1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết đoàn lê

111 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người đọc nhớ Đoàn Lê là nhớ tới những tác phẩm văn xuôi của bà, các truyện ngắn viết về Xóm Chùa, về những thân phận người trong cuộc sống đương đại và nhất là hai cuốn tiểu thuyết mới

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ THỊ OANH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, Năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi khảo sát 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Cấu trúc của luận văn 7

CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ TRONG SỰ ĐỔI MỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 8

1.1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM

ĐƯƠNG ĐẠI 8

1.1.1 Khái niệm “Thế giới nghệ thuật” 8

1.1.2 Hướng tiếp cận hiện thực mới trong tiểu thuyết đương đại 10

1.1.3 Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam trên bình diện nghệ thuật 18

1.2 ĐOÀN LÊ - NỮ SĨ “TÌNH NGƯỜI ĐA ĐOAN” 20

1.2.1 Đoàn Lê - “Ngày chị sinh trời cho làm thơ” 20

1.2.2 Tiểu thuyết Đoàn Lê trên con đường đổi mới 24

CHƯƠNG 2 BỨC TRANH CUỘC SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ 28

2.1 “XÓM CHÙA”- BIỂU TƯỢNG HIỆN THỰC TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ 28

2.1.1 Làng quê Việt Nam - hình ảnh “xóm Chùa” trong thời kì đổi mới 28

2.1.2 Không gian nông thôn Việt Nam vừa bình dị vừa dữ dội 33

2.2 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ 44

2.2.1 Con người hiện đại với những mảng màu tiêu biểu 44

2.2.2 Con người luôn bị ám ảnh bởi những hồi ức quá khứ 54

Trang 4

2.2.3 Nhân vật - dòng họ, một đóng góp mới của Đoàn Lê 63

CHƯƠNG 3 NHỮNG THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ 71

3.1 MỘT KẾT CẤU VỪA TRUYỀN THỐNG VỪA CÁCH TÂN 71

3.1.1 Kết cấu truyện mang đặc trưng truyền thống 71

3.1.2 Những dấu hiệu đổi mới trong kết cấu truyện của Đoàn Lê 73

3.2 GIỌNG ĐIỆU 82

3.2.1.Giọng triết lý chiêm nghiệm 82

3.2.2 Giọng trữ tình, sâu lắng 86

3.2.3 Giọng hài hước, hóm hỉnh 89

3.3 NGÔN NGỮ 92

3.3.1 Ngôn ngữ giàu sắc màu qua con mắt họa sĩ tài năng 92

3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại sắc sảo 95

3.3.3 Ngôn ngữ độc thoại trĩu nặng tâm tư 98

KẾT LUẬN 101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học Việt Nam sau 1975, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đã

có sự biến chuyển mạnh mẽ mà một trong những chuyển biến ấy là đội ngũ đông đảo những nhà văn nữ Với những tác giả nữ sáng tác từ trước 1975, một mặt họ tiếp tục cảm hứng sáng tác đã có trước đây, mặt khác bản thân mỗi người từng bước thay đổi cách tiếp cận, cách viết như Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Như Trang, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn,… Đội ngũ này tiếp tục được bổ sung lực lượng đông đảo, trẻ, sung sức, có sức bật mới như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thị Trường, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Ngọc Tư,…Sự xuất hiện của các cây bút nữ đã phần nào làm nên diện mạo mới cho nền văn học Việt Nam đương đại Trên hành trình xây dựng và phát triển của nền văn học

ấy, mỗi tác giả đều tự đi tìm cho mình một chỗ đứng bằng nỗ lực tạo nên cá tính sáng tạo riêng, độc đáo Đoàn Lê là một trong những cây bút thuộc đội quân đông đảo của nền văn học Việt Nam vắt qua hai thế hệ Là một phụ nữ

đa tài, Đoàn Lê thành công trên nhiều lĩnh vực hoạt động nghệ thuật: bà vừa

là nhà văn, họa sĩ, diễn viên, nhà biên kịch, đạo diễn, và lĩnh vực nào bà cũng để lại dấu ấn của mình Nhưng tên tuổi Đoàn Lê lại gắn bó nhiều nhất với văn chương Người đọc nhớ Đoàn Lê là nhớ tới những tác phẩm văn xuôi của bà, các truyện ngắn viết về Xóm Chùa, về những thân phận người trong cuộc sống đương đại và nhất là hai cuốn tiểu thuyết mới lạ với lối viết độc đáo, vừa giành được giải thưởng lớn

1.2 Sáng tác văn chương từ những năm 1960, nhưng phải đến khi tiểu

thuyết “Cuốn gia phả để lại” ra đời (1988), độc giả mới thực sự quan tâm tới

cái tên Đoàn Lê Nhờ sự chững chạc trong bố cục, mạch lạc trong diễn ngôn, lại có phong cách độc đáo, cuốn tiểu thuyết đã giành được giải thưởng của

Trang 6

Hội nhà Văn Việt Nam Cũng từ đây, Đoàn Lê đã tìm được chỗ đứng của mình trên văn đàn Việt trong đội ngũ đông đảo các nhà văn Trong khoảng 20 năm lại đây, tác phẩm của Đoàn Lê được xuất bản khá nhiều, tên tuổi Đoàn

Lê cũng trở nên quen thuộc hơn với độc giả Những truyện ngắn của Đoàn Lê

đã từng gây tiếng vang trên văn đàn bởi cách viết luôn đổi mới, biến hóa qua từng tác phẩm, chuyển tải một nội dung phong phú, đem đến cảm giác tươi mới cho người đọc và không ít truyện đã được giới thiệu ra nước ngoài Nhiều sáng tác của Đoàn Lê được chọn in trong những tuyển tập đặc sắc như truyện

ngắn Đất xóm Chùa được in trong tập Truyện ngắn đầu tay của các nhà văn

Việt Nam; truyện ngắn Cô Khịt được tin trong tập Truyện ngắn Việt Nam thời

kì đổi mới… Các truyện ngắn khác đều được chọn in chung cùng nhiều tác

giả với các tiêu chí chọn lọc khác nhau Riêng tiểu thuyết là thể loại đem đến cho Đoàn Lê vị trí vững chãi trong đội ngũ các cây bút của thể loại này: trong

số 4 tiểu thuyết của bà thì đã có một nửa giành được giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam Điều đó cho thấy sự quan tâm cũng như dấu ấn rõ nét của Đoàn Lê để lại trong lòng công chúng

Rõ ràng, nữ nhà văn đa tài trên nhiều lĩnh vực này thực sự xứng đáng là

một đối tượng nghiên cứu Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài “Thế giới nghệ

thuật trong tiểu thuyết Đoàn Lê” với mong muốn đi sâu khám phá thế giới

nghệ thuật trong các tác phẩm của bà, cố gắng nhìn nhận những nét đặc sắc, độc đáo thể hiện trong thế giới nghệ thật ấy, từ đó nhận diện sự đóng góp của

bà vào nền văn học Việt Nam hiện đại

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những bài viết mang tính khái quát

Từ bài thơ đầu tiên đến thời điểm hiện tại, Đoàn Lê đã có hơn 50 năm cầm bút Riêng 20 năm gần đây bà sáng tác không ngừng nghỉ, cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị Các tác phẩm của Đoàn Lê đã tìm được sự neo đậu trong lòng người đọc cũng như ghi dấu ấn của mình trong nền văn học nước

Trang 7

nhà qua các giải thưởng lớn dành cho 2 cuốn tiểu thuyết Tuy nhiên cho đến nay, có không nhiều công trình nghiên cứu về văn chương Đoàn Lê nói chung

và tiểu thuyết của Đoàn Lê nói riêng Có chăng là những bài viết, lời nhận xét

của một số tác giả về Đoàn Lê một cách ngắn gọn, hay mới chỉ nêu nhận xét qua một tác phẩm cụ thể mà thôi Trong số đó, các công trình tập trung nói về truyện ngắn của bà nhiều hơn, riêng hai cuốn tiểu thuyết (mà một trong hai cuốn đoạt giải thưởng Hội Nhà văn) thì lại càng ít thấy đề cập Xin mượn một

câu Đoàn Lê viết trong tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại: “Tại sao vô lý thế?”

để cất lên tiếng nói không chỉ của bà mà của người đọc bây giờ! Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu liên quan đến tác giả Đoàn Lê như sau: Trước hết là sự ghi nhận của các nhà nghiên cứu về sự đóng góp to lớn của đội ngũ nữ văn sĩ, trong đó có Đoàn Lê, trong sự đổi mới nền văn học nước nhà Tác giả Vương Trí Nhàn khi lý giải về sự xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ sau 1975 đã cho rằng: “Phụ nữ bắt mạch nhanh hơn nam giới

Họ luôn gần gũi với cái lỉnh kỉnh dở dang của cuộc sống Mặt khác, với cái cực đoan sẵn có - tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng, mà nhỏ nhen, chấp nhặt, dữ dằn cũng không ai bằng, từng cây bút đã tìm ra mặt mạnh của mình khá sớm, định hình khá sớm” [42] Có lẽ với nét riêng đó mà cách nhìn hiện thực,con người cũng như những sáng tạo nghệ thuật cùng cách lựa chọn đề tài, xử lý tình huống,… đã tạo nên những sự khác biệt, mang đậm dấu ấn của các cây bút nữ đối với văn chương đương đại

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh khi nhận xét về sáng tác của Đoàn Lê đã viết: “Truyện ngắn Đoàn Lê lúc thì đằm thắm, trữ tình, lúc thì hiện thực sắc sảo Có lúc táo bạo, hiện đại bất ngờ, có lúc trẻ trung thổn thức như một cô gái mới lớn” [61] Ở lĩnh vực tiểu thuyết, ông cho rằng: “Phải nói rằng tiểu thuyết của Đoàn Lê cũng đặc sắc không kém gì truyện ngắn của chị Sau khi Cuốn gia phả để lại ra đời, độc giả hoan nghênh và nhận thấy ngay đây là một nhà tiểu thuyết chững chạc Sang đến Tiền định, ta thấy tác giả đã tiến lên

Trang 8

một bước hoàn toàn mới Điều hoan nghênh đầu tiên là tác giả đã vượt lên chính mình” [61] Cái “vượt lên chính mình” ấy theo Nguyễn Xuân Khánh là:

“Nếu như ở cuốn trước tác giả thiên về miêu tả sự việc thì sang cuốn này tác giả thiên về tâm trạng và số phận nhân vật Nội dung cuốn sách mới này cũng rộng rãi, khái quát hơn Nhất là cách viết của tác giả, có nhiều đổi mới” [61] Nhận xét của nhà văn Vũ Xuân Khánh là sự phác họa khá đầy đủ hành trình sáng tạo cũng như đặc điểm sáng tác trong các tác phẩm văn chương của Đoàn Lê Đó là lối viết đầy sự đổi mới và sáng tạo trong hình thức tưởng như

cũ, nhờ thế mỗi tác phẩm ra đời là một sự tiến bộ, phát triển đi lên và ghi dấu

ấn của mình trong lòng độc giả mà không bị lu mờ Cũng trong bài viết này, nhà văn Vũ Xuân Khánh đã chỉ ra những điểm đổi mới, đặc sắc của Đoàn Lê

mà không phải nữ văn sĩ nào cũng làm được

Riêng đối với hình ảnh xóm Chùa - địa danh trở đi trở lại trong tác phẩm Đoàn Lê cả trong truyện ngắn lẫn tiểu thuyết, đến mức trở thành một biểu tượng nghệ thuật GS Nguyễn Lân Dũng khẳng định: “Xóm Chùa là tên một làng quê được nhắc đến trong nhiều truyện ngắn của nữ tác giả Đoàn Lê (…) Tôi khâm phục văn tài của Đoàn Lê vì chị đã làm cho người đọc không thể không khắc khoải suy nghĩ và lo âu cho tương lai của nông thôn nước ta trước những diễn biến đi ngược lại với truyền thống nhân văn, nhân ái qua

hàng nghìn năm qua ” [7]. Qua đó có thể thấy rằng, tác phẩm của Đoàn Lê

luôn chứa đựng những giá trị hiện thực làm người đọc luôn trăn trở, ngẫm ngợi về “tương lai của nông thôn nước ta trước những diễn biến đi ngược lại với truyền thống nhân văn, nhân ái qua hàng nghìn năm qua” Về hình tượng xóm Chùa, luận văn chúng tôi cũng sẽ có những cái nhìn cụ thể hơn để lí giải nhận xét này của GS Nguyễn Lân Dũng

