Tuy nhiên, hai cách chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ để tạo từ mới này khá phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu tạo từ và bước đầu cho những kết luận về tri nhận, bởi
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HỒ THỊ DUYÊN
CHUYỂN NGHĨA ẨN DỤ, HOÁN DỤ TRONG
HỆ THỐNG TỪ MỚI TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng, Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HỒ THỊ DUYÊN
CHUYỂN NGHĨA ẨN DỤ, HOÁN DỤ TRONG
HỆ THỐNG TỪ MỚI TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Trọng Ngoãn
Đà Nẵng, Năm 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả trong Luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những điều đã trình bày trong Luận văn
Tác giả luận văn
Hồ Thị Duyên
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục luận văn 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10
1.1 QUAN NIỆM VỀ TỪ MỚI TIẾNG VIỆT 10
1.1.1 Quan niệm của các nhà từ vựng học 10
1.1.2 Quan niệm của các nhà từ điển học 16
1.2 CHUYỂN NGHĨA TRONG HỆ THỐNG TỪ VỰNG 20
1.2.1 Ẩn dụ từ vựng 21
1.2.2 Hoán dụ từ vựng 24
1.3 GIỚI THIỆU VỀ CUỐN “TỪ ĐIỂN TỪ MỚI TIẾNG VIỆT” 30
1.3.1 Từ điển trong cuộc sống 30
1.3.2 “Từ điển từ mới tiếng Việt” 31
1.4 TIỂU KẾT 33
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁCH CHUYỂN NGHĨA THEO PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ TRONG HỆ THỐNG TỪ MỚI TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 35
2.1 CHUYỂN NGHĨA THEO PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ 35
2.1.1 Sự giống nhau về hình thức 35
2.1.2 Sự giống nhau về màu sắc 40
2.1.3 Sự giống nhau về chức năng 42
2.1.4 Sự giống nhau về thuộc tính, tính chất 46
Trang 52.1.6 Một số ẩn dụ khác 58
2.2 CHUYỂN NGHĨA THEO PHƯƠNG THỨC HOÁN DỤ 60
2.2.1 Quan hệ giữa toàn thể và bộ phận 61
2.2.2 Quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa 63
2.2.3 Quan hệ giữa dụng cụ và ngành nghề, công việc 64
2.2.4 Quan hệ giữa số lượng xác định và số lượng không xác định 66
2.2.5 Một số hoán dụ khác 68
2.3.TIỂU KẾT 70
CHƯƠNG 3 QUY LUẬT CHUYỂN NGHĨA VÀ CÁCH THỨC TRI NHẬN CỦA NGƯỜI VIỆT ĐỂ CẤU TẠO TỪ MỚI THEO HAI PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ, HOÁN DỤ 74
3.1 QUY LUẬT CHUYỂN NGHĨA ĐỂ CẤU TẠO TỪ MỚI THEO HAI PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ, HOÁN DỤ 74
3.1.1 Ẩn dụ - phương thức chuyển nghĩa phổ biến và đa dạng 74
3.1.2 Ẩn dụ tạo nghĩa mới - cơ sở hình thành từ mới 77
3.1.3 Hoán dụ - phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong ngữ cảnh 79 3.1.4 Tạo từ mới bằng cách kết hợp cả hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ .80
3.2 CÁCH THỨC TRI NHẬN CỦA NGƯỜI VIỆT PHẢN ÁNH QUA HAI PHƯƠNG THỨC CHUYỂN NGHĨA 81
3.2.1 Cách thức tri nhận của người Việt phản ánh qua phương thức ẩn dụ .82
3.2.2 Cách thức tri nhận của người Việt phản ánh qua phương thức hoán dụ 94
3.2.3 Một vài lí giải về cách thức tri nhận 101
3.3 TIỂU KẾT 104
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 7Số
2.1 Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về hình thức 36 2.2 Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về màu sắc 40 2.3 Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về chức năng 42 2.4 Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về thuộc tính, tính chất 46 2.5 Ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về hoạt động, cách thức hoạt
Trang 8Số
2.1 Số lượng từ mới được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ 71 2.2 Tỉ lệ từ mới được chuyển nghĩa theo các kiểu ẩn dụ 71 2.3 Số lượng từ mới được chuyển nghĩa theo phương thức hoán
dụ
72 2.4 Tỉ lệ từ mới được chuyển nghĩa dựa theo các kiểu hoán dụ 72
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong khoảng mười năm trở lại đây, cùng với sự phát triển về kinh tế,
xã hội, khoa học kĩ thuật và giao lưu quốc tế, đã có một sự thay đổi về tư duy
và theo đó, gia tăng thêm một lượng đáng kể vốn từ tiếng Việt Có thể nói, sự xuất hiện từ mới là một quá trình sản sinh thường xuyên của ngôn ngữ học để làm giàu cho tiếng Việt, tuy nhiên các công trình nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều Phải đến năm 2008, chúng ta mới có cuốn từ điển từ mới do Viện ngôn ngữ học biên soạn Sự ra đời của cuốn từ điển lẽ ra phải là cơ hội cho nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đào sâu, luận bàn về từ mới nhưng thực tế không như vậy Ngoài bốn trang trong lời nói đầu của cuốn từ điển và một số bài báo bàn luận trên mạng thì không còn nghiên cứu nào nữa Chính vì lẽ đó, những luận giải về cấu tạo từ mới sẽ là một việc làm có ý nghĩa khoa học
Theo tác giả cuốn từ điển Chu Bích Thu, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của cuộc sống, vận động của xã hội kéo theo sự ra đời của từ mới Việc tìm hiểu, nghiên cứu về từ mới không chỉ góp phần làm sáng tỏ về mặt khoa học
mà còn đem lại giá trị thực tiễn cho người sử dụng Quả vậy, bên cạnh các quy tắc ngữ pháp thì từ vựng là tài sản lớn của một ngôn ngữ Do đó mọi sự nghiên cứu, miêu tả về hệ thống từ vựng bao la không chỉ có ý nghĩa định hướng về mặt khoa học mà còn có giá trị thực tiễn sâu rộng Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về từ vựng học luôn luôn đề cập các khái niệm về từ mới và cách cấu tạo từ mới nhưng thực tế chưa có một chuyên luận nào luận giải đầy đủ về từ mới Nếu nói từ mới được cấu tạo bằng hai con đường ẩn dụ
và hoán dụ từ vựng thì thật ra vẫn chưa phải là một cách nói đầy đủ Bởi lẽ đó mới chỉ là cái nhìn khái quát, còn một lí do nữa là ngoài từ mới được cấu tạo, bản địa có những từ mới được vay mượn và từ được dịch từ tiếng nước ngoài
Trang 10Tuy nhiên, hai cách chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ để tạo từ mới này khá phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu tạo từ và bước đầu
cho những kết luận về tri nhận, bởi vì: “Ngôn ngữ là một năng lực tinh thần
và khả năng ngôn ngữ của con người được xác định như một hình thức của tri thức, của khả năng tri nhận” [34, tr 55] Với quan niệm này, ẩn dụ và hoán
dụ không chỉ là cách sử dụng ngôn ngữ mà chúng còn thể hiện con đường nhận thức thế giới
Giáo sư Lê Quang Thiêm trong tập bài giảng “Ngữ nghĩa học” đã
khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu tố văn hóa quan trọng hàng đầu mang sắc thái
dân tộc rõ nhất… Chính sự đặc thù của văn hóa được biểu hiện trong ngôn ngữ đã quy định đặc trưng văn hóa - dân tộc của hành vi nói năng ở những người thuộc cộng đồng văn hóa -ngôn ngữ khác nhau” [34, tr.23] Chính vì lẽ
đó, ở những cộng đồng khác nhau thì ngôn ngữ mang những đặc điểm dân tộc khác nhau Và các đặc điểm này được thể hiện qua cách chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ Do đó, việc tìm hiểu phương thức cấu tạo từ theo hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ không chỉ giúp khai thác chiều sâu cách tạo từ mới mà còn góp phần tìm hiểu quá trình tri nhận, hiểu thêm về văn hóa người Việt
Từ những lí do trên, luận văn tiến hành tìm hiểu hai phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ trong hệ thống từ mới của tiếng Việt hiện đại nhằm miêu tả các hiện tượng ngôn ngữ đồng thời bước đầu có những nhận xét
về cách thức cấu tạo, phương thức tri nhận của người Việt, lí giải sâu hơn về mối quan hệ ngôn ngữ - tư duy – văn hóa
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nhằm vào mục tiêu tìm hiểu các phương thức chuyển nghĩa
ẩn dụ và hoán dụ trong từ mới, từ đó có thể phần nào bước đầu nhận xét về quy luật chuyển nghĩa để cấu tạo và cách thức tri nhận của người Việt qua ẩn
