1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng nho giáo trong truyện lục vân tiên của nguyễn đình chiểu

113 82 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng nho giáo trong truyện lục vân tiên của nguyễn đình chiểu
Tác giả Đặng Văn Tính
Người hướng dẫn TS. Hà Ngọc Hòa
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng trăm năm qua, Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được xem là viên ngọc sáng chân chính về giá trị nhân học và văn học, tác phẩm đã ăn sâu vào đời sống của nhân dân Nam bộ, t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ĐẶNG VĂN TÍNH

TƯ TƯỞNG NHO GIÁO

TRONG TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN

CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Ngọc Hòa

Đà Nẵng, Năm 2015

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 9

6 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC 11

1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO 11

1.1.1 Thiên mệnh 12

1.1.2 Chính danh 13

1.1.3 Nhân và Lễ 15

1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ TRONG TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC 17

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ Nôm 17

1.2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống xã hội 23

1.2.3 Ảnh hưởng của Nho giáo trong truyện thơ Nôm bác học 25

1.3 TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN TRONG DÒNG CHẢY CỦA TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC 30

1.3.1 Đặc điểm chung của truyện thơ Nôm bác học thế kỷ XIX 30

1.3.2 Đặc điểm riêng của Truyện Lục Vân Tiên 33

Trang 4

2.1 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT GẮN VỚI CHỦ ĐỀ CA NGỢI

ĐẠO LÝ 42

2.1.1 Con người hành đạo gắn với lý tưởng trung hiếu 43

2.1.2 Con người kiên trinh với tấm lòng son sắt, thủy chung 51

2.1.3 Con người nhàn dật ngoài vòng cương tỏa 54

2.2 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT GẮN VỚI CHỦ ĐỀ PHÊ PHÁN,

ĐẢ KÍCH 58

2.2.1 Con người phi nghĩa, xu nịnh 59

2.2.2 Con người tham ô, phản trắc 64

CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN 73

3.1 NGÔN NGỮ 73

3.1.1 Từ Hán Việt 74

3.1.2 Nghệ thuật sử dụng các điển cố, thi liệu Hán học 76

3.2 GIỌNG ĐIỆU 87

3.2.1 Giọng khẳng khái, mạnh mẽ 88

3.2.2 Giọng phê phán, mĩa mai 91

3.3 KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 94

3.3.1 Không gian nghệ thuật 95

3.3.2 Thời gian nghệ thuật 98

KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Khi nhìn nhận, đánh giá một tác phẩm văn học chúng ta không chỉ nhìn nhận ở khía cạnh giá trị nghệ thuật tác phẩm đem lại cho công chúng mà cần phải nhìn nhận, đánh giá trên nhiều bình diện khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt là tầm vóc văn hóa, ý nghĩa lịch sử và giá trị tư tưởng do tác phẩm đó mang lại Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm giá trị nghệ thuật, vừa là nơi định hình những giá trị đã được hình thành Cũng có thể nói văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật

Ở mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc, văn học luôn có những áng văn thơ bất hủ song hành cùng vận mệnh quốc gia, trở thành những tác phẩm tiêu biểu mang dáng dấp thời đại và giá trị tư tưởng văn hóa bền vững của dân tộc

Hàng trăm năm qua, Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được xem

là viên ngọc sáng chân chính về giá trị nhân học và văn học, tác phẩm đã ăn sâu vào đời sống của nhân dân Nam bộ, trở thành món ăn tinh thần của tầng lớp bình dân trong các hình thức sinh hoạt văn hóa hằng ngày, họ hát Vân Tiên, kể Vân Tiên, hò Vân Tiên Sở dĩ có được sức sống và tình yêu vững

chắc trong lòng nhân dân như vậy là do: Truyện Lục Vân Tiên vừa là hơi thở,

vừa là tình ý của quần chúng Đồng thời, bao trùm cả tác phẩm là sự phong phú cả về nội dung và nghệ thuật thể hiện Tác phẩm là sự gởi gắm tư tưởng nhân nghĩa của tác giả Nguyễn Đình Chiểu, đưa đến cho người đọc những bài học về đạo lý làm người, đối nhân xử thế ở đời Tác giả Nguyễn Phong Nam

đã nhận xét “Lục Vân Tiên là câu chuyện về đạo lý ứng xử ở đời, là vấn đề

trung hiếu tiết nghĩa Cái phần giáo đầu này thoạt nhìn có vẻ lỏng lẽo trong quan hệ với phần chính của tác phẩm (số phận của chàng trai họ Lục), nhưng

kỳ thực lại đóng một vai trò rất quan trọng là định hướng cho người nghe

Trang 6

Trong thể loại truyện thơ chữ Nôm của Việt Nam nói chung, đây là một đặc điểm có tính phổ biến Nó là một nét chung của thi pháp thể loại Trong kết cấu của toàn truyện nó tạo nên sự hô ứng với phần cuối Lối cấu trúc này đưa đến cho người nghe, người đọc một biểu tượng về một cái đẹp hoàn chỉnh, trọn vẹn” [33, tr 216]

Là một tác phẩm lớn của Nguyễn Đình Chiểu, được phổ biến rộng rãi

trong dân gian nhất là miền Nam, phải hiểu đúng Truyện Lục Vân Tiên mới

thấy hết giá trị của tác phẩm này Với tư cách là một nhà nho, Nguyễn Đình Chiểu đã gởi gắm tư tưởng, đạo lý, những điều giáo huấn đáng quý trọng

trong từng nhân vật của mình, cho nên các nhân vật trong Truyện Lục Vân

Tiên là những con người đáng kính, đáng yêu, những con người trọng nghĩa

khinh tài trước sau như một; mặc dù gặp khổ cực gian nguy, nhưng quyết phấn đấu vì nghĩa lớn và họ đã thẳng thắng đứng lên chống lại cái xấu, cái ác

để bảo vệ công lý Vì những lẽ đó, họ gần gũi với chúng ta và câu chuyện của

họ làm cho chúng ta cảm thấy thích thú, có nhiều xúc cảm Những giáo lý

trong Truyện Lục Vân Tiên cho đến nay vẫn được nhiều người biết đến nhưng

chủ yếu là nội dung của tác phẩm, còn nghiên cứu về vấn đề những tư tưởng

mà cụ Đồ Chiểu muốn gửi gắm cho chúng ta trong cuộc sống ngày hôm nay

thì chưa được nhiều người nhắc đến Chính vì thế chúng tôi chọn đề tài “Tư

tưởng Nho giáo trong Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” để làm

luận văn tốt nghiệp cao học văn học Việt Nam của mình Thông qua luận văn nhằm tìm hiểu những giá trị truyền thống văn hóa Việt trong quá trình tiếp biến tinh hoa văn hóa nhân loại; đồng thời góp phần khẳng định sâu hơn lý tưởng đạo đức Nho giáo, đặc biệt là lý tưởng nhân nghĩa trong tác phẩm, thấy được mối quan hệ giữa đạo đức và văn chương cũng như mong muốn giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 7

Ở một bình diện khác, như chúng ta đã biết, vấn đề tuyên truyền, phổ biến những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh thần nghĩa khí của các bậc tiền bối là vấn đề gặp nhiều khó khăn, bất cập, nhất là trong thời đại

xã hội ta đang trong tiến trình hội nhập và phát triển, các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục tập quán dường như ít được quan tâm đối với thế hệ trẻ, vấn đề đạo đức trong đời sống tinh thần cũng dần có sự thay đổi Những giá truyền thống và tinh hoa văn hóa không còn ràng buộc như trước nữa, con người sống có phần thực tế hơn Đây cũng là vấn đề đáng lo ngại trong cuộc sống hôm nay Tuy nhiên, bên cạnh những vấn đề trên còn nhiều điều để bàn

về văn hóa, đạo đức , thì trên thực tế đâu đó vẫn còn nhiều việc tử tế, nhiều hành động đẹp trong cuộc sống thường ngày mà chúng ta vẫn bắt gặp Những

hàng động, việc làm ý nghĩa ấy cần được tôn vinh Nghiên cứu Truyện Lục

Vân Tiên, chúng ta có nhiệm vụ tìm ra những giá trị đạo đức, nhân nghĩa cao

đẹp, lấy đó làm tấm gương phản chiếu để giảng dạy, giáo dục nhân cách sống Thông qua đó giúp cho mọi người nhận thức được những giá trị chân chính của cuộc đời; từ đó hình thành vốn sống và thái độ ứng xử ra sao để trở thành con người có ích cho gia đình, xã hội

2 Lịch sử vấn đề

Trong lúc Nho học trên đường suy tàn, những giá trị tinh thần đang bị

đảo lộn Trước sự biến đổi ấy, Nguyễn Đình Chiểu viết Truyện Lục Vân Tiên

để bênh vực cho những tư tưởng, đạo lý truyền thống, bồi đắp những viên gạch mới làm vững chắc nền tảng Nho giáo đang bị lung lay trước thời cuộc

Nghiên cứu Truyện Lục Vân Tiên, chúng ta tiếp cận được tư tưởng, tình cảm

của tác giả đối với mọi người trong xã hội cũng như tư tưởng mà tác giả muốn gởi gắm cho nhân vật chính của mình Điều đó đã làm nên một giá trị

tư tưởng rất riêng trong Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu

Trang 8

Các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, trong đó

tác giả Ngô Viết Dinh đã viết: “Nguyễn Đình Chiểu viết Lục Vân Tiên vừa

làm cái công cuộc giáo hóa, truyền bá tư tưởng Nho học đang bị lu mờ dưới ảnh hưởng của thời thế, lại vừa gởi vào tác phẩm một tâm sự Tâm sự ấy ta có thể tìm thấy trong nhân vật chính là Lục Vân Tiên và trong cái xã hội làm nền cho cuộc sống của chàng” [7; tr.193] Bên cạnh đó, là những giá trị giáo huấn con người, những nhận định về Nguyễn Đình Chiểu qua tác phẩm Lục Vân

Tiên: “Tác phẩm Lục Vân Tiên đã đáp ứng được tinh thần quả cảm, trọng

nghĩa khinh tài, ghét gian ác Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã của người nông dân miền Nam mà cũng là của mọi người dân Việt Nam chúng ta” [7; tr.35],

hay “Những con người tốt bụng trong Lục Vân Tiên kế tục những truyền

thống cao quý của dân tộc về nhân nghĩa đó là những con người trong sạch, bình thường, làm việc nghĩa như một nhu cầu mà không nghĩ đến lợi danh, ơn huệ và Lục Vân Tiên là nhân vật lý tưởng của nhà thơ mang đầy đủ những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người mà Nguyễn Đình Chiểu mơ ước” [7; tr 35]

