1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn quận ngũ hành sơn thành phố đà nẵng

142 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội để đưa các quy địn

Trang 1

BÙI MINH QUẢNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 2

BÙI MINH QUẢNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Quang Sơn

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn: “Biện pháp quản lí giáo dục pháp luật cho

học sinh trung học phổ thông trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Bùi Minh Quảng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

9 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 10

1.2.1 Quản lí giáo dục 10

1.2.2 Giáo dục pháp luật 12

1.2.3 Quản lí giáo dục pháp luật 16

1.3 LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 17

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 17

1.3.2 Chủ thể và đối tượng của giáo dục pháp luật 19

1.3.3 Nội dung giáo dục pháp luật 24

1.3.4 Hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật 25

Trang 5

1.3.5 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và các chính sách trong

giáo dục pháp luật 28

1.4 QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 29

1.4.1 Mục tiêu quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 29

1.4.2 Quản lí nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục pháp luật 30

1.4.3 Quản lí hình thức và phương pháp tổ chức giáo dục pháp luật 31

1.4.4 Quản lí các lực lượng giáo dục pháp luật 32

1.4.5 Quản lí điều kiện phục vụ giáo dục pháp luật 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 37

2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỦA QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 37

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng 37

2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục của quận Ngũ Hành Sơn 39

2.1.3 Tình hình phát triển giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng 40

2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT 43

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 43

2.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 43

2.2.3 Nội dung khảo sát 44

2.2.4 Phương pháp khảo sát 44

Trang 6

2.3 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH

PHỐ ĐÀ NẴNG 44

2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 44

2.3.2 Thực trạng tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 46

2.3.3 Kết quả giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 54

2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 59

2.4.1 Thực trạng quản lí mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 59

2.4.2 Thực trạng quản lí nội dung, kế hoạch, chương trình giáo dục pháp luật 60

2.4.3 Thực trạng quản lí hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật 62 2.4.4 Thực trạng quản lí phối hợp các lực lượng giáo dục pháp luật 65

2.4.5 Thực trạng quản lí các điều kiện phục vụ giáo dục pháp luật 66

2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG 68

2.5.1 Những mặt mạnh 68

2.5.2 Những mặt hạn chế 69

2.5.3 Nguyên nhân của những mặt hạn chế 71

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 72

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 74

3.1 NGUYÊN TẮC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP 74

Trang 7

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 74

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 74

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 74

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lí 75

3.2 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 75

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, giáo viên và cha mẹ học sinh đối với giáo dục pháp luật 75

3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy môn giáo dục công dân trong nhà trường 79

3.2.3 Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật thông qua giờ sinh hoạt chủ nhiệm lớp 82

3.2.4 Biện pháp 4: Đa dạng hóa nội dung, hình thức và cải tiến phương pháp giáo dục pháp luật cho học sinh 86

3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường các hoạt động ngoại khóa về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường 92

3.2.6 Biện pháp 6: Huy động các nguồn lực phục vụ giáo dục pháp luật cho học sinh 95

3.2.7 Biện pháp 7: Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục pháp luật cho học sinh 98

3.2.8 Biện pháp 8: Tăng cường đầu tư kinh phí, mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục pháp luật 100

3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 102

3.4 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 104

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 104

Trang 8

3.4.2 Quá trình khảo nghiệm 104

3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 104

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 110

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111

1 KẾT LUẬN 111

2 KHUYẾN NGHỊ 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

PHỤ LỤC PL1

Trang 9

CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp

Trang 11

SHL

51

2.7 Các hoạt động ngoài giờ lên lớp do nhà trường, Đoàn thanh

niên tổ chức nhằm GDPL cho học sinh

phục vụ GDPL cho học sinh

67

2.16 Nguyên nhân của thực trạng GDPL 71 3.1 Kết quả đánh giá tính cấp thiết của các biện pháp 105 3.2 Kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp 107

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội để đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống xã hội, giáo dục ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa cho nhân dân nhằm nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước bằng xã hội trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, coi

đó là một nhiệm vụ quan trọng để pháp luật đi vào thực tiễn Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của toàn bộ

hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là một mắt xích, là giai đoạn đầu của hoạt động thực thi pháp luật Giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường phổ thông là một trong những vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông của nước ta hiện nay

Đất nước ta đã bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, cả nước đang tiếp tục công cuộc đổi mới sâu sắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định “Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục pháp luật, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” Giáo dục pháp luật, tư tưởng chính trị, đạo đức cho học sinh phổ thông cần được cải tiến và đẩy mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục toàn diện, hài hòa, đáp ứng yêu cầu mới của xã hội

Trang 13

Giáo dục pháp luật trong các nhà trường là một bộ phận cấu thành của quá trình tổ chức dạy và học, là bộ phận quan trọng góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, lối sống cho học sinh theo mục tiêu giáo dục: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ

và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (Điều 2, Luật Giáo dục) Những mục tiêu đó chỉ có thể thực hiện được phần lớn thông qua giáo dục pháp luật cho học sinh Công tác này đòi hỏi phải tiến hành một cách liên tục, thường xuyên và đang trở thành một trong những nội dung không thể thiếu được trong các mặt giáo dục của nhà trường nhằm tạo ra lớp người “vừa hồng, vừa chuyên” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Như vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trước hết cần phải nâng cao hiệu quả của giáo dục pháp luật cho học sinh, đặc biệt là đối với học sinh trung học phổ thông (THPT) trong giai đoạn hiện nay

Thời gian gần đây, tình trạng xuống cấp đạo đức ở một bộ phận học sinh trở nên đáng báo động Nạn bạo lực học đường, hiện tượng học sinh gian dối trong kiểm tra, thi cử, nói tục, chửi bậy, trộm cắp, vi phạm luật an toàn giao thông trở nên nhức nhối Rồi tình trạng học sinh sa đà vào tệ nạn cờ bạc, cá

độ bóng đá, sát phạt nhau, ham mê trò chơi điện tử lan rộng ở nhiều trường học, cấp học, khiến cho tỷ lệ học sinh hư, học sinh vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật có chiều hướng gia tăng

