cận các vấn đề xã hội "[23]; Lê Quý Trịnh

"Phát triển năng lực trí tuệ của sỹ quan trẻ trong Quân đội nhân dân Việt Namhiện nay"[27 ]

Các công trình trên cũng đã tập trung làm rõ thực chất, vai trò và các giải

pháp phát huy, phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất

nước và xây dựng quân đội trong thời kỳ mới Song do mục đích, phạm vinghiên cứu, các tác giả của các công trình trên chưa đặt ra nghiên cứu vấn đềphát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ởTrường sĩ quan Lục quân II hiện nay Vì vậy, "Phát triển năng lực nghiên cứukhoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hiệnnay" là vấn đề mới và bức thiết

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích:

Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quanLục quân II hiện nay

- Nhiệm vụ:

+ Làm rõ bản chất và một số vấn đề có tính quy luật phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lụcquân II

+ Đánh giá thực trạng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hiện nay và chỉ rõ nguyênnhân của thực trạng đó

Trang 6

+ Đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học củahọc viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hiện nay.

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam, các nghị quyết của Đảng, Đảng uỷ Quân sự Trung ương về giáo dục, đàotạo và xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới

- Cơ sở thực tiễn của luận văn là thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học

và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ởTrường sĩ quan Lục quân II hiện nay

- Phương pháp nghiên cứu của luận văn là sử dụng phương pháp luận của

chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với phươngpháp hệ thống - cấu trúc, điều tra xã hội học, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá,trừu tượng hoá và phương pháp chuyên gia

5 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu,

từ đó góp phần phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậcđại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hiện nay

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, trong nghiên cứu và vậndụng vào công tác giáo dục, đào tạo của Nhà trường

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm: Mở đầu, hai chương (bốn tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Chương 1

Trang 7

BẢN CHẤT PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO BẬC ĐẠI HỌC Ở TRƯỜNG SĨ QUAN

LỤC QUÂN II 1.1 Khái niệm và vai trò phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II

1.1.1 Khái niệm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II

* Nghiên cứu khoa học và năng lực nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của con người nhằm thoảmãn nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới Nghiên cứu khoa học có vai tròquan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người; giúp con ngườinhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn bản chất các sự vật, hiện tượngtrong thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy Đồng thời thông qua hoạt động đó,làm cho tư duy của con người ngày càng phát triển

Là một bộ phận của hoạt động trí tuệ, nghiên cứu khoa học đã thu hútđược sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu Trong tác phẩm "Bàn vềtâm hồn", Arixtốt đã đưa ra kiến giải của mình về trí tuệ Theo ông, tâm hồncảm giác (ước muốn) và tâm hồn suy nghĩ (trí tuệ) là hai chức năng của tâmhồn đưa tới hành động và chúng có chức năng khác nhau Trong đó tâm hồn suynghĩ có chức năng lý giải, lập luận, biểu tượng, tưởng tượng (đó cũng lànhững thao tác của nghiên cứu khoa học) Ông nhấn mạnh vai trò của tâm hồnsuy nghĩ đối với thực hiện mong muốn của con người Tuy có ước muốn,mong mỏi, nhưng con người làm chủ bản thân là người không làm theo ướcmuốn mà lại tuân theo trí tuệ, sự hiểu biết của mình [10, tr 12]

Tuy nhiên, chỉ đến khi học thuyết Mác - Lênin ra đời, với việc đưa kháiniệm thực tiễn vào lý luận nhận thức và thừa nhận khả năng vô tận của con

Trang 8

người trong nhận thức và cải tạo thế giới, mới đưa lại cái nhìn đúng đắn vàtoàn diện về nghiên cứu khoa học và vai trò của nó trong đời sống xã hội.Trong tác phẩm "Bút ký triết học", V I Lênin viết: "Thế giới không thoảmãn con người và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động củamình"[12, tr 229] Trong tác phẩm "Luận cương về Phoiơbắc", C Mác đãkhẳng định: "Đời sống xã hội về thực chất là có tính thực tiễn"[15, tr 11].Chính thông qua thực tiễn mà con người đã "nhân đôi" thế giới trong hiệnthực và cũng nhân đôi chính mình trong thế giới tinh thần Nhờ có thực tiễn

mà tri thức của con người không ngừng phát triển, không có cái gì trong thếgiới mà con người không biết, chỉ có những cái con người chưa biết mà thôi.Như vậy, hoạt động thực tiễn, trong đó có nghiên cứu khoa học, là con đườngphát triển vô tận của nhận thức con người

Khoa học, trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Khoa học với tư cách là

một danh từ, dùng để chỉ một hệ thống tri thức phản ánh đúng đắn quy luật tựnhiên, xã hội và tư duy của con người, giúp con người có khả năng vận dụng

để cải tạo hiện thực Với tư cách là một tính từ, khoa học chỉ tính chất nhận

thức và hành động của con người phù hợp với những đòi hỏi của khoa học(khách quan, chính xác, có hệ thống ) để nhận thức và hành động của họ phùhợp với chân lý khách quan, với thực tiễn cuộc sống, có khả năng cải tạo hiệnthực hiệu quả nhất

Nghiên cứu, được hiểu là "xem xét, tìm hiểu kỹ lưỡng để nắm vững vấn

đề, giải quyết vấn đề hay rút ra những hiểu biết mới" [29, tr 658] Với quanniệm như vậy, ta thấy, nghiên cứu khoa học là lĩnh vực lao động nhằm sángtạo ra tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy Nó là quá trình các nhà khoahọc, cơ quan khoa học, với những tri thức, năng lực, trình độ và kinh nghiệmcủa họ, với sự phân công và hợp tác lao động khoa học, những trang bị thựcnghiệm, thí nghiệm, phương pháp nhằm tạo ra hệ thống tri thức mới phục

Trang 9

vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Bản chất nghiên cứu khoahọc là hoạt động sáng tạo của con người

Nghiên cứu khoa học là một quá trình diễn ra phức tạp, không ngừnggiải quyết những mâu thuẫn của sự tìm tòi, phát hiện những tri thức mới,khám phá những nguyên lý, quy luật, con đường mới mẻ của sự phát triển.Quá trình đó luôn xuất hiện những giả thuyết, những ý tưởng, những xuhướng, dự báo khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Thành công của nghiêncứu khoa học là ở chỗ tìm ra tri thức mới phù hợp với sự phát triển của hiệnthực, đem lại lợi ích cho con người

Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của con người Kết quả đạtđược của hoạt động nghiên cứu khoa học phụ thuộc chủ yếu vào năng lựcnghiên cứu của con người Năng lực nghiên cứu khoa học tồn tại dưới haidạng: dạng tiềm năng và dạng năng lực hiện hữu Dạng tiềm năng là nguồn vôtận của con người chưa được đánh thức, còn dạng năng lực hiện hữu là khảnăng hiện có của con người để tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học cóhiệu quả

Bàn về năng lực lao động của con người, C Mác viết: "Chúng tôi hiểusức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất vàtinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người

đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó"[17, tr.251] Tư tưởng trên của C Mác là cơ sở phương pháp luận cho việc nhậnthức đúng đắn về bản chất của năng lực và năng lực nghiên cứu khoa họccủa mỗi con người

Năng lực, theo Từ điển tiếng Việt, là: "Khả năng, điều kiện chủ quan

hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó"; "là phẩm chất tâm

lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đóvới chất lượng cao"[2, tr 639] Năng lực con người là sản phẩm của sự phát

Trang 10

triển xã hội vì vậy nó không những do hoạt động của bộ não người, mà còn

do trình độ phát triển lịch sử xã hội quy định Theo ý nghĩa đó, năng lực nóichung và năng lực nghiên cứu khoa học nói riêng của con người luôn gắn liền

và không tách rời với tổ chức lao động xã hội cùng với hệ thống giáo dụctương ứng với tổ chức đó Năng lực nghiên cứu khoa học là khả năng và điềukiện bên trong của con người để họ tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học

có hiệu quả Năng lực nghiên cứu khoa học là kết quả của sự tác động tổnghợp của nhiều yếu tố, như trình độ tri thức, phương pháp tư duy và khả năngsáng tạo của con người

Từ những phân tích trên đây có thể quan niệm: Năng lực nghiên cứu

khoa học là khả năng về trình độ tri thức, phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo của con người được sử dụng trong việc phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh, nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả hoạt động thực tiễn của con người

Các yếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học là một thể thống nhất, tácđộng biện chứng lẫn nhau, song mỗi yếu tố có cấu trúc, vị trí vai trò riêng của nó