Cùng thời với Nguyễn Đình Chiểu, đa phần các tác giả đều sử dụng chữ Hán như: Nguyễn Văn Siêu, Doãn Uẩn, Nhữ Bá Sĩ, Miên Thẩm Đối với Nguyễn Đình Chiểu, ông sử dụng chữ Nôm, một loại chữ viết truyền thống của người Việt để viết tác phẩm này Chính vì sử dụng chữ Nôm nên tác

phẩm Lục Vân Tiên dễ dàng được mọi người đón nhận và ăn sâu vào đời sống

tinh thần của nhân dân Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc cho rằng: "Trong khi đó sống cùng thời với các tác giả này, nhưng Nguyễn Đình Chiểu lại viết Lục Vân Tiên bằng chữ Nôm, và không phải Lục Vân Tiên mà Dương Từ - Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp, và thơ văn yêu nước chống Pháp của ông, nghĩa là toàn bộ sáng tác của ông đều viết bằng chữ Nôm Về khối lượng mà

Trang 9

nói không có một nhà thơ thứ hai nào viết nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm như Nguyễn Đình Chiểu Đó là một điều đặc biệt ” [24; tr 86]

Nguyễn Đình Chiểu không luận bàn nhiều về vận mệnh Ông quan niệm, trong cuộc sống con người cần phải có ý chí phấn đấu vượn lên, vượt qua những khó khăn trong cuộc sống để trở thành người có ích cho xã hội Tác giả Trần Văn Giàu với bài viết: “Nguyễn Đình Chiểu đạo làm người”, ông đã nhận xét rằng: "Nguyễn Đình Chiểu không triết luận dông dài về mệnh, nhưng cuộc đời của cụ nói lên rằng cụ đã có ý thức phấn đấu kiên trì chống vận mệnh đen tối nhất để được làm người có ích cho đời, cái ý nghĩ xem chừng như bình thường đó, thật ra không phải ai cũng dễ có, không phải

ai cũng biết đặt ra câu hỏi để kiểm tra cho bản thân ta đã làm được gì có ích cho đời?” [17; tr 63]

Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của tác giả, và để nó được sống lâu trong lòng độc giả, đòi hỏi tác giả phải phản ánh chân thực, gần gũi với thực tại cuộc sống, gần gũi với những nét văn hóa, phong tục tập quán sinh hoạt của người dân Có như vậy tác phẩm mới trường tồn cùng bạn đọc Tác

giả Huỳnh Sở Kì với bài viết: “Ảnh hưởng của Nguyễn Đình Chiểu qua

truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên trong đời sống tinh thần của người dân Bến Tre” Ở bài viết này, tính phổ biến của truyện đối với người dân Bến Tre rất

rõ, họ đã thuộc lòng lời ăn, tiếng nói, đạo đức, tư cách của các nhân vật trong

Truyện Lục Vân Tiên tới mức có thể liên hệ với người đời: “Thuở ấy, thơ Lục

Vân Tiên đối với người dân nông thôn Bến Tre, nhất là Ba Tri, là một món ăn tinh thần không thể thiếu được Hầu như nhà nào cũng có một quyển Lục Vân Tiên bìa xanh lá cây, hoặc đỏ lợi, bìa trước thường in hình một cảnh nào đó trong truyện, thường là cảnh Tiên, Trực, Kiệm, Hâm uống rượu làm thơ trong quán” [38; tr 329]

Trang 10

Công trình “Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm” [39], của Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn và giới thiệu đã tập hợp được rất nhiều bài nghiên cứu đánh giá Nguyễn Đình Chiểu về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp,

trong đó có bài viết “Nguyễn Đình Chiểu – thân thế và sự nghiệp” [39; tr.31]

của Nguyễn Thạch Giang Tác giả cho rằng nội dung tư tưởng trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là luôn đặt vấn đề nhân nghĩa lên hàng đầu

và nêu lên một chân lý sáng ngời đó là mọi người “phải biết tiếp thu những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, ông mệnh danh là “chính đạo” để tu dưỡng nhằm mọi người đạt tới được một sự thống nhất tư tưởng, biết yêu lẽ chính, ghét cái tà để hành động cho sự tiến bộ của xã hội” [39; tr.43] Theo Nguyễn Thạch Giang, tư tưởng đó của Nguyễn Đình Chiểu đã được thể hiện

rất rõ trong Truyện Lục Vân Tiên Tác giả Nguyễn Đình Chú cũng đề cập đến

sự phát triển tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu Tác giả cho rằng “Từ Lục Vân

Tiên đến thơ văn chống Pháp, văn chương Đồ Chiểu đã tiến lên từ lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước chống ngoại xâm” [39; tr.212] Theo

Nguyễn Đình Chú, thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu vẫn nhắc đến vấn đề

“nhân nghĩa”, “trung hiếu” nhưng nó đã mang nội dung mới, tức có sự tiến bộ

hơn so với giai đoạn trước đó Ở đây, “nhân nghĩa không phải là để xây dựng

một xã hội phong kiến, dù đó là xã hội phong kiến lí tưởng, mà trước hết là chuyện chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước Trung hiếu là đạo quân thần, nhưng trung hiếu trước hết phải lấy dân làm gốc Quan hệ vua tôi, quan

hệ gia đình chưa phải là hàng đầu Hàng đầu là quan hệ dân nước, quan hệ

xã hội” [ 39; tr.216]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phong Nam trong công trình Truyện thơ nôm

những nghiên cứu hình thái học đã có những nhận xét rất cụ thể, tinh tế về sự

cao thượng, nghĩa hiệp của người quân tử Lục Vân Tiên và cái nết na của người thiếu nữ Nguyệt Nga “Cái đẹp của nhân vật Lục Vân Tiên là sự cao

Trang 11

thượng, vô tư Chàng chia tay Kiều Nguyệt Nga nhẹ nhõm, thanh thản, lòng không chút vướng bận thì lại càng đáng trân trọng; trong khi trái lại, cái nết hạnh của Nguyệt Nga quý báu ở chỗ không bao giờ quên được nỗi niềm ân nghĩa” [32; tr.275]

Hay Trần Văn Giàu trong bài viết Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình

Chiểu [17; tr 164 ] cũng có đề cập đến nội dung tư tưởng trong sự nghiệp văn

chương của Nguyễn Đình Chiểu Ông cho rằng tư tưởng triết lí nhân sinh của nhà thơ trong các tác phẩm chủ yếu là lấy nhân nghĩa làm gốc Nhưng nội dung nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu có sự sáng tạo và khác xa nhân

nghĩa của hầu hết các nhà Nho đương thời “Tư tưởng triết lí nhân sinh trong

các vấn đề, trong các bài thơ Đường luật, cũng là nhân nghĩa Ở đây, có một tiến bộ mới so với Lục Vân Tiên Đại biểu cho nhân nghĩa chân chính là anh dân ấp dân lân vì mến nghĩa mà làm quân chiêu mộ”, chứ không phải đã sẵn

tập tành quân sự, không phải đã có trang bị của triều đình; vậy mà họ anh dũng vô song! Trương Định cưỡng lại chiếu vua là vì nghĩa với dân, dân cản đầu ngựa tướng quân là nghĩa với nước Nhân nghĩa với yêu nước là một” [10; tr.176]

Tác giả Võ Châu Phúc trong bài nghiên cứu “Truyện thơ Lục Vân Tiên –

sự tiếp biến ba tư tưởng Nho, Phật, Đạo” đã đưa ra nhận định: “Xét về tư

tưởng, thơ Lục Vân Tiên đậm màu sắc Nho giáo Lần theo cuộc hành trình của

chàng nho sinh Lục Vân Tiên, gặp gỡ tiểu thư Kiều Nguyệt Nga, đối ẩm cùng Hớn Minh, Tử Trực, ẩn dật cùng ông Ngư, ông Tiều , người đọc nhận

ra Trung – Hiếu – Tiết – Nghĩa, rồi đến Nhân – Dũng – Khí, lại thêm Nhân –

Nghĩa – Lễ – Trí – Tín Nhưng suy ngẫm kỹ, tất cả có còn là Nho thoát thai

từ sách vở nữa đâu? Nó đã chuyển hóa thành đạo đức, thành đạo lý nhân dân mất rồi!” [58]

Trang 12

Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp biến đầy sáng tạo tư tưởng Nho giáo trên

nền tảng đạo đức, đạo lý của nhân dân Truyện Lục Vân Tiên, chính vì thế là

một bài ca lớn về tư tưởng Người đọc tìm thấy sự hợp lưu kỳ thú giữa các luồng tư tưởng ngay trên miền đất hứa Nam bộ trẻ trung, hoang sơ và phóng khoáng Nho giáo đạo mạo nơi đâu chẳng biết, nhưng luồng sáng ấy hội tụ và soi rọi một điều trang trọng: tư tưởng, đạo đức, đạo lý ngàn đời của dân tộc Việt Nam là tốt đẹp và phù hợp với tư tưởng tiến bộ của nhân loại

Có thể nói, các công trình đã tập trung khẳng định điều cốt lõi nhất

trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, đó là sự biểu hiện tư

tưởng, thái độ, tình cảm của mình; sự gởi gắm triết lý sống, nhân sinh quan ở đời trong từng nhân vật và đấu tranh đến cùng bảo vệ đạo lý Chính điều này

làm cho tác phẩm Lục Vân Tiên có sức sống lâu bền trong quần chúng, có khả

năng làm say mê mọi người Rõ ràng, dù đã tìm hiểu trên nhiều phương diện,

đã nghiên cứu một cách bền bỉ liên tục bấy lâu nay ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu vẫn còn nhiều vấn đề để tiếp tục nghiên cứu, khám phá Cần có những công trình nghiên cứu

có quy mô lớn để có cái nhìn tổng thể và toàn diện hơn, để phát họa toàn cảnh

diện mạo của Truyện Lục Vân Tiên, có như vậy chúng ta mới có thể đánh giá

đầy đủ và thuyết phục

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Tư

tưởng Nho giáo trong truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, thể hiện qua hai phương diện cơ bản: tư tưởng Nho giáo nhìn từ hình tượng nhân vật

Trang 13

Về phạm vi tư liệu: Văn bản Truyện Lục Vân Tiên và các tư liệu tham

khảo khác liên quan

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình triển khai đề tài “Tư tưởng Nho giáo trong Truyện Lục

Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu”, chúng tôi đã vận dụng những phương

pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

5 Đóng góp của luận văn

Như đã trình bày ở trên, “Tư tưởng Nho giáo trong truyện Lục Vân

Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” đã có ảnh hưởng sâu rộng trong nền văn học

cũng như trong quần chúng nhân dân Người dân lao động chẳng những yêu thích tác phẩm mà còn xem nó là kim chỉ nam trong nếp sống, trong giáo

huấn đạo đức làm người Do đó, với đề tài “Tư tưởng Nho giáo trong truyện

Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” chúng tôi thử tìm hiểu và làm sáng tỏ

những giá trị thuộc về nội dung, hình thức tiếp biến và cách thức thể hiện của

tư tưởng Nho giáo trong tác phẩm Qua đó phần nào xác định sức sống lâu bền của truyện thơ trong lòng quần chúng lao động, đồng thời khẳng định sức ảnh hưởng của nó trong nền văn học Việt Nam