Nguyên nhân của tình trạng trên là do ý thức của các em về vấn đề pháp luật còn hạn chế Do đó cần phải hình thành cho mọi người có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đặc biệt là với đối tượng học sinh, ngay từ khi các em chưa phải là người tham gia pháp luật thường xuyên Vì thế, xây dựng chương trình giáo dục pháp luật trong nhà trường là biện pháp mang tính lâu

Trang 14

dài và cấp bách

Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ý thức được vai trò,

vị trí và sứ mệnh chính trị của mình trong thời kỳ mới, trong những năm qua, các trường THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng đã luôn chú trọng đến việc giáo dục pháp luật cho học sinh Điều này được thể hiện rất rõ qua sự quan tâm chỉ đạo của Chi ủy, lãnh đạo nhà trường, trong kết quả học tập, rèn luyện của học sinh Song, để có thể đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các trường THPT cần phải chú trọng nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục pháp luật cho học sinh

Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài “Biện pháp quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tạo sự chuyển

biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của học sinh trong nhà trường, góp phần ổn định môi trường giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần tăng cường hiệu quả quản lí nhà nước về giáo dục

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh THPT, đề tài đề xuất các biện pháp quản lí giáo dục pháp luật

cho học sinh THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

Trang 15

4 Giả thuyết khoa học

Việc quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng sẽ đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong giai đoạn hiện nay nếu tăng cường quản lí công tác này qua việc thực hiện đồng bộ và có hệ thống các biện pháp quản lí

từ tác động nhận thức, cải tiến nội dung đến tăng cường điều kiện và hoàn thiện cơ chế quản lí

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xác định cơ sở lí luận của quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh

THPT

5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lí giáo dục pháp luật

cho học sinh THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh THPT

trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

6 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực trạng quản lí của hiệu trưởng các trường THPT về giáo dục pháp luật cho học sinh trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010 - 2015; đề xuất các biện pháp quản lí cho giai đoạn 2015 - 2020 Các biện pháp được đề xuất cho các trường THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn

Địa bàn nghiên cứu: 02 trường THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2015 đến tháng 12/2015

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa để nghiên cứu các văn bản, tài liệu lí luận nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

Trang 16

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn

Tổng kết kinh nghiệm, chuyên gia

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các thuật toán thống kê để xử lí số liệu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh THPT

Chương 2: Thực trạng quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Biện pháp quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

9 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Giáo dục pháp luật (GDPL) luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là cầu nối để đưa pháp luật vào cuộc sống GDPL góp phần hình thành, nâng cao hệ thống tri thức pháp luật cho công dân, hình thành lòng tin pháp luật, động cơ và hành vi pháp luật tích cực như: thói quen tuân thủ những quy định của pháp luật; thói quen thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lí, sử dụng những quyền và nghĩa vụ pháp lí đó trong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, của người khác và toàn xã hội, biết vận dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống Chính vì vậy, GDPL là một vấn đề mang tính cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây là vấn đề đã và đang được Đảng và Nhà nước, ngành Giáo dục và Đào tạo và các nhà khoa học quan tâm Để hoàn thiện khung lí luận, tôi đã tổng hợp các tài liệu sau:

Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung

Trang 17

ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân Giáo dục pháp luật trong nhà trường của tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000

Một số khái niệm về quản lí giáo dục của tác giả Đặng Quốc Bảo, Trường cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo, Hà Nội, 1997

Quản lí giáo dục của tác giả Bùi Minh Hiền, NXB ĐHSP, Hà Nội, 2006 Khoa học quản lí giáo dục, một số vấn đề lí luận và thực tiễn của tác giả Trần Kiểm, NXB ĐHSP, Hà Nội, 2008

Một số vấn đề về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay của tác giả Nguyễn Duy Lãm, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1997

Giáo trình tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm của tác giả Lê Quang Sơn, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2011

Giáo trình quản lí hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trường của tác giả Lê Quang Sơn, Trường Đại học sư phạm, Đà Nẵng, 2014

Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục của tác giả Lê Quang Sơn, Trường Đại học sư phạm, Đà Nẵng, 2014

Giáo trình pháp luật đại cương của tác giả Nguyễn Hợp Toàn, NXB Lao động, Hà Nội, 2004

Những khái niệm cơ bản về lí luận quản lí giáo dục của tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Trường cán bộ quản lí TW 1, Hà Nội, 1989

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

GDPL là một trong những nội dung quan trọng luôn giữ một vị trí cao trong đời sống xã hội, là một bộ phận đặc biệt trong sự nghiệp giáo dục (GD)

ở nước ta GDPL góp phần hình thành, nâng cao nhận thức về PL cho mọi người Hiện nay trên cơ sở coi trọng GD kiến thức văn hóa với GD đạo đức,

GD ý thức công dân thông qua GDPL trong trường học chính là một trong những phương thức cơ bản để nhằm đạt được những mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo GDPL góp phần nâng cao trình độ văn hóa pháp lí, kiến thức pháp luật (PL), hình thành phong cách sống và làm việc theo PL, tạo lập ý thức, trang bị kiến thức để nâng cao sự hiểu biết PL để từ đó khẳng định hành vi xử

vì vậy trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao hơn nữa công tác quản lí

Trang 19

GDPL cho học sinh (HS) nhằm bồi dưỡng và tạo điều kiện cho HS có ý thức trách nhiệm công dân, hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và PL góp phần tạo dựng một môi trường trong nhà trường là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách, tạo tiền đề cơ bản để bảo đảm cho tương lai số phận của bản thân nói riêng và sự ổn định của xã hội (XH) nói chung, đồng thời xác định được trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi thành viên trong XH đối với việc chấp hành PL

GDPL nói chung và quản lí GDPL cho HS đã được quy định trong một

số văn bản của Đảng và Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo và thành phố Đà Nẵng như:

Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân [1] Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

trong nhà trường” và Quyết định số 1141/QĐ-BĐHĐA ngày 29/3/2013 của

Ban điều hành đề án nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp

luật trong nhà trường về Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Nâng cao chất

lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” giai đoạn

2013-2016 [12]

Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016 [2]

Chỉ thị số 43-CT/TU ngày 25/12/2014 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng và Kế hoạch số 190/KH-UBND ngày 12/01/2015 của Ủy ban nhân dân