Khả năng về trình độ tri thức là yếu tố cơ bản của năng lực nghiên cứu

khoa học, nó phản ánh sự hiểu biết của mỗi người về thế giới khách quan và

về chính bản thân mình, là lượng thông tin mà mỗi người lĩnh hội được trongquá trình học tập và tham gia các hoạt động Thông thường tri thức được phânloại theo cấp độ hoặc lĩnh vực nó khái quát Xét ở phạm vi bao quát thì có trithức về tự nhiên, về xã hội và về con người Xét về trình độ khái quát, có trithức cảm tính và tri thức lý tính; tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận; trithức tiền khoa học và tri thức khoa học Căn cứ vào hoạt động sống của conngười, có các dạng tri thức cơ bản sau: tri thức thực tiễn, tri thức lý luận khoahọc và tri thức nghề nghiệp

Trang 11

Tri thức thực tiễn là những hiểu biết được hình thành trực tiếp trong thực

tiễn cuộc sống, lao động, đấu tranh và trải nghiệm xã hội của con người.Chính qua những hoạt động thực tiễn ấy làm cho con người hiểu sâu sắc hơn vềthế giới, là cơ sở làm nảy sinh những sáng kiến và khởi nguồn của sự sáng tạo

Tri thức lý luận khoa học là "sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là

tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội tích trữ lại trong quá trình lịchsử"[19, tr 497] Đó là hệ thống những tri thức sâu sắc của con người về bảnchất, quy luật của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, là cơ

sở để con người nghiên cứu, khám phá những tri thức mới

Tri thức nghề nghiệp là những hiểu biết, kinh nghiệm và kỹ năng lao

động của con người trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn của mình, là cơ sởquan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và lao động sáng tạo củacon người

Sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cơ bản trên đây tạo thành khả năng

về trình độ tri thức của con người Tuy nhiên, trong năng lực nghiên cứu khoahọc, tri thức lý luận khoa học giữ vai trò quan trọng nhất, bởi lẽ, sẽ không cókhoa học nếu không nhận thức được quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội

và tư duy Chủ nghĩa Mác cho rằng, khoa học là kẻ thù của ngẫu nhiên Chỉ cócăn cứ vào những quy luật và những quan hệ tất nhiên của hiện thực mới cóthể nghiên cứu và nhận thức được hiện thực một cách khách quan, khoa học.Tri thức về một số ngẫu nhiên chưa thể coi là khoa học, vì không phải nhữnghiện tượng ngẫu nhiên quyết định mà chính những quy luật khách quan quyếtđịnh sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Phủ nhận quy luật kháchquan là đi đến phủ nhận những tri thức khoa học Nhiệm vụ của khoa học làthông qua những hiện tượng ngẫu nhiên mà phát hiện những cái tất nhiên vànhững quy luật khách quan nhằm trang bị cho con người tri thức để họ sửdụng trong hoạt động thực tiễn Sự phát triển của khoa học luôn gắn liền với

Trang 12

sự phát triển chung của xã hội, từ đó thúc đẩy con người ngày càng nhận thứcsâu sắc và chính xác hơn về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình Sẽkhông có khoa học và nghiên cứu khoa học nếu không có tri thức khoa học.Nói như vậy không phải phủ nhận vai trò của tri thức thực tiễn và tri thứcnghề nghiệp trong nghiên cứu khoa học mà ngược lại, chính các yếu tố đó gópphần quan trọng nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học.

Tri thức là kết quả của quá trình hoạt động nhận thức, đồng thời là cơ sở,điều kiện để con người nghiên cứu, sáng tạo ra tri thức mới Bêcơn - ngườisáng lập Triết học duy vật Anh đã từng nói: "Con người cần phải thống trị,phải làm chủ giới tự nhiên Điều đó thực hiện được hay không tất cả phụthuộc vào sự hiểu biết của con người"[25, tr 30]

Khả năng phương pháp tư duy là khả năng về cách thức nhận thức thế

giới của con người, là con đường, biện pháp để tiếp cận, lĩnh hội tri thức vàsáng tạo tri thức mới Các thao tác tư duy dựa trên cơ sở quy luật của hoạtđộng nhận thức, bao gồm các phương pháp cụ thể như so sánh, phân tích,tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá.v.v

Khả năng phương pháp tư duy đóng vai trò quan trọng trong hoạt độngnhận thức và nghiên cứu khoa học Nhờ nó mà con người có thể "bóc tách"các mặt, các bộ phận của sự vật, hiện tượng để đi sâu tìm hiểu, nghiên cứubản chất, đồng thời, tái tạo nó, khái quát hoá, trừu tượng hoá nó với tư cách

là cái cụ thể trong tư duy

Khả năng phương pháp tư duy là sản phẩm nhận thức của con người vềquy luật của tư duy, nhưng khi được con người tiếp thu và sử dụng một cách

tự giác nó lại trở thành cơ sở bên trong quyết định đến hiệu quả của hoạt độngnhận thức và là cơ sở để xây dựng, phát triển tri thức mới Tuy nhiên, mỗi mộtlĩnh vực nghiên cứu khoa học cụ thể, đòi hỏi phải có một phương pháp tư duyphù hợp Xây dựng được phương pháp tư duy khoa học, độc lập, sáng tạo là

Trang 13

cơ sở bảo đảm cho hoạt động nghiên cứu khoa học đạt kết quả cao Vì vậy,trong quá trình giáo dục, chủ thể giáo dục không những quan tâm trang bị trithức cho người học mà còn hết sức coi trọng giáo dục phương pháp, đặc biệt

là phương pháp tư duy

Lịch sử xã hội loài người đã từng xuất hiện và tồn tại nhiều phương pháp

tư duy Mỗi phương pháp tư duy đều có vị trí vai trò khác nhau Khả năngphương pháp tư duy của mỗi người, mỗi thời đại có ảnh hưởng trực tiếp đếnkết quả phát triển nhận thức của họ Thực tiễn đã chứng minh rằng sự pháttriển phương pháp tư duy của mỗi thời đại đã mang lại những thành tựunghiên cứu khoa học trong những lĩnh vực nhất định

Đỉnh cao của phương pháp tư duy khoa học là phương pháp tư duy biệnchứng duy vật Theo Ph Ăngghen, đó là phương pháp "xem xét những sự vật

và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫnnhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát triển và sự tiêuvong của chúng"[1, tr 38] Nhờ đó, con người có khả năng đi sâu nắm bắt bảnchất, quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng; đồng thời, dự báo

xu hướng biến đổi và xác định những biện pháp nhằm cải tạo hiện thực

Trong lĩnh vực quân sự, khả năng phương pháp tư duy của người cán bộchỉ huy có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để người chỉ huy phântích, đánh giá đúng đắn tình hình, bao quát cục diện chiến trường và đề xuấtnhững giải pháp phù hợp giành thắng lợi cho trận đánh

M V Phrunde - nhà hoạt động cách mạng, nhà lý luận quân sự nổi tiếngcủa giai cấp vô sản Nga đã nói: "Người chỉ huy Hồng quân phải học tập đểhoàn toàn nắm vững được phương pháp tư duy và nghệ thuật phân tích cáchiện tượng mà học thuyết Mác đã dạy cho chúng ta Thực chất của phươngpháp tư duy đó là chúng ta không thể coi cái gì là tuyệt đối và cứng nhắcđược Mọi cái đều chuyển biến và thay đổi, và bất cứ một phương tiện, một

Trang 14

phương pháp nào cũng chỉ được sử dụng trong một hoàn cảnh nhất định nào

đó Nghệ thuật của người chỉ huy là ở chỗ trong nhiều phương tiện mà mình

có, phải biết cách lựa chọn được phương tiện nào đó có thể đem lại những kếtquả tốt đẹp nhất trong hoàn cảnh và thời gian đó"[22, tr 89]

Khả năng phương pháp tư duy đóng vai trò quan trọng trong hoạt độngnghiên cứu khoa học, nó vừa là kết quả của sự phát triển tri thức, đồng thời là

cơ sở cho khả năng sáng tạo của con người Thiếu nó, hoạt động nghiên cứukhoa học sẽ không mang lại hiệu quả tích cực và không thúc đẩy sự phát triểncủa sự vật, hiện tượng

Khả năng sáng tạo thực chất là khả năng phát hiện và giải quyết đúng

đắn, linh hoạt những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh Nó là đặc trưng bản chấtnhất của năng lực nghiên cứu khoa học Nói một cách khác, đó là khả năngphát hiện những tri thức mới, là quá trình phủ định biện chứng của tri thức,làm cho nhận thức của con người ngày càng phong phú, sâu sắc, đầy đủ hơn

về sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Khả năng sáng tạo là hệ quả tất yếu của sự vận động biện chứng giữa trithức sâu rộng và phương pháp tư duy khoa học Nó là một tập hợp các phẩmchất tâm lý, tư duy phức tạp trong đó bao gồm: tư chất năng khiếu, tính độclập, năng động, trí tưởng tượng, trực giác, phán đoán của tư duy, v.v

