Chuyên đề thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực quản trị và điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần việt nam hiện nay luận văn, đồ án, đề tài tốt nghiệp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự đổi mới toàn diện nền kinh tế ở mọi lĩnh vực bắt đầu từ Đại hộiĐảng lần thứ VI, Loại hình Ngân hàng Thương mại cổ phần ở nước ta đã đượchình thành và phát triển Sự ra đời các Ngân hàng Thương mại cổ phần là nhân tốthúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấpsang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý vĩ môcủa nhà nước Tuy nhiên, sau một thời gian đi vào hoạt động, loại hình Ngân hàngThương mại cổ phần đã và đang bộc lộ nhiều bất cập về quản trị và điều hành vàchứa đựng nhiều rủi 1*0 tiềm ẩn
Để lành mạnh hoá thị trường tài chính, tiền tệ và hoạt động hệ thống Ngânhàng, việc tăng cường chấn chỉnh công tác quản trị và điều hành ở các Ngân hàngThương mại cổ phần đang là một yêu cầu bức xúc nhằm từng bước tăng cườngtĩnh hiệu quả trong quản trị và điều hành của loại hình Ngân hàng Thương mạinày Do vậy, việc chọn đề tài về các giải pháp nâng cao năne lực quản trị và điềuhành đối với loại hình Ngân hàng Thương mại cổ phần hy vọng sẽ góp phần vàoviệc thực hiện chương trình lành mạnh hoá hoạt động của hệ thống Ngân hàngThương mại Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là trên cơ sở những lý luận và thực tiễn
về quản trị, điều hành và những đặc trưng của các Ngân hàng Thương mại cổ phần
ở Việt Nam để đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao năn 2 lực quản trị và điều hànhcủa các Neân hàng Thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là trên cơ sở những lý luận và thực tiễn
về quản trị, điều hành và những đặc trưng của các Ngân hàng Thương mại cổ phần
ở Việt Nam để đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản trị và điều hànhcủa các Ngân hàng Thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay
Kết cấu và bỏ cuc của chuyên để:
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Trang 2Chương ĩ: Cơ sở pháp lý về quản trị và điều hành Ngân hàng Thương mại cổ phần.
Chương II: Thực trạng về quản trị và điều hành ở các Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao năng lực quản trị và điều hành của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay
.CHƯƠNG I: Cơ SỞ PHÁP LÝ VÀ ĐIỂU HÀNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN.
1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của loại hình Ngân hàng Thương mại
hệ thống Ngân hàng Thương mại cổ phần và do vậy, các Neân hàng Thương mại
là bộ phận quan trọng nhất trong số những trung gian tài chính Với hoạt động tàichính trung gian, các Ngân hàng Thương mại thực sự là "cầu nối" giữa nhữngngười có tiền nhưng vì lý do nào đó mà họ không (hoặc chưa) thể sử dụng tiền củamình và hoạt động sinh lợi đến những người có khả năng làm được điều đó nhưnglại đang thiếu tiền và nó đã góp phần giải quyết căn bản mâu thuẫn về cung - cầutiền tệ xuất hiện trong quá trình chu chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanhhàng hoá và dịch vụ phát triển
1.1.2 Ngán hàng Thương mại cổ phần - một loại hình Công ty cố phần, hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng.
Trang 3Hoạt động của các Neân hàng thương mại nói chun2 và Neân hàng Thươngmại cổ phần nói riêng là vì mục tiêu lợi nhuận Các Ngân hàng Thương mại cổphần thực hiện việc tập trung vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để đưa đến cho cácdoanh nghiệp, công chúng có nhu cầu vốn sử dụng không phải là "hành động hảotâm" mà chính là để phục vụ mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cho họ Trong hoạt độnghuy động vốn, các Ngân hàng
Thương mại phải trả cho người gửi tiền một khoản tiền, theo lãi suất nhất định,ngược lại, trong hoạt động cho vay vốn, các Ngân hàng Thương mại lại nhận được
từ người vay tiền một khoản tiền với mức lãi suất cao hơn lãi suát mà họ trả choneười eửi tiền Tương tự, các hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng (nhưdịch vụ thanh toán, ngân quỹ, bảo quản vật có giá ) cũng đem lại thu nhập choNgân hàng, do khách hàng phải trả một khoản phí sử dụng các dịch vụ đó
Trone Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính đượcNhà nước ban hành tháng 5/1990 cũng như quy định tại Nehị định số 49/2000/NĐ
- CP của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của các Ngân hàng Thương mại (vănbản hướng dẫn thi hành Luật các Tổ chức tín dụng ban hành tháng 12/1997) cũngquy định Ngân hàng thương mại cổ phần là Ngân hàng Thương mại được thànhlập dưới hình thức Công ty cổ phần, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chức khôngđược sỏ’ hữu số cổ phần của Ngân hàng quá tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước quyđịnh Đây cũng là quy định mang tính chất phổ biến trên thế giới, điều khác biệttheo quy định của Việt Nam so với các nước là theo Luật các Tổ chức tín dụng thìNgân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam là Ngân hàng Thương mại cổ phầncủa nhà nước và nhân dân Trong các cổ đông thành lập Ngân hàng cổ phần nhấtthiết phải có sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước hoặc tổ chức tín dụng nhànước ( điều này trước đây trong Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công
ty tài chính khôns quy định)
Trang 4Tóm lại, Ngân hàng Thương mại cổ phần là một loại hình định chế trung giantài chính, hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng, vì mụctiêu lợi nhuận, với hình thức Công ty cổ phần.