Trang 20

thành phố Đà Nẵng về Tổ chức triển khai “Năm văn hóa, văn minh đô thị

2015” [14]

Kế hoạch số 105/KH-UBND ngày 08 tháng 01 năm 2015 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2015 [13]

Quyết định số 580/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 02 năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2015 của ngành Giáo dục [5]

Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố, như:

"Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lí hành chính nhà nước hiện nay", Luận án tiến sĩ của Lê Đình Khiên, 1993; "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", Đào Trí Úc chủ biên, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", của Viện

Nghiên cứu Khoa học pháp lí, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề

giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số", NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1996; "Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp - hình thức

đặc thù của giáo dục pháp luật", Luận án tiến sĩ của Dương Thanh Mai, 1996;

"Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng, 1997; "Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay", của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật,

Bộ Tư pháp, NXB Thanh niên, 1997; Giáo dục pháp luật trong nhà trường của tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000 [28]

Đã có nhiều công trình khoa học, nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ, nhiều bài viết trên các tạp chí liên quan đến pháp luật chuyên ngành Những công trình, Chỉ thị, Nghị quyết, Kế hoạch, văn bản trên đã có những đóng góp nhất định trong việc hoàn thiện khung lí luận và đóng góp về nhận diện thực trạng, những giải pháp và kiến nghị về GDPL và quản lí GDPL hiện nay Liên quan đến GDPL và quản lí GDPL cho HS trung học phổ thông nói chung và

Trang 21

quản lí GDPL cho HS tại các trường THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng gần như chưa có công trình nào nghiên cứu

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Quản lí giáo dục

a Quản lí

Khái niệm quản lí là một khái niệm có ý nghĩa rất tổng quát Từ khi xã hội loài người hình thành, hoạt động tổ chức, quản lí đã được quan tâm, hoạt động quản lí bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn Xét ở góc độ hoạt động thì quản lí là điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội

và hành vi con người để đạt đến mục đích, phù hợp với quy luật khách quan Dưới góc độ khoa học, quản lí là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung

Trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm quản lí được các nhà lí luận đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau:

“Quản lí là những tác động có tính định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định” [29]

“Quản lí là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [24]

Thuật ngữ “quản lí” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái

“ổn định” Quá trình “lí” bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển”

Các khái niệm “quản lí” tuy có khác nhau song chúng đều có những điểm chủ yếu sau đây:

Hoạt động quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã

Trang 22

hội, là những tác động có tính định hướng Những tác động đó được phối hợp

nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

Tóm lại: Có thể hiểu quản lí là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

b Quản lí giáo dục

Quản lí giáo dục (QLGD) là quản lí mọi hoạt động giáo dục trong xã hội:

Ở cấp độ vĩ mô: “Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động

điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội… Quản lí GD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống quốc dân” [16]

Ở cấp độ vi mô: “Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác

động tự giác có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện

có chất lượng có hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [23]

Như vậy, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài QLGD tác động lên tập thể học sinh, giáo viên và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động mọi lực lượng trong xã hội cùng tham gia vào các hoạt động của nhà trường để đạt đến mục tiêu dự kiến [31]

Dựa vào phạm vi quản lí (QL), người ta có thể chia ra thành hai cấp độ QLGD:

Quản lí hệ thống giáo dục: QLGD ở tầm vĩ mô, phạm vi toàn quốc, trên

Trang 23

PL là một hiện tượng XH có một vị trí đặc biệt trong đời sống chính trị của

XH có giai cấp, ra đời trong điều kiện xã hội bị phân hóa thành các giai cấp đối kháng Cũng như Nhà nước, PL chỉ xuất hiện và tồn tại trong XH có giai cấp Nhà nước và PL cùng có chung điều kiện và hoàn cảnh ra đời, đó là sự phân hóa XH dẫn đến sự xuất hiện các giai cấp, tầng lớp XH khác nhau Trong tiến trình phát triển của XH loài người, đã có một thời kỳ, thời kỳ Cộng sản nguyên thủy, không có Nhà nước và do vậy cũng không có PL Khi XH bị phân hóa thành giai cấp, mâu thuẫn giữa các giai cấp sẽ xảy ra và ngày càng trở nên gay gắt Do vậy, cần có một tổ chức quản lí XH cao hơn, trong đều kiện như vậy Nhà nước ra đời, giai cấp thống trị đã sử dụng nó làm công cụ

để trấn áp các giai cấp khác nhằm thiết lập và củng cố quyền thồng trị của mình thông qua hoạt động quản lí XH Để làm được điều đó, Nhà nước không thể chỉ dùng các quy phạm đạo đức tín ngưỡng, phong tục tập quán mà đòi hỏi phải có những quy tắc mang tính chuẩn mực chung theo quan niệm của giai cấp thống trị để điều chỉnh các quan hệ XH Bất kỳ những hành vi nào trái với những quy tắc mang tính chuẩn mực đều bị trừng trị một cách nghiêm khắc Những quy phạm, quy tắc đã tồn tại trong quá khứ chính là PL

Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung

Trang 24

do nhà nước thừa nhận hoặc ban hành, được bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự,

ổn định cho sự phát triển xã hội [28]

Đặc trưng của PL thể hiện ở tính quy phạm phổ biến, tính quyền lực, bắt buộc chung và tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức

Trước hết, PL có tính quy phạm phổ biến, bởi lẽ PL là những quy tắc xử

sự chung, là khuôn mẫu chung, được áp dụng nhiều lần, ở nhiều nơi, đối với tất cả mọi người, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

PL mang tính quyền lực, bắt buộc chung, vì PL do nhà nước ban hành và

được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước PL có tính bắt buộc chung tức là quy định bắt buộc đối với tất cả các cá nhân và tổ chức,

ai cũng phải xử sự theo PL

PL có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, bởi vì hình thức thể hiện

của PL là các văn bản có chứa quy phạm PL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Các văn bản này gọi là văn bản quy phạm PL Cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền ban hành những hình thức văn bản nào đều được quy