Tư chất năng khiếu là những tiềm năng được phát triển, di truyền và bẩmsinh, phản ánh mức độ huy động các tế bào thần kinh tham gia vào các hoạtđộng; quy định thiên hướng, lĩnh vực sáng tạo của mỗi cá nhân Tư chất năngkhiếu có vai trò quan trọng trong hoạt động sáng tạo của con người, chi phốiđến quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của mỗi người Tuynhiên, tư chất năng khiếu chỉ có thể phát huy, phát triển trên cơ sở sự hiểubiết, lòng say mê, hứng thú, mục đích sống và hành động của mỗi con người

Nó là cơ sở bảo đảm cho sự sáng tạo đúng đắn, hợp quy luật

Trang 15

Tính độc lập và năng động của tư duy là những phẩm chất quan trọngcủa khả năng sáng tạo, nó đưa lại cho con người khả năng xem xét, giải quyếtvấn đề một cách tự lực, tích cực, chủ động, có cân nhắc chọn lọc Trong lĩnhvực quân sự, tính độc lập, sáng tạo của tư duy giúp cho người chỉ huy quyếtđoán, linh hoạt, sáng tạo trong xử trí các tình huống chiến đấu, vừa giữ đượcyếu tố bí mật về lực lượng và ý định chiến đấu của ta, vừa nghi binh, lừa địch

và đưa ra những quyết định táo bạo bất ngờ giành thắng lợi cho trận đánh.Ngoài những yếu tố trên, khả năng sáng tạo còn phụ thuộc vào trí tưởngtượng, trực giác, phán đoán của các nhà khoa học Đây là những yếu tố hếtsức quan trọng trong hoạt động sáng tạo L Đ Bơrơi đã nhận xét: "cơ sở củatất cả các thành tựu khoa học đích thực là tưởng tượng sáng tạo và trực giáccủa nhà khoa học"[25, tr 30]

Khả năng sáng tạo phản ánh bản chất của năng lực nghiên cứu khoa học,

là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển trình độ tri thức và phương pháp tưduy Đồng thời, khả năng sáng tạo góp phần tác động thúc đẩy sự phát triểncủa trình độ tri thức và phương pháp tư duy của con người

Sự tác động biện chứng của các yếu tố đó làm cho nhận thức con ngườingày càng phát triển Con người ngày càng khám phá, hiểu biết đầy đủ, sâusắc hơn về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình, làm cho hoạt động thựctiễn của con người ngày càng có hiệu quả cao hơn

Như vậy, bản chất năng lực nghiên cứu khoa học là khả năng sáng tạocủa con người Sự phát triển của năng lực nghiên cứu khoa học kết quả của sựphát triển khả năng trình độ tri thức, phương pháp tư duy và khả năng tìm tòisáng tạo của mỗi con người

* Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học.

Trang 16

Phát triển, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng là quá trìnhvận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đếnngày càng hoàn thiện hơn.

Theo đó, có thể hiểu phát triển năng lực nghiên cứu khoa học là quá

trình không ngừng vươn lên chiếm lĩnh tri thức khoa học, nâng cao phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo của con người nhằm phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh

Dấu hiệu đặc trưng cơ bản xác định sự phát triển của năng lực nghiêncứu khoa học là ở tính quy định mới cao hơn về chất của cả khả năng trình

độ tri thức, phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo, đặc biệt là khả năngsáng tạo ra hệ thống tri thức mới

Để xem xét, đánh giá sự phát triển năng lực nghiên cứu khoa học củamột đối tượng cụ thể cần phải nắm được thực trạng ban đầu của nó, lấy đólàm cơ sở để tiến hành so sánh và đánh giá sự phát triển về chất của cái mới.Trên cơ sở thực trạng ban đầu ấy, cùng với đặc điểm, yêu cầu của lĩnh vựchoạt động, yêu cầu cần đạt được của sự phát triển để làm rõ đặc trưng, làm rõkhái niệm, xác định tiêu chí và đề ra giải pháp cụ thể phát triển các yếu tố cấuthành năng lực nghiên cứu khoa học một cách hợp lý

Đối với học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II, phát

triển năng lực nghiên cứu khoa học của họ nổi lên một số đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, đó là phát triển năng lực nghiên cứu khoa học ở học viên đào

tạo bậc đại học với đối tượng "đầu vào" là những quân nhân và học sinh phổthông đã trúng tuyển qua kỳ thi tuyển sinh đại học quân sự Họ là lực lượngtrẻ, có tri thức cơ bản của bậc học phổ thông trung học, có sức khoẻ đáp ứngvới yêu cầu nhiệm vụ học tập, rèn luyện trong môi trường quân đội Tuyệt đại

đa số là con em của người lao động trực tiếp, có đức tính cần cù, chịu khó, cónguyện vọng tha thiết được trở thành sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, có

Trang 17

mục tiêu phấn đấu rõ ràng, có khả năng tiếp thu nhanh tri thức khoa học, hamhọc hỏi, cầu tiến bộ Đây là những đặc điểm thuận lợi trong quá trình pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, ở họ còn không ít những hạn chếảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học,

đó là: tính kiên trì trong học tập, rèn luyện phát triển những phẩm chất củanghiên cứu khoa học chưa cao; khi gặp khó khăn thường dễ bi quan, daođộng Trong khi đó mục tiêu yêu cầu đào tạo học viên sau khi tốt nghiệp ratrường đảm nhiệm cương vị trung đội trưởng, phát triển lên cán bộ đại đội,cán bộ tiểu đoàn ở các đơn vị phân đội binh chủng hợp thành Vì vậy pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên phải phát triển đồng đều,toàn diện cả về khả năng trình độ tri thức, phương pháp tư duy và khả năngsáng tạo Tuy nhiên, khả năng sáng tạo ở đối tượng này chủ yếu là vận dụngtri thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra, chưa đòi hỏi nhiều ở sự sángtạo ra tri thức mới

Thứ hai, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo

bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II tập trung chủ yếu vào lĩnh vực khoahọc quân sự

Hoạt động quân sự là một hoạt động đặc thù diễn ra trong mọi điều kiệnkhông gian, thời gian, địa hình, thời tiết Đặc biệt là hoạt động chiến đấu,luôn diễn ra hết sức gay go, quyết liệt, phức tạp và hết sức nhanh chóng, có liênquan trực tiếp đến sự an nguy của dân tộc, của chế độ chính trị và sinh mệnhcủa mỗi con người; nó đòi hỏi sự nỗ lực lớn, quyết tâm cao của mỗi quân nhân

và tổ chức quân sự Vì vậy phát triển năng lực nghiên cứu khoa học trong lĩnhvực quân sự đòi hỏi học viên phải có khả năng về trình độ tri thức khoa họcquân sự sâu sắc, có phương pháp tư duy khoa học, nhạy bén, kịp thời, chính

Trang 18

xác, không cho phép chậm trễ; có khả năng vận dụng linh hoạt sáng tạo tri thứcvào giải quyết đúng đắn những tình huống diễn ra trong hoạt động quân sự.

Thứ ba, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo

bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II hướng chủ yếu vào khoa học vềquản lý, chỉ huy, lãnh đạo các đơn vị phân đội binh chủng hợp thành

Hoạt động quản lý, chỉ huy và lãnh đạo là hoạt động có ý nghĩa quyếtđịnh đến việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị Đối với đơn vị cấp phân độibinh chủng hợp thành, người chỉ huy là người trực tiếp tổ chức chỉ huy, quản

lý, giáo dục, huấn luyện bộ đội, quản lý cơ sở vật chất vũ khí trang bị và thamgia vào quá trình lãnh đạo đơn vị thực hiện các nhiệm vụ Đây là một hoạtđộng mang tính tổng hợp cao Đặc biệt trong hoạt động chiến đấu, người chỉhuy cấp phân đội binh chủng hợp thành không những là người chỉ huy caonhất đơn vị thuộc quyền mà còn là người chỉ huy các lực lượng, đơn vị phốithuộc Vì vậy phát triển năng lực nghiên cứu khoa học quản lý, chỉ huy, lãnhđạo đòi hỏi học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II phảiphát triển tri thức toàn diện; có hiểu biết sâu sắc về khoa học nghệ thuật quân

sự, nắm chắc kỹ thuật, chiến thuật; có trình độ tổ chức chỉ huy, quản lý giỏicấp mình, thành thạo cấp dưới, biết cấp trên; có tri thức khoa học xã hội nhânvăn, tham gia có hiệu quả vào các quyết định của tập thể ; có phương pháp

tư duy khoa học, độc lập, sáng tạo; có khả năng bao quát, phân tích, xem xétđánh giá vấn đề nhanh chóng và chính xác; có khả năng vận dụng sáng tạo trithức vào hoạt động chỉ huy, quản lý, lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt mọinhiệm vụ

Từ sự phân tích trên đây có thể hiểu, phát triển năng lực nghiên cứu

khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II là quá trình không ngừng vươn lên chiếm lĩnh tri thức khoa học, nâng cao phương pháp tư duy và khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức khoa học

Trang 19

vào phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh trong

quá trình học tập, rèn luyện ở trường cũng như trên cương vị công tác sau này.

