Nó đặc biệt có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực lại có thể áp dụng rộng rãi trong việc chứng mình các bài toán tổ hợp, số học, đại số và là công cụ tạo nên nhiều kết quả đẹp trong hình học.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
DỊCH THỊ THÙY LINH
NGUYÊN LÝ DIRICHLET VÀ ỨNG DỤNG GIẢI TOÁN SƠ CẤP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Đà Nẵng - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
DỊCH THỊ THÙY LINH
NGUYÊN LÝ DIRICHLET VÀ ỨNG DỤNG GIẢI TOÁN SƠ CẤP
Chuyên nghành : Phương pháp Toán sơ cấp
Mã số : 60.46.01.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học :PGS.TSKH TRẦN QUỐC CHIẾN
Đà Nẵng - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Dịch Thị Thùy Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
6 Cấu trúc luận văn 2
CHƯƠNG 1 KIẾN THỨC CƠ SỞ 3
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ TỔ HỢP 3
1.1.1 Sơ lược lịch sử 3
1.1.2 Bài toán tổ hợp 8
1.2 NGUYÊN LÝ DIRICHLET 10
1.2.1 Đôi nét về nhà toán học Dirichlet 10
1.2.2 Nguyên lý Dirichlet 11
1.2.3 Nguyên lý Dirichlet Đối ngẫu 14
CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG NGUYÊN LÝ DIRICHLET VÀO GIẢI TOÁN SƠ CẤP 23
2.1 ỨNG DỤNG TRONG LÝ THUYẾT TỔ HỢP 23
2.2 ỨNG DỤNG TRONG SỐ HỌC 27
2.3 ỨNG DỤNG TRONG SỐ HỌC 32
2.4 CÁC ỨNG DỤNG KHÁC 43
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong toán học việc tìm ra kết quả cụ thể của một bài toán đôi khi rất khó khăn,trong những trường hợp như thế ta chỉ cần chỉ ra sự tồn tại là đủ rồi Đặc biệt việc chỉ ra một cấu hình thỏa mãn tính chất nào đó có ý nghĩa quan trọng về mặt lí thuyết cũng như thực tế Bài toán tồn tại được nghiên cứu từ rất lâu và gớp phần đáng kể thúc đẩy sự phát triển của lí thuyết tổ hợp cũng như nhiều nghành toán học khác
Nguyên lý dirichlet nhiều khi người ta hay gọi là nguyên lí ngăn kéo hay chuồng bồ câu là một nguyên lí có nội dung khá đơn giản, song nó lại là một công cụ rất hiệu quả dùng để chứng minh nhiều kết quả sâu sắc của toán học Đôi khi có những bài toán người ta đã dùng rất nhiều phương pháp khác nhau để giải mà vẫn chưa đi đến được kết quả, nhưng nhờ nguyên lí Dirichlet
mà bài toán trở nên dễ dàng giải quyết
Dùng nguyên lí này ta dễ dàng chứng minh sự tồn tại của một đối tượng với tính chất xác định Nó đặc biệt có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực lại
có thể áp dụng rộng rãi trong việc chứng mình các bài toán tổ hợp, số học, đại
số và là công cụ tạo nên nhiều kết quả đẹp trong hình học.Đặc biệt trong các
kì thi học sinh giỏi cũng như Olympic toán quốc tế ngyên lý này được áp dụng rất nhiều Cùng với mong muốn tạo ra một tài liệu hữu ích cho các thầy
cô giáo và các em học sinh đam mê tìm tòi toán học, cùng với sự giúp đỡ của
PGS.TSKH Trần Quốc Chiến nên tôi chọn đề tài “Nguyên lý dirichlet và ứng dụng giải các bài toán sơ cấp” cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành với mục tiêu nghiên cứu nội dung ,các tính chất của nguyên lý Dirichlet nguyên lý mở rộng, đối ngẫu của nó.Đồng thời