định chặt chẽ trong Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

b Giáo dục pháp luật

GDPL là vấn đề lí luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong khoa học giáo dục cũng như trong sự nghiệp giáo dục ở nước ta Khái niệm GDPL thường được quan niệm là một dạng hoạt động gắn liền với việc triển khai thực hiện pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật Với tư cách là một dạng giáo dục thì GDPL ở nước ta hình thành và thực hiện muộn hơn so với giáo dục chính trị, và giáo dục đạo đức Với tư cách là một khái niệm pháp lí, GDPL được hình thành trong khoa học pháp lí cũng như được tiến hành trong thực tế ở nước ta rất muộn màng so với nhiều nước trên thế giới Chính vì vậy, quan niệm về GDPL ở nước ta vẫn còn có nhiều ý kiến

Trang 25

khác nhau, đó là lẽ bình thường Song để có một cách nhìn nhận đúng đắn khoa học về GDPL, trước hết cần xem xét một số các quan niệm về GDPL cơ bản sau đây:

Quan niệm thứ nhất cho rằng: GDPL là một bộ phận của giáo dục chính

trị tư tưởng, đạo đức Theo quan niệm này khi tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng, các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng cho nhân dân thì tự nó

sẽ hình thành nên ý thức pháp luật Điều đó có ý nghĩa làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức sẽ đạt được sự tôn trọng pháp luật của công dân Hay nói cách khác sự hình thành ý thức pháp luật là hệ quả tất yếu của việc giáo dục chính trị tư tưởng hay giáo dục đạo đức

Quan niệm thứ hai: Xem GDPL chỉ đơn thuần là hoạt động phổ biến

tuyên truyền, giải thích pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, truyền hình và sách báo Chỉ cần làm tốt công tác thông tin tuyên truyền pháp luật như vậy là có thể làm tốt công tác GDPL

Quan niệm thứ ba cho rằng: GDPL là lấy "trừng trị" để giáo dục

người vi phạm và răn đe giáo dục người khác Thông qua việc xử lí những hành vi vi phạm pháp luật như áp dụng hình phạt đối với người phạm tội,

xử phạt vi phạm hành chính hay áp dụng các chế độ trách nhiệm dân sự sẽ

có tác dụng GDPL cho mọi người; không cần phải tuyên truyền hay giải thích pháp luật

Quan niệm thứ tư: đồng nghĩa GDPL với dạy và học pháp luật ở các

trường học, còn việc tuyên truyền phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội thì không phải là GDPL

Tất cả các quan niệm trên, mặc dù ở những góc độ khác nhau nhưng đều

có sự nhìn nhận GDPL ở những khía cạnh và mức độ hợp lí nhất định Song ở các quan niệm đó đều bộc lộ ít nhiều sự phiến diện, hoặc đơn giản đến mức tầm thường hóa vai trò của GDPL; chưa thấy được đặc thù và giá trị vốn có

Trang 26

của GDPL Vì vậy, những quan niệm đó đã hạ thấp vai trò, vị trí xã hội của GDPL Mặt khác trong thực tiễn các quan niệm trên đây đã không tạo ra khả năng hoặc thậm chí cản trở việc triển khai hoạt động có tổ chức cũng như quy

mô việc thực hiện pháp luật; làm cho hiệu lực, hiệu quả của pháp luật trong thực tế không cao Nhận định trên thể hiện trong quan niệm thứ nhất; việc hình thành nên ý thức pháp luật của con người được xem như là sản phẩm của quá trình giáo dục chính trị tư tưởng hay giáo dục đạo đức Nếu quan niệm như vậy thì vấn đề GDPL sẽ không được coi trọng đúng mức, do vậy không được đặt ra như một hoạt động độc lập Chính quan niệm này trong thực tiễn

đã gây ra một hậu quả tai hại kéo dài trong nhiều năm ở nước ta dẫn đến không có nội dung, chương trình GDPL; pháp luật không đến với người dân nên ý thức pháp luật trong xã hội thấp kém

Quan niệm thứ hai coi GDPL thực chất là những đợt tuyên truyền, cổ động không mang tính thường xuyên, liên tục với nội dung, chương trình cụ thể mà theo mùa vụ, mỗi khi có văn bản pháp luật mới được ban hành Ví dụ: Khi sửa đổi Hiến pháp, sửa đổi bổ sung Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự v.v thì tổ chức tuyên truyền theo đợt Quan niệm GDPL như vậy là phiến diện, thiếu đồng bộ và liên tục nên hiệu quả giáo dục không cao

Để có quan niệm đúng đắn về GDPL, con đường duy nhất cần tiếp cận là những thành tựu của khoa học giáo dục học Giáo dục là một hiện tượng xã hội và chỉ có trong xã hội loài người thể hiện nền văn minh nhân loại Giáo dục luôn luôn là nhu cầu của xã hội, nó có vai trò tác động trở lại xã hội Vì thế mà các nhà nước của giai cấp cầm quyền để bảo vệ quyền lợi của mình đều thông qua giáo dục Trong khoa học sư phạm, giáo dục được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng: giáo dục là sự ảnh hưởng, tác động của những điều

kiện khách quan (như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường

Trang 27

sống, ) và của cả những nhân tố chủ quan (tác động tự giác, có chủ định và định hướng của nhân tố con người) nhằm hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục

Theo nghĩa hẹp: giáo dục là quá trình tác động định hướng của nhân tố

chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy

đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội

Trong quá trình hoạt động thực tiễn, các nhà lí luận cũng đã thừa nhận những yếu tố ảnh hưởng của các điều kiện khách quan tác động đến sự hình thành ý thức cá nhân của con người Song các nhà lí luận khoa học sư phạm

đã nhấn mạnh đến yếu tố tác động hàng đầu cực kỳ quan trọng và thậm chí quyết định của nhân tố chủ quan trong giáo dục Vì vậy khái niệm giáo dục hiện nay chúng ta thường được hiểu theo nghĩa hẹp

Như vậy quan niệm về giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như trên thì GDPL trước hết cũng là một hoạt động mang đầy đủ những tính chất chung của giáo dục nhưng nó có những đặc điểm riêng biệt, phạm vi riêng cả nội dung, hình thức và phương pháp riêng biệt Theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của giáo dục, GDPL được hiểu một cách khái quát nhất: con người với tư cách là một thực thể xã hội là một khách thể (hay đối tượng) chịu ảnh hưởng

và sự tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hình thành lên ý thức tình cảm và hành vi pháp luật

