Các phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn .... Thể hiện các phương pháp dạy học được giáo viên sử dụ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Trang 2Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Tiểu học và các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy em trong suốt ba năm qua,
đã giúp cho em có được một nền tảng vững chắc để có thể thực hiện được đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn cô - Th.S Nguyễn Thị Thúy Nga - người đã hết lòng động viên khuyến khích và hướng dẫn tận tình để em hoàn thành tốt
đề tài
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô cùng các
em học sinh trường Tiểu học Bùi Thị Xuân, trường Tiểu học Duy Tân, trường Tiểu học Phan Phu Tiên, trường Tiểu học Hồng Quang và trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình khảo sát
Và xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè - những người đã luôn cổ vụ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn, trình độ, kĩ năng bản thân còn hạn chế nên chắc chắn đề tài khóa luân này của em không thể tránh khỏi những sai sót, em xin kính mong quý thầy cô góp ý để giúp đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Tạ Thị Ngân
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Mục đích nghiên cứu 4
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
8 Phương pháp nghiên cứu 4
9 Cấu trúc đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Các khái niệm cơ bản 6
1.1.1 Kĩ năng 6
1.1.2 Giao tiếp 6
1.1.3 Kĩ năng giao tiếp 8
1.2 Các nhân tố của giao tiếp 8
1.2.1 Nhân vật giao tiếp 9
1.2.2 Hiện thực được nói tới (Nội dung giao tiếp) 10
1.2.3 Hoàn cảnh giao tiếp 11
1.2.4 Mục đích giao tiếp 11
1.2.5 Ngôn ngữ được sử dụng 11
1.3 Rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học 12
1.4 Vai trò của việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp (KNGT) cho học sinh Tiểu học 12 1.4.1 Rèn luyện KNGT trong việc hình thành và phát triển nhân cách 12
1.4.2 Rèn luyện KNGT tạo nên giá trị sống tích cực của học sinh 14
1.4.3 Rèn luyện KNGT cho học sinh, giúp học sinh tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống 14
Trang 41.5 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học 15
1.5.1 Đặc điểm nhận thức 15
1.5.1.1 Đặc điểm về tư duy 15
1.5.1.2 Tưởng tượng 15
1.5.1.3 Đặc điểm về cảm giác, tri giác 16
1.5.1.4 Đặc điểm về trí nhớ 16
1.5.1.5 Đặc điểm về tình cảm, cảm xúc 16
1.5.1.6 Đặc điểm về ngôn ngữ 17
1.5.1.7 Đặc điểm về chú ý 17
1.5.2 Đặc điểm nhân cách 18
1.5.2.1 Tính cách 18
1.5.2.2 Nhu cầu nhận thức 18
1.5.2.3 Tình cảm 18
1.5.2.4 Ý chí 19
1.6 Những vấn đề về dạy học phân môn Tập làm văn 19
1.6.1 Vị trí của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học 19
1.6.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học 20
1.6.3 Nội dung của phân môn Tập làm văn lớp 2 20
Chương 2 THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN 24
2.1 Mục đích điều tra 24
2.2 Đối tượng điều tra 24
2.3 Thời gian điều tra 23
2.4 Nội dung điều tra 24
2.5 Phương pháp điều tra 25
2.6 Kết quả khảo sát 25
2.6.1 Thực trạng dạy học kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn 25
2.6.2 Nhận xét thực trạng dạy học kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn 27
Trang 52.6.3 Thực trạng rèn kĩ năng giao tiếp của học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập
làm văn 30
2.6.4 Nhận xét thực trạng rèn kĩ năng giao tiếp của học sinh lớp 2 32
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 2 36
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 36
3.1.1 Dựa vào đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học 36
3.1.2 Dựa vào quá trình khảo sát 36
3.1.3 Dựa vào nội dung của phân môn Tập làm văn lớp 2 36
3.2 Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao cho học sinh lớp 2 37
3.2.1 Xây dựng các bài tập tình huống để học sinh thực hành về nghi thức lời nói 37 3.2.1.1 Bài tập luyện nói trao lời- đáp lời 37
3.2.1.2 Bài tập luyện nói theo cặp 38
3.2.1.3 Bài tập luyện nói theo nhóm 39
3.2.2 Tích hợp nội dung rèn kĩ năng giao tiếp vào các môn học khác 40
3.2.3 Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp 43
3.2.4 Sử dụng trò chơi học tập 46
PHẦN KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Các phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng để rèn luyện kỹ năng
giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn 26 Bảng 2.2 Thực trạng rèn kỹ năng giao tiếp của học sinh lớp 2 thông qua phân môn
Tập làm văn 31 Biểu đồ 2.1 Thể hiện các phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng để rèn kỹ
năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn 27 Biểu đồ 2.2 Thể hiện thực trạng rèn kỹ năng giao tiếp của học sinh lớp 2 thông qua
phân môn Tập làm văn 32
Trang 7và hài hòa về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản khác để các
em có thể học tập tiếp lên các bậc học cao hơn
Nội dung giáo dục Tiểu học tập trung vào các môn văn hóa, giáo dục đạo đức,
kĩ năng sống cho học sinh,…Môn Tiếng Việt ở Tiểu học chú trọng hình thành và phát triển cho học sinh 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp Vì thế, việc rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh là một trong bốn kĩ năng chiếm vị trí, vai trò quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng, hiệu quả của giáo dục Tiểu học Bởi mọi hoạt động dạy học, giáo dục, sinh hoạt trong nhà trường đều phải được thực hiện thông qua giao tiếp Để giao tiếp thành công, hiệu quả đòi hỏi thầy giáo và học sinh phải có kĩ năng giao tiếp
Trước năm 2000, nội dung dạy học Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng rèn học sinh 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc , viết nhưng chú trọng rèn cho học sinh kĩ năng đọc viết và nói độc thoại Thế nhưng chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học từ năm 2000 trở lại đây lại chú trọng rèn luyện cho học sinh cả 4 kĩ năng và đặc biệt rất coi trọng việc rèn luyện kĩ năng nói (nói độc thoại