Trang 6nghiên cứu ứng dụng của các nguyên lí này vào việc giải các bài toán về số
học, hình học, tổ hợp vv trong toán sơ cấp
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguyên lí dirichlet, nguyên lí dirichlet mở rộng , nguyên lí dirichlet đối ngẫu, ứng dụng của các nguyên lí này vào giải toán
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nguyên lí Dirichlet trong giải toán sơ cấp
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các cơ sở lí luận, cơ sở khoa học nhằm cho một cái nhìn tổng quát nhất về nội dung nguyên lí Dirichlet và nhận diện bài toán để có
thể giải quyết được bằng nguyên lí Dirichlet
Phân tích và tổng hợp các dạng bài tập nhằm xây dựng được một hệ thống bài tập đi từ dễ tới khó, từ cụ thể tới tổng quát có ứng dụng nguyên lí
Dirichlet
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Giúp bạn đọc tiếp cận với một phương pháp chứng minh toán học hữu hiệu, thú vị Và hi vọng cung cấp một tài liệu bổ ích cho các em ham mê tìm
tòi toán học
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm có 2 chương
Chương 1 : KIẾN THỨC CƠ SỞ, trình bày sơ lược đại cương về tổ hợp, nội dung nguyên lý Dirichlet, các tính chất và định lý lien quan đến nguyên lý
Chương 2 : ỨNG DỤNG NGUYÊN LÝ DIRICHLET VÀO GIẢI TOÁN SƠ CẤP, trình bày một số bài toán ứng dụng nguyên lý Dirichlet trong lý thuyết tổ hợp, số học , hình học ….vv
Trang 7CHƯƠNG 1 KIẾN THỨC CƠ SỞ
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ TỔ HỢP
Tổ hợp là một lĩnh vực của toán học rời rạc, là ngành khoa học xuất hiện khá sớm vào đầu thế kỷ 17 Hiện nay, lý thuyết tổ hợp được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như lý thuyết số, hình học, đại số, xác suất thống kê, khoa học máy tính, hóa học…Tổ hợp đụng chạm đến nhiều vấn
đề khác nhau của toán học nên khó có thể định nghĩa một cách tổng quan
Nội dung của lý thuyết tổ hợp gắn liền với việc nghiên cứu, phân bố các phần tử vào các tập hợp Các phần tử này thường hữu hạn và việc phân bố phải thỏa mãn những điều kiện nhất định nào đó
Trong nhiều trường hợp, việc xác định sự tồn tại một cấu hình thỏa mãn tính chất nào đó có ý nghĩa quan trọng về mặt lý thuyết cũng như thực tế
Vì vậy một bài toán tổ hợp là một bài toán: “Xét sự tồn tại các cấu hình tổ hợp thỏa mãn tính chất cho trước”
Bài toán tồn tại được nghiên cứu từ rất lâu và góp phần đáng kể thúc đẩy sự phát triển của lý thuyết tổ hợp cũng như nhiều ngành toán học khác, các bài toán dưới đây phần nào cho ta thấy rõ hơn điều đó
1.1.1 Sơ lược lịch sử
Có thể nói tư duy tổ hợp ra đời từ rất sớm Vào thời nhà Chu – Trung Quốc người ta đã biết đến những hình vuông thần bí Thời cổ Hy Lạp – thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên, nhà triết học Kxenokrat đã biết cách tính số các từ khác nhau lập từ bảng chữ cái cho trước Nhà toán học Pitagor và học trò đã tìm ra được nhiều số có tính chất đặc biệt Chẳng hạn, 36 không những là tổng của 4 số chẵn và 4 số lẻ đầu tiên, mà còn là tổng lập phương của 3 số tự nhiên đầu tiên