Trang 11dụ và hoán dụ Hai cách chuyển nghĩa trên không chỉ cho thấy quá trình chuyển biến ngữ nghĩa, cách hình thành hệ thống từ mới hiện đại của tiếng Việt mà còn giúp chúng ta hiểu thêm về con đường tri nhận ngôn ngữ của người Việt Luận văn cũng hy vọng có thể góp thêm một vài minh chứng cho mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc với ngôn ngữ và tư duy được thể hiện qua cách cấu tạo từ mới bằng phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu chuyển nghĩa từ vựng theo phương thức ẩn
dụ, hoán dụ trong hệ thống từ mới tiếng Việt hiện đại Với định hướng trên, luận văn tập trung giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:
(1) Luận văn điểm lại những quan điểm cơ bản về ẩn dụ, hoán dụ từ vựng từ trước đến nay, so sánh ẩn dụ từ vựng, hoán dụ từ vựng với ẩn dụ, hoán dụ tu từ để đưa ra cái nhìn xuyên suốt về ẩn dụ và hoán dụ,
(2) Hệ thống từ mới tiếng Việt hiện đại xuất hiện như là một hiện tượng tất yếu để làm giàu thêm vốn từ tiếng Việt, tuy nhiên, vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo Trong luận văn này, chúng tôi sẽ trình bày những quan niệm về
từ mới của các nhà nghiên cứu trước đó, đồng thời đưa ra quan điểm của bản thân và phân biệt từ mới với từ đa nghĩa, hiện tượng đồng âm
(3) Luận văn sẽ khảo sát cách chuyển nghĩa bằng phương thức ẩn dụ và hoán dụ trong hệ thống từ mới tiếng Việt, từ đó đưa ra bức tranh về sự hình thành, cách cấu tạo từ mới tiếng Việt hiện đại
(4) Thông qua việc tìm hiểu chuyển nghĩa bằng ẩn dụ, hoán dụ trong hệ thống từ mới tiếng Việt hiện đại, luận văn hướng đến bước đầu nhận xét về quy luật chuyển nghĩa để cấu tạo từ mới và cách thức tri nhận của người Việt
Luận văn chủ yếu sử dụng hệ thống từ mới tiếng Việt hiện đại trong
Trang 12cuốn “Từ điển từ mới tiếng Việt” do TS Chu Bích Thu chủ biên (2008), nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, khi cần minh chứng, làm rõ vấn
đề, chúng tôi sử dụng thêm một số từ mới được khảo sát ở các tờ báo và tạp
chí như: Nhân dân, Tuổi trẻ từ năm 1985 đến nay (có phụ lục kèm theo)
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả ngôn ngữ Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng thêm một số thủ pháp để làm sáng tỏ vấn đề, đó là: khảo sát, thống kê; phân tích
Thống kê, phân tích là thủ pháp chú trọng vào văn bản để xem xét vấn
đề được quan tâm Và nó được xem là có lợi đặc biệt lớn “đối với các hiện
tượng ngôn ngữ mà tần số xuất hiện của nó và trình độ tức thời là cái xuất phát Như thế nghiên cứu dữ liệu có thể xác định tần số mà một biểu thức đặc biệt được sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau” [14, tr.298] Khi áp dụng
tính chất này vào đề tài, chúng tôi có thể tìm hiểu được các định dạng có tính chất chìa khóa giải mã hệ thống từ mới tiếng Việt hiện đại bằng cách chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ
Luận văn sử dụng thủ pháp phân loại theo chủng loại để quy các yếu tố
cần tìm hiểu thành các tập hợp con khác nhau dựa trên cơ sở “chúng có cùng
một dấu hiệu nhất định nào đó mà những yếu tố của tất cả các loại khác không có” [14, tr.480] Khi tiến hành phân loại, chúng tôi cũng đồng thời sử
dụng thủ pháp thống kê để đưa ra tần số xác định, từ đó có thể tiến hành phân tích dữ liệu một cách rõ ràng
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn gồm những chương sau:
Chương 1: Những vấn đề chung
Trang 13Chương 2: Khảo sát sự chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ và hoán
dụ trong hệ thống từ mới tiếng Việt hiện đại
Chương 3: Quy luật chuyển nghĩa và cách thức tri nhận của người Việt
để cấu tạo từ mới theo hai phương thức ẩn dụ, hoán dụ
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu chuyển nghĩa bằng phương thức ẩn dụ, hoán dụ không phải
là hướng đi mới Đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu ngôn ngữ
đề cập đến
Ở nước ta, vấn đề này đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu thể hiện trong các công trình như: “Giáo trình từ vựng học” (2004) của Đỗ Hữu Châu; “Giáo trình ngôn ngữ học” (2008) của Nguyễn Thiện Giáp; “Cơ sở từ vựng học và tiếng Việt” (1992) của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến; “Ngữ nghĩa học” (2008) của Lê Quang Thiêm; “Cơ sở ngôn ngữ
học và tiếng Việt” (1997) của Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân
Tâm; “Ngữ nghĩa học” (2014) của Nguyễn Thị Ly Kha, Vũ Thị Ân;… Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chỉ ở dạng khái quát, nêu nhận định và chưa đi sâu vào phương thức chuyển nghĩa của từ mới trong hệ thống từ mới tiếng Việt hiện đại
Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” đã khẳng định:
“Hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới là ẩn dụ và hoán dụ”[2, tr.67] Tác giả không chỉ trình bày khái niệm của
hai phương thức mà còn phân chia các loại ẩn dụ, hoán dụ Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu, có các loại ẩn dụ như sau: ẩn dụ hình thức, cách thức, dựa vào sự giống nhau về chức năng, ẩn dụ kết quả, còn hoán dụ có 15 loại Tác giả còn lưu ý, phương thức ẩn dụ và hoán dụ còn có khả năng tồn tại trong một từ
Cũng bàn về sự biến đổi ngữ nghĩa của từ ngữ, Nguyễn Thiện Giáp trong “Ngôn ngữ học đại cương” đã đưa ra một số nguyên nhân biến đổi, cơ
Trang 14sở của sự biến đổi và những hiện tượng biến đổi ngữ nghĩa, trong đó có ẩn dụ
và hoán dụ từ vựng Trong công trình, tác giả đã chỉ ra 8 kiểu ẩn dụ và 9 kiểu hoán dụ Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong giáo trình “Ngôn ngữ học đại
cương” (2014) cũng nêu ra những hiện tượng biến đổi nghĩa của từ, “chủ yếu
là mở rộng và thu hẹp nghĩa; hiện tượng chuyển nghĩa do ẩn dụ và hoán dụ”
Tác giả còn phân chia ra 3 nhóm ẩn dụ và 6 nhóm hoán dụ [24, tr.257]
Nguyễn Thiện Giáp trong “Nghĩa học Việt ngữ” đã dành hẳn một chương trong tổng 4 chương để bàn về “nghĩa học từ vựng tiếng Việt” Trong chương này, tác giả đã bàn luận và phân tích khá rõ về sự biến đổi ý nghĩa đối với từ vựng: Nguyên nhân và cơ sở của sự biến đổi ngữ nghĩa; Ngôn ngữ học truyền thống đối với sự biến đổi ý nghĩa và một phần khá mới là ngôn ngữ học tri nhận với sự biến đổi ý nghĩa Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, nếu mở rộng và thu hẹp nghĩa là quá trình chuyển từ khái niệm về loại sang khái niệm
về chủng (mở rộng) và ngược lại từ khái niệm về chủng sang khái niệm về loại thì chuyển đổi tên gọi có 2 kiểu là ẩn dụ và hoán dụ Tác giả đã phân biệt
ẩn dụ và so sánh, chỉ ra 8 kiểu ẩn dụ và 10 kiểu hoán dụ [15, tr.84-85]
Khác với các tác giả khác, cũng bàn về các cơ chế ngữ nghĩa những tác giả Lê Quang Thiêm trong “Ngữ nghĩa học”(tập bài giảng) tập trung căn cứ vào chuỗi chức năng mà chia từ thành 3 tầng nghĩa và 6 kiểu nghĩa từ vựng
Cụ thể là 3 tầng nghĩa: tầng nghĩa trí tuệ, tầng nghĩa thực tiễn, tầng nghĩa biểu trưng và 6 kiểu nghĩa là: nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu hiện, nghĩa biểu thị, nghĩa biểu chỉ, nghĩa biểu trưng và nghĩa biểu tượng
Trong “Giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt” do Bùi Tất
Tươm chủ biên có đoạn: “Nếu mỗi sự vật, mỗi hoạt động, mỗi quá trình
trong thực tại phải có một từ riêng để gọi thì số từ trong kho từ vựng sẽ là vô cùng lớn, thậm chí vô hạn Ngôn ngữ đã tự hạn chế việc sản sinh từ mới bằng hai cách: -Dùng một tổ hợp từ.- Dùng một từ đã có với một nghĩa mới để gọi
Trang 15tên một sự vật mới có nhu cầu định danh” [41, tr.155] Và theo các tác giả
trong công trình này, cách thứ hai là lí do dẫn đến hiện tượng chuyển nghĩa của từ Quan điểm này đúng nhưng chưa đủ, vì chuyển nghĩa không chỉ tạo nghĩa mới mà còn tạo ra một lượng từ mới Cũng trong phần bàn luận về
nghĩa của từ, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra “mượn cách chuyển nghĩa” ở từ vay mượn, nghĩa là “vẫn dùng từ ngữ vốn có của tiếng Việt, nhưng mượn
cách chuyển nghĩa mà nguyên ngữ đã dùng” [41, tr.174]
Trong giáo trình “Tiếng Việt” (dùng cho sinh viên ngoại ngữ), bên
cạnh định nghĩa hai phương thức chuyển nghĩa của từ là ẩn dụ từ vựng và hoán dụ từ vựng, Bùi Trọng Ngoãn còn nêu thêm đặc điểm của sự chuyển nghĩa trong tiếng Việt, cụ thể:
“a Có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn nữa
b Phần lớn nghĩa của từ biến chuyển theo lối tỏa ra, các nghĩa phái sinh từ một nghĩa gốc Nhưng cũng có khi nghĩa của từ biến chuyển theo lối móc xích
c Sự chuyển nghĩa làm cho nghĩa của từ được mở rộng: Nhưng cũng
có khi làm cho nghĩa của từ bị thu hẹp lại
d Sự chuyển nghĩa có thể làm thay đổi ý nghĩa biểu thái” [27 ,
là sự miêu tả một cách cơ bản nhất về các kiểu ẩn dụ từ vựng và hoán dụ từ
Trang 16vựng Cũng vì nguyên nhân này mà hầu như không ai quan tâm đến ẩn dụ từ vựng và hoán dụ từ vựng trong hệ thống từ mới
Bên cạnh nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa, phương thức chuyển nghĩa bằng ẩn dụ, hoán dụ từ vựng vẫn còn một hướng nghiên cứu khác về ẩn
dụ, hoán dụ Đó là khuynh hướng nghiên cứu ẩn dụ, hoán dụ với tư cách là các biện pháp tu từ Khuynh hướng này được thể hiện trong các công trình Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Cù Đình Tú, 1983), Phong cách học tiếng Việt (Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, 2006) Những công trình này tập trung nghiên cứu ẩn dụ, hoán dụ tu từ và giá trị của hai phương thức này trong tác phẩm nghệ thuật
Khi ngôn ngữ học tri nhận trở thành một trào lưu thịnh hành trên thế giới thì lí thuyết về ẩn dụ tri nhận trở nên phổ biến ở Việt Nam Nhiều công trình sách nước ngoài về ẩn dụ tri nhận được dịch, cụ thể: “Metaphors we live by” (Ẩn dụ tri nhận) của Lakoff và Johson, các bài báo khoa học của Black, Eleanor Rosch Ở Việt Nam, có các công trình mang tính lý thuyết có giá trị
về ẩn dụ tri nhận như: “Ngôn ngữ học tri nhận” của Lý Toàn Thắng, “Ngôn ngữ học tri nhận” của Trần Văn Cơ, “Khuynh hướng ngữ nghĩa học tri nhận” của Lê Quang Thiêm,
Là một vấn đề mới cần được quan tâm, nghiên cứu nhưng những công trình, bài báo khoa học về hệ thống từ mới của tiếng Việt hiện đại lại rất ít, nếu không kể “Từ điển từ mới” do Viện ngôn ngữ học biên soạn “Từ điển từ mới” là cuốn từ điển quan niệm về từ ngữ mới, nghĩa mới và tập hợp 2500 đơn vị đầu mục được giải thích rõ ràng, cung cấp đầy đủ thông tin về nguồn gốc, cách đọc (nếu là từ vay mượn), từ loại, chú giải về phạm vi sử dụng, khả năng kết hợp (nếu cần), định nghĩa, ví dụ đi kèm rõ ràng và đầy đủ
Nhìn chung, việc nghiên cứu các phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ từ vựng là khá nhiều Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyển
Trang 17nghĩa theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ trong hệ thống từ mới tiếng Việt hiện đại là chưa có Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi muốn đi vào địa hạt còn đang bỏ ngỏ, cần được cày xới vốn giàu sức lôi cuốn, hấp dẫn này Trên cơ sở tiếp thu những thành quả của thế hệ đi trước để lại cùng với mong muốn được tìm hiểu, khám phá nhiều hơn về phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ trong hệ thống từ mới tiếng Việt hiện đại, chúng tôi sẽ cố gắng tập trung khảo sát một cách hệ thống và bước đầu đưa ra nhận xét về quy luật cũng như cách thức tri nhận của người Việt về cấu tạo từ mới
Trang 18CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 QUAN NIỆM VỀ TỪ MỚI TIẾNG VIỆT
1.1.1 Quan niệm của các nhà từ vựng học
Có thể khẳng định, trong các bộ phận của ngôn ngữ, từ vựng luôn là bộ phận có sự biến đổi nhanh nhất nhằm đáp ứng nhu cầu vận động, biến đổi không ngừng của xã hội Từ vựng biến đổi là nguyên nhân làm xuất hiện các
từ mới, nghĩa mới đồng thời làm mất đi một số lượng từ cũ bên cạnh các từ
hiện dùng phổ biến Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “khi một ý tưởng nảy sinh
một cách tức thời, bức bách đòi hỏi phải có từ để thể hiện lập tức thì hầu như người Việt Nam nào dĩ nhiên trước hết là những người làm việc với tiếng Việt
- đều có thể đặt ra từ mới, nghĩa mới” [4, tr.207] Xuất phát từ sự cần thiết
đó, nghiên cứu về từ mới trở thành vấn đề quan tâm của các nhà từ vựng học
Người đầu tiên đưa ra những nhận định về từ mới là GS Đỗ Hữu Châu
Trong “Giáo trình từ vựng học tiếng Việt”, ông đã xếp từ mới nằm trong các
lớp từ vựng được phân chia theo phong cách chức năng, cùng nhóm với từ ngữ cổ Tác giả chia từ mới thành hai loại: từ ghép mới và từ láy mới, trong
đó từ ghép mới chiếm chủ yếu Từ ghép mới được chia nhỏ thành hai nhóm,
từ ghép chính phụ mới (xí xổm, xí bệt, nhà ống, bồn tắm, nhà vườn, bột
ngọt, ) và từ ghép đẳng lập mới (biện giải, bia bọt, bọc lót, đan kết, tháo gỡ, ) Từ ghép mới được tạo thành theo nhiều phương thức khác nhau: Một
số từ mới là do từ tố vay mượn từ ngôn ngữ phương Tây kết hợp với từ tố
Việt tạo thành (con chíp, chạy sô, ); một số tạo thành theo mẫu cụ thể đã có (bị can, nghi can, nguyên đơn, bị đơn, ); có khi là do những từ bán phụ gia với từ tố “hóa” phát triển nhanh chóng và dễ dàng (ngầm hóa, vải hóa, ngói
hóa, ); lấy hai từ tố đại diện cho hai từ phức có trước ghép lại với nhau,
Trang 19mang tổng hòa nghĩa của hai từ phức “nguyên liệu” (hiệu ích - hiệu quả và lợi
ích, chỉnh sửa - điều chỉnh và sửa chửa, cản ngại – ngăn cản và trở ngại, );
có khi được tạo thành theo cách ghép hai từ ghép có một từ tố chung lại, đặt
từ tố đó “thành thừa số chung” (công nông nghiệp, phối kết hợp, hóa mĩ
phẩm, ) Tác giả còn chỉ ra những ngữ cố định mới (vượt ra ngoài tầm kiểm soát của, cho chợ sớm, đến Tết công gô, hiệu ứng đôminô, một thoáng hương xưa, ) Có thể thấy, từ mới nảy sinh đã kịp thời phục vụ nhu cầu giao tiếp,
thỏa mãn yêu cầu phức tạp, tế nhị trong xã hội mới, đáp ứng “đơn đặt hàng” hàng ngày, hàng giờ cho tiếng Việt, tuy nhiên, một số đơn vị mới vay mượn hoặc được tạo ra không cần thiết sẽ khiến cho tiếng Việt mất đi sự trong sáng, giàu đẹp vốn có
Theo tác giả Nguyễn Văn Tu trong cuốn “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện
đại (1978)”, từ mới là “những từ chưa bao giờ thuộc về lớp từ vựng hoạt
động Dần dần với thời gian, những từ mới nhập vào vốn từ Khi nào được thu nạp vào vốn từ tích cực thì nó không còn là từ mới nữa” [38, tr 240] Và
theo ông, từ mới có thể chia làm hai loại chính: từ chỉ những sự vật mới trong
đời sống (máy kéo, nguyên tử, tên lửa, máy bay, xe cóc, ); từ dùng để chỉ
những sự vật hoặc hành động trước đã có tên rồi, có thể vì trước là từ mượn
hoặc từ cổ chưa thích hợp nay được dùng lại (máy thu thanh, chắn bùn, ) hoặc tên gọi của sự vật, phương tiện biểu hiện nghệ thuật (bà tiên hòa bình,
ga trăng, ) Có thể khẳng định, dù xuất hiện do nguyên nhân nào, từ mới vẫn
phải tuân thủ những quy tắc cấu tạo từ tiếng Việt, quy tắc của kết cấu ngữ pháp tiếng Việt Trong công trình, tác giả còn miêu tả quá trình phát triển từ mới theo tiến trình thời gian lịch sử từ đầu cách mạng tháng 8 năm 1945 về sau này Ông còn chỉ ra 4 quy luật phát triển của vốn từ:
- Những từ và thành ngữ mới xuất hiện
- Nghĩa của từ thay đổi
Trang 20- Một số từ cũng không được dùng nữa hoặc trở thành những từ tiêu cực
- Một số từ địa phương trở thành từ của ngôn ngữ toàn dân
Từ quy luật đó, người viết nêu bật ý nghĩa của sự xuất hiện từ mới,
“làm cho sắc thái của từ thay đổi, từ thêm nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa tăng lên và làm cho nghĩa của từ trong ngôn ngữ viết ngày càng chính xác thêm”
[38, tr.243]
Trong giáo trình “Ngôn ngữ học”, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “từ
ngữ mới vì mới xuất hiện cho nên chưa quen thuộc và chưa được dùng phổ biến Do đó, nói chung chúng thuộc lớp từ vựng tiêu cực” [13, tr 227] Dựa
vào đối tượng mà từ biểu thị, tác giả đã phân chia các lớp từ vựng một cách khá cụ thể Căn cứ về phương diện mức độ sử dụng, người viết đã phân thành
từ vựng tích cực và từ vựng tiêu cực, từ vựng cổ và từ vựng lịch sử, từ ngữ mới và ý nghĩa mới