Nhà văn Hồ Anh Thái đã dùng 14 trang để “dựng” chân dung văn học Đoàn Lê, từ đây ông có thể khái quát được tương đối thỏa đáng về nữ nghệ sĩ

đa tài và đa đoan này Đoạn đối thoại sau đây cho chúng ta hình dung Đoàn

Trang 9

Lê: “- Chị có bao giờ nghĩ rằng chị thực sự là ai? Họa sĩ? Đạo diễn? Biên

kịch? Nhà thơ? Hay nhà văn? - Không biết được Có khi phải làm thơ, có khi

phải vẽ, khi thì viết văn, tùy theo tâm trạng”,“- Tôi thì tôi biết Chị là nhà văn, văn xuôi mới đúng là chị, đúng nhất” [51, tr 26] Cũng trong bài viết này Hồ Anh Thái đã nhận xét về cuốn tiểu thuyết đầu tay của Đoàn Lê như sau:

“Cuốn gia phả để lại, càng đọc mới càng ngớ ra, như là lâu nay mình hiểu sai

về một con người Cuốn sách chứng tỏ một tay nghề tiểu thuyết chững chạc” [51, tr 39]

Ở luận án Tiến sĩ của tác giả Bùi Thanh Truyền “Yếu tố kỳ ảo trong

truyện ngắn đương đại Việt Nam” đã khảo sát các truyện ngắn Việt Nam

đương đại, trong đó có truyện ngắn “Nghĩa địa xóm Chùa” của Đoàn Lê từ

góc nhìn yếu tố ma quái, thần kỳ

Luận văn Thạc sĩ của tác giả Vũ Thúy Hằng với đề tài “Thế giới nghệ

thuật trong truyện ngắn của Đoàn Lê” đã có những đánh giá tương đối đầy đủ

về Đoàn Lê về mảng truyện ngắn Đặc biệt, bên cạnh việc đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đoàn Lê một cách có hệ thống thì luận văn cũng đã tiếp cận một vài đặc trưng cơ bản của văn học đương đại

2.2 Một số công trình nghiên cứu đề cập đến tiểu thuyết Đoàn Lê

Cũng trong cuốn sách Họ trở thành nhân vật của tôi, Hồ Anh Thái đã dành những lời đánh giá Cuốn gia phả để lại của Đoàn Lê một cách trang

trọng: “Cuốn sách chứng tỏ một tay nghề tiểu thuyết chững chạc Tổ chức ngăn nắp các đường dây nhân vật, khéo léo lách qua cái mê cung nhân vật chằng chịt ấy để tới được cái đích của mình Nhân vật của chị không chỉ là những số phận cá thể sinh động, mà là cả một dòng họ Chẳng dễ dàng gì mà làm cho cái nhân vật - tập thể này ra hồn ra vía một nhân vật, gây được ấn tượng là nhân vật có số phận và khúc quanh phát triển số phận khá phức tạp”

[51, tr 39] Ở chỗ khác, Hồ Anh Thái lại dành những lời tốt đẹp của người trong nghề đối với đồng nghiệp: “Một điều đáng kể nữa ở Cuốn gia phả để

Trang 10

lại là ngôn ngữ, một thứ ngôn ngữ dịu dàng nền nã mà hóm hỉnh, được tiếp tục ở những tác phẩm văn học sau này của Đoàn Lê” [51, tr 39]

Luận văn Thạc sĩ của tác giả Mai Thị Ánh Tuyết với đề tài “Đặc trưng

nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Lê” khai thác nghiêng về phương diện nghệ thuật

trong tiểu thuyết Đoàn Lê Gần đây, Đoàn Lê còn được tiếp tục nghiên cứu nhiều hơn qua một số khóa luận ở các trường đại học

Như vậy, qua những công trình của các nhà nghiên cứu, của bạn đọc về Đoàn Lê nói riêng và văn chương nói chung, đã phần nào khẳng định: sáng tác của Đoàn Lê đã được chú ý nghiên cứu và khái quát được những điểm độc đáo, đổi mới trong các tác phẩm của bà Tuy nhiên, do tính mục đích của mỗi công trình nên những nhận định, đánh giá sáng tác của Đoàn Lê chỉ từ một góc nhìn, chưa có điều kiện tìm hiểu sâu rộng, nhất là trong tiểu thuyết của bà Tiếp thu

những công trình đi trước, luận văn Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết

Đoàn Lê của chúng tôi cố gắng đi sâu hơn vào tiểu thuyết Đoàn Lê từ thế giới

nghệ thuật với mong muốn tiếp cận tiểu thuyết bà một cách đầy đủ và khái quát hơn, từ đó chỉ ra được những đóng góp của bà ở thể loại này

3 Đối tượng và phạm vi khảo sát

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật qua

một số tiểu thuyết của Đoàn Lê trên các phương diện: cảm hứng nghệ thuật, thế giới nhân vật, một số phương thức biểu hiện

- Phạm vi khảo sát: Luận văn tập trung khảo sát 2 cuốn tiểu thuyết nổi

bật nhất của Đoàn Lê

+ “Cuốn gia phả để lại” - tái bản năm 2009, NXB Văn học

+ “Tiền định”, 2010, NXB Hội Nhà văn

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu các truyện ngắn, các tiểu thuyết khác của Đoàn Lê cũng như của một số tác giả cùng thời để có cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp: phương pháp này được vận dụng để phân tích những đặc điểm về hình thức, nội dung cũng như giá trị nghệ thuật,

từ đó khái quát thế giới nghệ thuật trong các tác phẩm của Đoàn Lê

- Phương pháp khảo sát thống kê: kết hợp phân tích 2 tiểu thuyết, tìm ra những cứ liệu xác thực, cụ thể, lập bảng, biểu (nếu có) để nhận thấy rõ hơn

- Phương pháp so sánh: vận dụng phương pháp này chúng tôi cố gắng tìm hiểu những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Đoàn Lê, đ ặ t n ó t r o n g mố i q uan hệ với các nhà tiểu thuyết cùng thời và trước đó để nhận ra đóng góp của tiểu thuyết Đoàn Lê

- Phương pháp vận dụng lý thuyết thi pháp học: Đề tài nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Lê Vì vậy ở đề tài này, chúng tôi vận dụng lý thuyết thi pháp học vào việc tìm hiểu khái niệm về “thế giới nghệ thuật” và triển khai đề tài theo hướng thi pháp học

5 Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần khẳng định vị trí của Đoàn Lê trong nền văn học Việt Nam đương đại Có thể dùng làm tư liệu cho những ai quan tâm về tiểu thuyêt Đoàn Lê

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn

gồm có 3 chương:

Chương 1: Tiểu thuyết Đoàn Lê trong sự đổi mới thế giới nghệ thuật của

tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Chương 2: Bức tranh cuộc sống xã hội Việt Nam trong tiểu thuyết

Đoàn Lê

Chương 3: Một số thủ pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Lê

Trang 12

1.1.1 Khái niệm “Thế giới nghệ thuật”

“Thế giới nghệ thuật” là khái niệm được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu văn học của nhiều tác giả, trong đó, mỗi tác giả đều có những quan niệm và cách hiểu của riêng mình Đáng chú ý là một số công

trình nghiên cứu nhắc đến “Thế giới nghệ thuật” như: Lý luận văn học (Nhiều tác giả, Phương Lựu chủ biên, tái bản 1997, NXB Giáo dục, Hà Nội); 150

Thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân biên soạn, 1999, NXB ĐHQG Hà Nội);

Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng

chủ biên, 1999, NXB Văn học, Hà Nội); Cuốn Con đường đi vào thế giới

nghệ thật của nhà văn ( Nguyễn Đăng Mạnh, 2007, NXB Giáo dục - Hà Nội)

Ở luận văn này, chúng tôi chọn khái niệm thế giới nghệ thuật trong cuốn Từ

điển thuật ngữ văn học của ba tác giả đồng chủ biên nói trên: “Thế giới nghệ

thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo

ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan

hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng…chỉ xuất hiện một cách có ước lệ trong sáng tác nghệ thuật (…) Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới (…) khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng

Trang 13

tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ” [19, tr 302-303]

Như vậy, có thể hiểu “Thế giới nghệ thuật” là toàn bộ các phương diện nội dung và hình thức nằm trong chỉnh thể thẩm mĩ Nó được bắt nguồn từ thế giới quan, đặc điểm văn hóa và cảm hứng thời đại, vừa được xây dựng bằng hệ thống nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật vừa bị chi phối bởi cá tính sáng tạo của người sáng tác Thế giới nghệ thuật tuy là sự phản ánh thế giới hiện thực nhưng lại mang tính độc lập tương đối so với thế giới hiện thực mà nó phản ánh Nghệ thuật chỉ phản ánh đời sống như là một thuộc tính chứ không sao chép nguyên xi đời sống hiện thực vào tác phẩm Thế giới nghệ thuật dù xuất phát từ thế giới hiện thực nhưng là sản phẩm tinh thần, là kết quả của sự sáng tạo, chỉ có trong tác phẩm nghệ thuật mà không trùng khít với hiện thực Hay nói cách khác, thế giới nghệ thuật chính là sự phản ánh hiện thực bằng những xúc cảm thẩm mỹ, cảm hứng nghệ thuật của người nghệ sĩ, đặc biệt là đối với loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu để xây dựng nên hình tượng nghệ thuật

Đối tượng nhận thức của sáng tạo nghệ thuật đó không phải là những điều đã được nhìn thấy một cách thờ ơ mà là những xúc cảm thẩm mỹ, bằng

sự quan sát tinh tế cùng sự rung cảm sâu sắc của nhà văn, để từ đó họ có được những tình cảm xuất phát từ nội tâm như vui, buồn, hờn, giận, yêu, ghét, hạnh phúc, khổ đau, cô đơn,…Từ những cung bậc cảm xúc, những cung bậc biểu hiện tình cảm ấy sẽ khơi gợi và cấp cho nhà văn cái nhìn về các hiện tượng xã hội Tất cả được phản ánh trong tác phẩm tạo thành nội dung cảm hứng của tác phẩm Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học bao gồm nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất để hình thành thế giới ấy vẫn

là cảm hứng nghệ thuật Đó là một tình cảm xã hội được ý thức, nó đem đến cho tác phẩm một không khí cảm xúc nhất định, tác động mạnh mẽ đến