Đó là quá trình học viên không ngừng làm giàu trí tuệ và luyện cho bộ ócthông minh hơn, hiểu biết hơn, nhạy bén, sáng tạo hơn để kịp thời phát hiện

và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới đặt ra trong quá trình học tập, rènluyện ở trường và hoạt động quản lý, chỉ huy, lãnh đạo đơn vị cấp phân độibinh chủng hợp thành sau này cũng như những vấn đề khác nảy sinh trongcuộc sống và quan hệ xã hội

Một số tiêu chí cơ bản đánh giá phát triển năng lực nghiên cứu khoa học

của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đạihọc ở Trường sĩ quan Lục quân II là một phạm trù bao gồm nhiều yếu tố tácđộng biện chứng lẫn nhau, vì vậy việc xác định chính xác các tiêu chí là rất khó.Tuy nhiên về mặt nguyên tắc của nhận thức thì dù phức tạp đến mấy cũng có thểlượng hoá được Càng lượng hoá chính xác được bao nhiêu thì càng có ý nghĩa

to lớn trong việc xác định những biện pháp tác động có hiệu quả bấy nhiêu.Thực tế cho thấy, có thể căn cứ vào các tiêu chí sau đây để đánh giá pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ởTrường sĩ quan Lục quân II

Một là, có khả năng chuyển hoá nhận thức thành động cơ, thái độ học

tập đúng đắn, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa

Hai là, có tri thức toàn diện, cả tri thức cơ sở, cơ bản, chuyên ngành, có

khả năng phát hiện những vấn đề thực tiễn mới nẩy sinh trong quá trình họctập, rèn luyện và công tác

Trang 20

Ba là, có phương pháp tư duy độc lập, sáng tạo trong tiếp thu, lĩnh hội tri

thức khoa học và khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức vào giải quyếtnhững vấn đề lý luận, thực tiễn quân sự đặt ra

Bốn là, kết quả học tập và tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học

trong quá trình học tập là thước đo sự phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II Biểu hiệncủa sự phát triển đó là kết quả học tập của các môn học sau cao hơn môn họctrước, kỳ sau cao hơn kỳ trước Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa họccủa Nhà trường ngày càng nhiều hơn và có chất lượng cao hơn

1.1.2 Vai trò phát triển năng lực nghiên cứu khoa học đối với nâng cao chất lượng học tập rèn luyện của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II

Chất lượng học tập, rèn luyện của học viên là kết quả của quá trình giáodục, đào tạo; là sự phản ánh mức độ phấn đấu và kết quả đạt được của họcviên trong học tập, rèn luyện so với mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã được xácđịnh Đối với học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II, trên

cơ sở quán triệt Nghị quyết 93 của Đảng uỷ quân sự Trung ương; Nghị quyếtĐại hội Đảng bộ Trường sĩ quan Lục quân II khoá VIII đã chỉ rõ: "Đào tạođội ngũ sĩ quan có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng trên cơ sở lậptrường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, vớinhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; có tinh thầncảnh giác cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, có phẩm chất đạo đứctrong sáng, lối sống mẫu mực, có trình độ kiến thức lý luận chính trị, quân sự,nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đường lối, nghị quyết của Đảng, chấp hành nghiêm mệnh lệnh,chỉ thị của cấp trên, có hiểu biết về khoa học quân sự hiện đại và truyềnthống chiến đấu của dân tộc, của quân đội, có trình độ quản lý, chỉ huy, huấn

Trang 21

luyện bộ đội, quản lý vũ khí trang bị, kinh tế, tài chính, tài sản của đơn vị, cónăng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị "[6, tr 17]

Thực chất nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện của học viên đào taobậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II là quá trình phát triển ở người học

cả về trình độ tri thức, phẩm chất, đạo đức cách mạng, thế giới quan khoahọc, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa; cả năng lực chỉ huy, quản lý và tổchức thực hiện…; đáp ứng ngày càng tốt hơn mục tiêu, yêu cầu đào tạo Sựphát triển đó là kết quả tác động của nhiều yếu tố cả điều kiện khách quan

và nhân tố chủ quan Đặc biệt trước yêu cầu của quá trình học tập có tínhchất nghiên cứu, vai trò của nhân tố chủ quan trong đó có năng lực nghiêncứu khoa học của học viên hết sức quan trọng Vai trò của phát triển nănglực nghiên cứu khoa học đối với nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện củahọc viên được thể hiện trên các mặt cơ bản dưới đây

Thứ nhất, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học góp phần quan trọng,

nâng cao phương pháp tiếp thu, lĩnh hội tri thức và phát triên tri thức mới củahọc viên

Phương pháp tiếp thu, lĩnh hội tri thức là cách thức, con đường tiếp cận,lĩnh hội tri thức Có phương pháp tốt sẽ bảo đảm cho quá trình tiếp thu, lĩnhhội tri thức của học viên nhanh chóng và vững chắc, biến tri thức của thầy,của sách vở thành tri thức của bản thân mình

Với chất lượng "đầu vào" của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩquan Lục quân II hiện nay, việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học củahọc viên là một cơ sở quan trọng bảo đảm cho học viên xây dựng đượcphương pháp tiếp thu, lĩnh hội tri thức một cách khoa học, phù hợp, tích cực,chủ động, sáng tạo, khắc phục lối học thuộc lòng, rập khuôn, máy móc Trướcnhững vấn đề của nhận thức học viên không bị thụ động mà luôn tìm cách lậpluận lý giải một cách lôgíc chặt chẽ để nắm vững bản chất của vấn đề

Trang 22

Thực tiễn giảng dạy ở Trường sĩ quan Lục quân II cho thấy, những họcviên có năng lực nghiên cứu khoa học tốt, tham gia tích cực các hoạt độngnghiên cứu khoa học, tích cực tranh luận, trao đổi trong quá trình học tập, họthường xây dựng được cho mình phương pháp tiếp thu, lĩnh hội tri thức phùhợp với nội dung của các môn học, bảo đảm cho họ có khả năng nắm bắt trithức nhanh chóng và vững chắc Sau mỗi bài giảng của giảng viên, học viên

có khả năng khái quát được nội dung, xác định những vấn đề cần tập trungnghiên cứu, bổ sung trong quá trình tự học Trong quá trình nghiên cứu tàiliệu, họ có khả năng khái quát nắm vững thực chất vấn đề, có khả năng táihiện và vận dụng phù hợp vào giải quyết các vấn đề trong học tập cũng nhưcác hoạt động khác Đặc biệt những học viên có năng lực nghiên cứu khoahọc tốt thường trong các bài thi, kiểm tra hay trình bày một vấn đề nào đó, họluôn định hình được cách sắp xếp, trình bày thứ tự nội dung một cách lôgíc,chặt chẽ, mạch lạc, cân đối, xác định được vấn đề trọng tâm, trọng điểm,những vấn đề cần thiết phải đầu tư thích đáng để làm rõ, ít bị trùng lắp hoặc

bỏ sót nội dung trong quá trình diễn đạt tri thức của mình Đồng thời với nănglực nghiên cứu khoa học, học viên không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu, lĩnh hộitri thức được trang bị mà tiếp tục nghiên cứu phát triển tri thức mới, hiểu biếtmới, làm cho nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn Bảo đảm cho họ

có được một hệ thống tri thức "cơ bản, hệ thống, thống nhất chuyên sâu"

Thứ hai, phát triển năng lực nghiên cứu khoa hoc góp phần xây dựng thế

giới quan khoa học, nhân sinh quan quan cộng sản chủ nghĩa cho học viên Thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa là nhữngphẩm chất đặc biệt quan trọng của người học viên, người sĩ quan trong Quânđội nhân dân Việt Nam Những phẩm chất ấy được hình thành và phát triểnthông qua nhận thức và rèn luyện của mỗi người Tuy nhiên, không một sách

vở, tài liệu, bài giảng nào có thể trang bị hết tri thức cho học viên Trong khi

Trang 23

đó cuộc sống luôn luôn vận động và phát triển, mỗi học viên luôn chịu sự tácđộng đan xen của nhiều mối quan hệ, nhiều tình huống phức tạp Đặc biệttrong giai đoạn hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thếgiới và trong nước, trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá củacác thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, vì vậy bằng phương pháp tưduy khoa học, bằng sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo tri thức đã được trang bịvào xem xét từng trường hợp cụ thể, mới làm cho họ tự hiểu đúng bản chấtvấn đề, mới củng cố niềm tin vững chắc của họ vào Đảng, vào mục tiêu lýtưởng cách mạng, vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao

năng lực tổ chức thực tiễn, thực hiện các nhiệm vụ trong quá trình học tập, rènluyện của học viên