Trang 8Từ định lý Pitagor người ta cũng đã tìm ra những số mà bình phương của nó bằng tổng bình phương của 2 số khác Các bài toán như vậy đòi hỏi phải có nghệ thuật tổ hợp nhất định Tuy nhiên có thể nói rằng, lý thuyết tổ hợp được hình thành như một ngành toán học mới vào thế kỉ 17 bằng một loạt công trình nghiên cứu của các nhà toán học xuất sắc như Pascal, Fermat, Euler, Leibnitz, …
Các bài toán tổ hợp có đặc trưng bùng nổ tổ hợp với số cấu hình tổ hợp khổng lồ Việc giải chúng đòi hỏi một khối lượng tính toán khổng lồ (có trường hợp mất hàng chục năm) Vì vậy trong thời gian dài, khi mà các ngành toán học như phép tính vi phân, phép tính tích phân, phương trình vi phân,
…phát triển như vũ bão, thì dường như nó nằm ngoài sự phát triển và ứng dụng của toán học Tình thế thay đổi từ khi xuất hiện máy tính và sự phát triển của toán học hữu hạn Nhiều vấn đề tổ hợp đã được giải quyết trên máy tính Từ chỗ chỉ nghiên cứu các trò chơi, tổ hợp đã trở thành ngành toán học phát triển mạnh mẽ, có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực toán học, tin học,…
Chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu, tìm hiểu một số bài toán nổi tiếng trong lịch sử
Bài toán tháp Hà Nội
Bài toán này do Edouard Lucas đưa ra vào cuối thế kỉ 19(ông cũng là
người đưa ra dãy Fibonacci) Bài toán phát biểu như sau: Có 3 cọc, cọc thứ nhất có n đĩa kích thước khác nhau, xếp chồng nhau, đĩa nhỏ nằm trên đĩa lớn Hãy chuyển các đĩa từ cọc thứ nhất sang cọc thứ ba, sử dụng cọc trung gian thứ hai sao cho luôn đảm bảo đĩa nhỏ nằm trên đĩa lớn Hãy đếm số lần
di chuyển đĩa Tìm phương án di chuyển tối ưu
Số lần di chuyển là 2n1
Trang 9Khi n=64 ta có số lần di chuyển là 18 446 744 073 709 551 615
Bài toán xếp n cặp vợ chồng
Bài toán này cũng do Lucas đưa ra năm 1891 Bài toán phát biểu như
sau: Có n cặp vợ chồng cần xếp vào bàn tròn sao cho không có cặp nào
ngồi gần nhau Có bao nhiêu cách xếp như vậy?
Bài toán này dẫn đến việc ngiên cứu một khái niệm quan trọng là số phân bố và mãi đến năm 1934 mới có lời giải
Số cách xếp là 2.n! U n trong đó U n là số phân bố Bảng sau cho thấy
sự bùng nổ tổ hợp ghê gớm của số phân bố
Un= 2 13 80 579 4 738 43 387 439 729 4 890741
Bài toán đường đi quân ngựa trên bàn cờ
Cho bàn cờ vua với kích thước 8 x 8 = 64 ô Tìm đường đi của quân ngựa qua tất cả các ô, mỗi ô chỉ 1 lần, và quay về ô xuất phát Người ta chứng minh tổng quát được rằng:
Trên bàn cờ vuông có số cạnh chẵn lớn hơn hoặc bằng 6 bao giờ cũng tồn tại đường đi
Đường đi của Euler (1759) có tính chất: hiệu các ô đối xứng qua tâm
Trang 10Đường đi của Beverle (1848) có tính chất: tổng các ô trên cột và hàng bằng 260
Hình vuông la tinh cấp n là hình vuông gồm các số 1, 2, …, n – 1, n
thỏa mãn tổng mỗi hàng và tổng mỗi cột đều bằng nhau và bằng :
Trang 11Công thức tính số hình vuông la tinh đến nay vẫn còn bỏ ngỏ Tuy nhiên, ta có thể lập chương trình liệt kê tất cả hình vuông la tinh chuẩn Dưới đây là một số giá trị:
l n = 1 1 1 4 56 9 408 16 942 080
(l n là số hình vuông la tinh chuẩn cấp n)
Hình lục giác thần bí
Năm 1910 Cifford Adams đưa ra bài toán hình lục giác thần bí sau:
Trên 19 ô lục giác hãy điền các số từ 1 đến 19 sao cho tổng theo sáu hướng của lục giác bằng nhau (= 38)
Sau 47 năm trời kiên nhẫn cuối cùng ông cũng tìm ra lời giải Nhưng
do sơ ý đánh mất bản thảo ông đã tốn thêm 5 năm nữa để khôi phục lời giải Năm 1962
Adams công bố lời giải Đây cũng là lời giải duy nhất
Trang 12
Mỗi cách phân bố sắp xếp như thế gọi là một cấu hình tổ hợp
một cấu hình tổ hợp trên các tập A 1, A 2 ,….,A n
Ví dụ: Xét sự bố trí các quân cờ trên bàn cờ vua Mỗi thế cờ có thể coi
là một cấu hình tổ hợp Ở đây ta có thể định nghĩa
A là tập hợp các quân cờ trắng
B là tập hợp các quân cờ đen
S là sơ đồ sắp xếp các quân cờ trên bàn cờ
R là hệ thống các điều kiện được xác định bằng luật cờ vua
Ví dụ: Bài toán tháp Hà Nội
A là tập hợp n đĩa
S là sơ đồ sắp xếp các đĩa trên 3 cọc
R 1 là điều kiện mỗi lần chuyển 1 đĩa từ một cọc sang cọc khác
R 2 là điều kiện đĩa nằm dưới lớn hơn đĩa nằm trên
Cấu hình tổ hợp là một cách sắp xếp các đĩa trên 3 cọc thỏa các điều
kiện R 1 và R 2
Ví dụ: Bài toán đường đi quân ngựa trên bàn cờ
Trang 13A là tập hợp các ô trên bàn cờ, có thể biểu diễn như sau
S là sơ đồ sắp xếp tất cả các ô của A thành một vòng khép kín
R là điều kiện từ mỗi ô trên vòng có thể đi đén các ô kề theo quy tắc đi của quân ngựa
b Các dạng bài toán tổ hợp
Bài toán tồn tại
Mục tiêu của bài toán tồn tại là chứng minh sự tồn tại hoặc không tồn tại của cấu hình tổ hợp nào đó
Có những bài toán loại này rất khó và việc cố gắng giải chúng đã thúc đẩy sự phát triển nhiều hướng nghiên cứu toán học
Ví dụ: Cho n nguyên dương
A là tập hợp n x n điểm
S là tập hợp 2n điểm trong A
R là điều kiện không có 3 điểm trong S thẳng hàng
Với 2 n 15 cấu hình tổ hợp tồn tại Nhưng bài toán chưa có lời giải với
Ví dụ: Đếm số tập con của một tập hợp
Hoặc đếm số nghiệm nguyên dương của phương trình
Trang 14x + y + z = 10
Bài toán liệt kê
các bài toán loại này nghiên cứu những thuật toán hiệu quả để xây dựng tất cả các cấu hình tổ hợp đã cho Nhiều vấn đề trong lĩnh vực khác nhau thường được đưa về bài toán liệt kê và kiểm tra xem các cấu hình tổ hợp có thỏa mãn tính chất cho trước hay không
Ví dụ: Liệt kê tất cả các hoán vị của n phần tử
Bài toán tối ưu tổ hợp
Trong nhiều vấn đề, mỗi cấu hình tổ hợp được gán một giá trị bằng số (chẳng hạn như hiệu quả sử dụng, hay chi phí thực hiện) Khi đó bài toán tối
ưu tổ hợp nghiên cứu những thuật toán tìm cấu hình tổ hợp có giá trị tối ưu (lớn nhất hoặc nhỏ nhất )
Ví dụ: (Bài toán ba lô) Một nhà thám hiểm dùng một cái ba lô trọng
lượng không quá b để mang đồ vật Có n đồ vật 1, 2,…,n Đồ vật thứ j có trọng lượng và aj giá trị sử dụng là c j = 1, 2, …n Hỏi nhà thám hiểm
cần mang theo những đồ vật nào để tổng giá trị sử dụng là lớn nhất ?