Bên cạnh đó, công trình cũng góp một phần tìm hiểu, nghiên cứu

những vấn đề liên quan đến Truyện Lục Vân Tiên; đồng thời bổ sung thêm

những kiến thức khi tìm hiểu chuyên về tác giả trong chương trình giảng dạy

và nghiên cứu văn học, cũng như áp dụng vào thực tiễn cuộc sống

Trang 14

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có các chương chính sau:

Chương 1: Tư tưởng Nho giáo trong tiến trình vận động của truyện thơ Nôm bác học

Chương 2: Thế giới hình tượng nhân vật trong Truyện Lục Vân Tiên Chương 3: Các phương thức thể hiện tư tưởng Nho giáo trong Truyện

Lục Vân Tiên

Trang 15

CHƯƠNG 1

TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG

CỦA TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC

1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO

Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội, là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến Trung Hoa Tư tưởng Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu (thế kỷ thứ X – VII tr.CN) Đến thời Xuân Thu, Khổng

Tử đã sưu tập, chỉnh lý thành học thuyết tương đối có hệ thống Trải qua hơn

2500 năm tồn tại và phát triển, nội dung của Nho giáo đã có ảnh hưởng ở nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Sự ảnh hưởng này được thể hiện trên nhiều phương diện, đặc biệt là trong lĩnh vực đạo đức trước đây cũng như hiện nay

Theo Khổng Tử, vấn đề trung tâm của Nho giáo là con người, tư tưởng của con người Con người thiện hay ác, tốt hay xấu bên cạnh bản tính vốn có còn do hoàn cảnh tác động Theo Nho giáo quan niệm, tính thiện của con

người gồm năm đức tính (Ngũ thường): Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín; để thực hiện được năm đức tính trên, con người cần phải có Ngũ luân (Năm mối quan

hệ): Vua – Tôi, Cha – Con, Chồng – Vợ, Anh – Em, Bạn bè và Tam cương

(Ba mối quan hệ của xã hội): Vua – Tôi, Cha – Con, Chồng – Vợ Theo Nho giáo, sở dĩ có kẻ ác, người thiện là do “khí bẩm thụ mà thành”, tức là do con

người bị tác động, bị ảnh hưởng những thói hư, tật xấu ở đời, bị môi trường

xã hội tác động Vì vậy, Nho giáo hướng đến giáo huấn con người “Hữu giáo

vô loại”, quan tâm đến đạo làm người, rèn luyện đạo đức, hướng thiện cho

con người Đây được xem là điểm khác biệt, điểm tiến bộ của Nho giáo so với các tôn giáo khác, nhất là vấn đề về con người, giáo huấn đạo lý, hướng con người tìm đến những giá trị chân, thiện, mỹ của cuộc sống

Trang 16

Nếu như Phật giáo cho rằng “đời là bể khổ” nên hướng con người tìm đến sự giải thoát, Lão giáo cũng yếm thế, bi quan nên cần “vô vi tịch mịch”

thì Nho giáo lại coi trọng đến các mối quan hệ đạo đức xã hội Con người sống trên cuộc đời này hãy lo việc của chính mình, chuyện lúc sống lo chưa hết, lo gì đến việc sau khi chết Chính vì quan niệm này mà Nho giáo luôn được mọi người ưa chuộng, tôn trọng và giữ vị trí độc tôn trong thời gian dài của lịch sử dân tộc

Việc rèn luyện đạo đức, giáo dục, cải biến con người để họ trở thành người tốt, người có ích cho xã hội là vấn đề luôn được Nho giáo chú trọng Tuy nhiên, đạo làm người theo quan niệm Nho học là đạo làm người trong xã hội phong kiến Nho học là hệ tư tưởng phục vụ giai cấp phong kiến, nhưng những vấn đề về đạo đức trong Nho học rất tiên tiến, có nhiều điểm tích cực Một trong những vấn đề sáng tỏ nhất đó là quan niệm về người quân tử, đó là con người cần phải hội tụ các nhân tố của tâm và tầm, nghĩa hiệp, cao thượng Đây được xem là điểm sáng để kẻ sĩ lấy đó làm mục đích rèn luyện, phấn đấu vươn đến hoàn thiện mình, trở thành những con người có ích cho xã hội

Là một hệ thống tư tưởng rộng lớn về mặt đạo đức và giáo huấn, tồn tại

và phát triển trong thời gian dài của lịch sử; những quan điểm, tư tưởng của Nho giáo luôn là bài học lớn để nghiên cứu, soi xét trên nhiều bình diện của đời sống xã hội Mỗi phạm trù tư tưởng là một luận điểm lớn về các chuẩn mực, về con người, về đạo đức… cần được soi chiếu một cách cụ thể, rõ ràng

để trở thành những hệ quy chiếu ứng dụng trong thực tế

1.1.1 Thiên mệnh

Nho giáo đã tin có trời làm chủ tế cả vũ trụ thì tất là nhận có cái ý chí rất mạnh mẽ để khiến sự biến hóa trong thế gian theo lẽ thường Cái ý chí ấy chính là Thiên mệnh Khổng Tử quan niệm về Trời hay Thượng đế khác với quan niệm của nhiều người Trời hay Thượng đế chỉ là cái lý vô hình, rất linh

Trang 17

diệu, cương kiện, mà khi đã định sự biến động như thế nào đó thì không thể cưỡng lại được Các quan niệm của nhiều người về Trời hay Thượng đế là đáng có hình dáng, tình cảm

Khổng Tử quan niệm, những công việc ở đời thành công hay thất bại, hưng thịnh hay suy vong đều do ở Thiên mệnh cả Mọi việc muốn thi hành

được cũng do mệnh Trời, mà không thi hành được cũng do mệnh Trời “Đạo

chi tương hành dã dư, mệnh dã; đạo chi tương phế dã dư, mệnh dã” Người

quân tử cứ an tâm làm những điều tốt, điều lành thì thế nào cũng có được Mệnh trời như ý muốn

Theo Nho giáo, Trời là đấng tối cao, đáng toàn năng, có nhân cách, có

ý chí, trời chi phối vạn vật Tuy ở xa, nhưng việc soi xét, phân minh, thưởng phạt rất nghiêm và công minh Khi vua chúa làm những điều không tốt thì trời cho các trương triệu để cảnh tỉnh, báo hiệu trước; nếu làm điều nguy hại hơn

có thể bị đại hạn, bị trừng trị Khổng Tử đã nói “sống chết có mệnh, giàu sang

tại Trời”, tức là con người sống chết có mạng, giàu sang phú quý do trời định,

chúng ta không thể chống lại ý trời được, không thể làm điều ngược lại

Trời chi phối con người bằng mệnh trời, mỗi người sinh ra phải theo vòng luân hoàn: sinh ra, lớn lên, già, chết Mọi việc lớn nhỏ đều do trời định, con người phải thuận theo lẽ thường Tư tưởng này tồn tại dai dẳng như một ý thức hệ trong nhận thức của con người, xem nó như định mệnh, họ bất lực trước số phận và ra sức duy trì nó Khi gặp bất lợi trong cuộc sống, người dân tin tưởng cầu mong vào sự ban phát của trời Nho giáo cho rằng trời là chúa tể của vũ trụ

1.1.2 Chính danh

Chính danh (danh nghĩa là tên gọi, danh phận, địa vị; chính có nghĩa là đúng, là chấn chỉnh lại cho đúng tên gọi và danh phận) Do đó, Chính danh là làm cho mọi người ai ở địa vị nào, danh phận nào thì giữ đúng vị trí và danh

Trang 18

phận của mình Không giành vị trí của người khác, không lấn vượt và làm rối loạn Khổng Tử cho rằng, nguyên nhân hỗn loạn ở thời Xuân Thu là do thiên

tử nhà Chu không làm tròn trách nhiệm (không làm đúng danh) để quyền lợi vào tay chư hầu; chư hầu không làm đúng danh nên sĩ đã lấn át Vì vậy, để xã hội ổn định thì mọi người cần làm đúng danh phận của mình Theo ông,

“Danh không chính thì lời nói chẳng thuận, lời nói không thuận thì việc

chẳng nên, việc không nên thì lễ nhạc chẳng hưng vượng, lễ nhạc không hưng vượng thì hình phạt chẳng trúng, hình phạt không trúng ắt dân không biết xử trí ra sao” (danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất

thành, sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng, lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng, hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc) Riêng đối với người cầm quyền Vua - Thiên tử, được thay trời cai trị thì càng phải làm đúng danh của mình, như vậy mọi người mới noi theo Đặc biệt, trong việc chính sự (việc nước), điều đầu tiên nhà vua phải làm là lập lại Chính danh, phải xác định vị trí, vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng người để họ hành động cho đúng Khổng Tử cho rằng, không ở chức vị ấy thì không được bàn việc của chức vị đó, không được hưởng quyền lợi, bổng lộc của chức vị ấy

Mục đích của Chính danh mà Nho giáo đề cao là sự ổn định trật tự xã hội, suy cho cùng là để bảo vệ quyền của Thiên tử, duy trì sự phân biệt đẳng cấp Chính danh không chỉ là nội dung tư tưởng chính trị của Nho giáo, mà còn mang ý nghĩa đạo đức, một yêu cầu về mặt đạo đức của con người Chúng ta biết rằng, một trong những phạm trù đạo đức của con người đó là lương tâm, trách nhiệm Nếu xét theo nghĩa này, thì một người làm tròn nghĩa

vụ và bổn phận của mình tức là người đó có đạo đức

Ý nghĩa tích cực của tư tưởng Chính danh, là làm cho con người ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình một cách rõ ràng trong các mối quan hệ

xã hội Con người tồn tại trong vô vàn các quan hệ xã hội đan xen, ở mỗi mối

Trang 19

quan hệ đó con người có nghĩa vụ nhất định phải thực hiện Điều này là cần thiết ở mọi chế độ xã hội, ở mọi thời đại Tư tưởng Chính danh yêu cầu con người thực hiện một cách đúng mức nghĩa vụ của bản thân trước cộng đồng

và xã hội trong khuôn khổ danh phận, góp phần vào duy trì trật tự xã hội Tư tưởng này còn kìm hãm tự do của nhân cách tới mức không chấp nhận bất kỳ sáng kiến nào của con người, làm cho con người luôn ở trạng thái nhu thuận,

chỉ biết phục tùng theo chủ trương “thuật nhi bất tác” (chỉ làm theo mà không

sáng tác gì thêm) Tư tưởng Chính danh đã quá đề cao danh phận, làm cho con người luôn có tư tưởng hám danh, chạy theo danh, theo chức đến mức nhiều người vì hám danh quên phận mà quên cả luân thường đạo lý