Tổ chức thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ là một tiêu chí quan trọngđánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học viên trong quá trình giáo dục, đàotạo ở Nhà trường Kết quả đạt được của tổ chức hoạt động thực tiễn, thực hiệnnhiệm vụ của học viên không chỉ phụ thuộc vào trình độ tri thức mà còn chịu

sự chi phối rất lớn bởi khả năng, cách thức, biện pháp tổ chức thực hiện của

họ Hay nói một cách khác, nó còn phụ thuộc vào khả năng bao quát côngviệc, khả năng xem xét, đánh giá đúng đắn những thuận lợi, khó khăn, xuhướng vận động phát triển của nhiệm vụ; trên cơ sở đó xác định yêu cầu, nộidung, biện pháp cụ thể trong quá trình tổ chức thực hiện Đặc biệt trong tổchức thực tiễn thực hiện nhiệm vụ thường nảy sinh những vấn đề mới, ngoài

dự kiến, trong những tình huống đó, kết quả thực hiện nhiệm vụ của học viênphụ thuộc chủ yếu vào khả năng phán đoán, khả năng sáng tạo của họ trongnghiên cứu, xem xét nắm vững bản chất vấn đề, xác định nhiệm vụ trọngtâm,, khâu đột phá và những giải pháp cụ thể trong tổ chức thực hiện

Trang 24

Như vậy, có thể nói: thực chất tổ chức thực tiễn thực hiện nhiệm vụtrong quá trình học tập là quá trình học viên vận dụng tri thức đã được lĩnh hội vào

tổ chức thực hiện các nhiệm vụ Năng lực tổ chức thực tiễn, kết quả thực hiện cácnhiệm vụ trong quá trình học tập của học viên phụ thuộc vào trình độ tri thức,phương pháp tư duy và khả năng vận dụng tri thức vào giải quyết từng nhiệm vụ

cụ thể Vì vậy phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên luôn là yếu tốquan trọng, nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, thực hiện các nhiệm vụ của họcviên trong quá trình giáo dục, đào tạo ở Nhà trường

Thứ tư, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học là một yếu tố quan

trọng, tạo thành động lực bên trong kích thích tính tích cực, chủ động sáng tạocủa học viên trong quá trình học tập rèn luyện Năng lực nghiên cứu khoa họccàng phát triển, khả năng sáng tạo của học viên được nâng lên, càng thôi thúc

họ say mê tìm tòi, khám phá tri thức mới, tranh thủ thời gian học tập, rènluyện phát triển, hoàn thiện phẩm chất, năng lực của mình

Bên cạnh những vai trò trên đây, phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II còn có vaitrò đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của người chỉ huy cấp phân đội binhchủng hợp thành

Học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II sẽ là nhữngngười chỉ huy cấp phân đội binh chủng hợp thành sau khi tốt nghiệp ratrường Đặc trưng cơ bản hoạt động của họ vừa là người chỉ huy, quản lý bộđội, quản lý cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị (cả trong biên chế và phối thuộc)vừa là người tổ chức giáo dục, huấn luyện, tổ chức chỉ huy chiến đấu và thựchiện các nhiệm vụ khác của đơn vị Những hoạt động đó đòi hỏi phải có trình

độ khoa học Người chỉ huy phải có năng lực nghiên cứu khoa học mới có thểnâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của mình Hiện nay, do sự phát triểnmạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại; do yêu cầu mới của

Trang 25

sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của quân đội; trước sự chống phá quyết liệtcủa chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đứng đầu là Mỹ; sự tác độngcủa mặt trái cơ chế thị trường, vì vậy, phát triển năng lực nghiên cứu khoa họccủa học viên càng có ý nghĩa quan trọng Nó là một trong những cơ sở đểngười chỉ huy cấp phân đội binh chủng hợp thành nâng cao chất lượng quản

lý, giáo dục bộ đội, quản lý và sử dụng vũ khí trang bị; nâng cao chất lượng tổchức huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu; kịp thời phát hiện và làm vôhiệu hoá âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, xây dựng đơn vị vững mạnhtoàn diện, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao

Như vậy, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đàotạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II là một vấn đề hết sức quantrọng Nó góp phần to lớn nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện của họcviên trong quá trình giáo dục, đào tạo ở Nhà trường cũng như của người chỉhuy cấp phân đội binh chủng hợp thành sau khi tốt nghiệp

1.2 Một số vấn đề có tính quy luật phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đạihọc ở Trường sĩ quan Lục quân II là một quá trình vận động, phát triển cácyếu tố bên trong của chính người học trên cơ sở sự tác động của điều kiệnkhách quan trong quá trình dạy học như: mục tiêu, yêu cầu, nội dung, chươngtrình, phương pháp giảng dạy của giảng viên, tổ chức quản lý giáo dục, đàotạo và điều kiện vật chất bảo đảm cho quá trình dạy học Người học - chủ thểcủa quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học phát huy nhân tố chủquan, tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo nâng cao hiệu quả tác động củanhững điều kiện khách quan vào quá trình phát triển năng lực nghiên cứukhoa học của mình Đó chính là quá trình tác động biện chứng giữa điều kiệnkhách quan và nhân tố chủ quan của quá trình phát triển năng lực nghiên cứu

Trang 26

khoa học của học viên Quá trình tác động đó tạo ra những mối quan hệ tấtyếu, ổn định, thường xuyên trong suốt quá trình giáo dục - đào tạo, ảnh hưởngtrực tiếp đến việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên.Trong

đó một số vấn đề có tính quy luật sau đây

1.2.1 Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II phụ thuộc vào chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên

Bản chất của quá trình dạy học "là quá trình nhận thức có tính chấtnghiên cứu của người học được tổ chức trong điều kiện sư phạm nhất địnhdưới sự chỉ đạo của người dạy"[9, tr 66] Đó là quá trình tác động biện chứnggiữa người dạy và người học nhằm để truyền thụ và lĩnh hội tri thức, trong đóngười học đóng vai trò lĩnh hội tri thức dưới sự truyền thụ, định hướng của ngườidạy ở bất cứ thời đại nào, ở bất cứ quốc gia nào và ở mọi cấp học người thầy luônđóng vai trò quan trọng trong việc truyền thụ tri thức cho người học

Trong truyền thống dân tộc ta, vai trò của người thầy luôn được đề cao

"Nhất tự vi sư, bán tự vi sư", "nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong nhữngnghề cao quý" Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII của Đảng đã khẳng định:

"Nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo"[4, tr 41] Tuynhiên, ở mỗi cấp học, bậc học khác nhau thì vai trò truyền thụ tri thức củangười thầy thông qua trực tiếp giảng dạy cũng khác nhau ở bậc học càng thấpthì vai trò truyền thụ tri thức trực tiếp càng lớn Song ở bậc học càng cao (caohọc, nghiên cứu sinh) thì vai trò người thầy lại chủ yếu truyền thụ tri thức vềphương pháp và định hướng nghiên cứu

ở Trường sĩ quan Lục quân II với đối tượng học viên đào tạo bậc đạihọc chủ yếu là thi tuyển từ học sinh phổ thông và quân nhân có thời gian tạingũ còn ít, trong khi đó nội dung huấn luyện chủ yếu là quân sự, chiếm 60%toàn bộ nội dung chương trình học tập Đây là những nội dung mới so với

Trang 27

đối tượng đào tạo Vì vậy việc lĩnh hội tri thức của người học chủ yếu thôngqua giảng dạy của người thầy (đội ngũ giảng viên) Do đó chất lượng giảng dạycủa đội ngũ giảng viên có ý nghĩa quyết định nhất đến nâng cao chất lượng giáodục, đào tạo của Nhà trường nói chung và phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II nói riêng.Chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên là tổng hợp của nhiều yếu

tố tác động biện chứng lẫn nhau Trong đó, bao gồm những yếu tố cơ bản là:nội dung giảng dạy của giảng viên, phương pháp giảng dạy của giảng viên,phương tiện dạy học và uy tín, phẩm chất, tính mô phạm của người thầy.Nội dung giảng dạy của giảng viên ở Trường sĩ quan Lục quân II là hệthống tri thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, khoa học quân

sự, khoa học tư duy, kỹ thuật, nghiệp vụ quân sự và những chuẩn mực giá trị,thái độ ứng xử đối với tự nhiên, đối với xã hội, đối với người khác và chínhbản thân mình, v.v

Phương pháp giảng dạy của giảng viên là cách thức, biện pháp thủ thuật

do giảng viên sử dụng để truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và tổchức điều khiển hoạt động nhận thức của học viên

Phương tiện dạy học là tập hợp những thiết bị kỹ thuật và phương tiện

mà giảng viên sử dụng trong quá trình giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quảtruyền thụ tri thức cho học viên