1.2 NGUYÊN LÝ DIRICHLET
1.2.1 Đôi nét về nhà toán học Dirichlet
G Lejeune-Dirich tên đầy đủ là Johann Peter Gustav Lejeune Dirichlet, (1762-1837) là nhà toán học nổi tiếng người Đức Ông là người có những phát minh lớn trong lí thuyết số, thiết lập các công thức cho cho số các lớp dạng toàn phương hai ngôi với định thức cho trước Ông cũng là người chứng minh định lý về tập hợp vô hạn các số nguyên tố trong một cấp số cộng gồm những số nguyên mà số hạng đầu và công sai là nguyên tố cùng nhau bằng cách sử dụng những hàm giải tích, gọi là hàm (chuỗi) Dirichlet và sáng lập ra
lý thuyết tổng quát về các đơn vị đại số trong một trường số đại số
Trang 15Về giải tích, Dirichlet là một trong những người đầu tiên quan niệm
hàm là sự cho ứng với mọi x một phần tử y, mà không cần phải có biểu thức của y theo x bằng các phép tính số học Dirichlet cũng là người đầu tiên đề
xuất và nghiên cứu khái niệm hội tụ có điều kiện của chuỗi
Ông phát biểu và chứng minh những điều kiện đủ, thường gọi là điều kiện Dirichlet, để chuỗi Fourier của một hàm số hội tụ tới hàm số đó
Dirichlet cũng có những công trình đáng kể về cơ học và vật lý toán, đặc biệt về lý thuyết thế
Nguyên lí Dirichlet - còn gọi là nguyên lí chim bồ câu (The Pigeonhole Principle) hoặc nguyên ý những cái lồng nhốt thỏ hay nguyên lí sắp xếp đồ vật vào ngăn kéo (The Drawer Principle) – là nguyên lý đưa ra một nguyên tắc về phân chia phần tử các lớp
Nguyên lí này được Dirichlet phát biểu đầu tiên năm 1834
Nguyên lý Dirichlet là một công cụ rất hiệu quả dùng để chứng minh nhiều kết quả sâu sắc của toán học Nó đặc biệt có nhiều áp dụng trong lĩnh vực khác nhau
1.2.2 Nguyên lý Dirichlet
a Nguyên lý Dirichlet 1 (Nguyên lý những ngăn kéo)
Nguyên lý Dirichlet khẳng định một sự kiện “hiển nhiên” rằng n+1 vật không thể xếp vào n ngăn kéo sao cho mỗi vật ở riêng một ngăn kéo Một
cách tổng quát, nguyên lý này khẳng đinh rằng :
Nếu có m đối tượng được xếp vào n hộp với m >n thì tồn tại hộp chứa
ít nhất hai đối tượng
Chứng minh:
Nguyên lý này rất dễ kiểm tra:
Giả Sử : Nếu không có hộp nào chứa ít nhất 2 đối tượng, thì số đối
tượng không lớn hợn n, mâu thuẫn với giả thuyết số đối tượng m lớn hơn số
Trang 16hộp n
Tuy rằng với nguyên lý này người ta chỉ chứng minh được sự tồn tại mà không đưa ra phương pháp tìm được vật cụ thể,nhưng trong thực tế nhiều bài toán ta chỉ cần chỉ ra sự tồn tại là đủ rồi Ngày nay chúng ta đã
có những tổng quát hóa rất mạnh của nguyên lý này trong các ứng dụng không tầm thường như các định lý kiểu Ramsey, phương pháp xác suất…vv
Bằng cách chọn ngăn kéo và vật một cách khéo léo thì việc giải các bài toán sử dụng nguyên lý Dirichlet trở nên rất đơn giản
(vô lí vì giả thiết cho m vật)
Vậy giả sử sai Nguyên lí được chứng minh
Trang 17Ví dụ 1: Trong 100 người thì bao giờ cũng có ít nhất 9 người cùng