1.2 Quản trị điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.
1.2.1 Tổ chức bộ máy quản trị và điều hành trong Ngân hàng Thưong mại cố phần.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị và điều hành trong loại hình Ngân hàngThương mại cổ phần bao gồm các cơ quan: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quảntrị, Ban kiểm soát và Tổng giám đốc (Giám đốc) Đât là mô hình có tính chất phổbiến của tất cả các nước Tuy nhiên, về các quy định cụ thể thì từng nước có nhữngquy định khác nhau nhất định, tuỳ theo hệ thống pháp luật, cách thức và mục tiêuquản lý của các nước Trong phạm vi đề tài này, chỉ đề cập đến những vấn đề cơbản, có tính chất pháp lý theo quy định của Việt Nam
1.2.1.1 Đại hội đồng cổ đông.
Đaị hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của Ngân hàng Thươnsmại cổ phần, gồm:
* Đại hội đồne thành lập (đại hội cổ đông đầu tiên): được triệu tập để tiếnhành các thủ tục thành lập, thảo luận và thông qua điều lệ của Neân hàng, bầu Hộiđồng quản trị, ban kiểm soát
* Đại hội đồng thường niên hoặc đại hội đồng cổ đông bất thường:
Được triệu tập vào cuối mỗi năm tài chính hoặc bất kỳ lúc nào mà Hộiđồng quản trị hoặc Ban kiểm soát thấy cần thiết, để giải quyết công việc thuộc hoạtđộng kinh doanh của Ngân hàng trong khuôn khổ điều lệ của ngân hàng Theo quyđịnh của Việt Nam, Đại hội đồng cổ đông giải quyết các công việc:
- Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Ngân hàng;
- Thảo luận và thông qua báo cáo hoạt động của Hội đồng quản trị, kết quảkinh doanh, quyết toán tài chính, phương án phân phối lợi nhuận, chia lợi tức cổ
Trang 5phần và trích lập, sử dụng các quỹ theo đề nghị của Hội đồng quản trị; phươnghướng, nhiệm vụ của năm tài chính mới;
- Thảo luận và thông qua báo cáo hoạt động của Ban kiểm soát;
- Chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáne lập trong ba năm đầu
kể từ ngày Neân hàng được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Những thay đổi về tên gọi, mức vốn điều lệ, nội dung, phạm vi và thời gianhoạt động của tổ chức tín dụng; tỷ lệ cổ phần của các cổ đông lớn Tuy nhiên,những vấn đề này phải trình Thống đôc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
- Quyết định giải pháp khắc phục các biến động lớn về tài chính của Ngânhàng;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Bankiểm soát
- Xem xét sai phạm và quyết định hình thức xử lý đối với thành viên Hộiđồng quản trị gây thiệt hại cho Ngân hàng và các cổ đông
ĩ 2.1.2 Hội đồng quản trị.
Quản trị hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần là Hội đồng quản trị.Hội đồng quản trị không trực tiếp liên hệ với các hoạt động hàng ngày của Ngânhàng, vì đã uỷ quyền việc điều hành hoạt động của Ngân hàng cho Tổng Giám đốc(Giám đốc), Nhưng Hội đồng quản trị có trách nhiệm cuối cùng đối với sự thànhcông trong hoạt động của Neân hàne
Trang 6* Các tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị.
Các nước đều có các quy định về tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trịcác Ngân hàng thương mại cổ phần, và nhìn chung các tiêu chí quyd định của cácnước là tương đối thống nhất, chẳng hạn, các thành viên Hội đồng quản trị phải là
cổ đông của Ngân hàng hoặc đại diện hợp pháp của pháp nhân là cổ đông, các quyđịnh về số lượng thành viên Hội đồng quản trị, thời hạn nhiệm kỳ của Hội đồngquản trị Tuy nhiên, các quy định cụ thể thì mỗi nước có những quy định khácnhau
Theo quy định của Việt Nam, thành viên Hội đồng quản trị phải là nhữngngười có uy tín, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết về hoạt động Ngân hàng (trònhữne neười đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về các tội nghiêmtrọng xâm phạm an ninh quốc eia, các tội nghiêm trọng xâm phạm sở hữu xã hộichủ nghĩa, sở hữu công dân, các tội nehiêm trọng về kinh tế; đã kết án về các tộiphạm khác mà chưa được xoá án; đã từng là thành viên Hội đồng quản trị hoặcTổng giám đốc, giám đốc của một Công ty đã bị phá sản, trừ các trrường hợp quyđịnh tại khoản 2 Điều 50 Luật phá sản doanh nghiệp; đã từng là đại diện theo phápluật của một Công ty bị đình chỉ hoạt động do vi phạm pháp luật nghiêm trọng).Hội đồng quản trị có số thành viên tối thiểu là 3 người và không vượt quán
11 người, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị từ 2 đến 5 năm Số lượngthành viên Hội đồng quản trị, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị do Đạihội đồng cổ đông quyết định
Hội đồng quản trị do Đại hoịo đồng cổ đông bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm.Hội đồng quản trị có Chủ tịch và các thành viên khác, Chủ tịch Hội đồng quản trị
do Hội đồng quản trị bầu, miễn nhiệm, bãi nhiễm Việc bầu, miễn nhiệm, bãinhiệm Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị phải được Thống đốc Ngânhàng Nhà nước chuẩn y, trừ trường hợp do Thủ tướng chính phủ bổ nhiệm
* Về nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng quản trị:
Trang 7Hội đồng quản trị có quyền hạn đáng kể trong quá trình thực hiện nhiệm vụcủa họ Trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại họi đồng cổ đông, hội đồngquản trị là cơ quan quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi, việcthiết lập các chính sách của Ngân hàng, lựa chọn người điều hành, quản lý Ngânhàng Tuy nhiên, Hội đồng quản trị cũng phải chịu trách nhiệm trước Đại hộiđồng cổ đông và kết quả cũng như những sai phạm trong quản trị hoạt động Ngânhàng; những vi phạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho Ngân hàng.Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, Hội đồng quản trịcủa Ngân hàng Thương mại cổ phần có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Trình Đại hội đồng cổ đôns quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của