và nói hội thoại) cho học sinh
Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, đặc biệt là kĩ năng sản sinh và tiếp nhận
Trang 8ngôn bản cho học sinh Tiểu học Như vậy, nó đã thực hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng được tiếng Việt để giao tiếp, tư duy và học tập Đặc biệt, kĩ năng giao tiếp của học sinh được phát triển và hoàn thiện hơn thông qua phân môn Tập làm văn
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn” để nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học đã được nghiên cứu dưới nhiều lĩnh vực khác nhau như: ngôn ngữ học, tâm lí học ngôn ngữ và đã
có nhiều công trình được xuất bản
Sau đây, chúng tôi điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Năm 1995, tác giả Lưu Thu Thủy đã nghiên cứu quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa với bạn cùng lứa tuổi cho học sinh lớp 4, lớp 5 ở trường tiểu học Tác giả đã nghiên cứu hành vi giao tiếp có văn hóa của học sinh dưới hai góc độ: Các nét tính cách bộc lộ qua giao tiếp và các kĩ năng giao tiếp của học sinh: thiết kế quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho học sinh lớp 4, lớp 5 trong phạm vi trường học
Năm 1998, tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Trí: Phương pháp dạy học Tiếng
Việt ở Tiểu học, các tác giả đã đưa ra các phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu
học Trong đó, các tác giả đã đề cập đến việc bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh theo quan điểm giao tiếp
Năm 2003, tác giả Hoàng Thị Phương nghiên cứu một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 đến 6 tuổi, giao tiếp được khai thác dưới góc
độ hành vi văn hóa sơ đẳng nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo lớn Đó là kĩ năng mang tính nền tảng làm cơ sở để giáo dục và phát triển sau này cho trẻ thơ ở tuổi Tiểu học
Các tác giả Lê A- Phan Phương Dung- Vũ Thị Kim Hoa- Đặng Thị Kim Nga-
Đỗ Xuân Thảo trong cuốn Tiếng Việt, tài liệu bồi dưỡng Giáo viên Tiểu học, năm
2007, các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn, nguyên tắc, nội dung tổ chức dạy học Tập làm văn ở Tiểu học Trong phần này, các
Trang 9tác giả đã đề cập đến quá trình dạy học phân môn Tập làm văn, cấu trúc và các dạng bài tập Tập làm văn ở Tiểu học
Năm 2009, Nguyễn Trí đã cho xuất bản cuốn Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt
theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn đề
đang rất được quan tâm trong nhà trường Tiểu học hiện nay- vấn đề dạy học theo quan điểm giao tiếp Đó là các vấn đề như xây dựng chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, dạy sản sinh văn bản nói và viết ở Tiểu học,…theo quan điểm giao tiếp
Năm 2010, nhóm tác giả do ông Nguyễn Hữu Độ, giám đốc sở GD-ĐT Hà Nội
chủ biên đã biên soạn tài liệu: “Giáo dục nếp sống thanh lịch- văn minh cho học
sinh Hà Nội” và đã thí điểm đối với học sinh lớp 5 qua thực hiện các kĩ năng giao
tiếp ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội
Năm 2011, tác giả Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga đã xuất bản cuốn
Hoạt động giao tiếp với dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Tác giả đã đề cập đến những
vấn đề về giao tiếp trong nội dung môn Tiếng Việt nói chung nhưng lại không đề cập đến vấn đề giao tiếp cho học sinh thông qua từng phân môn cụ thể
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về kĩ năng giao tiếp cho học sinh Nhưng vấn đề về rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn thì chưa có công trình nào đề cập đến một cách cụ thể và có hệ thống Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập làm văn tại các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng
4 Phạm vi nghiên cứu
Giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 2 và học sinh lớp 2 ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng, gồm các trường sau:
Trường Tiểu học Duy Tân
Trường Tiểu học Hồng Quang
Trường Tiểu học Bùi Thị Xuân
Trang 10Trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên
Trường Tiểu học Phan Phu Tiên
5 Giả thuyết khoa học
Kĩ năng giao tiếp của học sinh lớp 2 tại các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng còn một số hạn chế Nếu đề tài xây dựng được hệ thống các biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh sẽ góp phần nâng cao
kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng
6 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 tại các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực trạng rèn kĩ năng giao tiếp của học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn
- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp
2
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
8.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề liên quan đến đề tài
8.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu thực trạng rèn kĩ năng giao tiếp thông qua phân môn Tập làm văn Tiến hành quan sát hoạt động học của học sinh
và hoạt động dạy của giáo viên trong giờ học
8.3 Phương pháp điều tra bằng Anket
Sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá thực trạng rèn luyện kĩ năng giao tiếp
Trang 11thông qua phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2 tại các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng Phát phiếu điều tra cho các giáo viên tham gia giảng dạy phân môn Tập làm văn ở lớp 2 để thu thập những thông tin,
tư liệu cần thiết cho đề tài
8.4 Phương pháp phỏng vấn trò chuyện
Trao đổi, nói chuyện với giáo viên và học sinh nhằm thu thập thêm các thông
tin về việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh
9 Cấu trúc đề tài