1.2.3 Quản lí giáo dục pháp luật

Quản lí GDPL là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm giúp GDPL đạt được kết quả mong muốn, làm cho tất cả mọi người trong xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của GDPL trong xã hội

Trang 28

1.3 LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông

Mục tiêu của giáo dục pháp luật là một trong những yếu tố tạo nên cấu trúc bên trong của giáo dục pháp luật, là cái đích hướng tới các hoạt động giáo dục pháp luật Việc xác định đúng đắn mục tiêu cần đạt được trong quá trình giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nội dung, hình thức, phương pháp,… giáo dục pháp luật, bởi suy cho cùng, các nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật, đều phụ thuộc vào mục đích đặt ra Ngoài ra, mục tiêu của giáo dục pháp luật còn là đặc trưng đầu tiên, quan trọng nhất để phân biệt giáo dục pháp luật với các dạng giáo dục khác, đồng thời còn là một trong những tiêu chí để đánh giá tính hiệu quả của quá trình giáo dục pháp luật

Mục tiêu của giáo dục pháp luật được xác định ngay trong khái niệm giáo dục pháp luật, đó là trang bị, cung cấp, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật tình cảm và hành vi hợp pháp, hình thành ý thức pháp luật đúng đắn thói quen hành động phù hợp với các qui định của pháp luật và đòi hỏi của nền pháp chế hiện hành Trong điều kiện hiện nay, mục tiêu của điều kiện giáo dục pháp luật được xác định cụ thể như sau:

Giáo dục pháp luật nhằm hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật của công dân Đây là mục tiêu nhận thức,

mục đích trước tiên của giáo dục pháp luật Trong điều kiện hiện nay ở nước

ta, không phải tất cả mọi công dân đã am hiểu pháp luật, nhất là những đối tượng vì những lí do khác nhau, ít tiếp cận với pháp luật thì mục đích này không thể thiếu trong quá trình giáo dục pháp luật Chỉ có am hiểu pháp luật, nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật, mới

Trang 29

tạo điều kiện cho việc hình thành tình cảm và lòng tin vào pháp luật của mỗi con người Hơn nữa tri thức pháp luật còn giúp cho con ngưòi tổ chức có ý thức hành vi của mình và tự đánh giá, kiểm tra, đối chiếu hành vi đó với các chuẩn mực pháp luật

Giáo dục pháp luật nhằm hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật Đây là mục tiêu cảm xúc, mục đích này không kém phần quan trọng vì

nếu có tri thức pháp luật mà không có tình cảm tôn trọng pháp luật và lòng tin vào pháp luật cũng như vào cơ quan bảo vệ pháp luật thì con người vẫn rất dễ

có những hành vi sai lệch so với các chuẩn mực pháp luật Tuy nhiên, để có được tình cảm và lòng tin đối với pháp luật, phải giáo dục tình cảm công bằng, trách nhiệm, không khoan nhượng và tình cảm pháp chế Chính những điều này, chính là cơ sở hình thành động cơ của hành vi hợp pháp

Giáo dục pháp luật nhằm hình thành động cơ và hành vi thói quen xử sự hợp pháp tích cực Đây là mục tiêu hành vi, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

trong hệ thống mục đích giáo dục pháp luật Bởi hành vi xử sự theo pháp luật của con người là kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức pháp luật Có nhiều yếu tố tác động, để hình thành hành vi và thói quen, xử sự theo pháp luật, trong

đó hoạt động giáo dục pháp luật là yếu tố cơ bản Thông qua giáo dục pháp luật

sẽ cung cấp những tri thức pháp luật, giáo dục lòng tin sâu sắc và sự cần thiết phải tuân theo một cách tự nguyện những quy định của pháp luật Để làm được điều đó, quá trình giáo dục pháp luật phải sử dụng nhiều hình thức, phương pháp và phải kiên trì thường xuyên để mọi công dân hiểu sự cần thiết, tính hợp

lí của pháp luật vì lợi ích chung của xã hội Mục tiêu này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với nước ta hiên nay, bởi nhân dân lao động còn có nhiều người trong trạng thái chưa có thói quen xử sự theo pháp luật

Như vậy giáo dục pháp luật có ba mục tiêu cơ bản Các mục tiêu này có mối quan hệ qua lại tạo thành một hệ thống thống nhất, từ nhận thức đến tính

Trang 30

tự giác, từ tính tự giác đến tính tích cực và từ tính tích cực đến thói quen xử sự theo pháp luật Nói đến giáo dục pháp luật là nói đến một yếu tố quan trọng không thể thiếu nhằm không ngừng nâng cao ý thức pháp luật của công dân, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, đảm bảo pháp chế XHCN ở nước ta Có đạt được những mục tiêu trên mới tạo ra khả năng đổi mới hoạt động giáo dục pháp luật trong môi trường pháp lí hiện nay

1.3.2 Chủ thể và đối tượng của giáo dục pháp luật

a Chủ thể của giáo dục pháp luật

Trong khoa học pháp luật, chủ thể GDPL được hiểu theo hai nghĩa:

Nghĩa rộng: là tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá

trình GDPL

Nghĩa hẹp: là con người cụ thể có năng lực PL, có trình độ chuyên môn,

có lập trường chính trị vững vàng, đạo đức nhân cách

Theo nghĩa hẹp thì chủ đề GDPL có hai loại, đó là:

Chủ thể chuyên nghiệp: là những người có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu

là GDPL, trực tiếp thực hiện GDPL như các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, giảng viên PL trong các nhà trường, cán bộ chỉ đạo ở hệ thống các

cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức xã hội… Đây là những chủ thể quan trọng

và chủ yếu của GDPL

Chủ thể không chuyên nghiệp: là những cá nhân và tổ chức tuy chức năng chính không phải là GDPL nhưng thông qua các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của mình đã tham gia tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu, nội dung của GDPL Những người này bao gồm: đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, các cán bộ của các cơ quan hành pháp, tư pháp, những người làm công tác trợ giúp tư vấn PL…

Ngoài hai chủ thể trên chủ thể của GDPL còn các công dân, bằng sự tôn trọng giáo dục, bằng ý thức trách nhiệm và gương mẫu thực hiện PL mà có