Đại hội đồng cổ đông như đã nêu tại điểm Ỉ 2 A A
- Trình Thống đốc Neân hàne Nhà nước các vấn đề:
+ Chuẩn y sửa đổi, bổ sung điều lệ Ngân hàng; việc bầu, bổ nhiệm, miễnnhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch và các thành viên khác trong Hội đồng quản trị; Tnrởngban và các thành viên khác trong Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc);+ Chấp thuận việc thành lập Công ty trực thuộc; mở sổ giao dịch, chi nhánh,văn phòng đại diện, thành lập đơn vị sự nghiệp của Ngân hàng; việc góp vốn, mua
cổ phần, liên doanh với các chủ đầu tư nước ngoài; việc chia, tách, hợp nhất, sápnhập, mua lại, giải thể Ngân hàng và sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện,Công ty trực thuộc, đơn vị sự nghiệp của Ngân hàng; những thay đổi về tên gọi,mức vốn điều lệ; nội dung, phạm vi và thời gian hoạt động của tổ chức tín dụng; tỷ
lệ cổ phần của các cổ đông lớn; phát hành cổ phiếu mới; tổ chức kiểm toán độc lập
để kiểm toán các hoạt động của Ngân hàng
- Ọuyết định cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành sở giao dịch, chi nhánh, vănphòns đại diện, đơn vị sự nghiệp và Công ty trực thuộc của Ngân hàng
- Phê duyệt phươns án hoạt động kinh doanh do Tổng giám đốc (Giám đốc)
đề nshị
Trang 8- Ọuy định về lãi suất, tỷ giá, tỷ lệ hoa hồng, phí, mức tiền phạt đối vớikhách hàng theo quy định của pháp luật.
- Trích lập và sử dụng các quỹ, chia lợi tức cổ phần theo nghị quyế của Đạihội đồng cổ đông
- Bổ nhiệm, miễn nhiện, bãi nhiệm Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổnggiám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng Ngân hàng; Giám đốc sở giao dịch, chinhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp Quyết định tiền lương, tiền thưởngcho Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) Xem xét saiphạm của Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) gâythiệt hại cho Ngân hàng mình và thực hiện các biện pháp cần thiế để khắc phục
- Quy định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lýngoài các chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giámđốc), Kế toán trưởng Ngân hàng; Giám đốc sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đạidiện, đơn vị sự nghiệp và ghi vào Điều lệ Ngân hàng
- Ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; quyđịnh về tổ chứ và hoạt độne kiểm tra và kiểm toán nội bọ theo quy định của phápluật; quy chế hoạt động của sỏ’ giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sựnghiệp, Công ty trực thuộc, các văn bản hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các quyđịnh của Nhà nước và của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động Ngân hàng
1.2.1.3 Ban kiểm soát
* Các quy định về thành viên Ban kiểm soát
Ban kiểm soát của Ngân hàne Thương mại cổ phần do Đại hội đồng cổ đôngbầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Ban kiểm soát có Trưởng ban và các thành viên khác,Trưởng ban do Ban kiểm soát bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Việc bầu, miễn nhiệm,bãi nhiệm Tnrởns ban và các thành viên Ban kiểm soát phải được Thống đốc Neânhàne Nhà nước chuẩn y
Số lượng thành viên Ban kiểm soát tối thiểu là 3 người và ít nhất có một nửa
số thành viên là chuyên trách Thành viên Ban kiểm soát phải là những người có
Trang 9trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp theo quy định của Ngân hàng Nhànước (phải am hiểu nghiệp vụ Ngân hàng và ít nhất phải có một kiểm soát viên cóchuyên môn về kế toán Ngân hàng; Trưởng ban Kiểm soát phải là cổ đông) Sốlượng thành viên Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông quyết định Nhiệm kỳcủa Ban kiểm soát có cùng nhiệm kỳ với Hội đồng quản trị.
Các đối tượng không được tham gia Hội đồng quản trị như đã nêu tại điểm1.2.1.2 cũng không được là thành viên Ban kiểm soát của tổ chứ tín dụng Ngoài
ra, Luật các Tổ chức tín dụng cũng quy định những người là bố, mẹ, vợ, chồng,con, anh, chị, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Sứ Thanh trìổng giám đốc(Giám đốc) không được là thành viên Ban kiểm soát của cùna một tổ chức tíndụne
* Về nhiệm vụ và quyền hạn của Ban kiểm soát
Ban kiểm soát có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Kiểm tra hoạt động tài chính của Ngân hàng; giám sát việc chấp hành chế
độ hạch toán, hoạt động của hệ thốne kiểm tra và kiểm toán nội bộ của Ngân hàng
- Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của Ngân hàng; kiểm tra từng vấn
đề cụ thể liên quan đến hoạt động tài chính của Ngân hàng khi xét thấy cần thiếttheo quyết định của Đại họi đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông lớn
- Báo cáo Đại hội đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực, hợp pháp củaviệc ghi chép, lưu giữ chứng từ và lập sổ kế toán, báo cáo tài chính, hoạt động của
hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của Ngân hàng
- Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến hoạt động tài chnhs củaNgân hàng theo quy định của pháp luật
- Được sử dụng hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bố của Ngân hàng đểthực hiện các nhiệm vụ của mình
1.2.1.4 Tổng giám đốc (giám đốc)
Trang 10Điều hành Ngân hàng Thương mại cổ phần là Tổng giám đốc (Giám đốc),Tổng giám đốc (Giám đốc) chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, trước phápluật về việc điều hành hoạt động hàng ngày của Ngân hàng.