Trang 14

người đọc Cảm hứng nghệ thuật thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố nội dung cũng như hình thức của tác phẩm như: cốt truyện, kết cấu, xung đột,

nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ Trong đó, nhân vật là nơi biểu hiện rõ nhất

và trọn vẹn nhất cảm hứng nghệ thuật của nhà văn Trong sáng tác nghệ

thuật, cảm hứng được biểu hiện ở mọi biến thể, nhưng tất cả đều là sự ý

thức về mặt tư tưởng và sự đánh giá về mặt cảm xúc

Giữa cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật trong sáng tác của nhà văn thường có mối quan hệ gắn kết mang tính hô ứng, tương giao: Cảm hứng nào thì nhân vật ấy và ngược lại Mỗi nhân vật luôn gắn với một cảm hứng hoặc một phương diện nào đó của cảm hứng nghệ thuật Tìm hiểu sự thể hiện con người trong văn học thông qua thế giới nhân vật, trong mối quan hệ phù hợp và hô ứng với cảm hứng nghệ thuật của nhà văn là tìm hiểu một phương diện cơ bản trong thế giới nghệ thuật của nhà văn, góp phần quan trọng vào việc xác định phong cách nghệ thuật của nhà văn

1.1.2 Hướng tiếp cận hiện thực mới trong tiểu thuyết đương đại

a Dòng tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1945 đến 1985

Tiểu thuyết với những đặc trưng thể loại đã phát triển và chiếm giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam Ngay từ khi được du nhập và phát triển ở Việt Nam, tiểu thuyết trở thành phương tiện ưu trội để nhà văn giải quyết những nhu cầu bức thiết của đời sống văn học Người ta đặt ra yêu cầu cho một thể loại văn xuôi tự sự có dung lượng lớn phản ánh bao quát và đầy đặn những vấn đề quan trọng, nóng bỏng của xã hội, đặc biệt là sự đấu tranh và phân hoá giai cấp, tầng lớp, thế hệ ngày càng trở nên mạnh mẽ và sâu sắc trong xã hội Việt Nam Từ quan niệm về sứ mệnh văn chương, Vũ Trọng Phụng đã cho rằng “văn chương là một phương tiện tranh đấu của những người cầm bút muốn loại khỏi xã hội con người những bất công, nhen lên trong lòng người nỗi xót thương đối với kẻ bị chà đạp lên nhân phẩm, kẻ yếu,

Trang 15

kẻ bị đầy đoạ vào cảnh ngu tối, bị bóc lột, mỗi ngày kiếm ra đủ ăn bữa tối để nhịn sáng hôm sau” [41, tr 107-108]

Với quan niệm đó, chúng ta đã có hàng loạt tiểu thuyết ra đời: Số đỏ,

Giông tố, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng; Bước đường cùng (Nguyễn Công

Hoan); Tắt đèn (Ngô Tất Tố); Sống mòn của Nam Cao, hoặc của các tác giả

Khái Hưng, Nhất Linh, Lê Văn Trương, Hoàng Đạo, Thạch Lam,…trong

nhóm Tiểu thuyết thứ Bảy ở thời kỳ 1932 - 1945

Sau 1945, hiện thực đời sống chuyển sang một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử: một nhà nước, một thể chế, một hệ tư tưởng, một quan niệm nghệ thuật,…ra đời, đòi hỏi nhà văn phải thay đổi cách nhìn hiện thực, con người để tạo nên một thế giới nghệ thuật mới Một nửa đất nước từ vĩ tuyến

17 trở ra, giờ đây sống trong chế độ mới ở miền Bắc Nền nghệ thuật mới

được xác định theo tinh thần của Đảng Lao động Việt Nam: “Văn hóa nghệ

thuật cũng là một mặt trận Anh chị em nghệ sĩ là những chiến sĩ trên mặt trận ấy” đã làm nên một đội ngũ nhà văn - chiến sĩ bao gồm những nhà văn

lớp trước tình nguyện thay đổi thế giới quan, đi theo cách mạng và lớp thế hệ nhà văn mới trưởng thành trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Với tư cách là “cội nguồn trong thế giới quan”,

hiện thực mới đòi hỏi các nhà văn - chiến sĩ phải có một “cách cắt nghĩa về

thế giới” mới phù hợp với hiện thực đó

Nhà văn phải có những thay đổi trong việc lựa chọn đề tài, hệ thống nhân vật, quan niệm cuộc đời, không gian, thời gian,…mang một cảm quan khác Chẳng hạn, giờ đây không thể mải mê với cái cô đơn, sầu não, trốn tránh cuộc đời, bế tắc trong cái nhìn tương lai v.v…mà phải thâm nhập sâu vào đời sống nóng bỏng của hiện thực với một tâm thế, tư thế tự hào, hào hứng, nhìn về tương lai một cách tươi sáng, lạc quan Thế giới nghệ thuật trong những tác phẩm của họ tuy có những mảng màu xám tối, ác liệt, tổn

Trang 16

thất,…nhưng những điều ấy là để tôn vinh cái hiện thực sáng sủa của tương lai chắc chắn sẽ tới; con người có thể phải chịu đựng những qian khổ, hi sinh, sai lầm, khuyết điểm…nhưng chắc chắn sống trong xã hội ấy, được sự thử thách, giáo dục của xã hội ấy, cuối cùng tất yếu họ phải trở nên những con người tốt, hướng về tương lai với một niềm tin cách mạng chứ không phải là một sự bế tắc như những anh Pha, chị Dậu, Chí Phèo, thị Mịch…trước đây Chúng ta gặp trong tiểu thuyết thời kỳ này những thế giới nghệ thuật với không gian công cộng rộng mở; thời gian dành chủ yếu cho cái chung của Cách mạng; nhân vật chính diện là những anh hùng làm nên giọng điệu ngợi

ca hào sảng; cái ác liệt, gian nan, mất mát…làm nền cho cái hùng vĩ, hoành tráng của hiện thực, con người Tư tưởng nghệ thuật này đã làm nên dòng văn học sử thi với tất cả những thành công và hạn chế không tránh khỏi của nó, kéo dài suốt từ 1945 cho đến 1975, sang đến 1985 theo vết trượt của “quán tính sử thi” 40 năm ấy, chúng ta đã có một đội ngũ nhà văn đông đảo gồm 4

thế hệ với một khối lượng tiểu thuyết đồ sộ: Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Người mẹ cầm súng, Ở xã

Trung Nghĩa (Nguyễn Thi), Cao điểm cuối cùng, Vùng trời (Hữu Mai), Hòn Đất (Anh Đức), Dòng sông phẳng lặng (Tô Nhuận Vỹ), Dấu chân người lính

(Nguyễn Minh Châu), Sao Mai (Dũng Hà), Mặt trận trên cao, Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Trước giờ nổ súng, Mẫn và tôi (Phan Tứ), Bão biển (Chu Văn),

Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Đất làng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Ao làng (Ngô Ngọc Bội), Nắng (Nguyễn Thế Phương), Đường qua làng Hạ

(Nguyễn Khắc Phê), .tất cả đều xây dựng nên những hình tượng nhân vật điển hình, phản ánh những khía cạnh khác nhau của cuộc sống con người trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, xây dựng xã hội chủ nghĩa Cuộc sống và nhân vật trong tác phẩm đạt đến cái đẹp lý tưởng, chiến công đạt đến tuyệt đối, người ta dường như bỏ qua những nỗi đau, những mất mát,

Trang 17

những ý thức cá nhân để hướng tất cả là về cộng đồng, về cái chung tập thể, làm nên cảm hứng sử thi trong nền văn học cách mạng

Trong 30 năm này, dân tộc ta còn một dòng văn học nữa song song tồn tại, đó là dòng văn học đô thị miền Nam với những nhà văn, nhà thơ tên tuổi:

Võ Phiến (Tràng Thiên), Duyên Anh, Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca, Nguyên

Sa, Nguyễn Bắc Sơn, nhưng không thuộc phạm vi tìm hiểu của luận văn này

Từ sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối, hiện thực thay đổi với những lo toan mới, xung đột mới, thang bậc giá trị mới, nhu cầu sống mới của con người,…Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết nói riêng, tác phẩm văn chương nói chung không thể chỉ được xây dựng như

cũ Tuy nhiên, như đã nói trên, do “quán tính sử thi” nên vấn đề quan niệm nghệ thuật và con người, cho dù đã có một số điểm tiếp cận mới, song nhìn chung vẫn còn tồn tại dấu vết của cách viết cũ và kéo sang tận năm 1985,

trước thời kỳ Đổi mới 1986 Khuynh hướng ấy được thể hiện trong những Đất

trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Đất miền Đông (Nam Hà), Người cùng quê

(Phan Tứ), Gặp gỡ cuối năm, Vòng xoáy đến vô cùng (Nguyễn Khải), Nắng

đồng bằng (Chu Lai)…Từ năm 1986, với Nghị quyết VI của Đại hội Đảng

toàn quốc chủ trương đổi mới toàn diện, triệt để trên mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có “cởi trói” cho văn học nghệ thuật khỏi định hướng hẹp, văn chương bắt đầu bước vào những thay đổi lớn lao Tiểu thuyết giờ đây quan tâm tới những số phận con người đời thường, đi sâu vào hiện thực tới tận những “góc khuất”, “nét nhòe”, “điểm mờ” của cuộc sống Kiểu nhân vật số phận xuất hiện ngày càng xu nhiều trong tiểu thuyết, thậm chí trở thành nhân vật chính, nhân vật trung tâm

Do “quán tính” nên những năm sau 1975, đề tài về chiến tranh vẫn được khai thác nhưng được đặt ở một góc nhìn khác Trước hết, chiến tranh

bây giờ chỉ là vấn đề hồi tưởng chứ không còn là người trong cuộc Nhà văn

Trang 18

viết về chiến tranh, kể cả các nhà văn trong quân đội, giờ đây nhìn nhận cuộc chiến bằng hồi ức, hồi tưởng, “nhớ lại và suy nghĩ”, chiêm nghiệm chứ không còn là ngồi dưới hầm bí mật để viết, thậm chí viết ngay sau một trận đánh, giữa trận đánh Bởi vậy lối viết nghiêng về dòng ký ức nhiều hơn là kể, tả trực

tiếp Thời xa vắng của Lê Lựu xây dựng nhân vật chính Giang Minh Sài là người lính; Bến không chồng của Dương Hướng xây dựng nhân vật chính Vạn, Nghĩa là người lính, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh xây dựng nhân

vật chính Kiên là người lính,…thậm chí “nhà văn của lính” Chu Lai 13 tiểu thuyết chỉ viết về một đề tài là người lính,…nhưng tất cả đều là người lính trở

về sau chiến tranh chiến đấu ở “mặt trận thứ hai” chứ không phải là người

lính kiểu như trong Cao điểm cuối cùng, Mặt trận trên cao, Bên kia biên giới,

Trước giờ nổ súng, hay Dấu chân người lính,…trước đây Nhân vật trong

những tác phẩm ấy, trước hết là những người đang sống trong cuộc sống đời thường với những bộn bề lo nghĩ, vật lộn với đời sống để tồn tại Họ cũng phải hòa nhập được với những quan hệ xã hội phức tạp nhiều chiều, những thang bậc giá trị thay đổi đến trái ngược…chứ không thuần nhất kiểu cái “ta”

chung như trước 1975 Đồng thời, với dòng tiểu thuyết thế sự - đời tư (xuất hiện song song với dòng quán tính sử thi) thì cái riêng, sự trăn trở, nét mờ,

góc khuất,…được trình bày như là một cảm hứng chủ đạo khiến thế giới nghệ thuật trong các tác phẩm của họ đã mang một diện mạo khác, đòi hỏi phải có một cách tiếp cận khác Không dễ gì có thể trả lời một cách đơn giản, xuôi chiều nhân vật này là tốt hay xấu, chính nghĩa hay phi nghĩa, tiên tiến hay lạc hậu, đáng yêu hay đáng ghét,…hoặc hiện thực này là đẹp hay xấu, đáng ngợi

ca hay phê phán,…dẫn đến cách viết cũng phải thay đổi theo nhiều trường phái khác nhau Cái hiện thực nghiệt ngã ở chiến trường Bình Định hồi trước