Mặc dù có những quan niệm khác nhau, nhấn mạnh đức này hay đức khác của con người nhưng nói chung, các nhà Nho đều cho rằng con người cần phải có những phẩm chất đạo đức cơ bản: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

1.1.3 Nhân và Lễ

Nhân là phạm trù luân lý đạo đức căn bản nhất mang nhiều nghĩa khác nhau Theo Khổng Tử, tất cả những gì thuộc về tiên nghiệm đều là cái trời phú cho con người, nó là hạt nhân của hệ thống tri thức và đạo đức của con

người Chữ Nhân trong tiếng Hán bao gồm bộ “nhân” đứng và chữ “nhị” hàm

nghĩa chỉ bản chất, đức tính là nhân ái, nhân đức của con người; nó khác với chữ Nhân với ý nghĩa là con người, nhân hình Có lúc Khổng Tử giải thích chữ Nhân một cách trừu tượng, nhưng cũng có lúc ông nói về Nhân rất cụ thể Tuy nhiên, dù hiểu theo nghĩa trừu tượng hay cụ thể, thì Nhân cũng là đạo làm người và do đó Nhân chính là cái đích của sự tu thân sửa mình của mỗi người trong xã hội

Có thể nói, Nhân là phạm trù xuất phát mang tính nền tảng của Khổng

Tử trong quan niệm về đạo trị nước và trong chính sách cai trị của nhà cầm quyền, bởi ông chủ trương xây dựng một học thuyết chính trị lấy Nhân làm tư

Trang 20

tưởng chủ đạo, dùng Đức và Chính danh để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Tuy nhiên, do đứng trên lập trường của giai cấp, Khổng Tử đã gắn cho

học thuyết Nhân một nội dung giai cấp khá rõ nét Luận điểm: “Người quân

tử có khi phạm điều bất nhân, chứ chưa từng thấy kẻ tiểu nhân mà làm được điều nhân” cho thấy ông không thừa nhận đức nhân của quần chúng lao động

Trong suy nghĩ của ông, các Đức đều có sẵn mầm mống và đầu mối như nhau trong tính trời, lòng người; nhưng chỉ kẻ quân tử biết mệnh trời nên mới có thể tự tu thân sửa mình giữ gìn tâm tính để có đạo cao, đức sáng Trái lại, kẻ tiểu nhân vì không hiểu mệnh trời nên không biết tồn tâm dưỡng tính, đưa đến hậu quả hư cả tâm, mất cả tính; do vậy, họ không có đức Điều đó có nghĩa, đức nhân chỉ là đức của người quân tử và triết lý tu thân sửa mình mà Khổng

Tử đưa ra chỉ dành riêng cho giai cấp thống trị

Theo quan niệm đạo đức Nho giáo thì người quân tử, người cai trị phải

có đầy đủ các đức tính như: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Dũng… Chữ Nhân phải gắn liền với chữ Lễ trong việc tu thân, học đạo để tự điều chỉnh bản thân,

để trị nước Muốn đạt được Nhân thì cần phải rất mực chú trọng đến chữ Lễ Theo Khổng Tử, Lễ chính là những quy phạm, những nguyên tắc đạo đức của nhà Chu: Vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con…phải dùng lễ để khôi phục trật tự, phép tắc luân lý xã hội, khiến mọi người phải trở

về Đạo và Nhân, trở thành Chính danh Lễ và Nhân là hai yếu tố có quan hệ mật thiết không thể tách rời nhau

Xuất phát từ quan niệm như vậy, Khổng Tử chủ trương dùng Lễ để đưa mỗi người, đưa cả nước và cả thiên hạ trở về hữu đạo Trong học thuyết chính trị của mình, ông gắn chặt Nhân với Lễ, coi Nhân là nội dung của Lễ, còn Lễ

là hình thức của Nhân Sở dĩ Khổng Tử đề cao Lễ vì Lễ chính là lễ nghi, nghi điển, phép tắc quy định quan hệ gia tộc, trật tự thể chế xã hội Theo ông, dựa vào Lễ có thể hình thành tập quán đạo đức, định ra lẽ phải trái, trên dưới theo

Trang 21

trật tự phân minh, góp phần hàm dưỡng tính tình con người và tiết chế được những hành vi buông lơi, thả lỏng của họ trong cuộc sống Trong suy nghĩ của ông, nếu xã hội không có Lễ, con người sẽ không có đạo đức nhân nghĩa và

do đó, không có trật tự trên dưới trong quan hệ vua - tôi, cha - con…, không

có sự uy nghiêm, không có lòng thành kính Khổng Tử nhấn mạnh “khắc kỷ

phục lễ vi nhân”, bởi ông cho rằng, “cung kính quá lễ thành ra lao nhọc thân hình; cẩn thận quá lễ thành ra nhát gan; dũng cảm quá lễ thành ra loạn

Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: Người quân tử phải là người

có vốn kiến thức toàn diện, hội tụ các yếu tố về đạo đức, chuẩn mực của người đứng đầu Có như thế mới làm gương cho những người khác noi theo

Để đạt được những điều đó, ngoài việc được giáo huấn đạo đức, thông kinh

sử còn đòi hỏi bản thân phải thật sự có cái tâm trong sáng thì mới đạt đến độ toàn diện, trở thành con người chuẩn mực, con người có ích cho xã hội

Ra đời và tồn tại trong một thời gian dài của lịch sử xã hội Các nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo luôn là bài học lớn để mọi người soi chiếu

và áp dụng trong giáo dục nhân cách, đạo lý làm người Trong xã hội hiện đại ngày nay, những tư tưởng, giá trị của Nho giáo vẫn còn nguyên giá trị và được áp dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống

1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ TRONG TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ Nôm

Truyện thơ Nôm là bộ phận văn học khá độc đáo, có dấu ấn riêng trong văn học trung đại Theo các nhà nghiên cứu, truyện thơ Nôm được ra đời trên

nền tảng văn học dân gian Theo tác giả Đinh Gia Khánh “Truyện Nôm chỉ là

một hiện tượng chứng tỏ ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ của văn học dân gian vào văn học viết bằng chữ Nôm của tri thức phong kiến Đó là ảnh hưởng của

Trang 22

truyện cổ tích Nhưng ở đây lại còn phải thấy ảnh hưởng rất lớn của thơ ca dân gian Thể thơ trong truyện Nôm bắt nguồn từ thể thơ dân gian Ngôn ngữ văn học trong truyện Nôm bắt đầu từ ngôn ngữ thơ dân gian Cho nên sự nở rộ của truyện Nôm từ thế kỷ thứ XVI trở đi, đặc biệt là từ thế kỷ XVIII cũng lại phản ánh tình hình thơ ca dân gian trong các thế kỷ ấy ” [24, tr 67]

Được xem là một loại hình văn học đặc trưng của dân tộc, ra đời và gắn liền với các tên tuổi lớn của văn học Việt Nam Là đối tượng được nghiên cứu, tìm hiểu sâu kỹ của các nhà khoa học Ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, các tác giả đã đưa ra những khái niệm, những nhận định theo nhiều chiều hướng khác nhau nhằm đa dạng hóa cách tiếp cận thể loại văn học này; đồng thời, đã đưa ra những tiền đề, những quan niệm mới để mọi người tiếp cận và soi chiếu vào từng nội dung cụ thể mà mình quan tâm

Theo tác giả Trần Đình Sử “Truyện thơ Nôm là một sáng tạo độc đáo của văn học dân tộc” [48; tr.394] Vì vậy trong quá trình tiếp cận, nghiên cứu chúng ta không nên nhìn nhận truyện Nôm giống như các thể loại truyện khác như truyện cổ tích, bởi vì nó là “xu hướng tiểu thuyết hóa truyện dân gian”

[48;tr.396] Trên thực tế, truyện thơ Nôm có nhiều đặc điểm khác với truyện

cổ tích trên các phương diện cụ thể như: cách thức xây dựng nhân vật, các yếu

tố tự sự, kịch tính, tình huống truyện, triết lý… Có sự phong phú, đa dạng, luôn tạo sự kích thích, hứng thú cho người đọc khi khám phá tác phẩm

Là một thể loại văn học, truyện thơ Nôm cũng có đầy đủ các yếu tố về cốt truyện, thể loại, cách diễn đạt cho phù hợp với nội dung cần chuyển tải Nhà nghiên cứu Nguyễn Phong Nam cho rằng “Truyện thơ Nôm, với tư cách

là một loại hình văn học phải bao hàm các tính chất: truyện (kể, nói) + (loại, thể) thơ + (lối văn) nôm” [36; tr.12] Theo tác giả, sự khu biệt ở đây được thể

hiện trong thế dung hợp tất cả các yếu tố, các tác phẩm thuộc loại hình văn

Trang 23

học này phải là các truyện kể Tính chất này được đảm bảo bởi cốt truyện, tích truyện, ở hệ thống sự kiện, nhân vật, ở chất tự sự của tác phẩm

Nhiệm vụ của tác phẩm văn học là phản ánh các mặt của đời sống xã hội dưới nhiều phương diện và hình thức khác nhau Bằng cách này hay cách khác, tác phẩm sáng tác bất kỳ bằng thể loại nào đi nữa cũng phải phản ánh một cách cụ thể, rõ ràng với các thủ pháp nghệ thuật đặc sắc để mọi người dễ tiếp cận và tác phẩm sống mãi trong lòng người đọc Hai tác giả Hà Minh Đức và Bùi Văn Nguyên cho rằng: “Truyện thơ có khả năng phản ánh những mặt phong phú của đời sống xã hội Trên ý nghĩa đó truyện thơ có thể được xem như một tiểu thuyết Một mặt khác do chỗ vận dụng ngôn ngữ thơ ca để diễn đạt nên từ hình ảnh, nhịp điệu đến cú pháp thơ ca, truyện thơ tự xác định chỗ khác nhau với tiểu thuyết” [9; tr 329]

Về mặt thể loại, có rất nhiều quan điểm khác nhau về thể loại của truyện thơ Nôm Mặc dù ra đời rất lâu, nhưng các nhà nghiên cứu cũng còn nhiều ý kiến khác nhau về mặt thể loại của truyện thơ Nôm Theo tác giả Lê Hoài Nam nhận định: “Truyện Nôm là một loại hình văn học đã có từ lâu Đó

là những sáng tác văn học hầu hết có tính chất trung thiên tiểu thuyết, và viết bằng thể thơ lục bát, có khi bằng thất ngôn bát cú Mặc dù trải qua thời gian, nhiều truyện Nôm đã bị mất mát, thất truyền, nhưng số còn lại hiện nay cũng khá nhiều Xét về mặt nội dung cũng như mặt hình thức, truyện Nôm có nhiều yếu tố phức tạp Nhiều tác giả thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau ở vào nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, đã chung sức xây dựng nên cái gia tài to lớn ấy.” [36; tr.174] Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi

trong Từ điển thuật ngữ văn học [21] nhận định rằng đây là thể loại tự sự

bằng thơ dài tiêu biểu trong nền văn học cổ điển Việt Nam Còn tác giả Nguyễn Lộc đã gọi truyện thơ là truyện Nôm và khái niệm của ông mang vẻ