* Các quy định về tiêu chuẩn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Tổng giámđốc (Giám đốc)
Tổng giám đốc (Giám đốc) phải là người có trình độ chuyên môn, năng lựcđiều hành một tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (tốt nghiệpđại học kinh tế - tài chính, Ngân hàng hoặc tương đương trở lên; có ít nhất 3 nămcông tác trong ngành Ngân hàng; có kiến thức, kinh nghiệm về hoạt động Ngânhàng) và phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian đướng nhiệm Tổng giám đốc(Giám đốc) không nhất thiết phải là cổ đông của Ngân hàng
Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Tổng giám đốc (Giámđốc) Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Tổng giám đốc (Giám đốc) phải đượcThống đốc Ngân hàng Nhà nước chuẩn y
Những người không được tham gia Hội đồng quản trị hoặc thành viên Bankiểm soát thì cũng không được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổchức tín dụng
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng giám đốc( Giám đốc)
Tổng giám đốc (Giám đốc) Ngân hàng thương mại cổ phần có nhiệm vụ vàquyền hạn sau:
- Điều hành hoạt động hàng ngày của tổ chức tín dụng;
- Trình Hội đồng quản trị các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng quảntrị
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh thuộc thẩm quyền bỏonhiệm được quy định trong Điều lệ Ngân hàng Tuyển dung, kỷ luật và cho thôiviệc các nhân viên Ngân hàng, quyết định lương và phụ cấp đối với người lao độns
kể cả cán bộ quản lý thuộc quyền bổ nhiệm của Tổng giám đốc theo đúng phápluật và quy chế do Hội đồng quản trị ban hành
Trang 11- Tổ chứ thực hiện phương án hoạt động kinh doanh khi được Hội đồng quảntrị phê duyệt.
- Điều hành và quyết định các vấn đề có liên quan dến các hoạt động kinhdoanh của Ngân hàng theo đúng pháp luật, Điều lệ Ngân hàng và quyết định củaHội đồng quản trị; chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của Ngân hàng
- Đại diện cho Ngân hàng trong quan hệ quốc tế, tố tụng, tranh chấp, giải thể,phá sản
- Được quyết định áp dụng các biện pháp vượt thẩm quyền của mình tronstrường hợp khẩn cấp (thiên tai, dịch hoạ, hoả hoạn, sự cố) và chịu trách nhiệm vềnhững quyết định đó, sau đó phải báo cáo ngay Hội đồng quản trị, và các cơ quanNhà nước khác có thẩm quyền để giải quyết tiếp
- Chịu sự kiểm tra, giám sát của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ngânhàng Nhà nước và các cơ quan Nhà nước khác có thẩm quyền đối với việc thựchiện nhiệm vụ điều hành của mình
- Báo cáo hội đồng quản trị, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan Nhà nướckhác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về kết quả hoạt động kinh doanhcủa Neân hàng
1.2.1.5 Mối quan hệ giữa các cơ quan trong tổ chức bộ máy quản trị điều hành Ngân hàng Thương mại cổ phần.
Như nội dung đã trình bày ở phần trên, các cơ quan trong tổ chức quản trị,điều hành Ngân hàng Thương mại cổ phần có những nhiệm vụ, quyền hạn khácnhau, nhưng tựu ching lại hoạt động của các cơ quan này đều nhằm mục tiêu làđảm bảo cho hoạt động của Ngân hàng được hiệu quả, an toàn và tuân thủ đúngpháp luật, điều lệ của Ngân hàng, vì sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng và lợiích của cổ đông, vì vậy, mối quan hệ trong hoạt động của các cơ quan này là mộtđòi hỏi khách quan
* Mối quan hệ giữa cơ quan quản trị và cơ quan điều hành:
Trang 12Công việc, nhiệm vụ và quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quảntrị và của Tổng giám đốc (Giám đốc) Ngân hàne Thương mại cổ phần là một chuỗithống nhất, trong đó có sự phân công, phân cấp rõ ràng Đại hội đồng cổ đông vàHội đồng quản trị là các cơ quan hoạch định, quyết định các vấn đề có tính chấtđịnh hướng, chính sách, mục tiêu hoạt động và phát triển của Ngân hàng Tổnggiám đốc (Giám đốc) là cơ quan điều hành hoạt động hàng ngày của Ngân hàng đểthực hiện chủ trương, kế hoạch mà Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị đềra.
* Mối quan hệ trong kiểm tra, giám sát
Mối quan hệ trong kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan quản trị, điều hànhhoạt động Ngân hàng Thương mại cổ phần được thể hiện trên các mặt:
Thứ nhất, với chức năng là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất củaNgân hàng Thương mại cổ phần, Đại hội đồng cổ đông, thông qua các hoạt động,như xem xét sai phạm và quyết định hình thức xử lý đối với thành viên Hội đồnequản trị, việc xem xét, thông qua báo cáo của Hội đồng quản trị, ban kiểm soátcũng như việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên các cơ quan này đã thựchiện vai trò giám sát đối với hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị, thànhviên Ban kiểm soát
1.2.2 Quản trị, điều hành hoạt động Ngán hàng Thương mại cổ phần.
ĩ 2.2 ĩ Quản lý tài sản có của Ngân hàng Thương mại cổ phần.