(Chim én bay, Nguyễn Trí Huân, 2007) bên cạnh việc gây ra bao nhiêu tang

thương cho cán bộ, nhân dân thời ấy còn là một thái độ ứng xử khi trả thù

Trang 19

Thằng Tuân là một cán bộ huyện đã chiêu hồi quay trở lại bắn giết đồng đội, bạn bè cùng hoạt động với nó, tàn sát gần hết gia đình Quy Chị Quy đã 3 lần trực tiếp thi hành lệnh tử hình của cách mạng với thằng Tuân mới diệt được hắn, trong đó có lần chị không bắn nổi vì có đứa con nhỏ và vợ nó đứng cùng Vậy đánh giá hành động ấy của Quy như thế nào cho hợp lý? Nhân vật Năm

Thành (Ba lần và một lần; Chỉ còn một lần, Chu Lai, 2003, 2009) đào ngũ

khỏi đội quân báo giữa lúc cam go, ác liệt nhất rồi còn chỉ điểm cho quan địch càn quét căn cứ của đội; sau giải phóng hắn còn leo lên chức Tổng giám đốc một công ty lớn làm ăn với nước ngoài Ở cương vị này hắn cũng gây ra bao hành vi tàn ác với công nhân và ngay cả đồng đội Nhưng cứ mỗi chiều thứ bảy hắn lại một mình lặng lẽ đến ngôi nhà nằm sâu trong hẻm của người đàn

bà mù sống một mình - dì Mười, người chiến sĩ văn công duy nhất còn sống sau một lần đoàn biểu diễn bị trúng bom, để dì nấu cho ăn một món canh rau rừng như hồi trong cứ, để được dì hát cho nghe những làn điệu dân ca, và để được ngủ một giấc ngon lành trên chiếc võng bộ đội,…Vậy, Năm Thành là nhân vật đáng yêu hay đáng ghét? Hay là nhân vật lưỡng tính? Có lẽ chỉ sau năm 1975 mới có những nhân vật kiểu dạng này, còn ở dòng văn học sử thi hồi trước, do nhiều nguyên nhân, chắc khó viết kiểu như thế Điều này sẻ chi phối cách tiếp cận hiện thực, con người trong thế giới nghệ thuật của những tác phấm ấy

Những tiểu thuyết Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Thời gian của

người, Điều tra về một cái chết (Nguyễn Khải), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)…

và hàng loạt các tiểu thuyết khác cũng nằm trong hệ hình tương tự

b Dòng tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc Đây cũng là mốc đánh dấu sự đổi mới của văn học nghệ thuật nói chung, tiểu thuyết nói riêng Với

Trang 20

tinh thần chống quan liêu bao cấp, thực hiện khẩu hiệu dân chủ trong mọi mặt đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới cho văn học nghệ thuật

mà việc trước tiên là phải tự “cởi trói” cho mình trên tinh thần quản lý của

Đảng là định hướng rộng Đời sống văn học Việt Nam nói chung và tiểu

thuyết nói riêng bước vào thời kỳ sôi nổi của tinh thần “nhận thức lại”: tiếp nối giá trị truyền thống nhưng phải bắt nhịp những đổi mới; tái hiện toàn cảnh bức tranh cuộc sống hiện tại ở mọi góc nhìn không né tránh nhưng phải xuất phát từ động cơ xây dựng chứ không phải lợi dụng bôi đen, phá hoại Việc thể hiện những vấn đề mưu sinh, số phận của con người, đi sâu khám phá, biểu hiện thế giới nội tâm, phản ánh mọi mặt trong tâm tư tình cảm những trăn trở, niềm hạnh phúc hay nỗi đau đớn của con người được đặt lên hàng đầu Bên cạnh đó, văn học cũng nhìn nhận lại nền văn học thời kỳ trước để đi sâu vào những góc khuất, khai thác những khía cạnh khác trong đời sống hiện thực

mà trước kia chưa nói tới

Phản ánh hiện thực luôn là yêu cầu đặt ra cho nền văn học trong mọi thời kỳ, trong đó tiểu thuyết có lợi thế do đặc điểm dung lượng lớn Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ, do hiện thực khác nhau, hệ tư tưởng khác nhau, nhu cầu thẩm mỹ khác nhau,tiêu chí đánh giá khác nhau Chẳng hạn, văn học cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945-1975 với hai nhiệm vụ lớn của đất nước là giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội nên cách tiếp cận và miêu tả hiện thực phải nhắm đến mục tiêu này chứ không thể khác, không được khác Trong điều kiện đó, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp tốt nhất, phù hợp với yêu cầu thời đại Từ năm 1986 lại nay, hiện thực đã thay đổi, hệ tư tưởng cũng không hoàn toàn như trước, việc tiếp nhận các trào lưu

lý luận khác nhau trên thế giới cởi mở hơn, các tác phẩm văn chương thuộc nhiều trường phái khác nhau cũng du nhập vào Việt Nam thuận lợi hơn, nhu cầu thẩm mỹ đã thay đổi theo hướng mở ra toàn cầu trên cơ sở tôn trọng bản

Trang 21

sắc dân tộc,…nên tất yếu không thể có cách tiếp cận văn học như trước 1975

Sau hơn 30 năm, văn học Việt Nam đã mở cửa mạnh mẽ đón nhận nhiều

luồng gió mới, sàng lọc để chọn luồng gió lành, tránh luồng gió độc Các cây

bút thế hệ trước chuyển sang hay các cây bút trưởng thành sau 1975 đang thể

nghiệm một cách viết mới nhằm tạo ra một phong cách riêng Bức tranh toàn

cảnh của nền văn học này là đa màu sắc, đa giọng điệu, giàu ý tưởng, nhiều cá

tính sáng tạo,…nhưng đồng thời vẫn có cảm giác ngổn ngang, nặng về kiếm

tìm hơn là ổn định trong từng hiện tượng văn học Bên cạnh đó, rất nhiều nhà

văn đang sống ở nước ngoài cũng hướng về hiện thực, con người Việt Nam để

sáng tác, góp thêm tiếng nói mới vào nền văn học này Trong tình đó, về thể

loại tiểu thuyết, chúng ta ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn

sự đa dạng Có thể quy tụ các tác phẩm thời kỳ này ở các hướng chính sau đây:

- Dòng văn học tiếp tục viết về đề tài chiến tranh và người lính nhưng

đã có cách tiếp cận khác hơn cách tiếp cận trước đây: Lê Lựu (Thời xa vắng),

Chu Lai (Ăn mày dĩ vãng, Sông xa, Cuộc đời dài lắm, Ba lần và một lần, Bãi

bờ hoang lạnh, Chỉ còn một lần, Hùng Karô…), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến

tranh), Ma Văn Kháng (Mùa lá rụng trong vườn), Trung Trung Đỉnh (Lạc

rừng), Nguyễn Trí Huân (Chim én bay), Sương Nguyệt Minh (Miền

hoang),…

- Dòng tiểu thuyết viết về cuộc sống đời thường trong cảm hứng thế sự

- đời tư: Ma Văn Kháng (Ngược dòng nước lũ, Đám cưới không có giấy giá

thú), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Dương Hướng

(Bến không chồng, Dưới chín tầng trời), Nguyễn Khắc Phê (Biết đâu địa ngục

thiên đường), Hoàng Minh Tường (Thời của thánh thần), Nguyễn Đình Chinh

(Đêm thánh nhân), Trung Trung Đỉnh (Tiễn biệt những ngày buồn), Nguyễn

Quốc Trung (Người trong cõi người), Nguyễn Minh Ngọc (Ký sự người đàn

Trang 22

bà bị chồng bỏ), Lý Biên Cương (Phù du), Đoàn Lê (Cuốn gia phả để lại, Tiền định), Bùi Việt Sĩ (Anh và hai người đàn bà),…

- Dòng tiểu thuyết lịch sử được viết theo xu hướng mới, xu hướng đối

thoại với lịch sử: Võ Thị Hảo (Góa phụ đen), Hoàng Quốc Hải (Bão táp triều

Trần), Mộng Giác (Sông Côn mùa lũ), Nguyễn Quang Thân (Hội thề),

Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly), Thái Bá Lợi (Minh sư),…

- Dòng tiểu thuyết mang dấu hiệu, ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện

đại: Hồ Anh Thái (Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, SBC là

săn bắt chuột, Những đứa con rải rác trên đường…), Tạ Duy Anh (Lão Khổ,

Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối), Nguyễn Bình Phương (Thoạt kỳ thủy, Những đứa trẻ chết già, Ngồi), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa, Ba ngôi của người), Nguyễn Đình Tú (Nháp, Nét mặt buồn), Vũ Đình Giang (Song Song, Bờ xám), Đặng Thân (3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần]),…

- Dòng tiểu thuyết hải ngoại viết theo cảm thức lưu vong, hậu thuộc

địa: Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau), Linda Lê (Vu

khống, Lại chơi với lửa), Thuận (T mất tích, Paris 11 tháng 8, Vân Vy),…

1.1.3 Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam trên bình diện nghệ thuật

Văn học Việt Nam từ 1986, do có sự đổi mới quan niệm mới về hiện thực và con người đã kéo theo sự chuyển biến tích cực xét trên bình diện nghệ thuật (thực ra trong thực tế, nói về một tác phẩm văn chương cụ thể không nên tách bạch nội dung và nghệ thuật vì nó tồn tại trong chỉnh thể Song ở đây, trong công trình khoa học, khi nói đến một nền văn học, chúng tôi tách ra

để trình bày rõ hơn) Sự chuyển biến này được biểu hiện trên các mặt:

- Về cấu trúc: bên cạnh vẫn còn một số tác giả, tác phẩm sử dụng kiểu kết cấu trước đây (cấu trúc truyện rõ ràng, tuân thủ tính nghiêm ngặt của thể loại, có cốt truyện xuyên suốt từ đầu đến cuối, có kết thúc câu chuyện và nhân

Trang 23

vật như ý đồ tác giả đặt ra…) nhưng các tác giả đã chú ý đổi mới một số điểm

về trần thuật (ngôn ngữ, giọng điệu không hoàn toàn của sử thi mà đã có cái

da diết, tâm sự đời thường, nhân vật không chỉ thiên về hành động mà đã chú

ý hơn về nội tâm, ) thì đã xuất hiện một số dòng mang cấu trúc mới (tiểu

thuyết dòng ý thức, tiểu thuyết lịch sử mang tính đối thoại, đặc biệt là tiểu thuyết ảnh hưởng hậu hiện đại với những kiểu/ loại cấu trúc mới) Điều này

có thể tìm thấy trong dấu ấn của các tác giả: Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến

tranh), Dạ Ngân (Gia đình bé mọn), Nguyễn Thị Minh Ngọc (Ký sự người đàn bà bị chồng bỏ), Đoàn Lê (Cuốn gia phả để lại), Nguyễn Xuân Khánh

(Hồ Quý Ly), Nguyễn Quang Thân (Hội thề), Hồ Anh Thái (SBC là săn bắt

chuột), Châu Diên (Người sông Mê),…

- Về ngôn ngữ, giọng điệu: nếu trong tiểu thuyết sử thi dễ nhận thấy tính ưu trội của ngôn ngữ miêu tả giàu chất liệu hội họa, điện ảnh (ngôn ngữ màu sắc chói lọi, tiếp cận xa gần, câu văn vui, buồn đều trang trọng, sử dụng nhiều từ cảm thán để bày tỏ nỗi lòng,…) thì ngôn ngữ tiểu thuyết 1986 lại nay lại giàu tính tự sự, đậm lối nói đời thường, nhiều tác phẩm dùng ngôn ngữ tiếng nước ngoài, ngôn ngữ vỉa hè, ngôn ngữ thông tấn, dùng từ tục câu phũ hoặc ngôn ngữ shock,…Giọng điệu giờ đây đậm chất chiêm nghiệm, triết

luận, giễu nhại hoặc hài hước đen (Black humor),…Đặc điểm này xuất hiện

trong mọi loại tiểu thuyết từ những tiểu thuyết “truyền thống” đến tiểu thuyết

lịch sử và nhất là tiểu thuyết hậu hiện đại: Sông xa (Chu Lai), Người sông Mê (Châu Diên), Tiền định (Đoàn Lê), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Sông Côn

mùa lũ (Mộng Giác), 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] (Đặng Thân), Bờ xám