Ngoài những yếu tố cơ bản trên đây, chất lượng giảng dạy của giảng viêncòn được tạo bởi phẩm chất, uy tín, tính mô phạm của người thầy Đó lànhững giá trị xã hội, phản ánh phẩm chất đạo đức, năng lực hoạt động, lốisống, cách ứng xử và thái độ trách nhiệm của người thầy đối với công việc,đối với sự trưởng thành, tiến bộ của học viên

Chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên luôn là yếu tố quan trọng,trực tiếp tác động đến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên

Trang 28

đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II Sự tác động đó đến tất cảcác yếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Biểu hiện cụthể của những tác động đó là:

Thứ nhất, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên trực tiếp tác động

đến phát triển trình độ tri thức của học viên

Trình độ tri thức là một yếu tố cấu thành, đồng thời là cơ sở nền tảngcủa phát triển năng lực nghiên cứu khoa học Việc phát triển trình độ tri thứccủa học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II bằng nhiềucon đường khác nhau: thông qua giảng dạy của giảng viên, qua phương tiệnthông tin đại chúng, cùng với tự học, tự nghiên cứu tài liệu và hoạt độnggiao tiếp của học viên v.v Ngày nay, trước sự bùng nổ của cách mạng khoahọc và công nghệ học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân

II, có điều kiện để nhanh chóng làm giàu tri thức của mình bằng rất nhiềunhững kênh thông tin khác nhau

Tuy nhiên, ở mỗi lĩnh vực hoạt động luôn đòi hỏi mỗi người có độ trithức chuyên sâu về lĩnh vực hoạt động của mình Với đối tượng và mục tiêu,yêu cầu đào tạo của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân

II đòi hỏi phải có tri thức toàn diện, chuyên sâu về khoa học quân sự Đây làmột lĩnh vực mới mẻ so với đối tượng "đầu vào" của học viên Trong khi đó

do yêu cầu của hoạt động quân sự, nhiều nội dung học viên cần thiết phải lĩnhhội không được tuyên truyền rộng rãi trên báo chí và phương tiện thông tinđại chúng Đồng thời trong thời gian năm năm học ở trường, đòi hỏi học viênphải lĩnh hội một lượng tri thức rất lớn cả tri thức cơ sở, tri thức cơ bản, trithức chuyên ngành quân sự để đáp ứng với yêu cầu hoạt động quản lý, chỉhuy, lãnh đạo đơn vị cấp phân đội binh chủng hợp thành Do đó thời gian họccủa học viên chủ yếu ở giảng đường, thao trường, bãi tập; thời gian tự học, tựnghiên cứu không nhiều Chính vì vậy lượng tri thức học viên lĩnh hội trong

Trang 29

quá trình giáo dục, đào tạo ở Nhà trường chủ yếu thông qua hoạt động giảngdạy của giảng viên, vì vậy chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên có ýnghĩa quyết định đến phát triển trình độ tri thức của học viên.

Thứ hai, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên có vai trò to lớn

đối với phát triển phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo của học viên Nội dung giảng dạy của giảng viên không chỉ là những tri thức vềkhoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học quân sự màcòn có cả tri thức về khoa học tư duy, tri thức về phương pháp, cách tiếpcận lĩnh hội tri thức Đồng thời thông qua việc phân tích, lý giải, trình bàynhững vấn đề của nội dung giảng dạy của giảng viên, tác động trực tiếp vàocác giác quan của người học, hình thành cho họ phương pháp tư duy, cáchthức giải quyết một vấn đề khoa học cụ thể

Đặc biệt, thông qua các nội dung huấn luyện chiến thuật và thực hànhcông tác đảng, công tác chính trị, đặt học viên trước những tình huống cụ thể,đòi hỏi họ phải vận dụng tri thức, độc lập suy nghĩ và tìm cách giải quyết, qua

đó rèn luyện và phát triển ở học viên khả năng tư duy tổng hợp trong xem xét,đánh giá, phân tích sự vật, hiện tượng một cách toàn diện để nắm vững bảnchất vấn đề và đề xuất những giải pháp giải quyết phù hợp

Không chỉ tác động trực tiếp đến phát triển những yếu tố cấu thành nănglực nghiên cứu khoa học của học viên, chất lượng giảng dạy của đội ngũgiảng viên còn là một yếu tố thường xuyên tác động đến lòng say mê khoahọc, ham muốn hoạt động tìm tòi, sáng tạo của học viên, một phẩm chất quantrọng góp phần phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạobậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II Chính nội dung bài giảng, phươngpháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên và uy tín phẩm chất của người thầy lànhững chuẩn mực, tạo động lực bên trong cho học viên, thôi thúc họ khao

Trang 30

khát vươn lên chiếm lĩnh tri thức khoa học, thúc đẩy học viên tích cực họctập, rèn luyện để phát triển, hoàn thiện phẩm chất, năng lực của mình.

Có thể nói, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên có vai trò to lớn,tác động đến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậcđại học ở Trường sĩ quan Lục quân II Nó là cơ sở quan trọng phát triển khả năngtrình độ tri thức, phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo của học viên

Sự tác động của chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên đến pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ởTrường sĩ quan Lục quân II phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Trước hết là sự phụ thuộc vào chất lượng nội dung bài giảng của giảng

viên Chất lượng nội dung bài giảng của giảng viên là sự phản ánh hàm lượngkhoa học, độ sâu tri thức của người thầy cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên,chỉ có độ sâu tri thức chưa thể bảo đảm cho nội dung bài giảng có chất lượngcao mà còn đòi hỏi sự phù hợp giữa hàm lượng tri thức giảng viên truyền thụvới khả năng nhận thức của học viên và mục tiêu yêu cầu đào tạo Có thể mộtbài giảng có chất lượng cao, có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển tri thức củađối tượng này, nhưng với đối tượng khác chất lượng lại không cao và không

có ý nghĩa lớn Vì vậy sự phù hợp giữa độ sâu sắc tri thức của người thầy vớihàm lượng tri thức cần thiết truyền thụ cho học viên trên cơ sở khả năng nhậnthức của họ và mục tiêu yêu cầu đào tạo là khâu quan trọng nâng cao hiệu quảtác động của chất lượng giảng dạy của giảng viên đến phát triển tri thức, pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên

Hai là, sự tác động của chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên đến

phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên phụ thuộc vào khả năng

sử dụng phương pháp của giảng viên trong quá trình giảng dạy

Trong hoạt động giảng dạy, giảng viên có rất nhiều phương pháp đểtruyền tải tri thức đến học viên Tuy nhiên không có một phương pháp nào là

Trang 31

duy nhất và chung nhất cho mọi môn học, mọi bài giảng, mà trong giảng dạythường có sự kết hợp các phương pháp Cùng một nội dung bài giảng, mỗigiảng viên có thể sử dụng nhiềi phương pháp giảng dạy khác nhau Sử dụngphương pháp giảng dạy là nghệ thuật truyền tải tri thức của giảng viên Giảngviên có khả năng sử dụng phương pháp giảng dạy tốt được biểu hiện cụ thể ởcách thức trình bày nội dung bài giảng một cách lôgíc chặt chẽ, kết hợp nhuầnnhuyễn giữa lý luận với thực tiễn, nội dung với phương pháp, phương tiện,thu hút được sự tập trung chú ý của học viên vào quá trình giảng dạy củamình, bảo đảm cho học viên tiếp thu, lĩnh hội tri thức nhanh chóng và vữngchắc.

Thực tiễn giảng dạy ở Trường sĩ quan Lục quân II cho thấy những giảngviên có phẩm chất, uy tín cao, có sự am hiểu sâu sắc về tri thức lý luận và thựctiễn của nội dung giảng dạy, có phương pháp giảng dạy tốt, không nhữngtruyền thụ tối ưu tri thức cho học viên mà còn phát triển nhanh ở học viên khảnăng về phương pháp, tạo niềm tin, kích thích lòng say mê nhiệt tình, sáng tạocủa học viên trong học tập và hoạt động thực tiễn nghiên cứu khoa học

Nội dung, phương pháp giảng dạy của giảng viên, phương tiện dạy học

và phẩm chất, uy tín của người thầy là những yếu tố cơ bản cấu thành chấtlượng giảng dạy của giảng viên Các yếu tố đó có mối quan hệ biện chứng tácđộng qua lại lẫn nhau và thường xuyên tác động đến phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên Sự tác động đó diễn ra đối với tất cả cácmôn học, các giai đoạn và lặp đi lặp lại trong suốt quá trình giáo dục, đào tạocủa Nhà trường Vì vậy để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II đòi hỏi tất yếu phải coitrọng nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên

Trang 32

1.2.2 Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II phụ thuộc vào điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Nhà trường