Quản lý tài sản có là việc Ngân hàng phân chia vốn vào các loại đầu tư, cụthể đó là sự phân chia vốn giữa tiền mặt, đầu tư chứng khoán và giấy tờ có giá, tíndụng và các loại tài sản khác Trong đó các lĩnh vực đặc biệt quan trọng trone quản
lý tài sản có của ngân hàng là tín dụng, đầu tư chứng khoán và các giấy tờ có giákhác và xử lý mâu thuẫn eiữa khả năng chi trả và mục tiêu lợi nhuận tối đa
* Các loại tài sản có
Tài sản có của một Ngân hàng thương mại có thể chia thành bốn loại cơ bản:khoản mục ngân quỹ, đầu tư chứng khoán, tín dụng và tài sản có khác
Trang 13- Khoản mục ngân quỹ
Tài sản có thuộc nhóm ngân quỹ bao gồm số dư tiền gửi tại Neân hàng Trungương và tại các tổ chức nhận tiền gửi khác, tiền mặt (tiền giấy và tiền kim loại) tồnquỹ tại Ngân hàng và tiền trong quá trình thu
- Tiền eửi tại Neân hàng Trung ươne và các tổ chức nhận tiền gửi khác:Trong tiền gửi tại Ngân hàng Trung ương bao gồm hai bộ phận: Tiền gửi dự trữbắt buộc và tiền gửi đế thực hiện các nhucầu thanh toán của Ngân hàng (nhu cầurút tiền, thoả mãn các khoản cấp tín dụng và cung cấp cho các chi phí hoạt độngkhác) Tiền gửi dự trữ bắt buộc của Ngân hàng là một phần trong số vốn mà Ngânhàng huy đông được, phải gửi vào tài khoản tại Ngân hàng Trung ương, với một tỷ
lệ nhất định do Ngân hàng Trung ương quy định (chẳng hạn quy định của Ngânhàng Nhà nước Việt Nam hiện nay là 5%), khoản tiền này không được Ngân hàngTrung ương trả lãi tiền gửi Tiền gửi tại các tổ chức nhận tiền gửi khác chỉ đơnthuần là để đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi tiêu của neân hàng
- Tiền mặt tại quỹ của Ngân hàne: Nhu cầu dự trữ tiền mặt của các Ngânhàne thường khác nhau Ở những nước hoặc các khu vực mà sự giao dịch bằngtiền mặt chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số giao dịch thanh toán thì nhu cầu dự trữtiền mặt sẽ cao hơn những nơi mà ở đó chủ yếu thanh toán bằng hình thức khôngdùng tiền mặt Mức dự trữ tiền mặt trong két của các Ngân hàng cũng còn phụthuộc vào các yếu tố có tính thời vụ hoặc vị trí của Ngân hàng (thường thì cácNgân hàng ở vùng nông thôn phải giữ số tiền mặt lớn hon so với các Ngân hàng ởkhu vực thành thị
- Tiền trong quá trình thu: Đây là bộ phận tài sản được hình thành trongtrường hợp giả sử có một tờ séc được phát hành theo một tài khoản ở một Ngânhàng khác, được gửi vào Ngân hàng của mình và số tiền đó còn đang trên đường đi(chưa đến Neân hàng mình) Trường hợp này, tờ séc đó được coi là tiền trong qúatrình thu, nó là một tài sản có vì nó có quyền đòi ở Ngân hàng kia và thông thườnsđược thanh toán sau một vài ngày
Trang 14Nhóm ngân quỹ là bộ phận tài sản tạo ra thu nhập cho Ngân hàng (chỉ có bộphận tiền gửi tại các tổ chức nhận tiền gửi khác, tiền gửi tại Ngân hàng Trungương, trừ tiền gửi dự trữ bắt buộc, là được nhận lãi tiền gửi, nhưns với lãi suất rấtthấp).
- Đầu tư chứng khoán
Các Ngân hàng đầu tư chứng khoán vì mục đích thanh khoản và đa dạng hoáhoạt động, để nâng cao lợi nhuận và phục vụ đé ký quỹ cho các tài sản nợ ký thácvới Ngân hàng Trung ương, các tổ chức tín dụng khác Các chứng khoán là bộphận tài sản có mang lại thu nhập quan trọng của một ngân hàng Nhìn chung cácchứng khoán được chia làm hai loại: chứng khoán Chính phủ và các chứng khoánkhác Trong đó, chứng khoán Chính phủ là loại chứng khoán có tính lỏng cao nhất,chúng có thể chuyển đổi dễ dàng sang tiền mặt, với chi phí thấp nhất và rủi ronhất, do đó loại này thường chiếm tỷ lệ lớn của đầu tư chứng khoán Các chứngkhoán khác, chủ yếu là các chứng khoán nhằm cung cấp thanh khoản, như hốiphiếu chấp nhận thanh toán, các trái phiếu cône ty chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ
- Tín dụng (tiền cho vay)
Hoạt động tín dụng, hay còn gọi là tiền cho vay là bộ phận tài sản có đem lạithu nhập quan trọng nhất cho Ngân hàng Tính lỏng của tiền cho vay kém hơn sovới các tài sản có khác, nhưng mục tiêu chính trong hoạt động tín dụng của Ngânhàng là lợi nhuận, do đó mức độ thanh khoản (tính lỏne) của tiền cho vay ở vào vịtrí thứ yếu trong việc quản lý bộ phận tài sản có này
- Tài sản có khác
Tài sản có khác là các tài sản ở dạng hiện vật, như trụ sở, máy móc, trangthiết bị khác của Ngân hàng Theo quy định của một số nước, bộ phận tài sản cónày bị giới hạn trong một tỷ lệ nhất định so với vốn tự có của Ngân hàng Chẳnghạn, theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam, tổ chức tín dụng chỉđược mua, đầu tư vào tài sản cố định của mình không quá 50% vốn tự có
* Quản lý tài sản có
Trang 15Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Thươns mại cổ phần là lợi nhuận tối đa,