Trang 24

tổng hợp hơn: “Một thể loại văn học viết dưới hình thức văn vần, có cốt truyện trong văn học cổ Việt Nam” [29; tr 20]

Tóm lại, truyện thơ Nôm là một thể loại lớn trong nền văn học Việt Nam nói chung, là thể loại phổ biến trong nền văn học trung đại Với mục đích phục vụ nhu cầu của xã hội, phản ánh những tâm tư tình cảm của con người trong cuộc sống, đưa ra những luận lý, bài học đạo đức, cách đối nhân

xử thế để khuyên dạy con người; đối tượng miêu tả là những con người bình thường trong xã hội, lấy chữ Nôm - một loại chữ viết của dân tộc làm hình thức sáng tác và sử dụng thể thơ lục bát cùng thơ Đường luật làm phương tiện

truyền tải nội dung Với sự ra đời của truyện Nôm đã xóa tan đi ý kiến “nôm

na là cha mánh qué”, một nhận định sai lệch về chữ viết dân tộc Sự ra đời

của thể loại này đã khẳng định được giá trị, bản sắc, sự tiến bộ của dân tộc qua phương tiện chữ Nôm với các tác phẩm văn học để đời, trở thành cuốn sách để đầu giường của bao thế hệ người Việt như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phạm Tải Ngọc Hoa, Phạm Công Cúc Hoa…

Truyện Nôm ra đời và tồn tại với hình thái đầu tiên là truyện Nôm truyền khẩu Sau một thời gian dài, khi phong trào truyện Nôm truyền khẩu phát triển mạnh mẽ thì các nho sĩ bình dân và bác học đã mạnh dạn sử dụng loại hình văn học này để sáng tác, hoặc ghi chép lại những truyện Nôm đã có Qua khảo sát truyện thơ Nôm, chúng ta nhận thấy có hai loại truyện thơ Nôm đó là: một loại viết theo thể thơ lục bát, một loại viết theo thể thơ đường

luật Theo tác giả Nguyễn Lộc, “Truyện Nôm ra đời trước thế kỷ thứ XVIII, từ

thế kỷ thứ XVIII trở đi không thấy có nữa Còn truyện Nôm bát học không xác định ra đời khi nào, nhưng chỉ biết nó phát triển nhiều nhất ở cuối thế kỷ thứ XVIII đến nữa đầu thế kỷ thứ XIX” [29, tr 30] Theo nhận định của tác giả

Đặng Thanh Lê “Sự ra đời của truyện Nôm bắt nguồn từ sự phản ánh xã hội với những nội dung thời đại cũng như với những đều kiện thực tiễn của bản

Trang 25

thân thời đại ấy” [27, tr 50] Từ hai ý kiến trên, soi chiếu vào lịch sử của dân tộc thì hai giả thuyết trên hoàn toàn có cơ sở Bởi đầu thế kỷ thứ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam có nhiều mâu thuẫn Mâu thuẫn giữa các phe phái cầm quyền với quần chúng nhân dân với triều đình nên dẫn đến sự sụp đổ của nhà

Lê, nhà Mạc lên ngôi Khi nhà Mạc lên ngôi, trật tự xã hội không được giải quyết, các cuộc khởi nghĩa của nông dân luôn diễn ra; xã hội phong kiến ngày một bế tắc, nhân dân rơi vào cùng cực, các giá trị đạo đức truyền thống dần bị lung lay và có nguy cơ bị phá vỡ Có lẽ đây là cơ sở, là tiền đề cho những ước

mơ, những khát vọng về công lý, về tình người phát triển; đây là cơ sở những giá trị nhân bản được sinh sôi, nẩy nở và phát triển Đó cũng là nguồn gốc phát triển của truyện thơ Nôm

Cơ sở để hình thành và phát triển của truyện nôm là truyền thống văn học, bên cạnh đó, mối quan hệ giữa văn học và đời sống cũng là cơ sở quan trọng giải thích sự xuất hiện của thể loại truyện thơ Nôm Theo tác giả Đặng

Thanh Lê trong cuốn Truyện Kiều và thể loại truyện thơ Nôm đã nhận định:

“sự ra đời của truyện thơ Nôm bắt nguồn từ một yêu cầu phản ánh xã hội với những nội dung thời đại cũng như với những điều kiện thực tiễn của thời đại

Kiều Thu Hoạch trình bày rất chi tiết trong công trình Truyện nôm lịch sử

Trang 26

phát triển và thi pháp thể loại “Giai đoạn đầu tiên là các truyện thơ cấu tạo

bằng một chuỗi thơ Đường luật như Tô Công Phụng Sứ, Vương Tường, Lâm Tuyền kỳ ngộ và Tam Quốc thi mà người ta thấy gần gũi với thơ Hồng Đức Quốc Âm thi tập xuất hiện khoảng thế kỷ XVI - XVII Giai đoạn hai là xuất hiện diễn ca lịch sử như Thiên Nam Ngữ Lục, tiếp đến là xuất hiện các truyện thơ Nôm bình dân như Quan Thế Âm, Phạm Công Cúc Hoa, Lý Công Cúc Hoa… - các tác phẩm này có “mẫu câu” và cách gieo vần gần gũi với Thiên Nam ngữ lục, ra đời vào cuối thế kỷ XVII – XVIII” [23; tr.394] Giai đoạn cao trào là xuất hiện truyện thơ Nôm bác học mà “Bắt đầu với truyện của Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Thiện… Truyện thơ Nôm thế kỷ XVIII đã mượt

mà và cách gieo vần, kể chuyện, miêu tả đã khác với lối bình dân ở thế kỷ trước”[23; tr 394]

Lịch sử hình thành và phát triển của truyện thơ Nôm được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu và đưa ra những nhận định hết sức có giá trị Đây là những tiền đề quan trọng để các thế hệ đi sau có cơ sở để tham chiếu cụ thể

hơn Trong công trình Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm [27] tác giả Đặng

Thanh Lê cũng trình bày khá đầy đủ về lịch sử hình thành và phát triển của truyện thơ Nôm Theo tác giả “cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam trong ba thế kỷ XVI, XVII, XVIII ngày một trầm trọng với nhiều mâu thuẫn nảy sinh làm nền cho một thể loại sáng tác mới ra đời Truyện Nôm phản ánh phần nào mâu thuẫn xã hội, tinh thần nhân đạo, đấu tranh giai cấp đồng thời cũng thể hiện quan niệm sống bình dân của các hàn sĩ” [27; tr.51]

“Có thể nói, truyện Nôm là sản phẩm văn học vào thời kỳ phong kiến suy tàn, mang ý nghĩa phản ánh một thời kỳ bùng nổ mạnh mẽ của đấu tranh giai cấp dưới chế độ phong kiến” [27; tr.57]

Dù được hình thành và phát triển không mấy thuận lợi, số lượng tác phẩm còn lại không nhiều, nhưng truyện thơ Nôm đã mang được nội dung

Trang 27

nhân đạo chủ nghĩa vừa là hệ quả của cuộc đấu tranh cho sự sinh tồn phát triển xã hội, đấu tranh tư tưởng vừa là biểu hiện sinh động cho sự ra đời và phát triển của nhiều thể loại đặc sắc khác như song thất lục bát, lục bát, thể ngâm khúc

1.2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống xã hội

Là một học thuyết chính trị, Nho giáo có vị trí và vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Nho giáo là đạo quan tâm đến con người, đến cuộc đời Ra đời từ thời Xuân Thu ở Trung Quốc, được Khổng Tử nâng tầm trở thành học thuyết văn hóa của Trung Hoa và nó trở thành hệ thống tư tưởng thống trị xã hội từ thời nhà Hán đến thời nhà Thanh Nho giáo du nhập và Việt Nam từ thời Bắc thuộc Khi vào Việt Nam, Nho giáo trở thành nền tảng

tư tưởng, đạo đức của xã hội phong kiến Việt Nam thời bấy giờ và có ảnh sâu rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội người Việt

Thời kỳ đầu mới du nhập vào Việt Nam, Nho giáo chưa thịnh hành, chưa có vị trí, vai trò quan trọng trong xã hội Từ thế kỷ thứ XI trở đi, Nho giáo đã mở đường cho những kẻ sĩ xuất thân thông qua hình thức thi cử để chọn người có tài đức ra giúp dân, giúp nước Nhờ đó mà văn học nước nhà phát triển, nền văn hóa được nâng cao Điểm nổi bật của Nho học khi vào Việt Nam là văn chương, khoa cử và tìm ra những kẻ sĩ đảm trách vai trò chính trị của đất nước

Khi Nho học hưng phát, Lý Thánh Tông đã cho lập Văn miếu, mở khoa thi, mở trường Quốc Tử giám để chọn hiền tài ra phò Vua, giúp đất nước Lý Thánh Tông đã đặt nền móng đầu tiên cho nền giáo dục nước nhà với các khoa thi cử; từ đây, Nho giáo được sử dụng làm công cụ dạy học, huấn luyện nhân tài, định hướng nhân cách con người Kế tục sự hưng thịnh của Nho gia, các triều đại sau như đời Trần, đời Hậu Lê… vẫn duy trì hình thức khoa cử, tổ chức nhiều khoa thi để chọn hiền tài, đưa Nho học thành Quốc học Với sự

Trang 28

lớn mạnh không ngừng của của Nho giáo, cùng với nhu cầu canh tân đất nước

đã dẫn đến việc triều Lê chủ động đưa Nho giáo thành Quốc giáo; Nho giáo giữ địa vị độc tôn trong xã hội Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của các triều đại phong kiến

Những thể chế chính trị, nghi thức lễ, ứng xử đạo đức khi du nhập vào Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nho giáo, dòng văn minh dân gian làng xã được phổ biến và phát triển, được thể hiện rất rõ trong các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như các cuộc đua, các hoạt động vui chơi, các hoa văn trang trí ở đền, chùa… Các tư tưởng: người quân tử, đấng trượng phu, quan hệ tam cương, tứ đức tam tòng, thủ tục ma chay, cưới xin, các quy định về tôn tri trật tự… ảnh hưởng rất đậm nét trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân Việt Nam