Phần mở đầu gồm: Lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giả thuyết khoa học, mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc của đề tài
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2:Thực trạng rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn
Chương 3: Một số biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn
Phần kết luận
Trang 12PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Các khái niệm cơ bản
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “kĩ năng là năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình” [15-20]
Các nhà giáo dục Việt Nam quan niệm kĩ năng như là khả năng của con người thực hiện có kết quả hành động tương ứng với mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra
Một số tác giả khác lại quan niệm, kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức hợp của hành động bằng cách lựa chọn và vận dụng tri thức vào quy trình đúng đắn
Qua trên, chúng tôi thấy có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng nhưng các quan niệm đó đều có điểm giống nhau, đều nói về khả năng của con người trong việc giải quyết công việc nào đó
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu về kĩ năng như sau: Kĩ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống
1.1.2 Giao tiếp
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp
Ở góc độ tâm lý học, giao tiếp được coi như một hoạt động, một quá trình tiếp xúc tâm lí, tiếp xúc nhân cách, quá trình xác lập vận hành quan hệ xã hội, một nhu
Trang 13cầu của con người
Tác giả Vũ Dũng cho rằng giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động Giao tiếp gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác Giao tiếp có ba khía cạnh chính: giao lưu, tác động tương hỗ
Còn tác giả Nguyễn Trí lại cho rằng: “Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa các thành viên trong xã hội với nhau, dùng ngôn ngữ để bày tỏ tư tưởng, tình cảm, trao đổi ý kiến, kiến thức, nhận xét về xã hội, con người và thiên nhiên,…Mỗi một cuộc giao tiếp tối thiểu phải có hai người và phải dùng cùng một ngôn ngữ nhất định” [13-58]
Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác giả cho rằng, giao tiếp là một quá trình tiếp xúc qua lại giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm Giao tiếp là nhu cầu tất yếu, đặc trưng của xã hội loài người, giao tiếp được tiến hành bằng nhiều hình thức có ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ, khả năng giao tiếp của mỗi người phụ thuộc vào kỹ năng giao tiếp và vốn tri thức, vốn kinh nghiệm sống của họ
Từ các khái niệm về giao tiếp trên đây, chúng tôi có thể đưa ra cách hiểu về giao tiếp như sau: Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm Giao tiếp là nhu cầu tất yếu, đặc trưng của xã hội loài người Giao tiếp được tiến hành bằng nhiều hình thức: giao tiếp bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ Khả năng giao tiếp của mỗi người phụ thuộc vào kĩ
Trang 14năng giao tiếp và vốn tri thức, vốn kinh nghiệm sống của họ
1.1.3 Kĩ năng giao tiếp
Theo Nguyễn Văn Đông: “Kĩ năng giao tiếp là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về quá trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng như sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kĩ thuật để đạt được mục đích đã định trong giao tiếp” [6-61]
Tác giả Nguyễn Bá Minh cho rằng: “Kĩ năng giao tiếp là nhóm kĩ năng giao tiếp bao gồm các hành động liên quan đến việc hình thành mối quan hệ hợp tác giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp, giữa đối tượng giao tiếp với nhau” [12-28]
Tác giả Ngô Công Hoàn lại cho rằng: “Kĩ năng giao tiếp là khả năng tri giác hiểu được những biểu hiện bên ngoài cũng như những diễn biến bên trong của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lí của đối tượng giao tiếp” [8-23]
Từ đó, chúng tôi có thể đưa ra cách hiểu về kĩ năng giao tiếp như là năng lực tiến hành các thao tác, hành động, kể cả năng lực thể hiện tình cảm, cảm xúc, thái
độ nhằm giúp chủ thể giao tiếp trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với đối tượng giao tiếp Nói một cách khác, kĩ năng giao tiếp là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ được phối hợp hài hòa, hợp lí của cá nhân với cá nhân hay cá nhân với một nhóm xã hội nhằm điều khiển, điều chỉnh đối tượng giao tiếp để thực hiện mục tiêu của chủ thể giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp của con người trong xã hội bao gồm kĩ năng lắng nghe, thấu hiểu, chia sẻ, kĩ năng nhận và truyền thông tin, kĩ năng biểu đạt thái độ và cử chỉ hành vi phi ngôn ngữ, kĩ năng tự nhận thức về bản thân, kĩ năng từ chối lời yêu cầu
đề nghị của người khác, kĩ năng thương lượng và xử lí tình huống, kĩ năng hợp tác,
kĩ năng chào hỏi, nói lời cảm ơn, nói lời xin lỗi, kĩ năng thiết lập mối quan hệ với đối tượng
1.2 Các nhân tố của giao tiếp
Nhân tố giao tiếp là những yếu tố có mặt trong hoạt động giao tiếp và ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp đó…Hiện thực được nói tới, ngôn ngữ được sử dụng, nhân vật giao tiếp, mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp… là những nhân tố giao tiếp
Trang 151.2.1 Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp Trong giao tiếp các nhân vật giao tiếp luân phiên đảm nhiệm vai trò người phát (nói/ viết) hoặc người nhận (nghe/ đọc) Tùy từng tình huống cụ thể, người nhận có thể có mặt (hội thoại) hay vắng mặt (độc thoại) Ví dụ, người nghe đài truyền thanh, người đọc báo,…là người nhận vắng mặt Nhân vật giao tiếp có thể là một hay nhiều người, tích cực (có thể đáp lời đảm nhận vai người nói, như khi trò chuyện tay đôi) hay tiêu cực (chỉ nghe, đọc mà không đáp lời ngay tức khắc) Như vậy, để cuộc giao tiếp thành công, người phát phải điều chỉnh lời nói của mình cho phù hợp với các tình huống nói trên của người nhận Tuy nhiên, trong đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động giao tiếp có mặt trực tiếp của người nghe Chúng tôi không nghiên cứu vấn đề giao tiếp vắng mặt người nghe