Giả sử A , A , A1 2 k là các tập con hữu hạn của S
a.) Nếu mỗi phần tử của S chứa ít nhất r tập con A i thì :
Trang 18Ví dụ : Xếp ngẫu nhiên các số 1, 2, , 12 trên vòng tròn Chứng minh
rằng luôn tìm được 3 số kề nhau có tổng lớn hơn hoặc bằng 20
Suy ra tồn tại một tập A i có chứa ít nhất 20 quả bóng
1.2.3 Nguyên lý Dirichlet Đối ngẫu
a Nguyên lý Dirichlet đối ngẫu hữu hạn phần tử
Nguyên lý Dirichlet đối ngẫu được phát biểu như sau:
Nguyên lý Dirichlet đối ngẫu : Cho tập hữu hạn S và S1 ,S2,…
Sn là các tập con của S sao cho S1 S2 S n k S Khi đó tồn tại một
phần tử xS sao cho x là phần tử chung của k+1 tập S ( i i 1 2, , n )
Ta sẽ chứng minh nguyên lí này tương đương với nguyên lí Dirichlet
Định lí 1 (Định lí tương đương): Nguyên lý Dirichlet và Nguyên lý Dirichlet
đối ngẫu tương đương nhau
Trang 19Ta phân bố các phần tử cuả tập X vào m hộp 1,2,……m nhƣ sau:
Nếu : x iS j Thì x ,S i j đƣợc phân vào hộp I với mọi i =1 ,2 ,… m
Nguyên lý Dirichlet đối ngẫu suy ra nguyên lý Dirichlet :
Kí hiệu n phần tử j = 1,2, … n Ta phân bố các phần tử j = 1,2,… n vào
m hộp H i ,
i=1,2 … m Kí hiệu S H / i i 1 2, m ,S j H / j i H , j i 1 2, , n Hiển nhiên S j 1 j 1 2, , n và S m
Suy ra : S1 S2 S n n k.mk S
Theo nguyên lý Dirichlet đối ngẫu tồn tại phần tử H i chung của k+1 tập S j (j = 1 ,2 … n) Tức là tồn tại hộp H i chứa ít nhất k+1 phần tử
b Nguyên lí Dirichlet đối ngẫu vô hạn phần tử
Tập phần tử là một khoảng trên đường thẳng
Trong mục này ta kí hiệu d(I) là độ dài khoảng I R
Trang 20Định lí 2 : Cho A là một khoảng giới nội, A , A , A1 2 n là các khoảng sao cho
Định lí 3 : Cho A là một khoảng giới nội, A , A , A1 2 n là những khoảng con của A, k là số tự nhiên thỏa : k.d( A )d( A ) d( A ) d( A )1 2 n
Khi đó tồn tại ít nhất k+1 khoảng A i (i = 1,2,…n) có điểm trong
chung
Chứng minh :
Ta chứng minh bài toán này bằng phương pháp quy nạp
o Trường hợp : k=1 được chứng minh ở định lý 2.
o Giả sử định lí đúng với k Ta cần chứng minh nó đúng với k+1.
Cho A , A , A1 2 n là các khoảng con của A thỏa
( k1).d( A )d( A ) ( A ) d( A )1 2 n (2.1)
Ta sẽ chỉ ra rằng tồn tại điểm trong chung của k+2 khoảng A ( i i 1 2, n )
Vì A i A, nên d(A ) i d(A) (i1 2, n) từ đó suy ra
d( A ) d( A ) d( A ) n.d( A )
Theo (2.1) ta có : ( k1).d( A )d( A ) d( A ) d( A )1 2 n n.d( A ) suy ra
k+1 < n Vì vậy n k 2
Trang 21Ta chứng minh điểm chung cho ít nhất k+2 tập A , A , A1 2 n thỏa (2.1)
bằng qui nạp theo n Ta bắt đầu từ n = k+2, tức là :
suy ra ít nhất k +2 tập hợp thỏa (2.1) có điểm trong chung
Bây giờ chúng ta giả thiết với n k 2 có ít nhất k +2 tập hợp thỏa
(2.1) có điểm trong chung Ta sẽ phải chứng minh rằng từ :
Trang 22k.d( A )d( A )d( A ) d( A ) (2.18) Thật vậy trong trường hợp ngược lại ta có:
( k )d( A )d( A )d( A ) d( A )Hoặc là : ' 1" 2" "
n
k.d( A )d( A )d( A ) d( A )Cộng hai vế lại và do (2.15) và (2.16) ta có :