Sự tồn tại và phát triển của con người luôn diễn ra trong những điềukiện, môi trường cụ thể, đó là sự tổng hoà các điều kiện tự nhiên, xã hội baoquanh và thường xuyên tác động, chi phối đến quá trình hình thành và pháttriển của con người Với tư cách đó con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩmcủa điều kiện, môi trường do họ tạo ra Chính hoạt động của con người tạo rađiều kiện, môi trường cho sự tồn tại và phát triển của họ, đồng thời đến lượt

nó, điều kiện, môi trường tác động trở lại quy định sự phát triển của conngười Điều kiện môi trường là sự phản ánh khả năng, năng lực của con ngườitrong nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới khách quan Con ngườicàng tạo ra điều kiện, môi trường thuận lợi bao nhiêu thì càng thúc đẩy sựphát triển năng lực của họ bấy nhiêu Sự phát triển năng lực con người luônchịu sự tác động tổng hợp của các yếu tố tạo nên điều kiện, môi trường Tuynhiên ở mỗi lĩnh vực hoạt động cụ thể, ở mỗi dạng năng lực cụ thể của conngười chịu sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất bởi điều kiện, môi trường ởlĩnh vực đó Vì vậy phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đàotạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II phụ thuộc rất lớn vào điều kiện,môi trường nghiên cứu khoa học của Nhà trường

Điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Trường sĩ quan Lụcquân II là tổng thể những cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động của Nhà trườngliên quan trực tiếp đến hoạt động nghiên cứu khoa học Nó là một tổng thểbao gồm nhiều yếu tố, trong đó nổi lên những yếu tố cơ bản là: hoạt độnglãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chỉ huy các cấp đới với nghiên cứu khoa học;hoạt động của cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo, cơ quan khoa học; hoạt độnggiảng dạy của đội ngũ giảng viên; cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ cho hoạt

Trang 33

động nghiên cứu khoa học và thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học củaNhà trường Sự tác động biện chứng của các yếu tố cơ bản trên đây tạo rađiều kiện môi, trường phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viênđào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II Những yếu tố đó thườngxuyên, trực tiếp tác động đến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên Nó vừa tạo ra điều kiện, vừa tạo ra động lực kích thích học viên tích cựctham gia hoạt động phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của mình Điềukiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Nhà trường tốt hay chưa tốt, thuậnlợi hay không thuận lợi ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng, mức độ phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên Điều kiện, môi trường thuận lợi

là cơ sở để năng lực nghiên cứu khoa học của học viên nhanh chóng đượchình thành và phát triển, và ngược lại điều kiện, môi trường không thuận lợi,thiếu đồng bộ giữa các yếu tố cấu thành sẽ ảnh hưởng xấu, hạn chế quá trìnhphát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên

Điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Trường sĩ quan Lụcquân II là một thể thống nhất; các yếu tố tạo nên điều kiện, môi trường luôntác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau trong quá trình tác động đến pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Tuy nhiên mỗi yếu tố có vịtrí vai trò và cách thức tác động cụ thể của nó

Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chỉ huy các cấp ở Trường sĩquan Lục quân II đối với hoạt động nghiên cứu khoa học là một yếu tố cấuthành đồng thời là yếu tố quan trọng nhất, bao trùm, chi phối sự tác động củađiều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Nhà trường đến phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên Hoạt động đó nhằm xác địnhmục tiêu, phương hướng, yêu cầu, nội dung, biện pháp phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên Nó bảo đảm sự thống nhất nhận thức, pháthuy trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi lực lượng tham gia vào các hoạt động

Trang 34

phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của người học; định hướng xây dựng

cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình phát triển đó Trên cơ sở lãnh đạo củacác cấp uỷ đảng, người chỉ huy các cấp cụ thể hoá mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ

đó bằng các kế hoạch, chỉ thị, mệnh lệnh và tổ chức thực hiện Đây là mộthoạt động hết sức quan trọng trực tiếp phát huy, phát triển điều kiện, môitrường nghiên cứu khoa học ở đơn vị và tổ chức giáo dục, rèn luyện phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên Chính hoạt động của người chỉhuy góp phần quan trọng phát triển trình độ tri thức, phương pháp tư duy vàkhả năng sáng tạo của học viên thông qua giáo dục và tổ chức các hoạt độngthực tiễn, thực hiện nhiệm vụ cụ thể trong quá trình giáo dục, đào tạo

Hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viên của Nhà trường là một yếu

tố cơ bản của điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học, trực tiếp tác độngđến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên

Hoạt động của cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo, cơ quan khoa học củaNhà trường là một yếu tố quan trọng thường xuyên tác động đến phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên Sự tác động của nó được thể hiệnthông qua việc bố trí sắp xếp nội dung, chương trình, thời gian giáo dục, huấnluyện của các môn học, bài học Sự phù hợp của thời gian, tính lôgíc củachương trình là cơ sở để học viên tiếp thu, lĩnh hội tri thức một cách cơ bản,

hệ thống, thống nhất, chuyên sâu (trong đó có cả tri thức về phương pháp).Đồng thời thông qua việc xây dựng kế hoạch và tổ chức cho học viên thamgia các hoạt động nghiên cứu khoa học của Nhà trường tác động toàn diệnđến phát triển các yếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên Là cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo, quản lý hoạt động nghiên cứukhoa học của Nhà trường, đồng thời là cơ quan tham mưu cho Đảng uỷ, BanGiám hiệu về giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, họ có điều kiện đểnắm vững chất lượng và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục, đào

Trang 35

tạo và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên theo mục tiêu yêucầu đào tạo.

Một yếu tố quan trọng của điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa họccủa Nhà trường là cơ sở vật chất, hệ thống tài liệu, mô hình học cụ, phục vụcho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học Đây là yếu tố có ảnh hưởnglớn đến chất lượng giáo dục, đào tạo và phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên Nó là điều kiện để học viên lĩnh hội, phát triển, mở rộng trithức và tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học

Bên cạnh những yếu tố cơ bản trên đây, điều kiện, môi trường nghiêncứu khoa học của Trường sĩ quan Lục quân II còn được tạo bởi chính hoạtđộng nghiên cứu khoa học của Nhà trường, một hoạt động có ý nghĩa thiếtthực đối với việc rèn luyện, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên

Hoạt động nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ quan trọng của cáctrường đại học nói chung, Trường sĩ quan Lục quân II nói riêng Đây là mộthoạt động thực tiễn tác động đến ý thức trách nhiệm của học viên đối với hoạtđộng nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học, đồngthời nó góp phần quan trọng trực tiếp phát triển khả năng trình độ tri thức,phương pháp tư duy và khả năng vận dụng sáng tạo của học viên Khả nănghuy động sự tham gia đông đảo của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên vàohoạt động nghiên cứu khoa học, với những đề tài thiết thực, cụ thể sẽ tạo rađộng lực kích thích tính tích cực, tự giác của học viên trong phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học, khắc phục tư tưởng tự ti khá phổ biến trong học viên hiệnnay, cho rằng: mình quá nhỏ bé, việc nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ của cácgiảng viên, các nhà khoa học, các bậc học cao hơn

Kết quả đạt được của học viên trong tham gia hoạt động nghiên cứu khoahọc vừa là một tiêu chí đánh giá sự phát triển năng lực nghiên cứu khoa học

Trang 36

của họ, đồng thời qua đó các lực lượng tham gia vào quá trình phát triển nănglực nghiên cứu khoa học của học viên thấy được những mặt mạnh, những điểmcòn hạn chế trong quá trình giáo dục, đào tạo, từ đó xây dựng những giải phápđúng đắn phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên.

Điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Trường sĩ quan Lụcquân II là tổng thể những điều kiện cơ sở vật chất và công tác tổ chức hoạtđộng của các thành viên trong Nhà trường liên quan đến nghiên cứu khoa học,

đó là kết quả đầu tư của Nhà nước, của Quân đội và quá trình xây dựng củađội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên của Nhà trường Các yếu tố cấu thànhđiều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Trường sĩ quan Lục quân II làmột thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng và thường xuyên tác dộng đếnquá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Mức độ thuậnlợi của điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Nhà trường ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên

Vì vậy phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đòi hỏi phải xâydựng và phát triển đồng bộ các yếu tố tạo nên điều kiện, môi trường nghiêncứu khoa học của Nhà trường

1.2.3 Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của chính người học

Nhân tố chủ quan của học viên trong phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc là toàn bộ ý thức, ý chí và năng lực tổ chức các hoạt động của học viên trong phát triển năng lực nghiên cứu khoa học Nó được biểu hiện cụ thể ở trình

độ tri thức đã được lĩnh hội, động cơ, thái độ, ý thức trách nhiệm của học viêntrong quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức mới, nâng cao phương pháp tư duy và khảnăng sáng tạo Đồng thời nó còn được biểu hiện ở khả năng tổ chức các hoạt độngcủa học viên trong tự phát triển năng lực nghiên cứu khoa học

Trang 37

Nhân tố chủ quan của học viên trong phát triển năng lực nghiên cứukhoa học có vai trò to lớn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tác động của điềukiện khách quan vào phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên.