do đó, việc quản lý tài sản có luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các Ngânhàng, trong đó chủ yếu là vấn đề bố trí hợp lý cơ cấu các bộ phận tài sản có và chấtlượns (khả năng thu nhập, rủi 1*0) của các khoản tiền cho vay, đầu tư chứngkhoán
-Về cơ cấu tài sản có: Trong cơ cấu tài sản có của Ngân hàng thì các chứngkhoán và tiền cho vay là hai bộ phận đem lại thu nhập chính cho Ngân hàng, tuynhiên, các Ngân hàng không thể cứ tăng tỷ lệ đầu tư vào hai nhóm tài sản có này
mà không tính đến cân đối chung trong việc phân chia, bố trĩ vốn sao cho vừa đạtđược mục tiêu tãng lợi nhuận, vừa đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro ở mức thấpnhất
Thông thường việc phân chia sử dụng tài sản có của các Ngân hàng đượcthực hiện theo thứ tự ưu tiên như sau:
Ưu tiên hàng đầu là việc xác định các quỹ cho dự trữ sơ cấp, bao gồm cáctài sản có thuộc nhóm neân quỹ Nó được coi là nguồn thành khoản chủ yếu chomột Ngân hàng thương mại
Ưu tiên thứ hai trong phân chia, bố trí tài sản có là việc cung ứng các tài sản
có tính chất luân chuyển, dưới hình thứ sinh lợi của Ngân hàng Các tài sản nàybao gồm các tài sản sinh lời, có khả năng chuyển đổi cao, có thể được chuyểnthành tiền mặt nhanh chóng và ít rủi ro (gọi là dự trữ thứ cấp) Chức năng chínhcủa dự trữ thứ cấp và cung cấp bố trí cho dự trữ sơ cấp khi cần thiết Để đảm bảochuyển đổi được thành tiền ngay và không thiệt hại, các tài sản dự trữ thứ cấp phảiđạt được 3 tiêu chuẩn: Chất lượng cao, thời gian đáo hạn ngắn và khả năng có thểbán được trên thị trường ngay lập tức
Ưu tiên thứ ba là phân chia vốn cho các khoản mục tín dụng Sau khi đãđáp ứng các nhu cầu về dự trữ sơ cấp và thứ cấp, các Ngân hàng có quyền tự do dokhách hàng vay Các khoản cho vay là phần quan trọng nhất trong tổng tài sản có
Trang 16của Ngân hàng, và tiền lãi thu được từ bộ phận tiền cho vay chiếm tỷ trọng lớnnhất trong lợi nhuận của ngân hàng.
Ưu tiên thứ tư là khoản mục đầu tư Các quỹ còn lại, sau khi các nhu cầuhợp lệ về tín dụng cho khách hàng đã được đáp ứng, có thể dồn vào các chứngkhoán có chất lượng cao và tươns đối dài hạn Chức năng của khoản mục đầu tư làmang lại thu nhập cho Ngân hàng, đa dạng hoá nghiệp vụ kd và bổ sung cho cáctài sản dự trữ thứ cấp khi các chứng khoán dài hạn đến hạn thanh toán
Đối với các tài sản khác (Trụ sở, trang thiết bị Neân hàng) nhìn chung cácNgân hàng phải tính toán bố trí một cách hợp lý, tiết kiệm nhất
Vấn đề chất lượng tài sản có: vấn đề được các Ngân hàng quan tâm nhiềunhất là chất lượng các khoản mục tín dụng và khoản mục đầu tư Để đảm bảo hoạtđộng an toàn và hiệu quả, các Ngân hàng phải cố gắng tìm kiếm các khoản cho vay
có lãi suất cao và ít có khả năng vỡ nợ, tương tự họ phải lựa chọn mua nhữngchứng khoán có lợi tức cao và rủi ro thấp Tuy nhiên, đây cũng là các tài sản cóchứa đựng nhiều rủi ro nhất Đối với khoản mục tín dụne, ngoài các rủi ro tíndụng, còn chịu ảnh hưởne từ rất nhiều loại rủi ro khác trong hoạt động Ngân hàng,như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán, rủi ro ngoại hối, rủi ro quốc gia (các chínhsách của Chính phủ), hoặc khoản mục đầu tư cũng chịu ảnh hưởng của rủi ro thanhkhoản, rủi ro ngoại hối Vì vậy để đạt được mục tiêu thu nhập cao nhất và ít rủi ronhất, đòi hỏi các Ngân hàng phải có sự phân tích, đánh giá rất tỷ mỷ, kỹ lưỡng vàthận trọng trước khi quyết định cho vay và đầu tư, đồng thời phải có sự quản lý,theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình cho vay, đầu tư
1.2.2.2 Tài sản nợ
Quản lý tài sản nợ bao gồm các hoạt động liên quan đến việc nhận vốn từngười gửi tiền và những người cho vay khác nhau và quyết định mức góp vốn củamình vào một Ngân hàne nào đó Quản lý tài sản nợvà quản lý tài sản có có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau và là một cặp yếu tố quyết định quan trọng ảnh hưởngđến doanh lợi của ngân hàng
Trang 17* Các loại tài sản nợ
Tài sản nợ và nguồn vốn hoạt động vốn của Ngân hàng, gồm các tài khoảngiao dịch (còn gọi là tiền gửi thanh toán), tiền gửi phi giao dịch và vốn tự có củangân hàng
- Các tài khoản giao dịch
Các tài khoản giao dịch là tiền gửi có thể được thanh toán theo yêu cầu củachủ tài khoản Tức là, khi người gửi tiền có yêu cầu rút tiền mặt hoặc chi trả chomột người khác, Ngân hàng sẽ phải thực hiện lệnh thanh toán đó ngay lập tức.Tương tự, nếu có một người nhận được một tấm séc phát hành theo một tài khoản
từ một ngân hàng, khi Ngân hàng nhận được tấm séc này thì lập tức phải chuyển
số tiền ấy vào tài khoản của người đó Tài khoản giao dịch thường chỉ được hưởngmức lãi suất rất thấp hoặc không có lãi, vì người gửi tiền được hưởng dịch vụthanh toán của Ngân hàng
- Tiền gửi phi giao dịch