Trong các cuộc giao tiếp thường có hai yếu tố của nhận vật giao tiếp ảnh hưởng đến cuộc giao tiếp là: vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân
Nói đến vai giao tiếp là nói đến vị trí của nhân vật trong cuộc giao tiếp Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ cùng vai (như quan hệ bạn học, đồng nghiệp với nhau,…) hoặc quan hệ khác vai (như quan hệ cha mẹ với con, thầy cô giáo và học sinh,…) Có hàng vạn, hàng triệu cuộc giao tiếp khác nhau nhưng tham gia vào các cuộc giao tiếp đó chỉ có hai vai, đó là người nói và người nghe Thông thường, người nói đưa ra lời trao còn người nghe (khi được nói) sẽ đưa ra lời đáp Sau đó, người nói (ban đầu) trở thành người nghe Nghe xong họ đưa ra lời trao Cuộc giao tiếp cứ như thế tiếp diễn Như vậy, luôn có sự thay đổi vai trong một cuộc giao tiếp Một người có lúc đóng vai người nghe, lúc khác lại đóng vai người nói Do đó, muốn cuộc giao tiếp đạt kết quả như mong muốn, người nói cần phải xác định đúng vai quan hệ vai giữa mình với người nghe để lựa chọn hình thức giao tiếp thích hợp nhất
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật tham gia hội thoại biểu hiện ở các phạm vi: vị thế xã hội, vị thế giao tiếp và quan hệ thân cận
Vị thế xã hội của những người tham gia hội thoại phụ thuộc vào chức quyền, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, địa vị trong gia đình,…của họ Các yếu tố này
Trang 16thường tác động trực tiếp đến cuộc giao tiếp
Quan hệ thân cận là quan hệ thiên về tình cảm giữa những người tham gia cuộc giao tiếp Quan hệ thân cận biểu hiện trên các mức độ: thân hay sơ, nồng nàn, thắm thiết hay lạnh nhạt, quý mến hay xa lạ,…Mối quan hệ này có thể có sự biến đổi trong và sau cuộc hội thoại
Như phần trên đã nêu, những người tham gia giao tiếp còn bị chi phối bởi vị thế giao tiếp Trong một cuộc giao tiếp bao giờ cũng có người ở vị thế mạnh, người ở vị thế yếu Người ở vị thế giao tiếp mạnh sẽ chi phối một cách tự giác hoặc ngẫu nhiên, có chủ đích hoặc không có chủ đích cuộc giao tiếp Ngược lại, người ở vị thế giao tiếp yếu sẽ bị chi phối, bị lôi theo các nội dung giao tiếp do người ở vị thế giao tiếp mạnh nêu ra
1.2.2 Hiện thực được nói tới (Nội dung giao tiếp)
Bất kì một cuộc giao tiếp nào cũng xoay quanh một phạm vi, hiện thực nhất định Phạm vi - hiện thức đó trở thành hiện thực- đề tài của cuộc giao tiếp Hiện thực được nói tới bao gồm những sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, những tâm trạng, tình cảm,… được đưa vào ngôn bản Đó là những hiện thực được
đề cập tới trong ngôn bản hoặc những điều người nói, người viết muốn gửi gắm tới người nghe, người đọc
Khi thực hiện một cuộc giao tiếp, để xác định hiện thực được nói tới, người nói/ viết phải trả lời câu hỏi: Mình sẽ nói/ viết về vấn đề gì? Mình sẽ gửi gắm điều gì (thông điệp nào) tới người nghe/ người đọc?
Bộ phận nào của hiện thực muốn trở thành đề tài giao tiếp phải được các thành viên tham gia cuộc giao tiếp chấp nhận thông qua thương lượng Cuộc thương lượng về đề tài giao tiếp có thể diễn ra dài hay ngắn, thuận lợi hay khó khăn, từ lúc chuẩn bị hay ngay khi mở đầu cuộc giao tiếp Việc thương lượng đề tài giao tiếp thường chiếm thời gian ngắn trong một cuộc giao tiếp nhưng lại có vai trò quan trọng, nhiều khi có tính chất quyết định đến sự thành bại của cuộc giao tiếp.Nếu một trong hai bên vì lí do nào đó từ chối đề tài cuộc giao tiếp thì cuộc giao tiếp không thể tiến hành được và bên nêu đề tài giao tiếp đã thất bại
Trang 171.2.3 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh diễn ra cuộc giao tiếp Có hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm: hoàn cảnh địa
lí, xã hội, lịch sử, kinh tế,… chung của dân tộc, của đất nước Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là nơi chốn, thời gian cụ thể diễn ra cuộc giao tiếp
Mỗi hoàn cảnh giao tiếp sẽ quy định một cách thức sử dụng ngôn ngữ phù hợp với nó Các quy định này đều có tính đặc thù so với quy định chung của xã hội Những người tham gia giao tiếp tại các hoàn cảnh đó phải hiểu và tuân theo các quy định đặc thù đó mới có thể thành công
1.2.4 Mục đích giao tiếp
Mỗi hoạt động giao tiếp diễn ra đều nhằm một hoặc một số mục đích nào đó (gọi tắt là đích của giao tiếp) Mục đích giao tiếp có liên quan đến chức năng của giao tiếp như chức năng thông báo, tạo lập quan hệ, biểu hiện, giải trí, hành động Giao tiếp có thể nhằm mục đích làm quen, bày tỏ nỗi vui mừng, lo sợ, thông báo cho người nghe một tư tưởng, một nhận thức nào đó của mình, đưa ra một lời mời hay một yêu cầu đòi hỏi người nghe phải thực hiện, đặt ra một câu hỏi về một vấn
đề mà mình chưa rõ để người nghe giải đáp
Khi đích giao tiếp đạt được thì cuộc giao tiếp đạt hiệu quả: hoặc đạt được hoàn toàn, hoặc đạt được một phần Cũng có khi cuộc giao tiếp thất bại hoàn toàn vì không hề đạt mục đích được đặt ra từ đầu
Mục đích giao tiếp là một trong những yếu tố chi phối việc lựa chọn nội dung
và cách thức giao tiếp Do vậy, những người tham gia giao tiếp rất cần xác định mục đích giao tiếp ngay từ đầu, từ đó lựa chọn nội dung, cách thức giao tiếp thích hợp để đạt tới đích đó một cách tốt nhất trong thời gian ngắn nhất
1.2.5 Ngôn ngữ được sử dụng
Ngôn ngữ được sử dụng là ngôn ngữ được người nói, người viết dùng để tạo thành ngôn bản Trong giao tiếp, ngôn ngữ có thể được sử dụng ở dạng nói (giao tiếp miệng/ khẩu ngữ) hoặc dạng viết (giao tiếp viết/ bút ngữ) và có thể được dùng theo cách khác nhau Đã có nội dung, nhưng để lựa chọn hình thức ngôn ngữ giao tiếp phù hợp nhất, người nói/ người viết cần trả lời các câu hỏi: Nên nói hay viết?
Trang 18Nên sử dụng ngôn ngữ như thế nào (lựa chọn từ xưng hô thế nào, dẫn dắt vấn đề theo cách nào…)?