Chính vì từ mới là những từ mang sắc thái mới, chưa được dùng rộng rãi, phổ biến trong xã hội nên được xếp vào lớp từ vựng tiêu cực Căn cứ vào đối tượng mà những từ ngữ mới biểu thị, tác giả phân chia thành hai loại: từ ngữ mới biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới nảy sinh; Những từ ngữ là tên gọi mới của những đối tượng đã có tên gọi Như vậy, theo Nguyễn Thiện Giáp, từ ngữ mới bao gồm những sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới xuất hiện và cách đặt tên mới cho những sự vật, hiện tượng, khái niệm cũ tạo nên một lượng từ mới đa dạng, làm phong phú vốn từ tiếng Việt Những lớp từ này đang dần trở nên phổ biến và quen dùng, chúng sẽ nhập vào lớp từ vựng tích cực nếu sử dụng thuận tiện, hiệu quả, tốt hơn những tên gọi cũ
Trong lớp từ mới thứ hai, cần phân biệt từ mới là tên gọi mới thuần túy
định danh (thay culi bằng công nhân, đầu bếp bằng cấp dưỡng, ) và tên gọi mới có tính chất định danh-tu từ (đường mây-đường bay của máy bay; phi vũ
Trang 21công- phi công, ) Có thể hiểu là từ mới chỉ thuần túy định danh, còn cách
đặt tên mới mang tính chất định danh-tu từ vừa mang ý nghĩa về trí tuệ vừa có giá trị biểu cảm tu từ thì không được xem là từ mới
Có thể nói, quá trình vận động, phát triển không những của xã hội kéo theo sự biến đổi về ngôn ngữ, trong đó có từ vựng Và cùng với sự ra đời vay mượn các từ ngữ mới, cách dùng mới, ý nghĩa mới của từ cũng giữ vai trò vô cùng quan trọng Những ý nghĩa mới được hình thành chủ yếu là do sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú, tinh tế, giàu sức sáng tạo và tâm huyết của nhiều nhà văn, nhà thơ lớn Họ đã đem lại cho các từ ngữ cũ một khả năng diễn đạt mới lạ và đầy hứng thú
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, do đó, khi đời sống thay đổi, ngôn ngữ cũng biến hóa theo Trong một giai đoạn lịch sử nhất định, sẽ
có một số lĩnh vực nổi lên, được đông đảo nhân dân quan tâm thì những từ ngữ của vấn đề, lĩnh vực ấy dễ trở thành trung tâm, lan tỏa nhanh sang các lĩnh vực khác, thâm nhập vào ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày với ý nghĩa khác Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, những từ ngữ mới phải mang màu sắc mới (tức là mới xuất hiện), tính chất mới của nó vẫn còn được nhiều người thừa nhận Và khi xã hội phát triển, các từ ngữ mới không ngừng xuất hiện để đáp ứng nhu cầu định danh các sự vật, hiện tượng trong đời sống và thế giới con người Từ mới xuất hiên không chỉ bù đắp những thiếu hụt, sự không thỏa mãn, không phù hợp với nhu cầu định danh mà còn bởi mốt trong cách định danh, muốn dành cho sự vật, hiện tượng, khái niệm đã có tên gọi bằng một tên gọi mới hơn
Và theo tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến có
hai con đường cơ bản làm xuất hiện một từ ngữ mới: “Con đường đầu tiên và
quan trọng hơn cả là dùng những yếu tố, những chất liệu và quy tắc sẵn có trong ngôn ngữ dân tộc “của mình” để cấu tạo từ mới” và “con đường vay
Trang 22mượn” [5, tr 208-209] Trong con đường thứ nhất, ngoài phương thức cấu tạo
từ bằng một tiếng và tổ hợp các tiếng bằng ghép hoặc láy thường gặp còn có thể kể thêm: phương pháp loại suy (noi theo cấu tạo của từ có trước), hòa đúc hai từ có sẵn, rút ngắn một cụm từ hoặc từ dài hơn thành một từ mới; chuyển đổi từ loại dựa trên từ có sẵn Trong con đường vay mượn để cấu tạo từ mới
có thể kể đến vay mượn từ, vay mượn yếu tố cấu tạo từ hoặc lấy từ của một ngôn ngữ khác làm yếu tố cấu tạo từ trong ngôn ngữ của mình, căn ke lại từ
ngữ của một ngôn ngữ khác (nhà văn hóa, nhà thơ, ) Đối với những từ ngữ
vay mượn, mỗi ngôn ngữ sẽ có cách xử lí khác nhau và tiếng Việt cũng vậy
Từ mới được nhóm tác giả này xếp vào lớp từ tiêu cực cùng với từ cổ,
từ lịch sử Theo các tác giả, “khi một từ mới xuất hiện chắc chắn chưa có
nhiều người trong phạm vi toàn xã hội biết đến Nó nằm trong phạm vi giao tiếp hẹp nào đó Tuy vậy, nếu sau đó, từ này được chấp nhận và phổ biến trong xã hội một cách rộng rãi thì nó lại nhanh chóng đi vào lớp từu vựng tích cực” [5, tr.230] Có thể thấy, khái niệm về từ mới luôn được xem xét
trong một thời gian cụ thể, một thực trạng từ vựng cụ thể Một số từ bây giờ
là từ mới, chưa được xếp vào lớp từ tích cực nhưng biết đâu qua thời gian và việc sử dụng từ đó của xã hội tăng lên, lúc đó ta mới định đoạt vị trí thích hợp cho nó Khi màu sắc mới của chúng không còn cũng là lúc những từ vốn được xem là từ mới sẽ được chuyển sang lớp từ tích cực Có thể thấy, thời gian từ mới nằm trong lớp từ tiêu cực thường là ngắn, thậm chí đôi khi rất ngắn Nhưng để một từ trở nên cũ hoặc cổ là rất lâu vì nó tồn tại khá dai dẳng
Bên cạnh những từ ngữ mới xuất hiện, việc tạo dựng nghĩa mới, cách dùng mới của từ cũng góp phần làm cho ngôn ngữ phong phú, đa dạng hơn Khi nhắc đến nghĩa mới là chúng ta phải đặt chúng trong mốc thời gian để so sánh vì nghĩa mới của từ cũng có giới hạn tiêu cực và tích cực như từ mới Việc tạo dựng nghĩa mới của từ đang phát triển mạnh bên cạnh việc tạo ra các
Trang 23từ mới mà biểu hiện rõ nét là hình tượng dùng một từ trong những tư cách từ loại khác nhau hay còn gọi là hiện tượng chuyển di từ loại Bên cạnh đó, việc xây dựng cách dùng mới, sắc thái mới cho từ của một tác giả, một cá nhân nào đó khi sử dụng ngôn ngữ cũng cần được chú ý Thế nhưng để nó được phổ biến thì lại là một vấn đề khác
Theo tác giả Đỗ Việt Hùng, trong giáo trình “Từ vựng học”, khi bàn về
từ mới, ông xếp nó vào lớp từ tiêu cực cùng với từ cổ, từ lịch sử vì đều là lớp
từ vựng ít được sử dụng trong giao tiếp hiện nay Ông đưa ra định nghĩa về từ
mới như sau: “Từ vựng mới là từ vựng xuất hiện trong thời gian gần đây Từ
vựng mới có thể có phạm vi phổ biến chưa rộng khắp mà mới chỉ được dùng
ở một phạm vi nào đó” [18, tr.98] Và cũng đồng quan điểm với các nhà ngôn
ngữ khác, tác giả Đỗ Việt Hùng cho rằng “với sự phát triển của xã hội, từ
vựng mới dễ dàng trở thành từ vựng tích cực của ngôn ngữ” [18, tr 98]
Điểm đáng lưu ý mà chúng ta cho rằng đây là điểm mới của tác giả là đưa ra những phương thức làm xuất hiện từ mới như: vay mượn, cấu tạo mới theo phương thức cấu tạo từ của ngôn ngữ; rút gọn; chuyển nghĩa Chuyển nghĩa là đặc điểm mới, khác biệt, mà theo chúng tôi là đáng lưu tâm, chú ý khi tìm hiểu, nghiên cứu đề tài
Những quan điểm của các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất với nhau ở chỗ, đều xếp từ mới vào lớp từ tiêu cực, nhưng không đứng yên tại chỗ mà vận động liên tục Tính chất mới chỉ được xem xét trong một thời gian nhất định, gắn với một mốc cụ thể, sau đó có khả năng tịnh tiến dần sang lớp từ tích cực Bên cạnh đó, sự phân chia các nhóm từ mới theo cách cấu tạo, phương thức tạo lập cũng có nhiều vấn đề cần bàn luận Từ mới được tạo thành không đơn thuần chỉ bằng hình thức ghép hoặc láy mà đa dạng hơn, phức tạp hơn Và chúng tôi đồng quan điểm với tác giả Đỗ Việt Hùng khi bàn
Trang 24về từ mới cũng như các phương thức tạo lập từ mới, trong đó có chuyển nghĩa
để tạo từ mới
1.1.2 Quan niệm của các nhà từ điển học
Trong “Hoàng Phê-Tuyển tập ngôn ngữ học”, NXB Đà Nẵng, tác giả Hoàng Phê có nhắc đến từ mới trong bài viết “Về việc biên soạn một quyển từ điển tiếng Việt mới” Bài viết này tập trung vào luận giải các phương pháp mới để biên soạn từ điển Và trong quá trình trình bày vấn đề, người viết đã chỉ ra tầm quan trọng của từ mới và nghĩa mới Việc ra đời từ mới, nghĩa mới đối với tiếng Việt là điều tất yếu khi ngôn ngữ vận động Đặc biệt, ông lưu ý đến tầm quan trọng của sự chuyển nghĩa khi không đặt từ vào những ngữ cảnh khác nhau Theo ông, nghĩa của từ chỉ thể hiện ra một cách cụ thể, sinh động, đầy đủ trong “ngữ cảnh”, tức là khi kết hợp với những từ khác hoặc trong hoàn cảnh cụ thể của lời nói Không thấy đầy đủ các ngữ cảnh khác nhau trong đó từ được sử dụng thì khó xác định được rõ ràng nghĩa của từ
“Trong nhiều trường hợp, các từ điển của ta trước đây giải thích nghĩa của