(Vũ Đình Giang),…

Nói chung, điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay là đổi mới nghệ thuật trần thuật xuất phát từ quan niệm mới về hiện thực và con người trong thời đại mới Điều đó làm nên sự phong phú, đa dạng trong các

Trang 24

thể loại và trong từng loại tiểu thuyết, giúp cho người đọc được tiếp cận nhiều dạng thức trần thuật khác nhau Đấy cũng chính là tạo nên sự “dân chủ hóa” bạn đọc trong tiếp nhận tác phẩm văn chương

1.2 ĐOÀN LÊ - NỮ SĨ “TÌNH NGƯỜI ĐA ĐOAN”

1.2.1 Đoàn Lê - “Ngày chị sinh trời cho làm thơ”

Nổi danh là nữ sĩ đa tài trải nghiệm trên mọi phương diện từ thơ, điện ảnh, hội họa, múa đến văn xuôi, lĩnh vực nào Đoàn Lê cũng nổi bât, có thành tựu, nhất là trong sáng tác văn xuôi Công chúng còn biết tới Đoàn Lê qua bài

thơ Cho một ngày sinh của người em là Đoàn Thị Tảo viết tặng: “Thế là chị

ơi/ Rụng bông gạo đỏ/ Ô hay, trời không nín gió cho ngày chị sinh/ Ngày chị sinh trời cho làm thơ/ Cho nết buồn vui bốn mùa trăn trở/ Cho làm một câu hát cổ/ Để người lý lơi/ Vấn vương với sợi tơ trời/ Tình riêng bỏ chợ tình

người đa đoan” Những câu thơ cô em gái thân thiết làm tặng chị mình chính

là những nét chấm phá biểu cảm nhất trong bức chân dung bằng thơ về nữ sĩ Đoàn Lê

Đoàn Lê sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943 trong một gia đình có truyền thống làm nghề thuốc tại Hải Phòng Từ nhỏ gia đình hướng bà theo nghề thuốc Vốn là người giàu mộng ước, yêu văn chương nghệ thuật nên Đoàn Lê

đã đi theo chọn lựa của riêng mình Khi đang là nữ sinh lớp chín, bà đã có thơ

đăng trên các tờ báo Năm 18 tuổi bà lại nổi tiếng với bài thơ Bói hoa đăng trên báo Văn nghệ, được nhiều người chuyền tay nhau chép: “Ngày xưa em

ngây thơ/ Ngồi bói hoa hồng nở/ Đoán tình yêu sau này/ Vẹn tròn hay dang

dở…” Bài thơ Bói hoa trở thành sự dự báo cho cuộc đời của bà, “vẹn tròn hay dang dở” mà tiểu thuyết Tiền định của bà đã đề cập đến Đó phải chăng là

tiên cảm của người đàn bà đa đoan về cuộc đời hay sự sắp đặt của số phận mà Đoàn Thị Tảo sau này cất lên bằng những câu thơ tha thiết: “Ngày chị sinh/ Trời cho làm thơ”?

Trang 25

Yêu văn chương nhưng Đoàn Lê lại khởi đầu bằng nghiệp diễn viên Năm 17 tuổi, bà trốn gia đình lên Hà Nội thi vào trường Điện ảnh, đã trúng tuyển khóa I (1959 - 1962) cùng thời với Lâm Tới, Trà Giang, Thụy Vân,… thuộc thế hệ đầu tiên của trường Điện ảnhViệt Nam Đoàn Lê được bạn bè gọi

là “cô Kiều của Điện ảnh khóa I” Bà là người đàn bà đẹp, da trắng, thanh mảnh, giỏi cả văn thơ và hội họa Bà yêu thích mỹ thuật chẳng kém gì yêu văn chương, nên đã theo học thêm về hội họa với một họa sĩ già hay vẽ phố

cổ Hà Nội Đoàn Lê tìm đến hội họa như một mảnh đất để chạy trốn thực tại, thể hiện mình qua những nét vẽ Vẽ với bà niềm say mê và nhập tâm

“Cô Kiều của khóa I” có số phận long đong nhất trong các nữ diễn viên cùng thời Tốt nghiệp, Đoàn Lê về làm việc tại Hãng phim truyện Việt Nam bắt đầu bằng những vai phụ Cho đến nay, nghiệp diễn viên của bà có vai diễn

chính duy nhất trong bộ phim Quyển vở sang trang Khán giả ấn tượng với cô

giáo Hồng Vân mang vẻ đẹp nền nã, dịu dàng một thời Là người xông xáo và đam mê với điện ảnh, khi làm việc ở xưởng phim, Đoàn Lê đi theo đoàn làm phim khắp nơi, không được phân vai thì làm đủ việc vặt chờ được gọi đóng phim Nhưng rồi, nghiệp diễn của bà cũng ngắn ngủi Với năng lực về hội họa, bà chuyển sang bộ phận thiết kế mỹ thuật trong xưởng phim Những phối cảnh cần phông vẽ lớn thay cho cảnh thật, không ai khác chính Đoàn Lê lại đứng trên giàn giáo cao, tay cầm máy phun màu vẽ những cảnh bầu trời, cảnh đồng lúa mênh mông hay những khu nhà cao lớn,…Công việc rất mệt nhọc,

có lúc chán nản Đoàn Lê muốn bỏ điện ảnh Nhưng dường như nghiệp điện ảnh không buông bà, đến nay bà vẫn vẽ tranh xếp đầy nhà Với tình yêu nghệ thuật và ước mong được đóng góp cho điện ảnh, Đoàn Lê lại tiếp tục công việc của mình Bà thử sức ở vai trò khác Với ý thức viết là nghiệp, bà chuyển sang viết kịch bản điện ảnh và thử sức với công việc đạo diễn Những kịch bản của bà thực sự gây ấn tượng với công chúng yêu nghệ thuật này Bà đã

Trang 26

viết kịch bản cho các bộ phim: Bình minh xôn xao, Cha và con, và nổi tiếng nhất là Làng Vũ Đại ngày ấy (chuyển thể từ những truyện ngắn Chí Phèo, Lão

Hạc kết hợp với một vài tác phẩm khác của Nam Cao)… đều được đón nhận

nồng nhiệt Nhờ thế, Đoàn Lê cũng đã trở thành đạo diễn của Xưởng phim

truyện, sau được chuyển thành Hãng phim truyện Việt Nam Việc viết kịch

bản và làm đạo diễn điện ảnh, Đoàn Lê vẫn duy trì đến suốt tận bây giờ, nghỉ hưu bà vẫn miệt mài đi theo đoàn phim và vẽ tranh, đủ để thấy sự đam mê nghệ thuật của bà Trong hội họa bà cũng không kém phần nổi tiếng Đoàn Lê còn mở cả triển lãm tranh cá nhân Tranh của bà được treo ở những phòng trưng bày, triển lãm lớn…và bán được nhiều bức cho những người yêu tranh khó tính

Nhưng có lẽ văn chương mới thực sự là cái nghiệp của đời bà “Ngày chị sinh trời cho làm thơ” để nói cái duyên của Đoàn Lê với văn chương là trời phú bởi sức viết của Đoàn Lê từ làm thơ, viết truyện ngắn, tiểu thuyết đều

vô cùng phong phú, số lượng tác phẩm khá lớn Bà đã có 20 năm cầm bút với

nghiệp văn chương, những truyện ngắn đầu tiên như: Đôi mắt hoa nhài,

Trương Viên, Cây xoan non,… của bà đều lần lượt được in trên hai tờ báo

danh tiếng: báo Văn nghệ, báo Đại đoàn kết đều nhận được sự hưởng ứng và yêu mến của công chúng Nhưng có lẽ, phải tới khi tiểu thuyết Cuốn gia phả

để lại ra đời (1988), bạn đọc mới cảm thấy sửng sốt trước cách viết già dặn

của Đoàn Lê Từ đề tài đến việc xây dựng hệ thống nhân vật chằng chịt, những tình huống truyện đời thường,…làm người ta giật mình trước phong cách viết tiểu thuyết chững chạc của nữ văn sĩ Vì thế, không có gì lạ khi ngay tiểu thuyết đầu tay này, Đoàn Lê đã được trao Giải thưởng Hội Nhà văn 1989

- 1990 Sự đón nhận của công chúng cùng với giải thưởng của Hội Nhà văn

dành cho Cuốn gia phả để lại đã tạo động lực để Đoàn Lê liên tục cho ra đời

các tiểu thuyết Người đẹp và đức vua (1991), Lão già tâm thần (1993), Tiền

Trang 27

định (2010); cùng với đó là các tập truyện Thành hoàng làng xổ số (1992),

người ta biết tới văn chương của Đoàn Lê vẫn là những chuyện đời, chuyện nhân tình thế thái ở Xóm Chùa (trước đó là hàng loạt truyện ngắn về địa danh

“xóm chùa”: Đất xóm Chùa, Nghĩa địa xóm chùa, Trinh tiết xóm Chùa, Người

đẹp xóm Chùa, Giường đôi xóm Chùa Cũng cái địa danh này sẽ được thể

hiện cặn kẽ ở cuộc chiến họ tộc trong tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại, hoặc cuộc đời đa đoan của cô Chín ở tiểu thuyết Tiền Định…” Những câu chuyện

đời thường, những con người làng quê đi vào lòng người rất nhẹ nhàng

Tuy nhiên, người đàn bà đẹp và tài hoa này chưa bao giờ hết nỗi truân

chuyên Hay cái thói đời trớ trêu “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen” đã

“ứng” vào bà? Hay cô em gái với câu thơ tặng chị hóa ra lại là “một lời là một vận vào” đó chăng? Chỉ biết người đàn bà đẹp và tài năng Đoàn Lê đã phải chịu rất nhiều lo toan vất vả trong cuộc sống và lận đận, trắc trở trong tình yêu Khi rời quê lên Hà Nội học, bản thân Đoàn Lê cũng không ngờ rằng giấc

mơ diễn viên chưa kịp thực hiện thì con người mơ mộng, tâm hồn thi sĩ ấy đã sập cái bẫy ngọt ngào, nhưng cũng lại đầy "cảm giác" của tình yêu giăng ra Bước lên xe hoa lúc mới 17 tuổi, ngơ ngác yêu, ngơ ngác thành đàn bà và cô nhanh chóng phải ngơ ngác làm mẹ Cuộc hôn nhân ấy được ví như một sự ngốn ngấu của thời gian đã vội vã ăn cắp thời con gái, vội vã kết thúc những mộng đẹp của tuổi thiếu nữ trắng trong Đoàn Lê chia tay với cuộc hôn nhân nhanh chóng, cũng nhanh như khi đón nhận nó, vừa lúc tròn 20 tuổi Một nách hai con vừa đi học, vừa bươn chải mưu sinh, đủ để thấy sóng gió vất vả

đè nặng trên đôi vai người đàn bà ấy như thế nào Có thể những năm tháng khốn khó đó đã mang đến cho bà sức làm việc phi thường đến vậy Cũng có thể chính những đổ vỡ, những hụt hẫng trong tình yêu đã làm Đoàn Lê thăng hoa trong hội họa và các loại hình, thể loại nghệ thuật khác nữa

Trang 28

Năm 1967, sau tan vỡ cuộc hôn nhân đầu tiên, Đoàn Lê lại yêu thương

và gửi gắm cuộc đời mình cho người đàn ông thứ hai Bà lên xe hoa với diễn viên, đạo diễn Từ Huy Ngỡ như cuộc sống vậy là viên mãn, ngỡ như ông trời

bù đắp cho người đàn bà đa đoan ấy bằng hạnh phúc vẹn tròn thì năm bà 53 tuổi, khi cuộc hôn nhân đã kéo dài 27 năm và có thêm một đứa con trai, bà lại xách va ly ra khỏi “lâu đài tình ái” trên trần gian mình từng xây đắp một lần nữa!