Tuy nhiên, mỗi dạng ngôn ngữ lại có những đặc điểm riêng khác nhau Ngôn ngữ nói có những đặc thù như: có thể sử dụng tất cả các lớp từ trong vốn từ của một ngôn ngữ; thường sử dụng các câu trúc ngữ pháp đơn giản, giản lược, các cách diễn đạt không theo quy tắc ngữ pháp chuẩn mực, nói tắt,…; chú trọng sử dụng ngữ điệu
để diễn đạt một số nội dung thông tin và nội dung liên quan đến tình cảm, cảm xúc, biểu đạt thái độ…của người nói; được sự phụ trợ có hiệu quả của các yếu tố phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ nét mặt,…của người tham gia giao tiếp
Trong giao tiếp, có những chuẩn mực ngôn ngữ được cả xã hội hoặc cộng đồng thừa nhận Đó là căn cứ để xã hội đánh giá ngôn ngữ cá nhân hoặc ngôn ngữ của của các nhóm người trong xã hội khi giao tiếp Bên cạnh ngôn ngữ chuẩn mực, lại
có các phương ngữ địa lí, các loại biệt ngữ xã hội,… Sự phân chia này dựa theo đối tượng sử dụng ngôn ngữ Ngôn ngữ mỗi cá nhân dùng khi giao tiếp đều có dâu ấn của ngôn ngữ chuẩn mực, của phươg ngữ, của ngữ vực, thậm chí của cả biệt ngữ xã hội, đồng thời kèm theo là những sáng tạo của riêng cá nhân
1.3 Rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học
người khác, nhưng cũng có thể thông qua quá trình tự học Rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học là quá trình tổ chức các hoạt động nhằm giúp người học hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lí thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của học sinh ở gia đình, nhà trường, xã hội,…
1.4 Vai trò của việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp (KNGT) cho học sinh Tiểu học
1.4.1 Rèn luyện KNGT trong việc hình thành và phát triển nhân cách
Giao tiếp là nhu cầu bậc cao của con người và là nhu cầu không thể thiếu được trong sự tồn tại, phát triển của con người Thông qua giao tiếp, con người mới có thể hòa nhập vào các mối quan hệ khác nhau trong xã hội để tạo ra hoạt động xã hội Từ đó, con người lĩnh hội được các chuẩn mực đạo đức, giá trị xã hội và có sự
Trang 19nhìn nhận, đánh giá về giá trị đạo đức theo quan điểm của mỗi thời đại Từ cách nhìn nhận, đánh giá đó, con người tự điều chỉnh, điều khiển bản thân theo các chuẩn mực xã hội, đồng thời mỗi con người có thể tham gia đóng góp những giá trị phẩm chất, nhân cách cho sự phát triển chung của xã hội
Trong cuộc sống, giao tiếp có vị trí vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với lứa tuổi học sinh đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách Bởi vì nhờ có giao tiếp, các em mới học tập hiệu quả, nhờ có giao tiếp các em mới tự tin tham gia vào các hoạt động giáo dục trong nhà trường, gia đình và xã hội, trải nghiệm bản thân Vì vậy, nhà trường cần phải quan tâm rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh Đó là các kĩ năng: diễn đạt, nghe, hiểu, tự chủ cảm xúc, tạo lập các mối quan
hệ, chủ động điều khiển giao tiếp hay các kĩ năng qua sử dụng ngôn ngữ cơ thể như: biểu lộ cảm xúc qua nét mặt, cử chỉ, hành động,…nhờ đó, các em học được cách đánh giá hành vi và thái độ, lĩnh hội được các tiêu chuẩn đạo đức từ cuộc sống, kiểm tra và vận dụng các tiêu chuẩn đó vào thực tiễn
Học sinh Tiểu học chuyển từ vui chơi sang học tập là chính, quan hệ xã hội của học sinh được mở rộng Vì vậy, việc rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh là việc làm
có ý nghĩa Trong chương trình các môn học ở Tiểu học, các em cũng được rèn kĩ năng giao tiếp Chẳng hạn, trong môn Đạo đức và môn Tự nhiên xã hội rèn cho các
em cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày Môn Tiếng Việt, mà đặc biệt là trong phân môn Tập làm văn của lớp 2 đã chú trọng dạy cho học sinh các nghi thức lời nói Qua các bài học đó, các em biết nói lời cảm ơn, lời xin lỗi, biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cùng người khác, dạy cho các em biết cách nhận thức đúng đắn về mình, nhận biết về đối tượng giao tiếp, biết cách tiếp cận với đối tượng giao tiếp và biết bày tỏ thái độ, quan điểm của mình bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt và bằng cả những việc làm khi cần thiết Nó giúp các em tự tin trong học tập, tự chủ trong quan hệ xã hội, mạnh dạn và tự tin trong khi tham gia hoạt động học tập và hoạt động tập thể
Như vậy, kĩ năng giao tiếp giúp cho học sinh biết cách giải quyết những tình huống trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em nói những điều muốn nói, làm những việc nên làm, đồng thời biết lắng nghe và thấu hiểu người khác, giúp các em
Trang 20tự tin, mạnh dạn hơn trong cuộc sống
1.4.2 Rèn luyện KNGT tạo nên giá trị sống tích cực của học sinh
Giao tiếp và năng lực giao tiếp phản ánh trình độ văn hóa, trình độ giáo dục của con người Chính năng lực và kĩ năng giao tiếp của học sinh góp phần tạo nên chất lượng giáo dục, đào tạo
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học sẽ giúp các em hướng tới giá trị sống tích cực, hành vi ứng xử có văn hóa, đó là giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị về lòng khoan dung, đức độ, giá trị về trí tuệ, sáng tạo,…
Rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học giữ vai trò rất to lớn trong việc bắt đầu tạo nên hệ giá trị sống cho các em Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh thông qua phân môn Tập làm văn ở lớp 2 sẽ giúp các em thể hiện được giá trị bản thân vào cuộc sống Từ đó, các em trưởng thành với một hệ giá trị tích cực bởi thành quả của quá trình giáo dục Bên cạnh đó, việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh thông qua phân môn Tập làm văn lớp 2 còn xây dựng
và tạo nên nét văn hóa trong nhà trường Đó là văn hóa ứng xử và văn hóa giao tiếp
1.4.3 Rèn luyện KNGT cho học sinh, giúp học sinh tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống
Giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu của mỗi con người và có vai trò quan trọng, tích cực trong hoạt động xã hội, trong hình thành và phát triển nhân cách, tạo lập các mối quan hệ tốt trong cuộc sống Nhờ có kĩ năng giao tiếp, con người có thể chung sống và hòa nhập trong một xã hội không ngừng biến đổi
Đối với học sinh Tiểu học, giao tiếp giúp cho học sinh trao đổi tri thức, thông tin trong học tập, rèn luyện, chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống…Nhờ có giao tiếp, học sinh biết cách bày tỏ thái độ và quan điểm của mình trong quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội Vì vậy, đối với học sinh Tiểu học, chúng ta cần hướng dẫn các
em, giúp các em Biết- Hiểu- Hành động và cộng tác trong quan hệ giao tiếp với người khác
Kĩ năng giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp tới việc thiết lập các mối quan hệ, đến công việc ở mọi lứa tuổi Kĩ năng giao tiếp tốt là một thế mạnh đối với bất cứ ai trong công việc nói chung và đối với học sinh Tiểu học trong học tập, rèn luyện nói
Trang 21riêng Thông qua các bài học trong phân môn Tập làm văn lớp 2, học sinh sẽ xây dựng cầu nối với bạn bè, với các nền văn hóa của nhân loại, với thầy cô giáo và với người khác, với chính bản thân mình, thuyết phục người khác chấp nhận ý kiến của các em để giải quyết các vấn đề học tập, rèn luyện và bày tỏ được nhu cầu của bản thân Như vậy, rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh sẽ giúp học sinh tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống
1.5 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học
1.5.1 Đặc điểm nhận thức
1.5.1.1 Đặc điểm về tư duy
Ở giai đoạn lớp 1, 2, 3 tư duy trực quan vẫn chiếm ưu thế Việc học tập của học sinh chủ yếu dựa trên việc phân tích, so sánh, đối chiếu các đối tượng và hình ảnh trực quan cụ thể Tư duy của học sinh ở lứa tuổi này vẫn còn bị cái tổng thể chi phối Tư duy phân tích bắt đầu hình thành nhưng còn yếu nên các biểu tượng được hình thành ở học sinh chưa thật chính xác và vững chắc Học sinh có thể bị nhầm lẫn, sai sót trong khi lĩnh hội các âm, vần, các quy tắc ngữ pháp đơn giản
Phán đoán, suy luận của các em thường dựa theo một chiều, dựa vào một dấu hiệu duy nhất Trong tư duy, việc phân loại, phân hạng của các em thường dựa vào những dấu hiệu bề ngoài tác động mạnh mẽ đến các giác quan như màu sắc, hình dạng, kích thước…
1.5.1.2 Tưởng tượng
Hoạt động học tập có tính hệ thống là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tưởng tượng của học sinh Tiểu học Ở lớp 1, 2, tưởng tượng tái tạo của học sinh còn hạn chế và thường chưa phù hợp với đối tượng Các em chỉ hình dung được trạng thái ban đầu và cuối của sự vật, hiện tượng Lên lớp 3, học sinh mới bắt đầu hình dung được đối tượng một cách đầy đủ, trọn vẹn hơn các trạng thái trung gian của
nó
Ở những lớp cuối cấp, tưởng tượng của học sinh ngày càng phát triển theo xu hướng rút gọn và khái quát hơn Đặc điểm này được phát triển song song với ghi nhớ ý nghĩa Điều khác nhau căn bản giữa tưởng tượng của học sinh Tiểu học và trẻ mẫu giáo là ở chỗ: học sinh Tiểu học có ý thức một cách rõ rệt về tính thuần túy,
Trang 22quy ước về những điều tưởng tượng của mình Dần dần những thay đổi và sắp xếp trong hình ảnh tưởng tượng của học sinh được lý giải và luận chứng một cách hợp
lý hơn dưới hình thức ngôn ngữ đầy đủ hoặc dưới kiểu rút gọn theo kiểu “điều đó nhất định sẽ xảy ra nếu…” Đây chính là tiền đề tâm lí quan trọng trong sự phát triển tưởng tượng sáng tạo của các em Tuy nhiên tưởng tượng sáng tạo mới bắt đầu được hình thành ở học sinh Tiểu học và nó sẽ được phát triển mạnh ở lứa tuổi sau
1.5.1.3 Đặc điểm về cảm giác, tri giác
Học sinh tiểu học là lứa tuổi mới lớn, mới tiếp xúc với môi trường học tập nên
có những đặc điểm tri thức riêng
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết, khả năng phân tích trong tri giác còn yếu Các em chưa phân biệt được những sự vật hiện tượng gần giống nhau Tri giác của các em mang tính không chủ định
Tri giác của học sinh tiểu học thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn Các em tri giác sự vật có nghĩa là phải làm cái gì đó với sự vật: cầm, nắm, sờ vào sự vật đó
Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác của học sinh tiểu học Những dấu hiệu, đặc điểm nào của sự vật gây cho các em cảm xúc thì được các em tri giác trước hết
Vì vậy, những cái trực quan, rực rỡ, sinh động được các em tri giác tốt hơn
Tri giác không gian thời gian của học sinh tiểu học còn hạn chế Học sinh gặp khó khăn khi phải tri giác một sự vật quá to hoặc quá nhỏ Các em khó hình dung được những khoảng thời gian như ngày xửa ngày xưa, kỷ nguyên, thế kỉ,…
1.5.1.4 Đặc điểm về trí nhớ
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic
Giai đoạn lớp 1, 2, 3 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế
hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
1.5.1.5 Đặc điểm về tình cảm, cảm xúc
Tình cảm của học sinh Tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động Lúc này, khả năng kiềm chế cảm xúc của học sinh
Trang 23còn non nớt, học sinh dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là học sinh
dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư…
Vì thế, có thể nói tình cảm của học sinh chưa bền vững, dễ thay đổi Tuy vậy,
so với tuổi mầm non thì tình cảm của học sinh Tiểu học đã “người lớn” hơn rất nhiều
1.5.1.6 Đặc điểm về ngôn ngữ
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi học sinh vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5, ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển, học sinh có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Như vậy, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của học sinh, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của học sinh phát triển dễ dàng