Trang 31

ảnh hưởng đến các công dân khác trong xã hội

Trong các trường THPT, chủ thể GDPL là các tổ chức chính trị trong nhà trường gồm: Chi bộ, lãnh đạo trường, Công đoàn, Đoàn thanh niên, … đặc biệt là vai trò phụ trách trực tiếp là các tổ, các ban, trong đó vai trò của giáo viên chủ nhiệm hết sức quan trọng

Trong lí luận về giáo dục học, chủ thể giáo dục là những thầy giáo, cô giáo và tất cả những người làm công tác giáo dục khác Theo từ điển Tiếng Việt: Chủ thể nói chung được hiểu "là đối tượng gây ra hành động mang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị chi phối bởi hành động tác động, gọi là khách thể" Vận dụng vào GDPL, có thể hiểu chủ thể GDPL là những người hoạt động GDPL Hay nói khác đi thì chủ thể GDPL được hiểu

là tất cả những người, mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội

đã tham gia góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu GDPL Việc xác định chủ thể, đối tượng GDPL có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn Trong mối quan

hệ và sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng GDPL trong quá trình GDPL, chủ thể khi tiến hành mọi hoạt động GDPL thì sự tác động đó có ý thức, có mục đích, có kế hoạch đến đối tượng giáo dục Trên cơ sở đó, chủ thể xác định những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận tác động GDPL của đối tượng cũng như các yêu cầu đòi hỏi khách quan đối với các chủ thể GDPL trong việc xác định nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp để tiếp cận GDPL và tiến hành giáo dục có hiệu quả cao nhất

b Đối tượng của giáo dục pháp luật

Đối tượng của GDPL là các cá nhân, công dân hay nhóm cộng đồng công dân, tiếp nhận trực tiếp hay gián tiếp tác động của các hoạt động GDPL tiến hành nhằm đạt được mục đích đề ra

Đối tượng GDPL cho học sinh phổ thông là một vấn đề quan trọng của một quốc gia và được coi là một phương thức để xây dựng phát triển nền văn

Trang 32

hóa pháp lí, bảo đảm sự ổn định và bền vững của mỗi quốc gia Do tầm quan trọng như vậy nên các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến lĩnh vực này

và coi đó như là một bộ phận tạo nên hiệu quả của hoạt động lập pháp Trong

xu thế chung đó, Nhà nước ta cùng với việc đi dần đến sự hoàn thiện hệ thống

PL, đã đề cao công tác tuyên truyền GDPL Nhiệm vụ của GDPL cho thế hệ công dân tương lai hoàn toàn không tách khỏi những nhiệm vụ chung của GDPL đối với quần chúng nói chung

Đối tượng này là những công dân trẻ, khỏe, là chủ nhân tương lai của đất nước Học sinh THPT đang thực sự là lực lượng xung kích, là những chủ nhân tương lai của đất nước Tuy nhiên về ý thức pháp luật của họ vẫn còn nhiều hạn chế Do vậy tình trạng vi phạm pháp luật đã xảy ra trong các học đường, cũng như ngoài xã hội Các tệ nạn xã hội như ma túy, lối sống buông thả, đồi trụy phần nhiều lại do thanh thiếu niên mắc phải Vì thế GDPL cho đối tượng học sinh cũng là một yêu cầu đòi hỏi khách quan của xã hội đang được Nhà nước thực sự coi trọng Có như vậy thì học sinh ra trường họ có kiến thức khoa học vững vàng, có lối sống lành mạnh và ý thức pháp luật được nâng cao

Lứa tuổi học sinh phổ thông là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc đời của mỗi con người Do những đặc điểm về điều kiện sống, môi trường văn hóa - giao tiếp, học sinh THPT có đặc điểm riêng về tâm lí, tính tình thật thà, thẳng thắn, trung thực nên dễ bị tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài

Trong tâm lí lứa tuổi, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều lí thuyết khác nhau về tuổi thanh niên Trong đó học sinh THPT từ 15 đến 18 tuổi thuộc giai đoạn đầu của tuổi thanh niên Ở giai đoạn này, các em đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với người lớn Tâm lí có sự thay đổi mạnh mẽ, không ổn định, tác động lớn đến quá trình

học tập và sinh hoạt hằng ngày

Trang 33

Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh trung học phổ thông

Ở tuổi đầu thanh niên, tính chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá

trình nhận thức, thể hiện ở các mặt sau đây:

Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao, quan sát ở trên có mục đích,

có hệ thống và toàn diện hơn

Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa có vai trò ngày càng tăng

Hoạt động tư duy có sự thay đổi quan trọng Tư duy chặt chẽ hơn, có căn

cứ và nhất quán hơn Tính phê phán của tư duy cũng phát triển Đó chính là

cơ sở để hình thành thế giới quan [30]

Tuy nhiên, không phải học sinh phổ thông nào cũng đạt đến mức tư duy đặc tưng cho lứa tuổi như vậy Việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường mà trực tiếp là các giáo viên Đổi mới công tác quản lí, phương pháp dạy học là việc làm phải tiến hành thường xuyên, liên tục để giúp học sinh hoàn thiện về trí tuệ và nhân cách

Sự phát triển tự ý thức

Sự phát triển của tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT Đây là một quá trình phong phú và phức tạp trong đó nổi lên các đặc điểm sau:

Một là, ở tuổi đầu thanh niên các em đã có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình theo quan điểm về mục đích và hoài bão của mình Vì vậy các em học sinh THPT quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lí, phẩm chất nhân cách và năng lực cá nhân

Hai là, các em đã có sự nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai là các em sẽ trở thành người như thế nào, làm thế nào để tốt hơn

Ba là, các em có thể hiểu rõ mình về phẩm chất nhân cách, cũng như những phẩm chất phức tạp Điều đó thể hiện ở các em tinh thần trách nhiệm,

Trang 34

lòng tự trọng và nghĩa vụ công dân

Bốn là, nhu cầu đánh giá và tự đánh giá ở các em được tăng cường hơn học sinh THCS Tuy nhiên không tránh khỏi xu hướng tự đánh giá quá cao, thậm chí có lúc sai lầm Trách nhiệm của chúng ta là phải theo dõi, lắng nghe

ý kiến của các em và có biện pháp phù hợp để giúp các em có được hình mẫu

về nhân cách của học sinh THPT [30]