từ còn sơ sài, chưa nêu được đủ các nghĩa của những từ nhiều nghĩa, là do chưa xem xét được đầy đủ các ngữ cảnh Về “bắt”, các từ điển trước đây chỉ phân vài ba nghĩa: “1 Ép buộc, buộc phải: Không nên bắt người ta làm theo
ý mình 2 Nắm và giữ lấy: Bắt kẻ gian; Bắt sâu; Bắt chim 3 Thấm vào, nhiễm vào: Tường bắt khói; da bắt nắng” (Từ điển tiếng Việt) Ba nghĩa đó chưa đủ để bao gồm các nghĩa rất phong phú của “bắt” trong: bắt mục tiêu, bắt được thư nhà, bắt được của rơi, bắt lửa, bắt đinh ốc, bắt điện, bắt liên lạc, ” [42 ,tr.221]
Như vậy, việc bổ sung nghĩa mới vào từ điển là việc làm thường xuyên
và cần thiết Và sự ra đời của cuốn từ điển từ mới như một tất yếu qua quá trình nghiên cứu bền bỉ, lâu dài các nhà từ điển học Trong bài viết, tác giả không đề cập sâu đến khái niệm từ mới, nghĩa mới mà chỉ tái hiện hiện trạng
Trang 25ngôn ngữ với sự xuất hiện ồ ạt từ mới, nghĩa mới và đặc biệt là hiện tượng
chuyển nghĩa, phát triển nghĩa của từ một cách có quy luật “Rất nhiều khi tên
gọi của vật chứa đựng chuyển thành tên gọi của đơn vị lượng được chứa đựng: “mâm” trong “mâm đồng” là một nghĩa, “mâm” trong “mâm cơm”, hoặc trong “ngồi vào mâm” là một nghĩa khác Trong tiếng Việt, tên gọi của cây thường đồng thời cũng là tên gọi của quả, lá, hoặc củ, tùy theo bộ phận nào của cây là hữu ích nhất đối với con người, đôi khi còn là tên gọi của vật chế biến từ một bộ phận nào đó của cây “Chuối” không những chỉ cây, mà còn chỉ “quả” (ăn chuối); “chè” còn chỉ “lá”, “nụ”, “búp” (hái chè, sản xuất chè) hoặc chỉ “nước chè” (nghiện chè)” [42, tr.224] Bên cạnh đó, tác
giả lưu ý khá nhiều trường hợp để có thể biên soạn một cuốn từ điển theo
phương pháp mới, đầy đủ và toàn diện hơn
Theo tác giả Chu Bích Thu, khái niệm từ ngữ mới, ý nghĩa mới có nhiều cách hiểu và phạm vi khác nhau vì cảm quan có tính chất xã hội của mỗi người về từ mới không giống nhau L.Ginber, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng
có bàn về vấn đề này như sau: “do sự thông thạo từ vựng khác nhau của
người nói một ngôn ngữ nhất định mà việc xác định một đơn vị từ vựng nào
đó có phải là từ mới hay không gặp phải những khó khăn Trong hàng loạt trường hợp, sự quyết định phụ thuộc vào vị trí xã hội của người nói: công việc, nếp sống của anh ta, Bởi vì những người khác nhau đánh giá “tính mới” của từ, tính đúng đắn của từ theo những cách khác nhau, cần phải dựa vào sự cảm nhận ngôn ngữ của các chuyên gia ngôn ngữ, những người này nắm vững từ vựng” [43, tr iii]
Có thể nói, khái niệm từ mới đa dạng, phức tạp bởi vì tính mới của nó không đồng nhất giữa người này và người khác Với người này, từ đó là mới nhưng với người kia, từ đó không có gì lạ Theo nhóm tác giả Chu Bích Thu, Nguyễn Ngọc Trâm, Nguyễn Thúy Khanh, Nguyễn Thanh Nga, Phạm Hùng
Trang 26Việt, “khái niệm mới, tự bản thân nó đã bao hàm tính lịch sử nhất định, tức
là mới so với thời điểm nào và mới so với cái gì” [43, tr iii] Các tác giả đã
chọn xác định khái niệm từ mới tính theo mốc thời gian từ 1985 đến 2000 và lấy ngôn ngữ văn hóa (ngôn ngữ toàn dân) làm chuẩn để so sánh Theo đó, từ ngữ mới bao gồm:
1 Các từ ngữ biểu thị các khái niệm, sự vật mới xuất hiện, mới được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam
2 Các từ ngữ diễn đạt những hành động, tư tưởng, tình cảm của con người một cách chính xác, tinh tế hơn
3 Các từ ngữ đồng nghĩa với từ ngữ đã có, nhưng khác về sắc thái, phong cách, cụ thể là: các từ ngữ địa phương mới được dùng phổ biến trong ngôn ngữ toàn dân; các từ cổ, từ cũ sau một thời gian dài ít được dùng, nay được dùng phổ biến trở lại; các từ ngữ mới được dùng để chỉ các khái niệm
cũ, nhưng có sắc thái nghĩa khác
4 Các nghĩa mới được phát triển nhờ các phương thức mở rộng nghĩa
từ như: ẩn dụ, hoán dụ, dùng với nghĩa bóng chuyển nghĩa
Khi bàn về một số vấn đề từ vựng - ngữ nghĩa, Nguyễn Ngọc Trâm đã
có một số bài viết liên quan đến từ mới, đặc biệt là từ mới có yếu tố gốc Hán:
“Trong tiếng Việt, hầu hết tiếng-hình vị là yếu tố Hán-Việt, chúng có một vị trí quan trọng trong hệ thống từ vựng-ngữ nghĩa, không những là thành tố của phần lớn từ đa tiết hiện có, mà còn là yếu tố cấu tạo từ có tiềm năng lớn
để cấu tạo từ mới, không chỉ trong khoa học mà cả trong đời sống hàng ngày” [37, tr 164] Có thể thấy, yếu tố Hán - Việt giữ một vai trò quan trọng
để cấu tạo từ mới hiện nay
Trong bài viết “Từ Hán-Việt trong sự phát triển từ vựng tiếng Việt giai
đoạn hiện nay”, tác giả Nguyễn Ngọc Trâm đã đi sâu tìm hiểu những đơn vị
từ mới có yếu tố Hán Việt Đặc biệt trong bài này, người viết đã dành nhiều
Trang 27tâm huyết để nghiên cứu về sự đồng hóa các từ Hán- Việt mới mượn Trong
đó, điều làm chúng tôi quan tâm hơn cả là sự biến đổi ý nghĩa được xem là sự biến đổi ít nhưng không thể không khảo sát về mặt ý nghĩa vì được xem là một bình diện phức tạp và có nhiều biến động nhất Sự thay đổi ấy bao gồm:
1 Với các thuật ngữ, ý nghĩa của từ gốc Hán thường được giữ nguyên
2 Có những từ Hán-Việt chỉ khác từ gốc Hán chút ít về sắc thái nghĩa
3 Thay đổi phạm vi biểu vật so với từ gốc Hán
4 Hình thành nghĩa mới khác xa nghĩa của từ Hán gốc
5 Quá trình phát triển đa nghĩa
Sự thay đổi trên kéo theo sự ra đời nghĩa mới, mở rộng phạm vi biểu vật, biểu niệm, biểu thái mà biểu hiện rõ nét nhất là ở phạm vi biểu vật
Trong bài viết “Về hai xu hướng trong phát triển từ vựng tiếng Việt”,
Nguyễn Ngọc Trâm đã khảo sát từ vựng mới để đưa ra nhận định khái quát về hai xu hướng phát triển của tiếng Việt, đó là trí tuệ hóa và đa dạng hóa Người viết đã nghiên cứu từ vựng thuật ngữ và thống kê, trong số 2212 đơn vị từ mới xuất hiện sau năm 1988 có tới 712 đơn vị thuật ngữ, chiếm 33% Trong
đó, số lượng các thuật ngữ mới tạo bằng con đường phát triển đa nghĩa không phải là nhỏ Bên cạnh tính trí tuệ, từ vựng tiếng Việt nói chung, từ mới nói riêng còn cho thấy xu hướng đa dạng hóa rõ nét Những từ ngữ mới xuất hiện phản ảnh sự phong phú, đa diện của cuộc sống xã hội Nhiều hoạt động văn hóa tinh thần được mở rộng như âm nhạc, thời trang, giải trí, thể thao, du lịch, thế giới tâm linh,
Nếu các nhà từ vựng học cho rằng, từ mới chủ yếu hình thành theo hai con đường, vay mượn và dùng lại từ cũ nhưng mang nghĩa mới thì tác giả Nguyễn Ngọc Trâm còn bổ sung vào hệ thống này từ ngữ địa phương (chiếm
5 %), từ vựng khẩu ngữ (chiếm 14%) làm cho hệ thống từ toàn dân phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu giao tiếp thường ngày trong xã hội mới
Trang 28Bàn về phương thức cấu tạo từ mới, tác giả Nguyễn Ngọc Trâm đã thống kê và phân loại sơ bộ 8737 đơn vị mới xuất hiện trong tiếng Việt, kể cả những đơn vị chỉ xuất hiện một lần và thu được kết quả sau: Phương thức ghép chiếm 62%, trong đó ghép chính phụ là 45%, ghép đẳng lập là 17%, tổ hợp cố định và định danh là 19%; Phương thức láy là 13,5%; từ đa tiết vay mượn thêm từ châu Âu là 5,5%
Có thể nói, “từ vựng tiếng Việt trong 10-15 năm gần đây tăng trưởng
rất mạnh về số lượng và chất lượng” [37, tr 249] Và quan điểm chung của
các nhà từ điển học là không tách bạch từ mới hay nghĩa mới Từ mới nói chung bao hàm cả nghĩa mới của từ, nghĩa là khi nghĩa mới đó thay đổi về phạm vi biểu vật, cấu trúc biểu niệm Tính mới của từ mới được xác định theo mốc thời gian từ 1985 đến nay và luôn luôn biến đổi, bổ sung theo hướng trí tuệ hóa và đa dạng hóa
1.2 CHUYỂN NGHĨA TRONG HỆ THỐNG TỪ VỰNG
Vốn từ vựng của một ngôn ngữ là có giới hạn nhưng nội dung giao tiếp, phản ánh tư duy lại vô cùng phong phú, đa chiều Vì sự khôn cùng của giao tiếp mà ngôn ngữ được mở rộng biện độ bằng cách gia tăng vốn từ vay mượn,
sử dụng phương thức chuyển nghĩa để tạo từ đa nghĩa, từ mới Trong đó, sử dụng vốn từ sẵn có, gia tăng nghĩa là phương pháp khá phổ biến Điều này trở thành ý niệm mặc định trong tư duy của các nhà ngôn ngữ học Vậy thực hư nguyên nhân của vấn đề này là như thế nào và vì sao?