và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của học sinh Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của học sinh, chúng ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của các em
Hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định Vì vậy, muốn học sinh chú ý giáo viên cần tìm cách làm cho sự vật trở nên lý thú Mặt khác, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh chú ý đến những sự vật, hiện tượng không gây được sự chú ý trực tiếp
Trang 24Tính cách của học sinh tiểu học có đặc điểm là bướng bỉnh và thất thường Đặc biệt là học sinh lớp 1,2,3 Phần lớn các em có nhiều nét tính cách tốt như lòng vị tha, sự hồn nhiên, tính chân thực, lòng thương người,…Tính hay bắt chước cũng là một điểm quan trọng của lứa tuổi này, chúng ta nên xem tính bắt chước là điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục học sinh bằng những tấm gương cụ thể nhưng cũng cần chú ý đến khả năng tiêu cực của sự bắt chước
Học sinh Tiểu học sớm có thái độ và thói quen tốt với lao động Nhà trường cũng như gia đình nên có sự tổ chức lao động cho các em
1.5.2.3 Tình cảm
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng Đối với học sinh tiểu học, tình cảm còn có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó là khâu quan trọng gắn liền nhận thức với hành động của các em Xúc cảm, tình cảm của học sinh tiểu học giai đoạn lớp 1, 2, 3 có những đặc điểm sau: Đối tượng gây ra xúc cảm cho học sinh tiểu học thường là những sự vật hiện
Trang 25tượng cụ thể, sinh động
Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm và khó kìm hãm cảm xúc của mình
Tình cảm của học sinh tiểu học mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc như
dễ dàng thay đổi ý thích, tình bạn chưa sâu sắc, chưa ổn định,…
1.5.2.4 Ý chí
Việc hình thành năng lực hành động ý chí được bắt đầu từ tuổi thơ khi mà đứa trẻ tiến hành những hành động có sự khắc phục khó khăn Học sinh tiểu học chưa có khả năng đạt mục đích xa và phức tạp cho hành động của mình Chưa có khả năng
tự lập chương trình hành động Do ý chí chưa được phát triển đầy đủ, nên trẻ chưa biết theo đuổi một mục đích lâu dài được đề ra, chưa kiên trì khắc phục khó khăn và trở ngại
Các phẩm chất ý chí như tính độc lập, tính tự kiềm chế còn thấp nên trẻ trông chờ nhiều vào sự giúp đỡ của người khác khi thực hiện hành động
Tính khí thất thường và bướng bỉnh của học sinh làm các em khó thực hiện đến cùng mục đích hành động Học sinh tiểu học dễ bắt chước những hành động của người khác kể cả những hành động vượt quá sức của mình Tính bột phát ngẫu nhiên đôi khi thể hiện trong hành động ý chí của các em
1.6 Những vấn đề về dạy học phân môn Tập làm văn
1.6.1 Vị trí của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học
Tiếng Việt ở trường Tiểu học được dạy và học thông qua các phân môn khác nhau, trong đó phân môn Tập làm văn dạy cho học sinh các kiến thức và kĩ năng giúp học sinh tạo lập, sản sinh ra ngôn bản Nó có vai trò, vị trí quan trọng trong việc dạy và học Tiếng Việt
Phân môn Tập làm văn sử dụng các hiểu biết và kĩ năng về Tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp; đồng thời góp phần hoàn thiện cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn bản (nói và viết) Nhờ vậy, Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ lao động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Nói cách khác, phân môn Tập làm văn đã thực hiện
Trang 26mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng được tiếng Việt để giao tiếp, học tập, tư duy
1.6.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học
Sản phẩm của Tập làm văn là các ngôn bản ở dạng nói và dạng viết theo các dạng lời nói, kiểu bài văn do chương trình quy định, nói cách khác, mục đích của tập làm văn là tạo lập được ngôn bản Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản của dạy học Tập làm văn là hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh Năng lực tạo lập ngôn bản được phân tích thành các kĩ năng bộ phận như: xác định mục đích nói, lập dàn ý, triển khai ý thành lời dưới dạng nói, viết thành câu, đoạn, bài Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn là cung cấp những kiến thức hình thành và phát triển ở các
em những kĩ năng này Ở Tiểu học, phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ rèn kĩ năng nói theo các nghi thức lời nói, nói, viết các ngôn bản thông thường, viết một số văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả
Ngoài nhiệm vụ cơ bản là rèn năng lực tạo lập ngôn bản, phân môn Tập làm văn còn góp phần rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học sinh, như: rèn luyện tư duy hình tượng, từ óc quan sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được đến khả năng nhào nặn các chất liệu trong đời sống thực tế
để xây dựng nhân vật Khả năng tư duy, logic của học sinh cũng được phát triển trong quá trình phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn,… Quá trình sản sinh văn bản cũng giúp các em có kĩ năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn Khi dạy các nghi thức lời nói, phân môn Tập làm văn cũng đồng thời dạy cách cư xử đối với mọi người như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng Để viết văn cần có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người và vạn vật xung quanh Từ đây, tâm hồn và nhân cách của các em sẽ được hình thành và phát triển
1.6.3 Nội dung của phân môn Tập làm văn lớp 2
Để hình thành kiến thức và kĩ năng tập làm văn, nội dung của phân môn Tập Làm văn lớp 2 chia thành hai mảng lớn: luyện nói và luyện viết Hệ thống bài tập Tập làm văn có thể được phân loại theo các tiêu chí khác nhau như sau:
- Dựa vào các dạng thức lời nói và mục đích rèn kĩ năng: bài tập luyện nói (bài tập hội thoại và bài tập độc thoại) và bài tập luyện viết (bài tập viết lời hội thoại, bài