Bài thơ người em gái dành tặng khi Đoàn Lê chỉ mới 20 tuổi không chỉ

là sự dự báo mà nó một lần nữa “vận” vào cuộc đời bà cái “tình riêng bỏ chợ”, cho nên sau những năm tháng miệt mài với công việc và gia đình bà lại trở về với cuộc sống một mình lẻ bóng Chính vì vậy mà trong các sáng tác của Đoàn Lê dù là truyện ngắn hay tiểu thuyết, độc giả luôn thấy phảng phất bóng dáng của những người phụ nữ chịu nhiều thua thiệt, những người phụ nữ

gồng mình giữa cuộc sống, tiêu biểu là cuốn tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại như một cuốn tự truyện về cuộc đời bà, hoặc trong Tiền định người đọc cũng

bắt gặp bóng dáng của Đoàn Lê trong cuộc đời của Chín

Câu thơ “Tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan” của cô em gái Đoàn Thị Tảo đến nay trải qua bao thăng trầm trong gần bảy mươi năm cuộc đời vẫn mãi mãi như là một sự “dành riêng” cho Đoàn Lê Nhưng có lẽ nhờ thế

mà chúng ta có một nhà văn Đoàn Lê với rất nhiều tác phẩm của bà

1.2.2 Tiểu thuyết Đoàn Lê trên con đường đổi mới

Như đã nói, trong vô số truyện ngắn nổi tiếng đã đoạt giải và được dịch

ra nước ngoài, tiểu thuyết lại là thể loại mang đến cho Đoàn Lê sự nổi tiếng

Cho đến nay, Đoàn Lê cho ra đời 4 cuốn tiểu thuyết: Cuốn gia phả để lại (1988) Người đẹp và đức vua (1991), Lão già tâm thần (1993), Tiền định

(2010)

Trang 29

Tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại là câu chuyện xoay quanh xung đột

của một dòng họ về cái nhà thờ tổ Với hệ thống nhân vật chằng chịt, những mối quan hệ họ hàng dòng tộc chồng chéo nhau, truyện tập trung phản ánh những xích mích, kiện cáo, những âm mưu, thủ đoạn, xô xát nảy sinh khi dòng họ có một ông cụ tổ là danh nhân Cuộc đấu tranh của một tri thức (Trần Tự) con người mẹ nguyên là người ở trong nhà cùng vợ (nhà biên kịch Mỗ) chống lại cả dòng họ, không phải vì mảnh đất, ngôi nhà mà là chống lại cả một thói ích kỉ, mất hết tình máu mủ Câu chuyện cứ thế cuốn người ta đi hết tình tiết nghẹt thở này đến tình huống éo le khác

Tiểu thuyết Lão già tâm thần xoay quanh cuộc đời ông Khảm từ thời

trai trẻ với mối tình sâu đậm cùng bà Hằng Đằng sau đó là câu chuyện của một Khảm - Tổng công trình sư của một công trình kém chất lượng - với những ám ảnh không nguôi Nỗi ám ảnh về ngày nào đó công trình sẽ đổ đã thôi thúc ông Khảm đi viết đơn tự thú, thú nhận những tội lỗi mình đã gây ra với Ban thanh tra, hòng mong muốn sự thanh thản cho tầm hồn mình sau 13 năm dằn vặt Nhưng cuối cùng cái mà lão nhận được chính là kết luận lão có vấn đề, thần kinh không bình thường Lão Khảm bị tâm thần Không chịu nổi, lão phải tìm tới cái chết đầy oan nghiệt và cay đắng

Tiểu thuyết Tiền định kể về cuộc đời Chín với khát vọng mãnh liệt của

bản thân cùng sự nổi loạn Chín đã bứt phá khỏi sự sắp đặt của gia đình để theo nghiệp diễn viên nhưng những sóng gió cứ liên tiếp đến với nàng Mười bảy tuổi nàng lập gia đình, nhưng không chịu nổi cuộc hôn nhân bất hạnh, người đàn bà ấy vẫy vùng thoát khỏi cuộc hôn nhân Nhưng khát vọng yêu đương cứ cuốn nàng đi mãi, có thai với người tình bốn tháng, nàng lại phải cay đắng bỏ đi Rồi cuộc tình ấy cũng trôi qua, trong cuộc sống bấp bênh và

bế tắc ấy, nàng may mắn có vòng tay của một người đàn ông luôn đi bên cạnh cuộc đời nàng, dang rộng che chở nàng Song trên con đường tìm về ngôi nhà

Trang 30

nhỏ, mơ tưởng về hạnh phúc xa xăm nhưng thật đẹp, một tai nạn giao thông

đã làm họ phải âm dương cách biệt Nàng đã không thể đến cái đích đang đón chờ phía trước, như cái số phận nghiệt ngã vẫn luôn bám theo cuộc đời nàng Cũng như nhiều nhà văn cùng thời, Đoàn Lê không nằm ngoài quy luật vận động và phát triển của văn chương Quan niệm về hiện thực và con người của nhà văn chịu sự chi phối của hệ tư tưởng mang tính thời đại; đồng thời, phụ thuộc vào vốn sáng tạo cũng như khả năng tiếp cận và nắm bắt hiện thực tiềm ẩn trong mỗi nhà văn Điều đó mang đến những nét riêng, độc đáo, thể hiện cá tính sáng tạo của từng tác giả qua mỗi sáng tác Với Đoàn Lê, điều ấy thể hiện rõ nét qua khả năng tiếp cận, nhạy bén trước hiện thực Đó là việc khai thác đề tài: mỗi câu chuyện là một phạm vi đời sống nóng hổi, là một bức tranh đầy màu sắc của thời đại Bà đi sâu vào từng chi tiết tưởng chừng như nhỏ nhặt, vụn vặt nhưng chính nó ẩn chứa những giá trị lớn lao mà tác phẩm sẽ chuyển tải Tiểu thuyết của Đoàn Lê nắm bắt từng thay đổi trong đời sống hiện thực, ý thức và cảm nhận sâu sắc về những thay đổi của thời đại giúp bà đi sâu vào từng ngóc nghách của đời sống xã hội Đặc biệt, sự thành công của Đoàn Lê trong việc xây nhân vật là sự pha trộn nhiều tầng lớp, nhiều thế hệ, nhiều mối quan hệ chằng chịt, đan xen Qua đó,nhân vật đi đến tận cùng của cay đắng, bất hạnh, tận cùng của sự xung đột mà trước đây văn học

ít nói tới hoặc nói nhưng chưa tới

Ở trên chúng tôi có nói, một trong những chuyển dịch quan trọng của tiểu thuyết thời kỳ sau đổi mới là đi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự

- đời tư Đoàn Lê đưa vào tác phẩm của mình những gánh nặng cơm áo gạo tiền, những cuộc chiến giữa họ hàng thân thuộc, tệ quan liêu tham nhũng,… Bên cạnh đó, những tình cảm đời thường của con người như tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng, khát vọng tình yêu,… cũng được chuyển tải vào tiểu thuyết một cách bình dị, nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần dữ dội Đó

Trang 31

như một “dòng sông” tưởng như “êm đềm” (M.Cholokhov), “phẳng lặng” (Tô Nhuận Vỹ) nhưng dưới đáy luôn ẩn chứa những cơn sóng ngầm Tiểu thuyết Đoàn Lê trong dòng chảy của văn học sau đổi mới hướng vào cuộc sống đời thường của con người Không có những bản hùng ca, những chiến công, những anh hùng điển hình hay tiêu biểu, thay vào đó là những tâm tư, tình cảm, những phận đời bình thường trong xã hội, ở đâu đó chúng ta đã bắt gặp trong cuộc sống của chính mình Tất cả xuất phát từ khả năng lĩnh hội hiện thực và cảm nhận của chính bà về con người Con người trong thời đại mới hiện lên trong tiểu thuyết Đoàn Lê với những mảng màu tiêu biểu, những góc khuất trong tâm hồn được lột tả chân thực, những nhân vật được phóng chiếu

từ nhiều góc nhìn

Với cảm hứng sáng tạo dồn chặt và phong phú, tiểu thuyết Đoàn Lê mang màu sắc mới hòa vào dòng chảy của văn học thời kỳ này Có thể nhận thấy ba cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Đoàn Lê đó là, chiêm nghiệm quá khứ; cảm hứng bi kịch; và thân phận con người cá nhân Nhân vật trong tác phẩm với hình mẫu là con người tự nhiên nhất bộc lộ tâm tư, suy nghĩ con người cá nhân Tiểu thuyết của Đoàn Lê có sự đối thoại các nhân vật, nhất là độc thoại nội tâm Qua những dòng cảm xúc độc thoại mang dáng dấp “dòng

ý thức” ấy, là điểm nhấn làm cho tác phẩm mang màu sắc của tiểu thuyết hiện

đại thời kì đổi mới

Trang 32

CHƯƠNG 2

BỨC TRANH CUỘC SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM

TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ

2.1 “XÓM CHÙA”- BIỂU TƯỢNG HIỆN THỰC TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN LÊ

2.1.1 Làng quê Việt Nam - hình ảnh “xóm Chùa” trong thời kì đổi mới

“Xóm Chùa” là tên một làng quê được nhắc đến trong nhiều truyện

ngắn của nữ tác giả Đoàn Lê (tập truyện Trinh tiết xóm Chùa, NXB Hội Nhà

văn, 2005) Có thể đó không phải là một địa danh thật và không phải mọi câu chuyện ở đây đều xảy ra tại một làng quê cụ thể nào Nhưng với cái nhìn sắc sảo và nhân ái của tác giả, tôi tin là những câu chuyện xảy ra liên quan đến cái Xóm Chùa này đều là những chuyện có thật tại nông thôn nước ta từ ngày mở

cửa” [7]

Nhận xét của GS Nguyễn Lân Dũng về hình ảnh Xóm Chùa của Đoàn

Lê quả không sai Sáng tác của Đoàn Lê dày đặc sự xuất hiện của cái tên Xóm

Chùa này, nhất là truyện ngắn (Trinh tiết xóm Chùa, Nghĩa địa xóm Chùa,

Người đẹp xóm Chùa, Giường đôi xóm Chùa, Xóm Chùa thời ung thư, Xóm Chùa Ông, A tourism xóm Chùa, Đất xóm Chùa, Đêm xóm Chùa)…Nó trở

thành một biểu tượng không thể thiếu, thành một nét riêng không trộn lẫn của sáng tác Đoàn Lê Là một cây bút nhạy cảm với những vấn đề của cuộc sống

và hiện thực, Đoàn Lê hướng c ây bút của mình vào những số phận bi kịch của nhân vật, bi kịch gia đình, dòng họ ở nông thôn thời kỳ mới: sự hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển công nghiệp, đô thị hóa nông thôn kéo theo sự thay đổi nếp nghĩ, thói quen, lối sống của người dân ở một xóm nghèo ngoại thành Quả thật, với Đoàn Lê, Xóm Chùa đã trở thành một hình tượng nghệ