Có thể nói dưới tác động của điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học củaNhà trường đối với tất cả học viên thì mức độ phát triển năng lực nghiên cứukhoa học của mỗi học viên phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của chính bảnthân họ C Mác viết: "Phát triển phong phú bản chất con người coi như làmột mục đích tự thân"[16, tr 52] Khi nói về nhân tố chủ quan của con người,

V I Lênin viết: "Khái niệm (= con người) với tư cách là cái chủ quan làkhuynh hướng tự mình thực hiện mình, tự cho mình, qua bản thân mình, mộttính khách quan trong thế giới khách quan và tự hoàn thành (tự thực hiện)mình"[12, tr 228]

Người nào có sự nỗ lực chủ quan lớn thì năng lực nghiên cứu khoa họccủa họ phát triển nhanh và ngược lại nếu thiếu sự nỗ lực cố gắng thì mức độphát triển ấy sẽ hạn chế Với ý nghĩa đó có thể coi sự phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên là một quá trình học viên tự phát triển nănglực nghiên cứu khoa học của mình

Sự tác động của nhân tố chủ quan đến phát triển năng lực nghiên cứukhoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Lục quân II đượcbiểu hiện trên các mặt cơ bản sau

Nhân tố chủ quan của học viên trực tiếp tác động đến quá trình tiếp thu,lĩnh hội tri thức của họ trong quá trình giáo dục, đào tạo ở Nhà trường

Khả năng tiếp thu lĩnh hội tri thức của học viên không chỉ phụ thuộc vàođiều kiện khách quan như chất lượng giảng dạy của giảng viên, chất lượng tàiliệu, điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Nhà trường mà cònphụ thuộc rất lớn vào nhân tố chủ quan của chính người học

Trang 38

Trong quá trình học tập, lượng thông tin truyền tải đến học viên rất lớn, thôngqua rất nhiều kênh khác nhau, tuy nhiên mức độ lĩnh hội của họ đến đâu, khảnăng chắt lọc lựa chọn và biến những thông tin đó thành tri thức của họcviên đến đâu, phụ thuộc rất lớn vào chính bản thân họ Trình độ tri thức vốn

có của mỗi học viên, động cơ, thái độ, ý thức trách nhiệm và phương phápcủa học viên trong quá trình học tập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếpthu, lĩnh hội và phát triển tri thức của họ

Dưới sự tác động của điều kiện khách quan trong quá trình giáo dục, đàotạo ở Nhà trường với sự nỗ lực chủ quan, học viên mới có thể có được một hệthống tri thức cơ bản, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu; ngược lại, nếu thiếu

sự cố gắng hoặc cố gắng không thường xuyên thì tri thức của họ sẽ khôngvững chắc và thiếu tính hệ thống

Đặc biệt trong phát triển phương pháp tư duy và vận dụng tri thức vàogiải quyết vấn đề thực tiên của học viên, vai trò của nhân tố chủ quan đượcbiểu hiện một cách rõ nét

Trên cơ sở nền tảng tri thức đã được lĩnh hội, khả năng phương pháp tưduy và vận dụng sáng tạo của học viên phụ thuộc vào chính quá trình hoạtđộng rèn luyện của họ ý thức trách nhiệm của học viên đối với công việc,mức độ đào sâu suy nghĩ trong nghiên cứu cũng như trong hoạt động, ý chí quyếttâm, lòng say mê, nhiệt tình trong thực hiện nhiệm vụ là cơ sở để phát triển khảnăng phương pháp tư duy và khả năng vận dụng sáng tạo của học viên

Một học viên có ý thức trách nhiệm cao đối với công việc, đối với nhiệm vụluôn đặt ra nhu cầu đi sâu phân tích, tìm hiểu nắm vững bản chất vấn đề, khắcphục khó khăn tìm ra những giải pháp tốt để thực hiện Chính quá trình đó rènluyện và phát triển ở họ khả năng phương pháp tư duy khoa học, khả năng vậndụng sáng tạo tri thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra Không có ý thứctrách nhiệm cao đối với công việc, không có lòng say mê khoa học sẽ không có sự

Trang 39

sáng tạo trong hoạt động thực tiễn V I Lênin đã chỉ rõ: "Không có ((sự cảm xúc

của con người)) thì xưa nay không có và không thể có sự tìm tòi chân lý"[ 14, tr.

131]

Bản thân tư chất thông minh bẩm sinh của mỗi học viên là tố chất đặc biệtvốn có của bộ óc; là sản phẩm của tạo hoá "ban cho" mỗi người khác nhau, thìviệc khơi dậy và phát huy những tố chất tiềm năng ấy lại phụ thuộc vào sự nỗ lựccủa mỗi học viên Khoa học đã chỉ ra rằng trong đời sống của mỗi con người chỉhuy động được rất ít, khoảng 2% đến 10% trong tổng số khoảng 14 tỷ nơronthần kinh tham gia vào hoạt động, số còn lại nằm dưới dạng tiềm năng Vì vậyngười nào có ý thức tự giác cao, tích cực hoạt động, học tập nhiều, rèn luyệnnhiều thì khả năng huy động lượng nơron thần kinh tham gia vào hoạt độngcàng lớn, tố chất, tiềm năng của họ sớm được khơi dậy và phát triển thànhnăng lực hiện hữu

Nhân tố chủ quan có vai trò to lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tácđộng của điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Nhà trường vào quátrình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đạihọc ở Trường sĩ quan Lục quân II Tuy nhiên mức độ tác động ấy phụ thuộcvào nhiều yếu tố, trong đó có cả những yếu tố cấu thành nhân tố chủ quan và

cả mức độ thuận lợi của điều kiện khách quan, trước hết là điều kiện, môitrường nghiên cứu khoa học của Nhà trường

Trình độ tri thức, năng lực tổ chức các hoạt động rèn luyện, phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên vừa là yếu tố cấu thành năng lựcnghiên cứu khoa học vừa là nội dung quan trọng của nhân tố chủ quan trongphát triển năng lực nghiên cứu khoa học cuả học viên

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học là quá trình vận động, phát triển

từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; sự phát triển của giai đoạnsau luôn kế thừa và phát triển kết quả đạt được của giai đoạn trước Chính vì

Trang 40

vậy những tri thức hiểu biết học viên đã được lĩnh hội, những kinh nghiệmtrong quá trình hoạt động thực tiễn, cũng như phương pháp tổ chức các hoạtđộng học tập và nghiên cứu khoa học có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việctiếp thu, lĩnh hội tri thức mới và phát triển khả năng phương pháp tư duy, khảnăng vận dụng sáng tạo của họ Thực tiễn giáo dục, đào tạo ở Trường sĩ quanLục quân II cho thấy: những học viên có tri thức vững chắc ở các cấp họctrước đó, có thực tiễn hoạt động phong phú, có phương pháp tổ chức sắp xếpcác hoạt động hợp lý, họ luôn tích cực chủ động trong tiếp thu lĩnh hội tri thức

và có khả năng phát triển nhanh năng lực nghiên cứu khoa học của mình.Ngược lại, những học viên "bị hổng" kiến thức, tổ chức sắp xếp các hoạt độngthiếu khoa học, không những gặp khó khăn trong tiếp thu lĩnh hội tri thức màcòn dễ dẫn đến tư tưởng ngại học, ngại nghiên cứu, thiếu say mê, nhiệt tìnhtrong học tập, rèn luyện; hiệu quả phát triển năng lực nghiên cứu khoa họccủa họ không cao

Động cơ, thái độ của học viên đối với phát triển năng lực nghiên cứukhoa học của mình là một yếu tố cơ bản trong nhân tố chủ quan Đó là hệthống nhu cầu, mục đích của học viên, là kết quả tác động biện chứng giữaphẩm chất chính trị, đạo đức của học viên với nhận thức của họ về mục tiêu,yêu cầu đào tạo, về nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội, về nghĩa vụ,trách nhiệm bản thân, về vị trí vai trò của phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc với việc hoàn thành nhiệm vụ của chính bản thân mình

Động cơ, thái độ của học viên đối với hoạt động nghiên cứu khoa họcvàphát triển năng lực nghiên cứu khoa học là nền tảng, là nguyên nhân trực tiếphình thành tính tích cực tự giác của học viên, là nguồn động lực bên trong củaquá trình tiếp thu, lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực tư duy và khả năngsáng tạo của họ Có động cơ, thái độ đúng đắn sẽ hình thành ở học viên ý thứctrách nhiệm cao trong học tập, rèn luyện phát triển năng lực nghiên cứu khoa

Ngày đăng: 15/05/2021, 17:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w