Trang 27tập viết đoạn bài)
- Dựa theo quá trình sản sinh ngôn bản: bài tập tiền sản sinh ngôn bản (bài tập phân tích mẫu; bài tập tìm hiểu đề; bài tập định hướng hoàn cảnh giao tiếp; bài tập tìm ý, lập dàn ý), bài tập sản sinh ngôn bản và bài tập sửa chữa ngôn bản (bài tập chữa lỗi chính tả, bài tập chữa lỗi dùng từ, bài tập chữa lỗi đặt câu, bài tập chữa lỗi dựng đoạn, bài tập viết văn hay )
- Dựa vào mức độ kĩ năng và đặc điểm hoạt động của học sinh: bài tập nhận diện, phân tích, bài tập theo mẫu và bài tập sáng tạo
Về nội dung, thông qua các hoạt động học tập, học sinh được làm quen với các kiểu bài nói theo chủ đề, nói viết phục vụ cuộc sống hàng ngày, viết thư, kể chuyện, miêu tả (tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả người, tả cảnh)… Bên cạnh kiểu bài thực hành rèn luyện kĩ năng, phân môn Tập làm văn cũng có kiểu bài lí thuyết Ngoài ra,
do tính chất đặc thù, trong dạy học phân môn này còn có tiết trả bài tập làm văn Cấu trúc nội dung phân môn Tập làm văn lớp 2 được thể hiện cụ thể như sau:
Em là học
sinh
lục sách
Trang 2815 Chia vui Kể về anh chị em Bạn trong
nhà
Nhân dân
Từ bảng thống kê trên, chúng tôi có thể thấy rằng: các loại bài Tập làm văn được bố trí xen kẽ trong từng tuần, góp phần tô đậm nội dung chủ điểm học tập của từng tuần Quy trình “Tập làm văn” ở lớp 2 chỉ có một phần nhỏ là tập tả và tập kể, còn lại chủ yếu là những bài tập nói và viết những lời đối thoại trong một số tình huống giao tiếp, những bài viết văn bản thường dùng, đơn giản và gần gũi với các
em Như vậy, thông qua môn học các em đã được rèn luyện cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc và viết Đặc biệt là kĩ năng giao tiếp được hoàn thiện và nâng cao hơn góp phần
hình thành các em năng lực sử dụng Tiếng Việt một cách có hiệu quả
Trang 30Chương 2
THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO CHO HỌC SINH LỚP 2
THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN 2.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn
Tìm hiểu kĩ năng giao tiếp của học sinh
Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp một cách phù hợp và hiệu quả
2.2 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là giáo viên giảng dạy khối lớp 2 và học sinh khối 2 của 5 trường Tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng Cụ thể là: Trường Tiểu học Duy Tân, Trường Tiểu học Bùi Thị Xuân, Trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên, Trường Tiểu học Phan Phu Tiên và Trường Tiểu học Hồng Quang
2.3 Thời gian điều tra
Thời gian tiến hành điều tra: Từ ngày 1/10/2014 đến ngày 31/01/2015
2.4 Nội dung điều tra
Tìm hiểu những phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng thường xuyên trong quá trình dạy học phân môn Tập làm văn lớp 2
Tìm hiểu về nhận thức của giáo viên về việc rèn kĩ năng giao tiếp trong quá trình dạy học phân môn Tập làm văn lớp 2
Tìm hiểu khả năng nghe, khả năng nói và khả năng vận dụng những kiến thức
đã học ở phân môn Tập làm văn vào thực tế gia đình và cộng đồng của học sinh Tìm hiểu nguyên nhân về khả năng giao tiếp của học sinh lớp 2 trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2
Tìm hiểu các hoạt động học sinh yêu thích trong quá trình học phân môn Tập làm văn
Tìm hiểu sự yêu thích và hứng thú của học sinh khi học các bài: chào hỏi, đáp lời chia vui, đáp lời khen ngợi,…
Trang 312.5 Phương pháp điều tra
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra bằng Anket (phiếu điều tra) các nội dung đưa ra ở trên được thể hiện dưới dạng câu hỏi đóng hoặc câu hỏi mở
Phương pháp xử lí thống kê: chúng tôi đã phát phiếu và thu lại phiếu Sau khi thu thập từ phiếu điều tra, chúng tôi tiến hành xử lí thông kê qua đó nhận xét về thực trạng rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh
Phương pháp quan sát: chúng tôi dự giờ các tiết dạy Tập làm văn để quan sát giáo viên sử dụng các phương pháp dạy các bài tập làm văn thông qua đó rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh, quan sát hoạt động dạy- học của giáo viên và học sinh Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện: chúng tôi phỏng vấn, trò chuyện trực tiếp với giáo viên và học sinh để tìm hiểu quá trình rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh và
kĩ năng giao tiếp của học sinh khi học xong các bài tập làm văn
2.6 Kết quả điều tra
2.6.1 Thực trạng dạy học kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn
Để thấy được thực trạng giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 29 giáo viên giảng dạy ở khối lớp 2 của 5 trường Tiểu học và thu được kết quả trình bày ở bảng 2.1
Trang 32Bảng 2.1 Các phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2
thông qua phân môn Tập làm văn
Phương pháp
Nội dung
Đặt vấn đề Thảo luận Đàm thoại Trò chơi
học tập Giao tiếp Đóng vai
Thực hành, luyện tập
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%) Chào hỏi, tự giới thiệu 4 5,1 8 10,4 13 16,9 9 11,7 8 10,4 22 28,6 13 16,9 Đáp lời chào, lời tự giới thiệu 4 5,9 7 10,2 11 16,2 8 11,8 4 5,9 21 30,9 13 19,1 Nói lời cảm ơn, xin lỗi 5 5,8 8 9,3 8 9,3 12 14,0 15 17,4 20 23,3 18 20,9 Đáp lời cảm ơn, xin lỗi 4 5,1 9 11,5 10 12,8 11 14,1 7 9,0 19 24,4 18 23,1 Nói lời yêu cầu, đề nghị 6 7,2 12 14,3 12 14,3 10 11,9 10 11,9 24 28,5 10 11,9
Nói lời từ chối yêu cầu, đề nghị 6 7,6 14 17,5 14 17,5 8 10,0 7 8,8 21 26,1 10 12,5
Đáp lời từ chối 5 6,6 10 13,1 13 17,1 8 10,5 6 7,9 23 30,3 11 14,5 Nói lời chia buồn, an ủi 6 7,9 12 16,0 12 16,0 8 10,7 8 10,7 21 28,0 8 10,7
Trả lời và đọc câu hỏi đơn giản 14 22,2 10 15,9 23 36,5 0 0 2 3,2 3 4,8 11 17,4
Kể một mẩu chuyện hoặc một đoạn của
Nói lời giới thiệu đơn giản về bản thân,
gia đình, bạn bè, trường lớp theo gợi ý 17 21,3 13 16,1 17 21,3 8 10,0 3 3,8 6 7,5 16 20
TỔNG 110 8,7 165 13,1 204 16,2 136 10,8 110 8,7 334 26,5 201 16,0