Theo thống kê, tiếng Việt có khoảng 9500 âm tiết nhưng người Việt chỉ mới dùng khoảng 5000 âm tiết Chúng ta có thể phân tích một ví dụ để thấy tầm quan trọng của chuyển nghĩa trong cấu tạo từ trong tiếng Việt Âm tiết
“buôm” khi kết hợp thanh điệu có thể sản sinh sáu âm tiết mới nhưng người Việt chỉ sử dụng một âm tiết “buồm”, còn năm âm tiết còn lại là “buôm”,
“buổm”, “buỗm”, “buộm”, “buốm” đều ở dạng tiềm năng Như vậy, chúng ta
Trang 29có thể thấy rằng một sự bất hợp lí, tại sao người Việt không dùng những đơn
vị tiềm năng như “buôm”, “buổm”, “buỗm”, “buộm”, “buốm” để định danh
sự vật, thể hiện đặc điểm, tính chất, trạng thái hay hoạt động của sự vật mới
mà dùng những đơn vị từ có sẵn để kết hợp dựa theo quan hệ liên tưởng (thẻ tín dụng, tay bo, chợ người, vàng trắng, bụi bặm, ế độ, ) Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn thiết thực và quá trình liên tưởng khác nhau mà ngôn ngữ không ngừng được mở rộng theo chiều sâu Và ẩn dụ, hoán dụ trở thành những phương thức chuyển nghĩa phổ biến dựa vào quan hệ liên tưởng Vấn đề này không chỉ tồn tại trong tiếng Việt mà hầu như tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều sử dụng và tận dụng những đơn vị sẵn có triệt để
Phương thức chuyển nghĩa là phương thức mà dựa vào đó có thể thực hiện sự chuyển biến ý nghĩa cho từ, tăng cho từ thêm nghĩa mới Và trong đó,
ẩn dụ, hoán dụ là hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất trên thế giới
Theo nhóm tác giả trong “Nhập môn ngôn ngữ học”, “các ẩn dụ, hoán dụ
ngôn ngữ là các phương phức để tạo ra nghĩa mới, nghĩa cố định của đơn vị
từ vựng, tức là các phương thức tạo ra hiện tượng nhiều nghĩa ngôn ngữ” [6,
tr.220]
1.2.1 Ẩn dụ từ vựng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ẩn dụ Trong giáo trình “Từ
vựng học tiếng Việt”, Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa về ẩn dụ như sau: “Cho A
là một phương thức ngữ âm, x và y là những nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x (tức x có ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y) nếu như x và y có nét nào giống nhau” [4, tr 103]
Tùy thuộc vào sự vật chính và sự vật x nhận tên gọi của y là cụ thể, cảm nhận được bằng giác quan hay trừu tượng mà ẩn dụ chia thành ẩn dụ cụ thể - cụ thể và ẩn dụ cụ thể - trừu tượng Nếu x và y đều là sự vật cụ thể thì đó
Trang 30là ẩn dụ cụ thể - cụ thể; còn nếu x là sự vật cụ thể và y là sự vật trừu tượng thì đây là ẩn dụ cụ thể - trừu tượng Tác giả còn phân chia ẩn dụ thành 6 loại:
ẩn dụ hình thức; ẩn dụ cách thức; ẩn dụ chức năng; ẩn dụ kết quả, dựa vào sự giống nhau về tác động của các sự vật đối với con người; ẩn dụ chuyển đổi cảm giác và ẩn dụ khác
Theo Nguyễn Thiện Giáp, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau Tác giả phân ra 8 kiểu ẩn dụ, bao gồm: sự giống nhau về hình thức; sự giống nhau về màu sắc; sự giống nhau về chắc năng; sự giống nhau về thuộc tính, tính chất nào đó; sự giống nhau về một đặc điểm, một vẻ ngoài nào đó; những ẩn dụ từ
cụ thể đến trừu tượng; chuyển tên các con vật thành tên người; chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng khác
Còn tác giả Mai Ngọc Chừ, “ẩn dụ là phương thức chuyển tên gọi dựa
trên sự liên tưởng so sánh những mặt, những thuộc tính giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên” [6, tr 176] Người viết còn giải thích cụ thể hơn:
Giả sử ta có từ T là tên gọi cho đối tượng Đ1 và T có nghĩa S1 Khi cần gọi tên cho một đối tượng Đ2 nào đó, mà người ta thấy giữ Đ1 và Đ2 có những nét, những mặt nào đó giống nhau, người ta có thể dùng T để gọi tên luôn cho
cả Đ2 Lúc này, một nghĩa S2 tương ứng được xác lập trong T Như vậy, ở đây đã diễn ra một phép ẩn dụ, theo sơ đồ:
Đ1 S1
T
Đ2 S2 Theo ông, nếu dựa vào tính cụ thể/trừu tượng thì phân chia ẩn dụ thành
2 kiểu, ẩn dụ cụ thể-cụ thể và ẩn dụ cụ thể-trừu tượng, giống cách phân chia của GS Đỗ Hữu Châu, còn nếu dựa theo các nét nghĩa phạm trù thì ẩn dụ có
Trang 31những loại sau: ẩn dụ hình thức, ẩn dụ cách thức, ẩn dụ vị trí, ẩn dụ chức năng, ẩn dụ kết quả
Còn theo nhóm tác giả Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tương đồng các sự vật Các tác giả này còn phân ra một số hình thức ẩn dụ như sau: ẩn dụ vật thể, ẩn dụ tính chất, ẩn dụ hoạt động Có thể thấy, nhờ ẩn dụ mà từ có khả năng biểu đạt cao hơn, một mặt làm cho những khái niệm trừu tượng trở thành cụ thể, mặt khác đem lại đường nét, màu sắc, hình khối, cho những sự vật cụ thể
Đồng quan điểm với nhóm tác giả trên, Nguyễn Thị Ly Kha trong
“Ngữ nghĩa học” cho rằng: “ẩn dụ là cách biến đổi nghĩa từ dựa vào những
đặc điểm tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng” [19, tr.46] và phân chia
thành 4 kiểu ẩn dụ: ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về hình thể, ẩn dụ dựa vào
sự giống nhau về chức năng, ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về màu sắc, ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó
Theo tác giả Hữu Đạt trong “Phong cách học tiếng Việt hiện đại”, “ẩn
dụ từ vựng là ẩn dụ mà hiện tượng chuyển nghĩa được hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài của việc sử dụng ngôn ngữ ở một cộng đồng người nói một thứ tiếng nhất định Sự chuyển nghĩa này lâu dần đã được cố định và được củng cố trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ” [10, tr.370] Căn cứ vào
mối quan hệ tương đồng giữa các sự vật, người viết đã phân chia ẩn dụ thành các kiểu như sau: ẩn dụ dựa trên sự giống nhau giữa các đặc điểm về hình thức, hình dáng; ẩn dụ dựa trên sự giống nhau giữa các đặc điểm về tính cách, phẩm chất; ẩn dụ dựa trên sự giống nhau giữa các đặc điểm về chức năng; ẩn
dụ dựa trên sự giống nhau giữa các đặc điểm về cách thức hay phương thức hành động; ẩn dụ dựa trên sự chuyển đổi từ cụ thể sang trừu tượng
Trang 32Ẩn dụ- một trong hai quy luật phổ biến của sự biến đổi nghĩa đã được
tác giả Vũ Thị Ly Kha, Vũ Thị Ân định nghĩa như sau: “Là cách biến đổi
nghĩa từ dựa vào những đặc điểm tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng Nghĩa là, lấy tên gọi của A gọi cho B dựa trên sự giống nhau giữa A và B”
[19, tr 48] Dựa vào sự tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng mà chia thành các kiểu khác nhau: ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về hình thể, ẩn dụ dựa vào
sự giống nhau về chức năng, ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về màu sắc, ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó
Trong “Sổ tay các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiếng Việt (dùng trong nhà
trường), tác giả Nguyễn Khánh Hà đã định nghĩa như sau: “ẩn dụ là biện
pháp chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau ở một điểm nào đó giữa các
sự vật, sự việc, hiện tượng” [16, tr 13], cụ thể hơn, ẩn dụ ngôn ngữ hay ẩn dụ
từ vựng không mang sắc thái biểu cảm, mang tính xã hội và có tính chất ổn định, ghi trong từ điển
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể thấy, ẩn dụ là cách dùng tên gọi của đối tượng này cho đối tượng kia dựa trên mối quan hệ giống nhau của chúng
1.2.2 Hoán dụ từ vựng