Giao tiếp và đời sống tình cảm

Đối với học sinh THPT, cùng với sự trưởng thành về nhiều mặt thì quan

hệ phụ thuộc vào người lớn sẽ dần được thay bằng quan hệ bình đẳng, tự lập Bên cạnh đó quan hệ bạn bè chiếm vị trí hơn hẵn so với người lớn tuổi hơn hay nhỏ tuổi hơn Các em hướng các nhu cầu hằng ngày của mình vào bạn bè nhiều hơn là vào bố mẹ, gia đình Tuy nhiên trước các vấn đề như thế giới quan, lựa chọn nghề nghiệp hay những giá trị đạo đức thì ảnh hưởng của bố

Trang 35

mẹ và người lớn tuổi lại mạnh hơn

Trong GDPL cho học sinh THPT cần lưu ý nhiều hơn tới ảnh hưởng của nhóm - hội tự phát ngoài nhà trường để có thể tránh được những hậu quả xấu của nhóm tự phát này mang lại Để làm được điều đó nên tổ chức các hoạt động tập thể thật phong phú, sinh động

Hơn nữa đời sống tình cảm của học sinh THPT rất phong phú, đa dạng, thể hiện rõ trong tình bạn Nhu cầu tình bạn, tâm tình cá nhân tăng lên và tình bạn của các em rất bền vững, có khi kéo dài suốt đời Ở đây vai trò của gia đình và nhà trường rất quan trọng nhằm giúp các em giữ được sự trong trắng, hồn nhiên, tươi sáng và là bạn tốt của nhau

1.3.3 Nội dung giáo dục pháp luật

Một trong những yếu tố quan trọng của quá trình GDPL là nội dung GDPL Nội dung của GDPL được xác định trên cơ sở mục đích, đối tượng GDPL nhằm hình thành cho họ hệ thống tri thức pháp luật, tình cảm lòng tin

và thói quen hành động phù hợp với yêu cầu của pháp luật

Theo quy định của chương trình giáo dục hiện nay, nội dung GDPL chia theo ba mức độ sau:

Thứ nhất: Mức độ tối thiểu về GDPL, phổ cập cho mọi công dân: Trong

giai đoạn hiện nay khi mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật, thực hiện các quyền, lợi ích của mình cũng như thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước thì mỗi công dân phải có những hiểu biết tối thiểu về pháp luật Vì vậy, GDPL phổ cập cho công dân nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về pháp luật, giúp họ hình thành những tri thức cơ bản về pháp luật và thói quen xử sự theo pháp luật

Thứ hai: Mức độ giáo dục theo yêu cầu của ngành nghề là GDPL cho

những người hoạt động ở trong những lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội khác

Trang 36

nhau Ngoài việc giáo dục những khái niệm pháp luật cơ bản, cần GDPL có nội dung liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hoạt động của đối tượng, các quyền và nghĩa vụ công dân trong lĩnh vực hoạt động của họ và trình tự giải quyết các tranh chấp phổ biến liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp

Thứ ba: Giáo dục luật chuyên ngành cho những người hành nghề pháp

luật Đây là mức độ cao nhất, được thực hiện nhằm mục đích đào tạo các chuyên gia pháp luật cho bộ máy nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… Sự hiểu biết của đối tượng này bao gồm những tri thức pháp luật mang tính chuyên sâu về các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam

GDPL cho HS các trường THPT là giáo dục ý thức về luật pháp cho HS nhằm nâng cao sự hiểu biết của HS về luật pháp, bao gồm các bộ luật cơ bản như: Bộ luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Hành chính, Luật Hôn nhân và gia đình và Pháp lệnh dân số, Luật Giao thông, Luật Phòng, chống ma tuý, Luật

cư trú Bên cạnh đó cần giáo dục cho HS về thái độ và hành vi trong việc chấp hành pháp luật Từ đó, giáo dục cho HS về kỹ năng hành vi, thói quen chấp hành luật pháp “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.

1.3.4 Hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật

a Hình thức giáo dục pháp luật

GDPL cho đối tượng là học sinh THPT là một hoạt động tác động trực tiếp vào quá trình hình thành nhân cách con người Do vậy GDPL phải được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Hiệu quả của công tác GDPL tùy thuộc rất nhiều vào việc sử dụng các hình thúc GD

Hình thức GDPL là một yếu tố có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả GD Việc áp dụng các hình thức GD phải lựa chọn trên cơ sở phù hợp với nội dung và điều kiện, phù hợp với chương trình theo từng khối, từng cấp học của các em

Qua nghiên cứu thực tế, GDPL cho học sinh THPT có thể được tiến

Trang 37

hành theo 2 hình thức cơ bản sau:

Các hình thức GDPL mang tính phổ biến, truyền thống được sử dụng trong nhiều loại hình thức GD như: nói chuyện PL, dạy và học PL trong các trường THPT, qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, tác phẩm văn học nghệ thuật, câu lạc bộ pháp lí, thi tìm hiểu pháp luật, hội nghị, hội thảo, nói chuyện PL ở các cơ quan Nhà nước, tổ chức quần chúng, khu dân cư, hội thảo khoa học pháp lí

Các hình thức mang tính đặc thù của GDPL Tính đặc thù này thể hiện trong mối quan hệ tác động giữa GDPL và ý thức, hành vi của công dân Nội dung này bao gồm định hướng GDPL trong các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan Nhà nước Các cơ quan quản lí Nhà nước chuyên ngành, GDPL thông qua hoạt động của các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ hòa giải, dịch vụ tư vấn PL

Đối tượng GDPL tiếp nhận được tri thức pháp luật và làm biến đổi về chất trong nhận thức của họ thì bản thân mục đích và nội dung của GDPL không thể tự nó đi vào nhận thức Vấn đề là ở chỗ cần phải thông qua các phương thức truyền tải thông tin, các hình thức giao tiếp giữa chủ thể giáo

dục và đối tượng giáo dục bằng những hình thức và phương pháp khác nhau

Nếu chủ thể giáo dục biết lựa chọn các hình thức và phương pháp nào phù hợp với đối tượng thì giáo dục sẽ mang lại hiệu quả cao Nếu hình thức và phương pháp không phù hợp thì hiệu quả sẽ thấp Giữa hình thức, phương pháp

và nội dung của GDPL còn có mối quan hệ tác động lẫn nhau Hình thức và phương pháp, nó có tác động làm cho việc truyền tải nội dung thấm sâu vào nhận thức của đối tượng và nội dung đến lượt nó càng trở nên hoàn thiện hơn, thông qua việc truyền tải thông tin để bổ sung chương trình nội dung GDPL

b Phương pháp giáo dục pháp luật

Theo khoa học sư phạm thì phương pháp giáo dục là các con đường,

Trang 38

cách thức, biện pháp tác động để chiếm lĩnh nội dung giáo dục và đạt được mục đích giáo dục