Là đạo quan tâm đến con người, quan tâm đến sự sống, dạy đạo làm người Khổng Tử cho rằng bản tính của mỗi con người là khác nhau, sự khác nhau đó một phần là do thiên bẩm, một phần là do hoàn cảnh xã hội, phong tục tập quán, nếp sống Nho giáo hướng con người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, ham học tập để phò Vua giúp nước Nho giáo đặt vấn đề đi tìm một bản tính sẳn có và bất biến của con người Khổng Tử và Mạnh Tử đều quan niệm con người sinh ra vốn thiện Bản tính thiện của con người ở đây là tập hợp các giá trị đạo đức của con người Tính Thiện được hiểu là rộng lượng, bao dung, có lòng nhân ái, yêu thương con người Lòng người là đức tính lớn mà dân tộc nào cũng có, tùy theo điều kiện lịch sử của xã hội mà nó được thể hiện bằng nhiều phương thức

khác nhau Dân tộc Việt Nam có câu “Thương người như thể thương thân”;

lòng yêu thương con người yêu thương đồng loại, sống chan hòa giúp đỡ lẫn

nhau “Lá lành đùm lá rách” là truyền thống đạo lý căn bản của người Việt

Nam, sống có nghĩa có tình, có nhân có đức

Trang 29

Trong cuộc sống, ai ai cũng phải biết làm điều Thiện, biết ứng xử cho phù hợp với đạo lý, ứng xử đúng chuẩn mực, biết kính trên nhường dưới cho phải đạo Với quan niệm của mình, những vấn đề nêu trên được Khổng Tử quy chiếu vào Lễ Khi tiếp thu phạm trù này, các nhà Nho Việt Nam chưa thoát khỏi các mối ràng buộc theo những nguyên tắc vốn có của Lễ trong Nho gia Vì vậy Lễ được tiếp thu và sử dụng như những gì vốn có Tuy nhiên, theo thời cuộc của xã hội, Lễ được đưa vào nội dung mới là lễ phép với nhân dân, với đất nước Đây được xem là sự tiếp biến vượt bật nhằm sử dụng phạm trù

Lễ trong giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng đối với thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.2.3 Ảnh hưởng của Nho giáo trong truyện thơ Nôm bác học

Nho giáo chủ trương nhập thế, chủ trương sống lối sống có trách nhiệm với xã hội Nho giáo được các tầng lớp trí thức Việt Nam xem là mô hình lý tưởng, từ đó soi chiếu trong nhận thức, cảm quan cũng như biểu hiện nó bằng những hành động cụ thể trong đời sống Khi viết về cuộc sống xã hội, mà trước hết là cuộc sống của những người nông dân, các tác giả truyện thơ Nôm thường đánh giá, phán xét về thời cuộc, về chính sự, luân thường đạo lý ở đời Là đất nước nông nghiệp, cuộc sống của người dân thường gắn với làng quê yên bình, dòng sông bến nước, với ruộng lúa, nương dâu với những tập quán sinh hoạt, lao động thật chân chất và gần gũi Cuộc sống của người dân được các nhà Nho ghi lại trong các áng văn thơ với cách ghi chép mộc mạc; có thể là cuộc sống yên bình thanh thản, no ấm vui thú điền viên hay cuộc sống cơ cực, lầm than với bao biến cố, thăng trầm… Tất cả những điều đó, qua lăng kính của nhà Nho được thể hiện rất sinh động, cụ thể nhưng cũng hàm ẩn yếu tố giáo dục đạo đức Nho gia, thuần phong mỹ tục của dân tộc

Vấn đề chúng tôi muốn đề cập ở đây là ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học Việt Nam thời trung cận đại, mà điểm nhìn soi chiếu là truyện thơ

Trang 30

Nôm với quan niệm "Văn dĩ tải đạo" và "Thi dĩ ngôn chí" Đây được xem là

quan niệm chủ đạo Với quan niệm này, đạo đức vừa là nền tảng vừa là cứu cánh của văn học, thông qua văn học đưa các giáo lý đến với mọi người Từ đó,

chung quanh mối quan hệ giữa văn và đạo cũng đã diễn ra hai khuynh hướng

khác nhau Một khuynh hướng chỉ coi văn là phương tiện đơn thuần để chở đạo Một khuynh hướng vừa coi văn là phương tiện để chở đạo vừa chú trọng

đến tính độc lập tương đối của văn Hai câu thơ của cụ Đồ Chiểu: "Văn chương

ai cũng muốn nghe/ Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần" là thuộc khuynh

hướng thứ hai và là khuynh hướng tối ưu trong sáng tạo nghệ thuật Vấn đề này

là sự kết hợp hài hoà giữa nội dung và hình thức nghệ thuật trong sáng tác văn chương Và điều đó chứng minh rằng truyện thơ Nôm đã tồn tại và phát triển

trên cơ sở của quan điểm văn dĩ tải đạo ở cả hai hướng nhận thức trên

Theo các nhà nghiên cứu, Truyện thơ Nôm có hai loại: Truyện thơ Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học Truyện thơ Nôm bình dân là sáng tác của các nhà Nho không thành đạt, họ sống ẩn dật nơi làng quê, gần gũi với quần chúng lao động, gắn bó với nông thôn, vui thú điền viên Vì vậy mà nội dung của truyện gắn bó chặt chẽ với đời sống lao động của nhân dân, và coi trọng đạo đức Vấn đề trung, hiếu, tiết, nghĩa, đấu tranh bảo vệ tự do, bảo vệ công lý, bảo vệ tình yêu, hạnh phúc là nội dung chủ đạo trong các tác phẩm, được thể hiện với phương thức nghệ thuật hết sức đơn giản Còn truyện Nôm bác học thì nội dung tư tưởng và tính nghệ thuật cao hơn truyện Nôm bình dân Nội dung của truyện Nôm bác học đã tiến xa hơn, hướng đến bảo vệ tình yêu vượt qua các rào cản của lễ giáo phong kiến, bảo vệ tình yêu chân chính Đây là những sáng tác của các nhà Nho có trình độ cao, có khả năng khai thác tâm lý nhân vật, nắm được diễn biến tâm lý nhân vật, xây dựng những tình huống truyện độc đáo, khung cảnh lãng mạn, làm cho tác phẩm thêm phần sinh động và hiện đại hơn

Trang 31

Tác giả của truyện thơ Nôm là những nhà Nho, vì vậy nội dung tư tưởng của các tác phẩm có sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo và lễ giáo phong kiến là điều chúng ta dễ dàng nhận ra Đi vào tìm hiểu các tác phẩm truyện thơ Nôm, chúng ta thấy rất rõ quan niệm về môn đăng hộ đối trong hôn nhân, tư tưởng trung quân của Nho giáo, những quan niệm về trung, hiếu, tiết, nghĩa luôn được ca ngợi trong truyện thơ Nôm, trở thành những điểm sáng về mặt

tư tưởng và lấy đó làm khuôn mẫu, chuẩn mực đạo đức để giáo dục con người Truyện thơ Nôm đã phản ánh khá đầy đủ các mặt của đời sống xã hội phong kiến Mặc dù đề cập đến các vấn đề trung, hiếu, tiết, nghĩa, nhưng truyện thơ Nôm không dừng lại ở việc ca ngợi đạo đức phong kiến theo nhưng khuôn phép, chuẩn mực quy cũ; mà cao hơn, truyện thơ Nôm đã thể hiện được ý chí vươn lên để bảo vệ tình yêu đôi lứa, phản ánh những khát vọng sống mãnh liệt, vượt qua số phận, vượt qua những định kiến để vươn lên và tận hưởng hạnh phúc do mình tạo dựng

Chữ Hiếu là một phạm trù lớn của Nho giáo, khi du nhập vào Việt Nam, cùng với nền tảng đạo đức dân tộc, tư tưởng hiếu thảo được phát triển một cách mạnh mẽ, được thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau của đời sống xã hội, biểu hiện trong các mối quan hệ… Một trong những biểu hiện rõ nét nhất đó là tấm lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ Phạm trù này được biểu hiện rất

rõ nét trong truyện thơ Nôm Đó là hình ảnh của nàng Thoại Khanh (Thoại

Khanh – Châu Tuấn), Cúc Hoa (Tống Trân – Cúc Hoa) đã xóa bỏ ranh giới mẹ

chồng nàng dâu đã ăn sâu trong tiềm thức của người Việt Vương Thúy Kiều

(Truyện Kiều) vì không muốn gia đình vào vòng lao lý, nàng đã quyết định bán

mình để chuộc cha và cứu em trai… Tấm lòng hiếu thảo không chỉ biểu hiện ở các nhân vật nữ, mà ở các nhân vật nam cũng không kém phần Phạm Công nhà nghèo, cha mất sớm, chàng vào núi kiếm củi bán lấy tiền lo ma chay cho cha, rồi dắt mẹ đi xin ăn Ngọc Hoàng cho hai tiên nữ xuống kết duyên với

Trang 32

chàng, nhưng Phạm Công quyết tâm từ chối vì mong muốn toàn tâm, toàn ý lo

cho mẹ Hay nhân vật Lương Sinh trong truyện “Hoa Tiên”, dù đã có hẹn ước từ

trước, trao gởi tình cảm cho nàng Dương Dao Tiên, nhưng cũng vì chữ hiếu, vâng lời cha mẹ, chấp nhận hôn ước theo sự sắp đặt với tiểu thư Lưu Ngọc Khanh:

Dẫu vàng dẫu đá với người Nặng tình đâu dám nhẹ lời song thân

(Hoa Tiên) Với các truyện thơ Nôm bác học, các tác giả đã xây dựng những mối quan hệ tình cảm của các nhân vật ở những hoàn cảnh trái ngược nhau như: Ngọc Hoa con gái của nhà tướng công lại yêu Phạm Tải, một hàn sĩ phải ăn xin

để đi học; nàng Phương Hoa, con gái quan Thượng thư yêu chàng Cảnh Yên, tuy cũng là con một nhà quan nhưng thực tế thì đang ăn xin để nuôi mẹ

“Ăn mày đèn sách gian truân, Khắp chốn xa gần ai thấy cũng thương”

Quan niệm hôn nhân đã có sự thay đổi; những mối tình không cùng giai cấp, không môn đăng hộ đối, không tương xứng địa vị xã hội… đã được phá

vỡ Những mối tình không theo khuôn phép này đến với nhau rất tự nhiên, thuận theo tình cảm, theo sự cảm nhận của cá nhân Chính vì thế mà các mối tình này rất đẹp, rất sâu sắc