Nếu ẩn dụ từ vựng là hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật hoặc hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác dựa trên sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng ấy thì hoán dụ từ vựng vừa mang có điểm giống vừa có điểm khác biệt so với ẩn dụ
Định nghĩa về hoán dụ từ vựng được GS Đỗ Hữu Châu cụ thể hóa như
sau: “Cho A là một phương thức ngữ âm, x và y là những nghĩa biểu vật A
vốn là tên gọi của x (tức x có ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế khách quan” [4, tr 106] Tác giả này còn phân chia hoán
Trang 33dụ thành 4 loại lớn, gồm: hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận-toàn thể giữa hai
ý nghĩa biểu vật x và y, x là bộ phận của y hoặc x là toàn thể, y là bộ phận; hoán dụ dựa trên quan hệ lấy tên gọi của tiếng kêu, của đặc điểm hình dáng gọi tên con vật; hoán dụ dựa trên quan hệ lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ hơn để chỉ một số một số lớn không đến hết; hoán dụ dựa trên một số quan hệ khác: quan hệ toàn bộ-bộ phận, vật chứa - vật bị chứa, nguyên liệu - sản phẩm, đồ dùng - người sử dụng, dụng cụ - ngành nghề,
Theo tác giả Mai Ngọc Chừ, hoán dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên mối liên hệ lôgic giữa các đối tượng được gọi tên Định nghĩa được cụ thể hóa bằng kí hiệu Giả sử ta có từ T là tên gọi của đối tượng Đ1 và
từ này có nghĩa S1 Khi cần gọi tên cho một đối tượng Đ2 mà giữa Đ2 và Đ1
có mối quan hệ logic nào đó thì người ta có thể dùng T để gọi tên luôn cho cả Đ2 Lúc này từ T được xây dựng thêm, được cấp thêm cho một nghĩa S2, như thế là đã có một phép chuyển nghĩa hoán dụ
Với tác giả Nguyễn Thiện Giáp, “ngược lại với ẩn dụ, hoán dụ là hiện
tượng tượng chuyển tên gọi từ sự vật hoặc hiện tương này sang sự vật, hiện tượng khác dựa trên một mối quan hệ logic giữa các sự vật hoặc hiện tượng ấy” [15, tr,109] Căn cứ vào tính chất các mối quan hệ, ông đã chia hoán dụ
thành 10 loại có bản thường gặp sau: Quan hệ giữa toàn thể và bộ phận (hay còn gọi là quan hệ cải dung, bao gồm lấy bộ phận thay cho toàn thể và lấy toàn thể thay cho bộ phận); lấy không gian, địa điểm thay cho những người sống ở đó; lấy cái chứa đựng thay cho cái được chứa đựng; lấy quần áo, đồ trang phục nói chung thay cho người; lấy bộ phận của con người thay cho bộ phận của quần áo; lấy địa điểm, nơi sản xuất thay cho sản phẩm được sản xuất
ở đó; lấy địa điểm thay cho sự kiện xảy ra ở đó; lấy tên tác giả thay cho tác phẩm; lấy tên chất liệu thay cho tên sản phẩm; lấy âm thanh thay cho đối tượng
Trang 34Theo tác giả Bùi Tất Tươm, hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tiếp cận giữa các sự vật Điều đó có nghĩa là hoán dụ chỉ thực hiện những sự vật chuyển đổi tên gọi có quan hệ gần gũi nhau trong không gian và thời gian cụ thể Những hình thức hoán dụ được xây dựng dựa vào các cơ chế sau: Tiếp giáp, tiếp tạo, hàm chứa Như vậy, có thể thấy, khái niệm
và sự phân loại này không bao quát hết các loại hoán dụ xuất hiện để tạo từ, nghĩa mới trong tiếng Việt
Trong “Ngữ nghĩa học”, nhóm tác giả Nguyễn Thị Ly Kha, Vũ Thị Ân
đã định nghĩa: “Hoán dụ là cách lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này gọi
tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa vào mối quan hệ tương cận giữa chúng”
[19, tr.54] và chia ra thành các hình thức hoán dụ thường gặp là: hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa vật chứa đựng và vật được chứa đựng, hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa âm thanh và đối tượng phát ra âm thanh, hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa người và y phục, đồ dùng
Theo tác giả Nguyễn Khánh Hà trong “Sổ tay các biện pháp tu từ ngữ
nghĩa tiếng Việt”, hoán dụ là “một biện pháp chuyển đổi tên gọi”, “không có sắc thái biểu cảm”, cố định trong hầu hết mọi văn cảnh [16, tr.15]
Như vậy, hoán dụ từ vựng là cách chuyển đổi tên gọi, lấy tên gọi của đối tượng này để gọi đối tượng kia dựa vào mối quan hệ tương đồng hoặc tương cận (logic khách quan) giữa chúng
*Bị chú:
Theo GS Đỗ Hữu Châu, ẩn dụ và hoán dụ có những điểm khác biệt như sau:
Trang 35quan Chúng phụ thuộc vào những
phạm trù hoàn toàn khác nhau
Mối liên hệ đi đôi với nhau giữa
x và y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức của con người
Chuyển đổi tên gọi tùy thuộc vào
nhận thức có tính chất chủ quan của
con người và sự giống nhau giữa
chúng
Có tính chất khách quan
Theo Mai Ngọc Chừ, “ẩn dụ và hoán dụ đều là phương thức lấy tên
gọi A của sự vật này (x) để gọi tên sự vật khác (y) Sự khác nhau giữa hai phương thức là sự khác nhau về mối quan hệ giữa hai sự vật (x và y)” [6, tr
220] Cụ thể ẩn dụ và hoán dụ từ vựng được phân biệt như sau:
tên cho sự vật y [A (x) chỉ y]
nét tương đồng, giống nhau theo một khía cạnh nào đó
- x và y mang tính chủ quan, phụ thuộc vào nhận thức của người sử dụng
- Giữa x và y có quan hệ tương cận, x và
y luôn đi đôi với nhau, luôn có mặt cùng nhau, khó có thể hình dung y
mà không có x
- Giữa x và y có tính khách quan
Cù Đình Tú trong cuốn “Phong cách học” (1983) cũng có vài nhận xét
sự khác biệt giữa ẩn dụ và hoán dụ Nếu ẩn dụ nghiêng hẳn về mối quan hệ
Trang 36logic mang tính chủ quan thì hoán dụ hình thành dựa trên mối quan hệ logic
có thực, mang tính khách quan, do con người nhận thức và phản ánh lại
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Ly Kha, ẩn dụ tu từ thuộc phạm vi lời nói, là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để biểu thị
sự vật, hiện tượng kia dựa vào sự giống nhau giữa chúng, nghĩa là ẩn dụ tu từ xuất hiện trong một tình huống nhất định gắn với cách nói của cá nhân Còn ẩn
dụ từ vựng thuộc phạm vi ngôn ngữ, có tính bền vững, được ghi trong từ điển
Tác giả Nguyễn Khánh Hà, trong “Sổ tay các biện pháp tu từ ngữ nghĩa tiếng Việt” cũng đã chỉ ra sự khác biệt giữa ẩn dụ và hoán dụ trên hai phương diện nội dung và hình thức Xét về nội dung, hoán dụ khác với ẩn dụ ở chỗ ẩn
dụ dựa trên quan hệ tương đồng giữa các sự vật, còn hoán dụ dựa trên quan hệ tiệm cận, đi đôi giữa các sự vật Về mặt hình thức, hoán dụ tương đối giống
ẩn dụ, tức là chỉ có vế biểu thị là hiển ngôn, còn vế được biểu thị là hàm ngôn Người tiếp nhận phải dựa vào quan hệ liên tưởng logic khách quan để tìm ra đối tượng được biểu thị
Bên cạnh điểm khác nhau cơ bản mà các tác giả khác đều nhận thấy, Nguyễn Thiện Giáp còn chỉ ra mối liên hệ giữa ẩn dụ và hoán dụ với các hiện tượng mở rộng và thu hẹp nghĩa Những ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng hay
ẩn dụ dựa vào sự giống nhau đều là một quá trình mở rộng ý nghĩa Trong khi
đó, hoán dụ, nhất là hoán dụ cải dung lại liên hệ với hiện tượng thu hẹp nghĩa
Từ các ý kiến so sánh, đối chiếu, phân biệt, chúng ta thấy rằng, điểm khác biệt lớn nhất giữa ẩn dụ và hoán dụ từ vựng là mối quan hệ giữa đối tượng gọi tên và đối tượng được gọi tên Nếu mối quan hệ đó là giống nhau thì đây là phương thức ẩn dụ, còn quan hệ đó là tương đồng, tương cận hay logic khách quan là phương thức hoán dụ
- Phân biệt ẩn dụ, hoán dụ từ vựng với ẩn dụ, hoán dụ tu từ
Ẩn dụ và hoán dụ đều là những hình thức chuyển nghĩa từ vựng và