Trang 33

thuật tiêu biểu, độc đáo, nó không còn là một địa danh, một làng quê cụ thể nào mà dường như là hình ảnh chung của làng quê Việt Nam rất đỗi quen thuộc Bức tranh nông thôn Việt Nam thời kỳ trước 1945 thường mang màu sắc u tối, với những lạc hậu, bần cùng, sự bóc lột áp bức đưa người nông dân tới sự nghèo khổ đến cùng cực Nông thôn sau 1945 đến thời kỳ trước đổi mới, hình ảnh những làng quê khoác lên mình màu áo mới, dù vẫn còn đó sự đói nghèo và khổ sở “bữa cơm khoai ít cá nhiều rau”, nhưng vô cùng tự hào, hăng say xây dựng cuộc sống mới, chế độ mới trong cảm hứng sử thi lãng mạn, hào hùng xứng đáng là “hậu phương lớn” của “tiền tuyến lớn” Từ sau thời kỳ đổi mới, không khí dân chủ diễn ra trên mọi mặt đời sống đã làm cho bức tranh làng quê Việt Nam được nhìn nhận toàn diện hơn Các cây bút tiểu thuyết hướng vào đời sống người dân ở nông thôn Việt Nam với những cảm nhận đa chiều, đi sâu vào những vấn nạn nhức nhối tồn tại và bùng phát trong lòng xã hội Trước thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết xây dựng nên hình ảnh làng quê Việt Nam với cái nhìn khá bao quát nhưng nó chưa thực sự toàn diện, chưa thực sự tô đậm hình ảnh làng quê với những thanh âm đa dạng Đến thời

kỳ sau đổi mới, vẫn làng quê ấy, vẫn nông thôn ấy nhưng đi vào tiểu thuyết với những mảng màu sáng tối, đối lập giữa những giá trị truyền thống và hiện đại Làng quê Việt Nam trong tốc độ “đô thị hóa” dường như có phần phai nhạt những giá trị đạo đức truyền thống, quan niệm về đạo đức, nhân cách con người cũng có phần lệch chuẩn

Trong các sáng tác của mình, bên cạnh việc khám phá những thay đổi của làng quê, nhà văn còn đi sâu vào lí giải những nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự thay đổi của nó Cùng với sự thay đổi của cơ chế thị trường, hiện đại hóa nông thôn kéo theo đó là những trào lưu mới như sính ngoại, chạy theo

hư danh, mua danh bán tước,… diễn ra mạnh mẽ trong lòng xã hội Việt Nam Tiểu thuyết phản ánh bức tranh ấy bằng cái nhìn đa chiều và cảm nhận sâu sắc

Trang 34

của nhà văn và đã đưa đến nhiều thành công Những Gió làng Kình của Phùng Kim Trọng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường,

Dưới chín tầng trời của Dương Hướng,…là những cái nhìn như thế Đoàn Lê

cũng đã mang hình tượng ấy vào tiểu thuyết của mình một cách độc đáo Trước hết là những mảnh đời, kiếp người trong các truyện ngắn về cái “Xóm Chùa” của bà

Một xóm Chùa với những giá trị truyền thống bị đảo ngược chóng mặt khi sự hiện đại hóa xuất hiện Đầu tiên là sự xuất hiện của chiếc máy cát-sét,

nó làm đủ mọi nhiệm vụ trong đám cưới, đám tang Những đau buồn trong đám ma truyền thống nhường chỗ cho những bản nhạc đám ma vô hồn, tiếng khóc của người thân nhường chỗ cho tiếng khóc tự động phát ra từ chiếc máy Chiếc máy đã giúp con người tiết kiệm được khoản tiền thuê đội khèn trống, tiết kiệm hơi sức cho con cháu, nhất là các nàng dâu, người có trách nhiệm phải “gào to” hơn tất cả Tuy nhiên, sự tiện lợi ấy lại làm mai một đi những nét đẹp thuần phong mỹ tục của truyền thống nhân bản, những tình cảm chân thành đáng quý của người Việt tự bao đời nay Tiếp đó là sự xuất hiện của cái ti-vi do doanh trại bộ đội đóng bên kia sông mang về cũng làm xôn xao cả xóm Chùa Cách xa đến ba cây số nhưng dân cả xóm không đêm nào không

lũ lượt kéo nhau đi xem đến nỗi xóm làng vắng ngắt vắng ngơ Rồi đến bà Chiu bán rượu nếp bị chiếc xe của “Tây” móc vào đòn gánh kéo lê một quãng, chỉ xây xát nhẹ mà được đền tới 400 đô-la, khiến cho nhiều người ao ước được vướng vào xe “Tây” như bà! Nhiều người ra tỉnh, thấy chiếc xe lịch

sự đi qua bỗng đứng ngẩn ngơ, lưu luyến Ngay cả ông Sỹ Duệ, kinh tế gia đình vào dạng khá giả ở xóm Chùa Ông, vậy mà khi ông bố ra tỉnh chơi với cháu cũng ước: giá nó đụng vào ông cụ xem…xem có ra vấn đề không nào Dường như xã hội vì đồng tiền làm cho người ta mờ mắt, ngay cả mạng sống cũng muốn quy đổi thành tiền Những giá trị truyền thống bị đảo ngược đến

Trang 35

mức kệch cỡm chỉ vì đồng tiền

Có lẽ, sẽ không một bi kịch đồng tiền nào cay đắng như bi kịch “cơn sốt đất” ở xóm Chùa Quá trình hiện đại hóa nông thôn với con đường cao tốc chạy ngang qua làng, giải tỏa, đền bù đã làm cho cả làng nhốn nháo đầy rẫy cảnh nửa khóc nửa cười Chỉ vì đồng tiền mà anh em tranh giành đất cát chém

vỡ sọ nhau, hàng xóm om sòm đánh nhau chia bôi đường biên giới Người ta chờ đợi đồng tiền, những món lợi viển vông để rồi những giá trị tình cảm thiêng liêng bị chà đạp, tình nghĩa vợ chồng, anh em, làng xóm sứt mẻ trầm trọng Con người sống dường như chỉ còn nhìn thấy duy nhất một thứ: đồng tiền Bao gia đình lâm vào bi kịch cười ra nước mắt và cũng biết bao gia đình nhờ đó mà phất lên như diều gặp gió Xung quanh câu chuyện đô thị hóa nông thôn, chuyện tham ô, hối lộ, gây bè kết cánh diễn ra song hành Nhà nhà đua nhau nghe ngóng tin sốt dẻo về đất cát để buôn bán, dẫn mối… làng quê trở nên sôi động chẳng còn bình yên

Xóm Chùa với câu chuyện “lấy chồng ngoại” - như một cuộc “cách mạng” thoát khỏi sự nghèo đói Đặc biệt ở các vùng nông thôn, ngoại thành, việc các cô gái xinh đẹp sẵn sàng mạo hiểm để lấy chồng ngoại với ước vọng đổi đời không còn xa lạ Đó là hệ quả của chính sách phát triển không đồng bộ: đất đai nông nghiệp bị thu hẹp để phát triển đô thị; nhà máy mọc lên, nông dân không còn đất đai canh tác phải đổ xô lên thành phố kiếm sống Trong các ngôi nhà dường như chỉ còn trẻ con và cụ già Những ám ảnh của con đường “tươi sáng” khi lấy chồng ngoại đã khiến cho người người, nhà nhà tìm đường xuất ngoại bán thân với mơ ước đổi đời Thế là dĩ nhiên, cái “trinh tiết” của thời đại đồng tiền mua bán ấy trở thành nỗi ê chề, xót xa cho thân phận những người phụ nữ Cùng với đó là tệ nạn mại dâm, ca-ve đi vào hang cùng ngõ xóm một cách công khai Ngay cả những nhân vật được coi là mẫu mực của xóm làng cũng bị tha hóa, lún sâu trong tệ nạn Những năm đầu đổi mới,

Trang 36

ma túy trở nên vấn đề nhức nhối hơn bao giờ hết Con trai nghiện ngập, chích hút… tới mức một nửa con trai trong làng khám nghĩa vụ quân sự mang trong mình “con Hít” (HIV) “Trinh tiết xóm Chùa” như hồi chuông báo động về những mặt trái thời mở cửa, những góc khuất đang làm mai một các giá trị truyền thống của dân tộc, những tấn bi kịch thương tâm của một làng quê được lột tả

Không chỉ dừng lại ở đó, bi kịch của xóm Chùa còn có cả việc người ta bán

mồ mả ông cha đi vì tiền Những nhà máy xi măng mọc lên trong lòng những vùng quê yên bình đã mang theo bao đau xót Người dân phải rẽ bụi mà đi, sống chung trong khói bụi - sản phẩm của công nghiệp hóa - đã làm bao gia đình lâm vào cảnh đau thương với những cái chết vì ung thư Những ngọn núi chỉ còn trong ký ức khi những nhà máy xi măng tàn phá để lấy nguyên liệu Chỉ có người dân nghèo phải chịu, còn những ông quan lớn, họ chỉ chăm lo cho cuộc sống của mình, đưa vợ con đi nơi khác sống hòng tránh xa khói bụi Nhưng rút cuộc bi kịch ấy cũng không chừa một ai, khi chính kẻ gây nên cảnh hoang tàn của làng quê cũng rơi vào hố sâu khi chính mình bán đi mồ mả cha ông để cuối cùng phải sống trong trại tâm thần,…

Nếu như trong truyện ngắn, xóm Chùa được nhắc tới với tư cách là một địa danh chỉ mặt đặt tên thì trong tiểu thuyết, hình ảnh Xóm Chùa hiện lên như một biểu tượng hiện thực xã hội Việt Nam sau đổi mới Dù được gọi bằng những tên gọi khác nhau, làng quê trong tiểu thuyết của Đoàn Lê ở đâu thì cũng vẫn mang dáng dấp Xóm Chùa với những câu chuyện quen thuộc: những vấn nạn của xã hội như mua quan bán tước, sự mờ nhạt của tình người, cuộc đấu đá nhau trong nội bộ họ tộc hay vấn đề tranh chấp đất đai, xã hội vì đồng tiền,…Xóm Chùa không chỉ là hình ảnh của một làng quê cụ thể trong một truyện ngắn, hay trong tiểu thuyết của Đoàn Lê nữa mà đã trở thành hình ảnh chung của làng quê Việt Nam thời kỳ sau đổi mới Những làng quê không

Trang 37

yên ả trước những luồng gió mới, trước sự đổi thay của cơ chế nền kinh tế thị

trường như trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ma làng, Bến không chồng,

Dòng sông mía,… Đâu đó trong các tiểu thuyết này hình ảnh xóm Chùa hiện

lên thật phong phú với những gam màu khác nhau: xung đột phe cánh, tranh chấp ầm ĩ của dòng họ; sự bất công, phân biệt giàu nghèo, cấp bậc trong xã hội diễn ra quyết liệt; cái ác, cái xấu lợi dụng sự cả tin, ấu trĩ của con người để ngoi lên; sự ngu muội, dốt nát, những thiên kiến, hủ tục lạc hậu và ma lực đồng tiền hoành hành trên sự nghèo đói tàn phá sự yên bình của nông thôn, tàn phá tâm hồn những người nông dân bao đời hiền hòa

Trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, sự chuyển dịch nền kinh tế làm thay đổi cơ bản cơ sở hạ tầng của xã hội, cũng kéo theo những thay đổi sâu sắc trong lòng xã hội Việt Nam từ suy nghĩ, tâm tư, tình cảm dẫn đến sự ra đời những “Xóm Chùa” như một điều tất yếu trong hiện thực xã hội Việt Nam Dưới ngòi bút của nhà văn “Xóm Chùa” này hiện lên đầy đủ những góc nhìn từ của hiện thực của xã hội nông thôn đương thời