Nội dung chính của truyện Nôm bình dân là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cái chính nghĩa với cái gian tà, đồng thời đó cũng là những cuộc đấu tranh để bảo vệ tình nghĩa vợ chồng, bảo vệ gia đình chống lại các nguy cơ làm tan vở nó Với nội dung tập trung phản ánh hiện thực cuộc sống, truyện thơ Nôm đã phê phán, tố cáo xã hội, tố cáo giai cấp thống trị hiếp đáp dân nghèo,

cường hào, cường quyền, những con người ăn ở hai lòng… Ở Truyện Lục Vân

Tiên, Nguyễn Đình Chiểu phản ánh những bậc thư sinh theo học sách thánh

hiền mà lòng dạ nham hiểm, độc ác như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, con người ăn ở

Trang 33

hai lòng Võ Thể Loan…, những tên sai nha đến cướp bóc nhà dân trong đêm

(Truyện Kiều), trắn trợn đòi tiền hối lộ, hình ảnh quan Tổng đốc trọng thần Hồ

Tôn Hiến với những hạ sách vô cùng bẩn thỉu đã lừa gạt Thúy Kiều để hạ gục

Từ Hải

Tình yêu trong truyện thơ Nôm chưa đựng nhiều mâu thuẫn bởi lễ giáo

phong kiến Ở truyện “Hoa Tiên”, mâu thuẫn không thể hiện ở hai tuyến nhân

vật đối lập mà thể hiện ngay ở nhân chính tác phẩm – Lương Sinh, Dao Tiên Một cuộc đấu tranh tâm lý vô cùng cam go và khó khăn giữa khát vọng tự do yêu thương và nề nếp lễ giáo phong kiến Ở mối tình Kim Trọng – Thúy Kiều lại khác, mối tình này đã vượt ra khỏi khuôn phép của Nho giáo, của lễ giáo phong kiến Thúy Kiều đã chủ động hẹn hò với Kim Trọng và hai người đã đính ước với nhau

Sức mạnh đấu tranh được thể hiện rất rõ trong Truyện Lục Vân Tiên,

thông qua các nhân vật ở hai tuyến đối lập, Nguyễn Đình Chiểu không ngần ngại lên án những kẻ hèn nhát, độc ác, những hạn người lòng dạ xấu xa, luôn tìm mọi cách hãm hại người khác để đạt được mục đích mình mong muốn Đối lập với họ là những con người kiên trinh, thủy chung, sống có nghĩa có tình, trọng tình nghĩa, quý huynh đệ; những con người luôn làm những việc tốt đẹp, luôn đem lại niềm vui và hạnh phúc cho mọi người

Trên cơ sở đó, sử dụng Nho giáo như là công cụ để giáo dục mọi người bằng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có truyện thơ Nôm Thông qua các tác phẩm truyện thơ Nôm, cùng với số phận các nhân vật được gởi gắm, các tác gải đã thể hiện sự tiếp biến tư tưởng Nho giáo vào từng hoàn cảnh cụ thể với những khuôn phép phù hợp với truyền thống đạo đức dân tộc Từ nền tảng của Nho giáo, truyện thơ Nôm đã vận dụng và đi sâu vào các mối quan hệ của đời sống xã hội để phán ánh thực trạng, nói lên những tâm tư tình cảm, những

Trang 34

mong ước, khát vọng… đồng thời phê phán những hiện tượng tiêu cực một cách rõ nét, chân thật

Nho giáo đã đưa văn học vào cuộc sống Có thể khẳng định rằng, tính chất nhập thế của Nho giáo đã góp phần hướng văn học vào cuộc sống tạo nên tính chất hiện thực bên cạnh những tính chất khác của văn học Việt Nam trung đại nói chung và truyện thơ Nôm nói riêng

1.3 TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN TRONG DÒNG CHẢY CỦA TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC

1.3.1 Đặc điểm chung của truyện thơ Nôm bác học thế kỷ XIX

Nằm trong hệ thống thể loại văn học chữ Nôm, truyện thơ Nôm có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Nhờ có truyện thư Nôm mà văn học trung đại Việt Nam có thêm nhiều hình ảnh mới về thiên nhiên, đất nước, con người, nét đặc trưng văn hóa…

Trong tiến trình phát triển của văn học, từ nữa cuối thế kỷ XIX, văn học trung đại Việt Nam có sự thay đổi Trào lưu nhân đạo chủ nghĩa gắn với nội dung phê phán các thế lực phong kiến chà đạp con người; phê phán con người, đề cao cuộc sống trần tục đã lui xuống hàng thứ yếu chủ nghĩa yêu

nước được đề cao Và trên hành trình trăm năm nô lệ giặc Tây, truyện thơ

Nôm đã mang đến cho văn học một chức năng mới: chức năng phản ánh hiện thực

Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX phát triển trong bối cảnh lịch sử đầy biến động, vừa có nội chiến vừa hướng tới thống nhất đất nước, vừa xuất hiện phong trào nông dân khởi nghĩa vừa có chống ngoại xâm, vừa có những trang văn đạt tới đỉnh cao vừa mở rộng giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng từ bên ngoài Đội ngũ tác giả chủ yếu là nhà nho nhưng đã có sự phân hóa mạnh mẽ, bao gồm các tầng lớp vua quan và nho sĩ, bác học và bình dân Sáng tác bằng chữ Nôm đạt thành tựu vượt trội so với chữ Hán Các thể loại văn học in đậm

Trang 35

bản sắc dân tộc phát triển lên một tầm cao mới, đưa đến những giá trị thẩm

mỹ giàu tính nhân văn Hiện thực xã hội được phản ánh đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn, mở rộng hơn các sắc thái tình cảm Ý thức con người cá nhân được khai thác từ nhiều góc độ và thể hiện trong nhiều nhân vật điển hình sinh động Tính chức năng, giáo huấn và những quy phạm hình thức ngày càng giảm nhẹ trong khi chất văn chương và kiểu văn học hình tượng ngày càng được phát huy

Văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII-XIX, đặc biệt là truyện thơ Nôm bác học đã mang màu sắc đô thị khá rõ nét Mẫu hình tác giả nhà nho tài tử có đất phát triển Các tác phẩm tập trung thể hiện những nhân vật có cá tính khác biệt nhau, hướng đến giải phóng con người cá nhân và người phụ nữ nói riêng, đề cao hạnh phúc giữa cõi đời trần thế và phê phán mạnh mẽ những thế lực chà đạp quyền sống con người Tất cả hợp lực tạo nên trào lưu nhân văn và xuất hiện nhiều tác phẩm đạt đỉnh cao nghệ thuật so với toàn bộ nền văn học trung đại

Chủ đề tư tưởng của loại truyện thơ Nôm tài tử giai nhân nhìn chung cũng không khác mấy tiểu thuyết tài tử giai nhân của Trung Quốc Thông qua việc miêu tả câu chuyện tình yêu - hôn nhân có tính lí tưởng hóa của đôi tài tử

và giai nhân, tác giả muốn gửi vào đấy khát vọng tự do luyến ái, ước mơ tự

do mưu cầu hạnh phúc hôn nhân của đôi lứa thanh xuân Dù xã hội có đè nén,

lễ giáo phong kiến có khắc nghiệt đến đâu đi nữa, dù có khó khăn trắc trở thì những lứa đôi tài sắc vẹn toàn ấy vẫn đi đến điểm đích cuối cùng là đôi lứa

bên nhau Truyện Kiều thể hiện rõ nét tư tưởng này Nguyễn Du dành một phần tám Truyện Kiều để viết về mối tình tuyệt đẹp của Thúy Kiều – Kim

phải vào lầu xanh, hai lần trú ngụ nơi cửa chùa, rút cuộc vẫn được người yêu

là Kim Trọng đánh giá cao:

Trang 36

“Như nàng lấy hiếu làm trinh, Bụi nào cho đục được mình ấy vay.”

Quan niệm về cái đẹp thuộc về phẩm chất con người cũng có những thay đổi đáng kể so với đạo đức Nho giáo truyền thống, làm nên một bảng màu phạm trù thẩm mỹ với những nét tươi mới, khác biệt so với giai đoạn văn học trước đây

Sơ kính tân trang (1804) là một trường hợp khá thú vị, là tác phẩm có

tính chất tự truyện của Phạm Thái “Đây là tác phẩm viết về một tình yêu tự

do phóng khoáng, vượt ra ngoài khuôn khổ của luân lý, lễ giáo phong kiến” [29; tr 222] Phạm Kim làm bài thơ nói thật lòng mình với người yêu:

“Lửa ân dập mãi sao không tắt

Bể ái khơi mà cũng chẳng vơi…”

Và ngạc nhiên biết bao khi Quỳnh Thư – cô gái sống trong vòng vây của lễ giáo phong kiến “tam tòng tứ đức” đã trả lời cho người tình chưa quen biết của mình bằng những câu thơ chân thành và hết sức phóng khoáng:

“Im ỉm màn sương đợi khách Thênh thênh cửa nguyệt chờ ai Giai nhân tài tử mấy lăm người?

Trạch tưởng tâm tình thêm rối…”

Những con người này đã vượt ra ngoài khuôn khổ của lễ giáo phong kiến để chạy theo cái xúc động của con tim

Truyện thơ Nôm bác học hầu hết đều là sản phẩm của các nhà thơ có trình độ học vấn cao, do đó ngôn ngữ tác phẩm bao giờ cũng được trau chuốt

công phu Trong truyện Nôm Nhị độ mai, chỉ tả cảnh Dương Châu đã tả tỷ mỷ

liền mạch 16 câu thơ đầy sinh động:

“Xưa nay nghe tiếng đồn xa Phồn hoa thứ nhất ấy là Dương Châu

Trang 37

… Chài lan san sát lá tre Chiếc đua mái đẩy, chiếc kề bến neo”

Nhưng đỉnh cao trong nghệ thuật ngôn ngữ truyện thơ Nôm bác học

chính là Truyện Kiều của Nguyễn Du Nguyễn Du đã thâu tóm trong tác phẩm

của mình tinh hoa của ngôn ngữ bác học, tinh hoa của ngôn ngữ bình dân và nhào nặn lại, nâng cao nó

Như vậy hầu hết các truyện thơ Nôm bác học giai đoạn đầu thế kỷ XIX đạt hiệu quả cao khi hướng đến ly tâm chính thống, giải phóng con người cá nhân, khẳng định trào lưu nhân văn, thực hiện “giải Hán hóa”, chống công thức, khuôn phép, lễ nghĩa Nho giáo Điều này thể hiện rõ ở hệ thống chủ đề tình yêu, mô típ “tài tử giai nhân” và việc đề cao quyền sống con người

Tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mặc dù ra đời sau

trong môi trường văn học miền Nam tự nhiên, cởi mở, lại bộc lộ rõ ý thức hệ

và nhân sinh quan của Nho gia Tài năng, phẩm hạnh của tài tử và giai nhân phản ánh rõ mẫu hình lí tưởng của nhà nho Đó chính là điểm khác biệt của