Trang 37cũng là hai biện pháp tu từ quan trọng Khi mới được sáng tạo, chúng phần lớn là những hình thức tu từ biểu cảm Nhưng qua thời gian sử dụng, lặp đi lặp lại với tần số cao khiến từ mất dần tính biểu cảm Theo nhóm tác giả Bùi
Tất Tươm, nếu “ẩn dụ, hoán dụ từ vựng là những chuyển nghĩa đã cố định” [41, tr.155]thì “ẩn dụ, hoán dụ tu từ là những chuyển nghĩa lâm thời, có tính
nghệ thuật” [42, tr 156]
Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha cũng đồng quan điểm về khái niệm hoán
dụ, tuy nhiên cách phân chia các loại hoán dụ có phần chi tiết và đầy đủ hơn Dựa vào mối quan hệ tương cận giữa các đối tượng phân ra làm 4 loại hoán
dụ, hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa toàn thể và bộ phận, hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa vật chứa đựng và vật được chứa đựng, hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa âm thanh và đối tượng phát ra âm thanh, hoán dụ dựa vào mối quan hệ giữa người và y phục, đồ dùng
Theo tác giả Cù Đình Tú trong “Phong cách học”, nếu ẩn dụ từ vựng mang tính chất xã hội (mọi người đều dùng), mang tính cố định được ghi trong từ điển thì ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên sự giống nhau giữa hai đối tượng
Theo Mai Ngọc Chừ trong “Nhập môn ngôn ngữ học”, cả ẩn dụ, hoán
dụ ngôn ngữ (ẩn dụ, hoán dụ từ vựng) và ẩn dụ, hoán dụ tu từ đều là phương thức để tạo ra nghĩa mới Trong khi ẩn dụ, hoán dụ từ vựng tạo nghĩa cố định của đơn vị từ vựng thì ẩn dụ, hoán dụ tu từ tạo ra nghĩa mang tính cá nhân, chưa được cố định, do sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghệ thuật ngôn
từ, tách ra khỏi văn cảnh, nghĩa đó không còn nữa, thuộc về các phương thức tạo ra hiện tượng nhiều nghĩa lời nói
Bên cạnh điểm khác nhau cơ bản mà các tác giả khác đều nhận thấy, Nguyễn Thiện Giáp còn chỉ ra điểm khác gắn với sự ra đời từ mới Nếu ẩn dụ, hoán dụ tu từ là cách sử dụng có hình ảnh, giúp cho người viết, người nói diễn
Trang 38đạt chính xác các sắc thái khác nhau của tư tưởng và tình cảm thì ẩn dụ, hoán
dụ từ vựng lại góp phần tạo ra ý nghĩa mới, từ mới Nếu ẩn dụ, hoán dụ từ vựng thuộc phạm vi nghiên cứu của từ vựng học thì ẩn dụ, hoán dụ tu từ thuộc phạm vi nghiên cứu của phong cách học mà cụ thể là tu từ học
Với tác giả Nguyễn Khánh Hà, nếu ẩn dụ từ vựng không mang sắc thái biểu cảm, mang tính xã hội ổn định, ghi trong từ điển thì ẩn dụ tu từ mang tính cá nhân, lâm thời, mang sắc thái biểu cảm rõ nét Tương tự, hoán dụ từ vựng cũng như ẩn dụ từ vựng, không mang sắc thái biểu cảm, có tính cố định
và tính xã hội, phổ biến trong hầu hết mọi văn cảnh, còn hoán dụ tu từ được dùng như một biện pháp chuyển nghĩa có tính cá nhân, lâm thời, trong một vài văn cảnh nhất định còn tạo sắc thái biểu cảm
Trên cơ sở tiếp thu những công trình của các nhà ngôn ngữ học,theo chúng tôi, có thể phân biệt ẩn dụ, hoán dụ từ vựng và ẩn dụ, hoán dụ tu từ như sau:
- Mang tính xã hội, cố định - Mang tính cá nhân, lâm thời
- Tạo ra từ mới, nghĩa mới - Hình thức chuyển nghĩa lâm
thời, mang tính nghệ thuật
- Chuyển nghĩa trong hệ thống
từ vựng tiếng Việt, thuộc phạm vi từ
vựng
- Chỉ là chuyển nghĩa với mục đích tu từ (tạo ra hình ảnh), thuộc phạm vi lời nói
1.3 GIỚI THIỆU VỀ CUỐN “TỪ ĐIỂN TỪ MỚI TIẾNG VIỆT”
1.3.1 Từ điển trong cuộc sống
Từ điển giữ một vai trò vô cùng quan trọng, là loại sách công cụ, có tác dụng lớn đối với chuẩn hóa ngôn ngữ, dùng để tra cứu, cách dùng, cách hiểu
về từ ngữ, bao gồm những từ ngữ được sắp xếp theo một trật tự nhất định, giải thích ý nghĩa của các đơn vị được miêu tả, cung cấp những thông tin khác
Trang 39nhau về chúng hoặc dịch ra ngôn ngữ khác, hoặc thông báo những kiến thức
về các đối tượng do chúng biểu thị
Có thể nói, từ điển cùng một lúc thực hiện nhiều chức năng khác nhau, vừa cung cấp nghĩa của từ, vừa bổ sung kiến thức về lịch sử, địa lí, khoa học, thực hiện nhiều chức năng xã hội khác nhau Từ điển là những tập sách tập hợp vốn từ vựng của một ngôn ngữ, xếp theo vần, theo đề tài hoặc theo nét nghĩa có giải thích các từ có chú thích cần thiết về chính tả, ngữ pháp, ngữ
âm, tu từ học Sự phát triển, biến đổi của từ vựng trong một giai đoạn nhất định sẽ được phản ánh, thu thập vào từ điển Tuy nhiên, từ điển không chỉ phản ánh cái tĩnh mà điều không kém phần quan trọng là phản ánh cái động,
xu thế phát triển, vận động liên tục của xã hội
Theo Nguyễn Ngọc Trâm, những năm gần đây, ở nước ta có tình hình rất nhiều từ điển đủ các loại hằng năm được xuất bản, từ điển đơn ngữ (tiếng Việt) cũng như từ điển song ngữ, từ điển ngữ văn cũng như từ điển có tính bách khoa Theo thống kê chưa đầy đủ, chủ yếu dựa vào thư mục của Thư viện quốc gia, trong tổng số 447 quyển từ điển đã xuất bản ở nước ta từ xưa đến nay, có 239 quyển (trên 53%) đã được xuất bản từ năm sau 1975, bao gồm 35 quyển từ điển tiếng Việt các loại, 64 quyển từ điển chuyên môn các ngành Việc xuất bản nhiều và đa dạng các loại từ điển chứng tỏ nhu cầu tìm hiểu mở rộng kiến thức, vốn từ và ngày càng nâng cao tri thức, qua đó cũng góp phần đánh giá mức độ phát triển kinh tế, văn hóa của xã hội
1.3.2 “Từ điển từ mới tiếng Việt”
Có thể thấy, từ năm 1985 đến nay, cùng với chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, từ vựng tiếng Việt biến đổi mạnh mẽ, nhanh chóng và toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội Việt Nam từ chính trị, văn hóa đến kinh tế, sinh hoạt tinh thần Nhớ đó, từ mới được nảy sinh ồ ạt, đang dần đi vào đời sống nhân dân Cuốn “Từ điển từ mới tiếng
Trang 40Việt” được xuất bản năm 2002 như một điều tất yếu Cuốn từ điển này đã thu thập được 2500 đơn vị đầu mục (trong đó có 700 đơn vị chưa từng xuất hiện trong những cuốn từ điển giải thích có uy tín nhất trong thế kỉ XX) được xem
là mới từ năm 1985 đến nay Mỗi mục từ được cung cấp các thông tin sau: Nguồn gốc, cách đọc (nếu là từ vay mượn), từ loại, chú giải về phạm vi sử dụng, khả năng kết hợp (nếu cần), định nghĩa, ví dụ (mỗi nghĩa 3 thường có
từ 1 đến 3 ví dụ)
Ngoài trang bìa, lời nói đầu, phần giải thích nghĩa của 2500 đơn vị đầu mục, cuốn từ điển này còn có thêm bảng viết tắt của các nhà xuất bản, bảng viết tắt tên báo và tạp chí Với hơn 45000 ngữ cảnh được thu thập từ hàng vạn trang sách, báo chí trên cả nước, cả trong hành vi nói năng, người biên soạn
đã phát hiện và miêu tả những từ ngữ mới cũng như ý nghĩa mới của từ, bao gồm:
1 Các từ ngữ biểu thị các khái niệm, sự vật mới xuất hiện, mới được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam
2 Các từ ngữ diễn đạt những hành động, tư tưởng, tình cảm của con người một cách chính xác, tinh tế hơn
3 Các từ ngữ đồng nghĩa với từ ngữ đã có, nhưng khác về sắc thái phong cách (các từ ngữ địa phương mới dùng phổ biến trong ngôn ngữ toàn dân; các từ cổ, từ cũ sau một thời gian dài ít được dùng, nay được dùng phổ biến trở lại; các từ ngữ mới được dùng để chỉ các khái niệm cũ, nhưng có sắc thái nghĩa khác)
4 Các nghĩa mới được phát triển nhờ các phương thức mở rộng nghĩa từ Như vậy, cuốn từ điển bao gồm những nghĩa mới và những đơn vị từ vựng mới Một từ có nghĩa mới và nghĩa cũ thì nghĩa cũ được đánh dấu bằng khung chữ nhật bao quanh số thứ tự nghĩa của từ, còn các nghĩa mới khác đặt trong các từ đã có