Tiền gửi phi giao dịch là nguồn vốn quan trọng nhất của Ngân hàng, gồmtiền gửi kỳ hạn (còn gọi là chứng chỉ tiền gửi) và tiền gửi tiết kiệm Chúng có đặcđiểm là được hưởng tiền lãi và người sở hữu khône được quyền phát hành séc.Mức lãi của tiền phi eiao dịch cao hơn tài khoản tiền gửi giao dịch, vì những ngườigửi tiền không được hưởng nhiều dịch vụ Neân hàng như đối với tiền gửi giao dịch
và tính khả năng lại thấp Trong đó, tiền gửi tiết kiệm có tính khả dụng thấp hơn sovới chứng chỉ tiền gửi, vì chứng chỉ tiền gửi là một loại giấy tờ có thể mua bán trênthị trường thứ cấp trước khi mãn hạn
Trang 18vai trò của công cụ nợ trong vốn tự có Theo quy định hiện hành của Việt Nam,vốn tự có của Ngân hàng chỉ bao gồm vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều
lệ, như vậy nó không bao gồm các công cụ nợ
* Quản lý tài sản nợ
Trước những năm 1960, nhiều Ngân hàng coi tài sản nợ của họ là cóo địnhnên chỉ chủ yếu quan tâm vào việc quản lý, điều hành tài sản cóm với mục tiêu tạo
ra thu nhập lớn và tránh được những rủi 1*0 Tuy nhiên, ngày nay, các Ngân hàne
đã quan tâm nghiên cứu những phương pháp trong quản lý tài sản nợ, với mục tiêuđem lại cho họ những khoản tiền dự trữ và trạng thái lỏng Điều này dẫn đến sựphát triển của những công cụ tài chính mới, như các chứng chí tiền gửi có thể muabán lại được và cùng với nó là sự phát triển của các thị trường tiền tệ, qua đó giúpcho các Ngân hàng có thể nhanh chóng có được tiền vốn và giảm được sự lệ thuộcvào những nhóm tiền gửi giao dịch với tư cách là nguồn vốn hàng đầu như trướcđây, thay vào đó, các ngân hàng có thể chủ động có được vốn bằng cách phát hànhtài sản nợ phù hợp với nhu cầu của mình
Các tài khoản tiền gửi phi giao dịch là bộ phận cơ bản trong tài sản nợ củaNgân hàng và chi phí về vốn của Ngân hàng cũng tập trung vào bộ phận tài sản nợnày, vì vậy, vấn đề quan trọng trong quản lý tài sản nợ là phải tận dụng được tối đacác nguồn vốn có chi phí rẻ (như phải có các phương thức để thu hút khách hàng
mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng mình), bên cạnh đó, phải tính toán cân đốigiữa tài sản có và tài sản nợ, đảm bảo việc huy động vốn phù hợp với nhu cầu sửdụng, đầu tư, tránh sự lãng phí vốn không cần thiết
1.2.2.3 Quản trị thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh.
Công tác quản trị thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh của các Ngânhàng Thương cổ phần phải đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có liênquan của pháp luật về hạch toán kế toán và quản lý tài chính Ngân hàng Thươngmại cổ phần phải hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản thu nhapạ tronghoạt động kinh doanh đúng quy định của cơ quan tài chính; không được hạch toán
Trang 19vào chi phí các khoản chi không họp lệ hoặc tự ý trích lập, sử dụng các quỹ, vốntrái với quy định của Nhà nước Việc tôn trọng các nguyên tắc trong thu, chi tàichính sẽ bảo đảm cho bảng cân đối và quyết toán tài sản của các Ngân hàngThươne mại cổ phần được rõ ràne, minh bạch, phản ánh đúng thực trạng về vốn vàquỹ của Ngân hàng.
Xét trên giác độ của từng Ngân hàng Thương mại cổ phần, công tác quản trịthu nhập, chi phí nhằm thực hiện mục tiêu là không ngừng nâng cao hiệu quả kinhdoanh của Ngân hàng (thông qua các chỉ tiêu về lợi nhuận ròng, tỷ suất sinh lờicủa vốn đầu tư ), qua đó tăng cường năng lực tài chính, nâng cao sức cạnh tranhcủa Ngân hàng Quản trị thu nhập, chi phí còn có tác dụng tích cực đến việc nângcao khả năng thanh khoản của Ngân hàng
Để thực hiện có hiệu quả công tác quản trị thu nhập, chi phí và kết quả kinhdoanh, trước hết Ngân hàng Thương mại cổ phần phải làm tốt việc kế hoạch hoácác khoản thu nhập và chi phí của Ngân hàng; trên cơ sở đó, có biện pháp thíchhợp để theo dõi, khai thác kịp thời, đầy đủ các khoản thu, kiểm soát chặt chẽ cáckhoản chi, đảm bảo chi đúng nguyên tắc, có hiệu quả Tuy nhiên, công tác quản trịthu nhập, chi phí của các Ngân hàng Thương mại nói chung, của các Ngân hàngThương mại cổ phần nói riêng còn phụ thuộc khá nhiều vào cơ cấu tài sản nợ, tàisản có của Ngân hàng cũng như chất lượng của công tác quản lý tài sản nợ, quản lýtài sản có Vì vậy, nếu các Ngân hàng Thương mại cổ phần duy trì được một cơcấu tài sản nợ, tài sản có tương đối hợp lý và thực hiện tốt công tác quản lý đối vớicác tài sản đó, thì sẽ tạo nhiều khả năng thuận lợi để thực hiện có hiệu quả các mụctiêu trong công tác quản trị thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh của Ngânhàng
Chương 2: Thực trạng về quản trị và điều hành trong các Ngân hàngThương mại cổ phần Việt Nam
2.1 Quá trình hình thành loại hình Ngân hàng Thương mại cổ phần ở ViệtNam
Trang 202.1.1 Giai đoạn trước khi có hai pháp lệnh về Ngân hàng.