'
n
k.d( A )k.d( A )d( A )d( A ) d( A ) (2.19) Cộng hai vế (2.19) với "
A , A , A , , A có điểm trong chung Từ (2.11) suy
ra rằng kết luận cũng đúng cho dãy A , A , A1 2 n
Trang 23Giả sử (2.18) đúng Theo giả thiết qui nạp đối với k suy ra k+1 tập
hợp trong dãy 1" 2" 3" "
n
A , A , A , , A có điểm trong chung Từ (2.12) chỉ ra rằng tồn tại một điểm mà nó là điểm trong k+1 tập hợp A , A , A1 2 n Và của cả A n1
Như vậy từ (2.10) suy ra k+2 tập hợp trong dãy A , A , A1 2 n có điểm
trong chung Suy ra kết luận đúng với n+1 Theo phương pháp qui nạp , suy
ra điều phải chứng minh
Tập hợp phần tử là miền phẳng giới hạn bởi đường cong khép kín Trong mục này ta kí hiệu S(A) là diện tích bề mặt A
Định lý 4: Nếu A là một miền phẳng giới hạn bởi đường cong khép kín, còn
Chứng minh : tương tự như chứng minh định lý 2
Định lý 5 : Cho A là một miền phẳng giới hạn bởi đường cong phẳng khép
kín, còn A , A , A1 2 n là những miền phẳng thỏa mãn A i A ( i 1 2, , ,n ) còn k là số tự nhiên thỏa :
k.S( A )S( A ) S( A ) S( A )
Khi có ít nhất k+1 trong những miền phẳng trên có điểm trong chung Chứng minh : Tương tự như chứng minh Định lý 3
Tập phần tử là khối ba chiều giới hạn bởi các mặt cong
Trong mục này ta kí hiệu V(A) là thể tích khối A
Định lý 6 : Nếu A là khối giới hạn bởi các mặt cong , còn A , A , A1 2 n là các khối sao cho A i A ( i 1 2, , ,n ) và V( A ) V(A ) V(A ) V(A ) 1 2 n , thì ít nhất có hai khối trong số các khối trên có điểm trong chung
Chứng minh : Tương tự như chứng minh định lý 2
Trang 24Định lý 7 : Cho A là một khối giới hạn bởi các mặt cong , A , A , A1 2 nlà những khối và thỏa mãn A i A ( i 1 2, , ,n ) Còn k là sô tự nhiên thỏa :
Ta có hình chiếu của một đường tròn bán kính R là một đoạn thẳng có
độ dài 2R Vì vậy trên cạnh hình vuông
đã chọn có những đoạn thẳng chiếu
xuống với tổng độ dài là 10
mà 10
3
Nên theo nguyên lý Dirichlet đối ngẫu (Định lí 3) suy ra có một điểm
M nào đó thuộc AB có điểm trong chung của ít nhất 4 đoạn thẳng đã chiếu xuống Khi đó đường thẳng đi qua M vuông góc với AB cắt ít nhất 4 trong những đường tròn đó
Hình 1.1
Trang 25Ví dụ 2 :
Một tập hợp những điểm M là hợp của một số đoạn thẳng nằm trong khoảng 0 1, Biết rằng khoảng cách giữa hai điểm bất kì của M khác 0 , 1 Chứng minh tổng độ dài của những đoạn tạo nên M không vượt quá 0,5
là kết quả của 6 điểm
khác nhau x ,x , ,x1 2 6 của M trừ đi tương ứng số dạng 1 2 6
10 10 10
k
k k , , , , với k i là một số nào đó từ 0 ,1,2,…,9 và i =1,2 ,… ,6 Theo nguyên lý Dirichlet ít nhất có hai trong các số k ,k , ,k1 2 6 là liên tiếp Hay ví dụ như
Vậy tổng độ dài các điểm tạo nên M không vượt quá 0,5
Trang 26Ví dụ 3 :
Tìm hình vuông có kích thước bé nhất để trong hình vuông đó có thể sắp xếp 5 hình tròn có kích thước bằng 1 sao cho không có hai đường tròn có điểm trong chung?