2.1.2 Không gian nông thôn Việt Nam vừa bình dị vừa dữ dội

Đoàn Lê đi nhiều, viết nhiều, nhưng những sáng tác của bà hầu như chỉ xoay quanh chủ đề cuộc sống hiện thực của nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới Những câu chuyện người, chuyện đời, chuyện làng đi vào sáng tác Đoàn

Lê rất đỗi nhẹ nhàng, gần gũi Trong các tiểu thuyết của bà, hình ảnh của nông thôn Việt Nam hiện ra muôn hình vạn trạng Đó có thể là một vùng nông thôn bao năm sau lũy tre làng đang từng bước đổi mới, cũng có thể một vùng ngoại thành đang vươn mình trỗi dậy hay những làng quê ngỡ như lặng

lẽ nép mình sau rêu phong nhưng cũng rất ồn ào, hoặc có khi chỉ là một làng quê nghèo còn trong ký ức, tất cả hình ảnh làng quê với những câu chuyện như thế của bà lại xuất hiện đầy sức cuốn hút người đọc

Trang 38

Trong Cuốn gia phả để lại, Đoàn Lê đã dựng nên hình ảnh một làng

quê với đầy đủ những cung bậc, thanh âm:

“Làng Thượng của tôi cách trung tâm Hà Nội khoảng mười cây số Làng Thượng khá giàu Dân Thượng chuyên sống bằng nghề bánh kẹo Ai hay ăn kẹo dồi kẹo vừng, xin nhớ cho đây là sản phẩm làng tôi Đường giao thông ngay đầu làng, mỗi ngày bốn chuyến xe buýt đưa các bà kẹo Thượng kĩu kịt ra phố Dân trong làng nhiều người làm ngoài tỉnh vẫn có thể ung dung ngày hai buổi đi về Cơ quan, nhà máy, đóng chung quanh thượng khá đông

Do đó, phong cách sống quê tôi nửa quê nửa tỉnh…” [29, tr 76]

Có thể thấy một làng Thượng rất đỗi bình an với nhịp sống đang phát triển từng ngày Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt về sự đổi mới của làng Thượng là những con đường bê tông Ẩn sau cuộc sống “nửa quê nửa tỉnh” ấy vẫn còn những góc nhỏ sót lại của ngày xưa cũ như cái từ đường họ Trần, như hình ảnh bà mẹ Trần Tự…làm minh chứng cho lịch sử lâu đời của làng quê này: “Buổi chiều đầu tiên anh đưa tôi về thăm mẹ ở làng Thượng, cảnh rêu phong hoang vu cũ kỹ nơi ấy khiến tôi ngỡ lạc vào vũng cổ tích xa xưa nào

Mẹ anh đang đèn hương Cái bóng quê mùa của bà với chiếc đèn dầu leo lét trên tay đi với ngôi miếu ngỏ trong vườn, tôi cũng thấy rất thi vị Trời đã chạng vạng Tôi theo chân bà bước dè dặt trên lá rụng…” [29, tr 32] Sự yên bình đến từ trong tâm tưởng của mỗi người khi hướng về nguồn cội Từ chính

ý thức gìn giữ nét đẹp trong truyền thống thờ cúng cha ông bao đời của người Việt: “Cái từ đường rêu phong cũ nát với bà cụ lọm khọm chống gậy lần từ bàn thờ này sang bàn thờ khác thắp hương, rì rầm khấn vái trong mấy gian nhà mênh mông…cuộc đời người đàn bà như sinh ra để gắn vào cái nhà thờ” [29, tr 23] Qua đó để thấy nét mộc mạc của truyền thống văn hóa người làng Thượng coi trọng lễ nghĩa, thờ cúng lớp người đi trước như thế nào Ngỡ như cuộc sống cứ thế nhẹ nhàng trôi qua nhưng sóng gió bỗng nổi lên: “thời gian

Trang 39

ấy đã mở màn một tấn bi kịch lịch sử Tấn bi kịch ấy đã đẩy họ hàng cầm mác

và cầm dao thái kẹo tử chiến” [29, tr 27] Tất cả xuất phát từ sự tham lam ích

kỉ của một vài cá nhân trong họ tộc Vốn văn hóa làng quê là văn hóa cộng đồng nên chỉ cần một người giật dây thì phản ứng sẽ lan tỏa đến chóng mặt

Có lẽ vì thế mà chỉ âm mưu của một vài người cũng đủ khiến cả làng Thượng lao đao Ngọc Đường - con trai của chị gái cùng cha khác mẹ với Trần Tự, gọi Trần Tự bằng cậu, vì muốn chiếm ngôi nhà ở phố mà tìm mọi cách, giở mọi thủ đoạn đuổi ông cậu ra khỏi nhà sau khi được ông cậu cưu mang Ông cụ Thống, Kim, Quý… muốn biến từ đường của họ Trần ngành đại tông thành nhà thờ của cả họ Trần Rồi dẫn đầu là lão Ty, vì muốn được sống giữa dân làng để làng bỏ qua cái tội ác ngày xưa theo giặc mà không từ bất cứ thủ đoạn nào Chính điều này đã làm họ hàng, con cháu họ Trần đấu đá, tranh giành nhau đến thê thảm Dân bỏ nghề kẹo cuốn lao vào cuộc chiến không đầu không cuối Làng Thượng bình an bao đời nay lại phải đương đầu trước sóng gió Cuộc chiến dòng họ, mà ở làng còn ai hơn hai họ Trần - Lưu, lại được nước nổ ra rầm rộ hơn bao giờ hết Con cháu đời sau dường như không hiểu được tâm ý của những người đầu tiên lập làng: “Ở ngoài đồng, trên gò Mối hai ngôi mộ nằm sóng đôi: mộ cụ thủy tổ họ Trần với mộ cụ thủy tổ họ Lưu, hai người nông dân đầu tiên rủ nhau đến đây lập làng Hẳn các cụ đã lường trước cái hố chia rẽ giữa hai bên con cháu vài trăm năm sau, các cụ liền khoác tay nhau nằm khểnh ở gò Mối làm gương cho con cháu…” [29, tr 83] Cái truyền thống và mong ước của người xưa đang trên đà đổ vỡ bởi con cháu hai

họ đang âm thầm bước vào cuộc chiến Nhưng có lẽ, sự xung đột giữa hai họ Trần - Lưu chỉ dừng lại ở sự ngăn cách trong hố sâu tâm tưởng, phân biệt dòng họ mà chưa thực sự bùng nổ Còn cuộc chiến giữa gia đình Trần Tự, Thị

Mỗ với gia tộc họ Trần mới thực sự căng thẳng và cam go

Trang 40

Gia đình Trần Tự bỏ phố về quê mong muốn được yên bình chăm lo từ đường của dòng họ, sum vầy với mẹ già con nhỏ nhưng rồi lại rơi vào vòng xoáy hiểm nguy bởi toan tính của những người ruột thịt Về quê, gia đình ấy phải đương đầu với bao nhiêu thử thách Từ chuyện rước bài vị ông cụ Chí Đạo sang thờ ở phả Hướng Thiện đến việc tu sửa nhà thờ, xây thêm mấy gian nhà ở,…nhất cử nhất động đều bị phản đối và đe dọa Bao nhiêu chuyện xấu được dựng lên để hạ Trần Tự xuống Cái làng quê vì chuyện của gia đình Trần Tự mà hàng trăm cuộc họp phải diễn ra liên miên, tốn kém bao nhiêu tiền của Dẫn đầu là ông trưởng Kim được ví như con chim đầu đàn hăng máu, ông trưởng Thống, Quý…cùng tất cả con em họ Trần phái tiểu tông khắp nơi được huy động Những người sống trên phố cũng được triệu tập về làng Tất cả luôn trong tình trạng sẵn sàng “xử lý” Trần Tự Dưới sự xúi giục của Ngọc Đường và tiền bạc của lão Ty, sau bao cuộc họp hành “họ khẳng định cả nhà thờ, vườn ao, lẫn hai gian nhà riêng của chúng tôi ngoài phố, đều thuộc tài sản chung của cả họ Bà cụ Thừa là người ở, anh Tự con hoang, không có quyền được hưởng bất cứ chút gì Đâu dính líu tới cụ Chí Đạo, cả

họ đều phải đấu tranh đòi lại để… giữ gìn cho danh nhân” [29, tr 168] Họ kiên quyết đẩy vợ chồng Trần Tự đến bước đường cùng Ở phố, Ngọc Đường bày mưu đuổi Trần Tự khỏi ngôi nhà cha anh để lại và cũng không cho anh bán dần từng bước thành công Ở quê, cả dòng họ chống đối không cho anh tu sửa nhà thờ, xây nhà để ở Cuộc sống của Trần Tự như rơi vào ngõ cụt Làng quê dậy sóng với những cuộc họp hành, “phô trương” lực lượng

Cuộc chiến từ sự âm ỉ với sức ép của những lá đơn kiện gửi chính quyền đến những bài báo vu khống “Các tối hậu thư tới tấp bay tới nhà tôi

Họ đòi đình chỉ ngay việc xây dựng nhà của chúng tôi, với lý do xây trên đất nhà thờ họ” [29, tr 168] đã chuyển sang gay gắt, quyết liệt Không chỉ là “tối hậu thư”, là đơn kiện gửi chính quyền mà họ còn âm mưu chiến đấu bằng vũ

Ngày đăng: 15/05/2021, 14:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Tạ Duy Anh (2014), Lão khổ, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão khổ
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2014
[2] Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2003
[3] M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết , NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
[4] Nguyễn Thanh Bình (2012), “Nhà văn Đoàn Lê: Ẩn mình dưới trang văn”, Báo Công an nhân dân (ngày 2/1/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đoàn Lê: Ẩn mình dưới trang văn”", Báo Công an nhân dân
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2012
[5] Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
[6] Nguyễn Minh Châu (2004), Dấu chân người lính, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu chân người lính
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2004
[7] Nguyễn Lân Dũng (2006), “Ai cứu xóm Chùa”, Báo Nông nghiệp Việt Nam, (ngày 13/05/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ai cứu xóm Chùa”, "Báo Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
Năm: 2006
[8] Đông Dương (2006), “Nhà văn Đoàn Lê và huyền thoại xóm Chùa”, Báo Thanh niên, (ngày 26/05/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đoàn Lê và huyền thoại xóm Chùa”, "Báo Thanh niên
Tác giả: Đông Dương
Năm: 2006
[9] Phan Cự Đệ (1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại - Tập 1, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
[10] Phan Cự Đệ (1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại - Tập 2, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
[11] Hà Minh Đức (1999), Loại thể văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại thể văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
[12] Hà Minh Đức (1995), Lý luận văn học, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1995
[13] Hà Minh Đức, (1991), Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới, NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1991
[14] Nhiều tác giả (2012), Truyện ngắn thời kì đổi mới, NXB Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn thời kì đổi mới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2012
[15] Nhiều tác giả (2013), Truyện ngắn đầu tay của các nhà văn Việt Nam, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn đầu tay của các nhà văn Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2013
[16] Nhiều tác giả (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1992
[17] Nguyễn Việt Hà (2004), Khải huyền muộn, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khải huyền muộn
Tác giả: Nguyễn Việt Hà
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2004
[18] Bùi Như Hải (2013), Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến nay, Luận án tiến sĩ, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến nay
Tác giả: Bùi Như Hải
Năm: 2013
[19] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử , Nguyễn Khắc Phi (2011), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử , Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
[20] Vũ Thúy Hằng (2010), Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Đoàn Lê, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Đoàn Lê, Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Vũ Thúy Hằng
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w