Với chính sách Đổi mới của Đảng và Nhà nước, mọi thành phần kinh tếtrong xã hội được tự do đầu tư sản xuất - kinh doanh và do đó tứ những năm 1986
- 1987, nền kinh tế có nhu cầu vốn rất lớn Trong tình hình đó, các Ngân hàng củaNhà nước khôns đáp ứng đủ vốn cho nhu cầu của nền kinh tế, đã dẫn đến sự ra đờigần như tự phát và có lúc, có nơi diễn ra một cách ồ ạt các tổ chức tín dụng và đôthị Đặc biệt, trong các năm 1988 - 1989 cùng với bước sơ khai chuyển Ngân hàngsang hạch toán kinh doanh, nhiều tổ chức kinh tế đã thành lập các tổ chức tín dụng,dưới nhữns tên gọi khác nhau như hợp tác xã tín dụng, trung tâm tín dụng, Ngânhàng ngoài quốc doanh Đến cuối năm 1989 đã có gần 500 quỹ tín dụng ở đô thị
và 17 Ngân hàng ngoài quốc doanh, chưa kể khoảng 7000 hợp tác xã tín dụng đã
có từ trước
Trong thời gian này các cơ chế quản lý cũng như sự kiểm soát của Ngânhàng Nhà nước không theo kịp với thực tế, dẫn đến hoạt động của các tổ hức nàyvốn đã chỉ biết chạy theo lợi nhuận lại càng trở nên thiếu lành mạnh, huy động vốn
và cho vay tràn lan và thậm chí một số trường hợp còn có hành vi lừa đảo, vi phạmpháp luật (với 862 tỷ đồng vốn hoạt động, trong đó vón tự là 83 tỷ đồng, còn lại
741 tỷ là vốn huy động, các tổ chức này đã cho vay với dư nợ 791 tỷ là vốn huyđộng, các tổ chức này đã cho vay với dư nợ 791 tỷ đồng, trong đó 510 tỷ đồng là
nợ quá hạn) Trone bối cảnh đó, tất yếu dẫn đến tình trạne hàne loạt các tổ chức tíndụng này bị mất khả năng chi trả và đổ vỡ Đến cuối năm 1990 chỉ còn lại 18/500đơn vị hoạt động bình thường, 100 đơn vị có khó khăn, số còn lại đều mất khảnăng chi trả hoặc vỡ nợ
2.1.2 Sau khi có hai pháp lệnh về Ngân hàng
Tinh hình trên của các tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh đã tác động xấuđến nền kinh tế va an ninh xã hội Trong bối cảnh đó, 2 pháp lệnh về Ngân hàngđược ban hành, tạo khôn khổ pháp luật để xử lý các tổ chức tín dụng nói trên, đồngthời tổ lại lại hệ thống Ngân hàng Việt Nam Nội dung cơ bản của 2 pháp lệnh này
Trang 21là: (i) hình thành hệ thống Ngân hàng hai cấp: Tách bạch chức năng quản lý nhànước và Ngân hàng Trung ương của Ngân hàng Nhà nước, chức năng kinh doanhtiền tệ và dịch vụ Ngân hàng thuộc về các Ngân hàng và tổ chức tín dụng; (ii) tạolập hệ thống Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng được phép kinhdoanh tiền tệ và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật, đa dạng hoá về sở hữu(quốc doanh, cổ phần, hỗn hợp quốc doanh và các thành phần kinh tế khác, đồngthời cho phép sự tham gia của các Ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàngnước ngoài" Như vậy, với việc ban hành hai pháp lệnh về Ngân hàng, loại hìnhNgân hàng Thương mại cổ phần được thừa nhận chính thức tại Việt Nam Tuynhiên, trước đó từ nãm 1987 thực hiện chủ trương của Chính phủ Ngân hàng Nhànước đã thống nhất với uỷ ban nhân dân dân thành phố Hồ Chí Minh thành lập thíđiểm Ngân hàng cổ phần đầu tiên, với tên gọi là Ngân hàng công thương thànhphố Hồ Chí Minh, (gọi tắt là Ngân hàng Sài gòn công thương).
Với tinh thần trên của hai pháp về Ngân hàng, Chính phủ, Ngân hàng Nhànước và các ngành hữu quan đã cùng các địa phương tập trung xử lý các tổ chứctín dụne, mà trọng điểm và giải quyết các hậu quả mà các tổ chức này gây ra,chấn chính lại các tổ chức có khả năng tồn tại để phát triển, thực hiện chuyển đổithành các Ngân hàng Thương mại cổ phần Trong số này có 30 tổ chức tín dụngđược điều chỉnh thành các Ngân hàng Thương mại cổ phần, trong đó 18 Ngânhàng Thương mại cổ phần đô thị, 12 Ngân hàng Thương mại cổ phần nông thôn
Từ đó đến nay, hệ thống Ngân hàng Thương mại cổ phần đã có nhữngbước phát triển đáng kể về số lượng, với 52 ngân hàng thời điểm năm 1997 (32Ngân hàng Thương mại cổ phần đô thị, 20 Ngân hàng Thương mại cổ phần nôngthôn), tuy nhiên đến thời điểm hiện nay, thực hiện chương trình sắp xếp lại các
tổ chức tín dụng của Chính phủ, số Ngân hàng Thương mại cổ phần giảm xuốngcòn 39 Ngân hàng
Bảng 1: Số lượng và sự phân bố các Ngân hàng Thương mại cổ phần ởViệt Nam đến 30/6/2000
Trang 22Địa phương NHTMCP đô thị NHTMCP nông thôn Tổng số
- Thứ hai, quy mô của các Ngân hàng quá nhỏ bé Hiện nay, tính đến31/12/2002 Ngân hàng có mức vốn điều lệ cao nhất là Ngân hàng Thương
Nguồn: Báo cáo thống kê của Nqân hàng Nhà nước