Lời giải:
Giả sử hình vuông ABCD có tâm O và cạnh là a Chứa 5 hình tròn
không cắt nhau đều có bán kính bằng 1, khi đó các tâm của chúng nằm trong các hình vuông A1B1C1D1 có tâm O, và AB A B1 1 và cạnh bằng a -2 (Xem
hình 1.2.) Các đường thẳng nối từ trung điểm của các cạnh đối diện của hình vuông A1B1C1D1 chia hình vuông đó thành 4 hình vuông nhỏ
Theo nguyên lý Dirichlet, ở một trong chúng ít nhất cũng có 2 trong số các tâm Khi đó khoảng cách giữa hai tâm này một mặt không lớn hơn đường chéo hình vuông bé,mặt khác không bé hơn 2 Do vậy có :
1 1 1
Vậy nếu : a 2 2 2 và tâm của các hình tròn là các điểm O, A1 , B1 ,
hình vuông cần tìm là 2 2 2
Hình 1.2
Trang 27CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG NGUYÊN LÝ DIRICHLET VÀO
GIẢI TOÁN SƠ CẤP
2.1 ỨNG DỤNG TRONG LÝ THUYẾT TỔ HỢP
Tuy rằng với nguyên lý Dirichlet người ta chỉ chứng minh được sự tồn tại mà không đưa ra phương pháp tìm được vật cụ thể nhưng trong thực tế nhiều bài toán ta chỉ cần chỉ ra sự tồn tại là đủ rồi
Nguyên lí Dirrichlet thực chất là một định lí về tập hữu hạn Ta có thể phát biểu chính xác nguyên lí này như sau:
Cho A ,B là hai tập hợp không rỗng có số phần tử hữu hạn, mà số lượng phần tử A lớn hơn số lượng phần tử B Nếu với một qui tắc nào đấy, mỗi phần tử A cho tương ứng với một phần tử B Thì tồn tại hai phần tử khác nhau của A mà chúng tương ứng với cùng một phần tử của B
Để dễ hiểu ta cứ cho rằng các phần tử của B là những “ Ngăn kéo” và các phần tử của A là những “vật” được đặt vào các ngăn của nó
Trong phát biểu của nguyên lí trên các phần tử hữu hạn được tính bằng các số tự nhiên, vì vậy nguyên lí Dirrichle liên quan mật thiết tới tập hợp số tự nhiên và các tính chất của tập hợp số này
Mặc dù nguyên lý Dirichlet được phát biểu rất đơn giản nhưng cái khó của nó là phải xác định được xem vật là gì, ngăn kéo là gì
Để rõ hơn ta sẽ xét một số bài toán sau đây:
Bài toán 1: Trong sinh học người ta biết rằng số tóc trên đầu của mỗi người
nhỏ hơn 200.000 cái Chứng minh rằng trong số người của thành phố Hà Nội, với số dân hơn 2.000.000 người, có ít nhất 11 người có cùng số tóc
Trang 28Lời giải:
Chúng ta xét 200.000 ngăn kéo được đánh số từ 0 đên 199.000, rồi đặt mỗi người dân Hà Nội vào một ngăn kéo mà số tóc bằng số thứ tự của ngăn kéo Giả sử không có 11 người có cùng số tóc Như vậy mỗi ngăn kéo sẽ có nhiều nhất là 10 người có cùng số tóc, do đó số dân Hà Nội có nhiều nhất là :
200.000 x 10 = 2.000.000 người , điều này trái với giả thiết là số dân
Hà Nội lớn hơn 2 triệu
Bài toán 2 : Chứng minh rằng trong mỗi nhóm gồm n người có ít nhất hai
người có cùng số lượng người quen giữa những người trong nhóm đó
Lời giải:
Chúng ta xét n ngăn kéo được đánh số từ 0 đến n-1, mỗi người trong
nhóm được đặt vào một ngăn mang số trùng với số người trong nhóm mà người đó quen.Ta xét hai trường hợp sau:
TH1: Nếu có một người không quen ai cả trong số những người còn lại, thì ngăn số n-1 là trống (vì ngược lại thì cả ngăn 0 và n-1 đều không trống, dẫn đến vô lí) Như vậy mỗi người trong số n người được đặt vào vào các ngăn mang số 0,1,2,…, n-1 với số lượng n-1 ngăn Từ nguyên lý Dirichle
suy ra có ít nhất 2 người ở trong một ngăn hay là họ cùng chung số lượng người quen
TH2 : Nếu mọi người có ít nhất 1 người quen, mỗi người sẽ được đặt vào các ngăn mang số 1,2,3,…,n-1 Với số lượng n-1 ngăn cho n người, theo
nguyên lý Dirichle ta cũng suy ra được sẽ có ít nhất 2 người có cùng số lượng người quen
Bài toán 3 : Trên trái đất sống hơn 6 tỷ người, biết rằng không quá 1% sống trên
100 tuổi Chứng minh rằng ít nhất có 2 người sinh cùng một giây đồng hồ
Lời giải :
Theo dương lịch hiện hành 100 năm có ít hơn 37000 ngày Mỗi ngày có