Về cơ bản phương pháp GDPL gồm ba phương pháp chính: Phương pháp thuyết phục; phương pháp tổ chức hoạt động; phương pháp kích thích những hành vi

Nhóm các phương pháp tổ chức các hoạt động xã hội và hình thành các kinh nghiệm ứng xử xã hội Đây là phương pháp đưa con người vào các hoạt động thực tiễn để tập dợt, rèn luyện tạo nên hành vi thói quen sống và làm việc theo PL Nó bao gồm các phương pháp sau:

Phương pháp tập luyện là phương pháp tổ chức cho HS một cách đều đặn và có kế hoạch các hành động nhất định nhằm biến các hành động đó thành thói quen

Phương pháp giao công việc là cách thức lôi cuốn HS vào các hoạt động

đa dạng của tập thể, nhờ đó họ thu lượm được những kinh nghiệm trong quan

hệ đối xử giữa người với người theo nguyên tắc đạo đức XHCN thông qua việc thực hiện những nghĩa vụ xã hội

Phương pháp tạo dư luận xã hội: Phản ánh những đòi hỏi tập thể, nó trở thành một phương tiện GD mạnh mẽ của tập thể đối với cá nhân HS Dư luận

xã hội trở thành một phương pháp GD khi đánh giá các hành vi của các thành viên hoặc nhóm tập thể Để tạo ra dư luận xã hội lành mạnh, chúng ta cần lôi cuốn HS tham gia các cuộc thảo luận tập thể các sự kiện tiêu biểu trong đời sống của lớp, của trung tâm, của địa phương hướng dẫn các em nhận xét các

sự kiện đó đúng hay sai

Phương pháp tạo tình huống GD đó là những tình huống của lựa chọn tự

do Đặt trong tình huống đó HS nhất thiết phải lựa chọn một giải pháp nhất định trong số các phương án khác nhau Trong khi lựa chọn giải pháp HS phải biết phân tích xem xét hành động của mình có đúng và phù hợp hay không

Trang 39

Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân Nhóm này gồm:

Phương pháp đàm thoại: Trao đổi ý kiến với nhau về một đề tài GD cho

HS, nhằm giúp đỡ HS phân tích đánh giá các sự kiện, hành vi các hiện tượng trong đời sống xã hội Từ đó hình thành thái độ, ý thức chấp hành PL

Phương pháp tranh luận: là hình thành cho HS phán đoán đánh giá niềm tin dựa trên sự va chạm các ý kiến quan điểm khác nhau nhờ đó nâng cao được tính khái quát, tính vững vàng, tính mềm dẻo của các tri thức đã thu được Phương pháp nêu gương: Đây là phương pháp quan trọng để GD ý thức chấp hành PL cho HS Việc hình thành ý thức của HS phải thường xuyên được dựa vào những mẫu mực cụ thể, sống động, biểu hiện những tư tưởng và

lí tưởng cộng sản chủ nghĩa

Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng

xử của HS Nhóm này bao gồm:

Phương pháp thi đua: là phương pháp kích thích phương hướng tự khẳng định ở mỗi HS thúc đẩy học, đua tài, gắng sức, hăng hái vươn lên hàng đầu lôi cuốn người khác cùng tiến lên dành được những thành tích cao nhất Thi đua là kích thích sự nỗ lực, phát huy sáng tạo, đề cao ý thức trách nhiệm, thực hiện sự tương trợ tập thể

Phương pháp khen thưởng là biểu hiện sự đánh giá tích cực của xã hội đối với cá nhân và tập thể

Phương pháp trách phạt biểu thị thái độ không tán thành, lên án, phủ định của nhà GD, của gia đình, xã hội đối với các hành vi sai trái, giúp cho

HS tự điều chỉnh bản thân với chuẩn mực đã định

1.3.5 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và các chính sách trong giáo dục pháp luật

Cơ sở vật chất thiết bị dạy học giáo dục là phương tiện lao động sư phạm của các nhà giáo dục và học sinh Nguồn lực tài chính dùng để mua sắm cơ sở

Trang 40

vật chất thiết bị, huy động nguồn lực tham gia các hoạt động giáo dục Nếu thiếu kinh phí, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học - giáo dục thì các hoạt động giáo dục trong nhà trường sẽ gặp nhiều khó khăn hoặc không thể thực hiện được Trang thiết bị hiện đại phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục Vì vậy một trong những nội dung của việc quản

lí giáo dục pháp luật là phải có kế hoạch bố trí, sắp xếp huy động các nguồn lực tài chính để tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ dạy học và giáo dục pháp luật cho học sinh

1.4 QUẢN LÍ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.4.1 Mục tiêu quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông

Mục tiêu của quản lí GDPL là làm cho quá trình GDPL vận hành đồng

bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDPL Mục tiêu quản lí GDPL bao gồm:

Về nhận thức: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lí GDPL, nắm vững những quan điểm của Đảng, Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về vấn đề phát triển con người phát triển toàn diện

Về thái độ tình cảm: Giúp mọi người biết, ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với những việc làm trái PL, có thái độ đúng đắn với hành vi của bản thân đối với công tác quản lí GDPL

Về hành vi: Tích cực tham gia quản lí và tổ chức hoạt động GDPL, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, tự rèn luyện tu dưỡng theo chuẩn mực chung của xã hội

Mục tiêu quản lí giáo dục pháp luật đóng vai trò then chốt, là nhân tố đảm bảo sự thành công của giáo dục pháp luật cho học sinh Nó tạo ra sự thống nhất ý chí trong nhà trường; định hướng phát triển của hoạt động giáo

Ngày đăng: 15/05/2021, 14:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w