Nguyễn Đình Chiểu khi sáng tác Lục Vân Tiên trong hệ thống truyện thơ

Nôm cùng thời

1.3.2 Đặc điểm riêng của Truyện Lục Vân Tiên

Truyện Lục Vân Tiên là một trong những truyện thơ có đóng góp không

nhỏ vào sự phát triển chung của văn học ở Việt Nam, đây cũng là tác phẩm truyện Nôm bác học có nhiều dị bản nhất Có thể nói việc tìm hiểu nguồn gốc văn bản cũng như xuất xứ của truyện là cả một vấn đề đối với giới nghiên cứu Tuy nhiên đa số các ý kiến đều có một nhận xét chung về thời gian ra đời cũng như hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm

Theo các nhà nghiên cứu, Truyện Lục Vân Tiên được sáng tác vào

khoảng năm 1848, trong thời gian này Nguyễn Đình Chiểu bị mù Nhà nghiên

Trang 38

cứu Nguyễn Phong Nam, tác giả của công trình Nguyễn Đình Chiểu từ quan

điểm thi pháp học [33] đã nhận định “Có nhiều lý do khiến cho sự phân vân

trở nên có cơ sở Trước hết phải kể đến ý kiến của người tiếp xúc với Lục Vân Tiên từ rất sớm như Gabriel Aubaret, Abel de Michel…, những học giả Pháp đã có công sưu tầm và giới thiệu tác phẩm này Học giả Gabriel Aubaret

trong lời nói đầu bản dịch Lục Vân Tiên ra tiếng Pháp (1864) đã nêu khá cặn

kẽ về tình trạng văn bản của tác phẩm này” [33; tr.30] Tác phẩm này được

cho in lần đầu trên Kỷ yếu châu Á, điều này đã cho chúng ta cơ sở để khẳng

định được thời gian ra đời của tác phẩm

Về nguồn gốc ra đời của truyện, nhiều học giả đã xoay quanh câu mở

đầu của tác phẩm “Trước đèn xem truyện Tây minh” Điều này đã dấy lên

nhiều luồng suy luận về xuất xứ của tác phẩm Nhiều học giả cho rằng tác phẩm dựa trên chuyện Tây Minh bên Trung Quốc cũng giống như trường hợp Truyện Kiều của tác giả Nguyễn Du Tác giả Trần Nghĩa [50; tr.435] đã đưa

ra nhiều ý kiến về nguồn gốc của truyện, tác giả đã viện dẫn nhiều ý kiến,

trong đó ý kiến của tác giả Trần Nguyên Hạnh cho rằng hai chữ Tây minh là

tên một tủ sách Tô Đông Pha thời Tống, điều này có thể chứng minh được truyện có nguồn gốc từ Trung Quốc Với học giả người Pháp Abel de Midel

nhận định Tây minh không phải tên một tủ sách, “mà tên một triều đại do

Nguyễn Đình Chiểu tưởng tượng ra Và truyện Tây minh, có nghĩa là một câu chuyện xảy ra trong triều đại tưởng tượng đó” [50; tr.435] Học giả Bajeaux

cũng quan niệm cho rằng Tây minh là tên một cuốn truyện Với các nhà

nghiên cứu tên tuổi trong như Hoàng Ngọc Phách, Lê Trí Viễn, Vũ Đình Liên

khi bàn về nguồn gốc Truyện Lục Vân Tiên, đã cho rằng: “Cứ theo Nguyễn

Đình Chiểu thì Lục Vân Tiên nguồn gốc ở một cuốn tiểu thuyết Trung Quốc nhan đề là truyện Tây minh…Nhưng truyện Tây minh thì đến nay vẫn chưa biết là có hay không vì những bảng kê tác phẩm trong các văn học sử Trung

Trang 39

Quốc không thấy đâu nói đến Cũng có thể là không có cuốn Tây minh nào cả

và cốt truyện Lục Vân Tiên là do tác giả dựa vào thân thế mình và những hiểu biết của mình về truyện Nôm của ta và các tiểu thuyết Trung Quốc mà sáng tạo ra” [50; tr 435]

Từ những cứ liệu nêu trên, chúng ta có cơ sở để khẳng định sự ra đời và nguồn gốc của tác phẩm Mỗi xã hội có những đặc trưng văn hóa, lịch sử khác

nhau và văn học phải phản ánh đúng thực tại của xã hội đó Cho dù Truyện

Lục Vân Tiên có nguồn gốc từ Trung Quốc hay không thì đây được xem là

bản tự truyện của bản thân tác giả Khi con đường công danh của Nguyễn Đình Chiểu không được như mong muốn và gặp những biến cố trong cuộc đời, Cụ Đồ Chiểu vẫn tiếp tục làm công việc mang đầy ý nghĩa nhân văn của một người quân tử: dạy học, bốc thuốc chữa bệnh với mong muốn khai sáng văn hóa dân tộc và đem lại sự bình an cho mọi người Là một nhà nho yêu nước, một thầy Đồ đầy tâm huyết với dân với nước, chúng ta có thể nhận định

rằng tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được viết bằng cả tâm

nguyện, nỗi niềm khát khao của một nhà Nho chân chính và trở thành tác phẩm sáng giá của nền văn học trung đại Việt Nam trong lúc Nho giáo có dấu hiệu suy tàn

Truyện Lục Vân Tiên là một hiện tượng văn học đáng chú ý, ra đời

trong buổi xế chiều của truyện thơ Nôm và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân Trong sâu thẳm, tác phẩm mang dáng dấp cuộc đời, sự nghiệp cũng như những khát vọng cháy bỏng của tác giả; sự bất hạnh, những cảnh đời ngang trái không thể giải bày đã được dầy nén thành kiệt tác có giá trị Điều đặc biệt của tác phẩm không chỉ về mặt nội dung mà ở sự tồn tại khác biệt, tác phẩm không sống trên những trang giấy mà nó được truyền miệng và sống trong lòng người dân lao động Nếu như ở miền Bắc, mọi người xem Truyện Kiều

là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của mình, thì ở miền

Trang 40

Nam, từ người lao động bình dân cho đến những em bé mới được sinh ra đã

nghe những câu hát ru ngọt ngào bằng những vần thơ rất đời thường của Lục

Vân Tiên Điều này đã chứng minh được sức sống mãnh liệt, sự gần gũi và

tình cảm người miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đối với tác phẩm Để làm sáng tỏ sự yêu mến của mọi người với tác phẩm, tác giả Hà

Huy Giáp đã nhận xét: “Chưa nói đến tính bình dị, trong sáng của ngôn ngữ,

tính dân tộc và đại chúng trong các hình tượng nghệ thuật, cái chủ yếu là tác phẩm Lục Vân Tiên đã đáp ứng được cái tinh thần dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, ghét gian ác, “kiến nghĩa bất vi vô dũng giả” của người nông dân miền Nam mà cũng là của mọi người dân Việt Nam chúng ta” [53; tr 40]

tượng văn học đáng chú ý, được phổ biến rộng rãi trong nhân dân Thông qua truyện, người đọc sẽ cảm nhận được những điều mình nên và không nên làm, soi chiếu vào đó để nhìn nhận lại và tự hoàn thiện bản thân mình hơn Luật

nhân quả, quan niệm “Gieo gió gặp bão” vốn dĩ đã ăn sâu vào tiềm thức của

người Việt Vì thế hơn bao giờ hết, con người luôn ý thức được hậu quả những việc mình làm và luôn hướng thiện nhằm giữ được cốt cách, nhân phẩm Chính vì thế mà họ rất quý mến chàng trai họ Lục, con người rất nghĩa

hiệp, con người quân tử “Giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”; con

người có tấm lòng trung hiếu, thủy chung Khâm phục sự kiên trinh của nàng Nguyệt Nga; tấm lòng nghĩa tình sâu đậm của Hớn Minh, Tử Trực biết phân biệt đúng sai, làm việc chính nghĩa chẳng sợ cường quyền; quý trọng những con người nghèo vật chất nhưng rất đầy nghĩa tình như ông Ngư, ông Tiều, ông Quán

Truyện Lục Vân Tiên là điểm nhấn quan trọng để nhìn thấy dấu ấn văn

hóa Nam bộ qua tác phẩm Sức ảnh hưởng của truyện đã khiến các nhà nghiên cứu phải ngỡ ngàng Các điệu hò, câu hát dân ca của người Nam bộ đều lấy

Ngày đăng: 15/05/2021, 14:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường (1999) - Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX - Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
[2] Bùi Thanh Ba (1972) - Báo Tân Việt Hoa số 5354, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Tân Việt Hoa số 5354
[3] An Cƣ (1967) - Đồng Nai văn tập số 15, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Nai văn tập số 15
[4] Hà Nhƣ Chi (2000) - Việt Nam thi văn giảng luận - Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn giảng luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
[5] Nguyễn Văn Dần (1976) - Tạp chí văn học số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí văn học số 2
[6] Xuân Diệu (1998) - Các nhà thơ cổ điển Việt Nam - Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam -
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
[7] Ngô Viết Dinh (2002) - Đến với thơ Nguyễn Đình Chiểu - Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Nguyễn Đình Chiểu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
[8] Nguyễn Văn Đạm (2004) - Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt - Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
[9] Hà Minh Đức và Bùi Văn Nguyên (2006) - Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
[10] Cao Huy Đỉnh (1974) - Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam - Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[11] Phạm Thanh Điệp, Nguyễn Thị Hồng (2008) - Lục Vân Tiên tác phẩm và lời bình - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lục Vân Tiên tác phẩm và lời bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
[12] Bảo Định Giang (2001) - Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam Bộ nửa sau thế kỉ XIX - Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam Bộ nửa sau thế kỉ XIX
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
[13] Đoàn Lê Giang (2005 -2012) - Đề cương bài giảng Thi pháp văn học cổ điển Việt Nam - Trường Đại học KHXH&NV TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng Thi pháp văn học cổ điển Việt Nam
[14] Đoàn Lê Giang (2000), Nguyễn Đình Chiểu trong văn nghệ của dân tộc, Nhà xuất bản trẻ - Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chiểu trong văn nghệ của dân tộc, Nhà xuất bản trẻ
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ" - Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TPHCM
Năm: 2000
[15] Nguyễn Thạch Giang, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lâm (1980) - Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (tập 1) - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chiểu toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
[16] Nguyễn Thạch Giang (2000) - Từ ngữ - thơ văn Nguyễn Đình Chiểu - Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ - thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
[17] Nguyễn Thiện Giáp (1995) - Cơ sở ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học -
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[18] Trần Văn Giàu, (1983), Nguyễn Đình Chiểu - Đạo làm người, Nhà xuất bản Sở VHTT Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo làm người
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nhà xuất bản Sở VHTT Long An
Năm: 1983
[19] Dương Quảng Hàm (1996) - Việt Nam văn học sử yếu - Nhà xuất bản Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhà văn
[20] Dương Quảng Hàm (2010) - Văn học Việt Nam - Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam -
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w