Trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật - tinh thần nhân bản dồi dào, tác giả Thi Thi đã trích dẫn lời nhận xét của nhà văn Trần Thùy Mai về tuyển tập tiểu thuyết lịch sử
Trang 1NGUYỄN THỊ THÚY TRÂN
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ
NGUYỄN TRIỆU LUẬT
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng, Năm 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ THÚY TRÂN
Trang 31 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Đóng góp của luận văn: 11
6 Bố cục luận văn 12
CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT 13
1.1 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX 13
1.1.1 Tiền đề lịch sử - xã hội 13
1.1.2 Tiền đề văn hóa, văn học 15
1.2 DIỆN MẠO TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX 17
1.2.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1930 17
1.2.2 Giai đoạn từ 1930 - 1945 19
1.3 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT 21
1.3.1 Những yếu tố tiểu sử ảnh hưởng đến sáng tác của Nguyễn Triệu Luật 21
1.3.2 Quan niệm của Nguyễn Triệu Luật về tiểu thuyết lịch sử 25
1.3.3 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Triệu Luật 31
CHƯƠNG 2 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỘI DUNG 36
2.1 CẢM HỨNG TƯ TƯỞNG TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT 36
Trang 42.2 HIỆN THỰC TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU
LUẬT 48
2.2.1 Cuộc tranh giành quyền lực dưới thời vua Lê - chúa Trịnh 48
2.2.2 Lối thi cử nhiễu nhương, hỗn tạp 52
2.2.3 Luật hình cay nghiệt 55
2.3 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT 57
2.3.1 Nhân vật vua, chúa 57
2.3.2 Nhân vật bề tôi trung thần 59
2.3.3 Nhân vật người phụ nữ 64
CHƯƠNG 3 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGHỆ THUẬT 72
3.1 KẾT CẤU - CỐT TRUYỆN 72
3.1.1 Kết cấu 72
3.1.2 Cốt truyện 77
3.2 NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ NHÂN VẬT 80
3.2.1 Miêu tả nhân vật qua xuất xứ, ngoại hình 81
3.2.2 Miêu tả nhân vật qua hành động 84
3.2.3 Miêu tả nhân vật qua diễn biến tâm lí 87
3.3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU 91
3.3.1 Ngôn ngữ 91
3.3.2 Giọng điệu 99
KẾT LUẬN 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 593
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
So với nhiều thể loại văn học khác, tiểu thuyết thuộc vào hàng sinh sau
đẻ muộn, thế nhưng nhờ những ưu thế vượt bậc của mình, tiểu thuyết đã
không ngừng cách tân để vươn lên dành vị trí chủ lực được coi là “cỗ máy
cái” của nền văn học Và nhắc đến tiểu thuyết, không thể không nói đến tiểu
thuyết lịch sử - thể loại đã góp một phần không nhỏ vào quá trình cách tân và hiện đại hóa nền văn học nước nhà
Trước những biến động của bối cảnh lịch sử xã hội, sự ra đời các tiểu thuyết lịch sử đầu thế kỉ XX là một tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống dân tộc Giai đoạn này đã nở rộ những cây bút tiểu thuyết lịch
sử như: Nguyễn Tử Siêu, Tân Dân Tử, Lan Khai, Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Huy Tưởng, … Có lẽ tiểu thuyết lịch sử là phương tiện để các tiểu thuyết gia ký gửi những tình cảm yêu nước và cũng là nơi độc giả tìm thấy sự an ủi, niềm hy vọng thầm kín vào tiền đồ của đất nước Vì thế, qua
lệ lòng tự tôn, lòng tự hào dân tộc, góp phần thức tỉnh và nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi người đối với vận mệnh nước nhà Mặt khác nhằm phản bác lại trào lưu văn học Tàu trong dòng tư duy trở về với cội nguồn dân tộc, chống lại khuynh hướng Tây hóa để rồi từ việc mượn chuyện đời xưa, chuyện
về các tiền nhân mà khơi dậy, nhắc nhở hậu thế về trách nhiệm của mình trước vận mệnh của dân tộc Tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật ra đời không thể nằm ngoài mục đích đó
Nguyễn Triệu Luật không chỉ là một nhà giáo, nhà báo, nhà hoạt động cách mạng mà ông còn là một trong những cây bút tiểu thuyết lịch sử xuất sắc
có đóng góp lớn và thành công đối với thể loại tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam
Trang 7những năm 1930 của thế kỷ XX Mặc dù là một tác giả nổi tiếng có những
cống hiến đối với dòng tiểu thuyết lịch sử nói riêng và văn học Việt Nam nói
chung nhưng một thời gian dài, tên ông gần như đi vào quên lãng Điều này
rất khó để tiếp cận tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật với cái nhìn xuyên
suốt để đánh giá cũng như làm rõ những thành công nhất định về thể loại tiểu
thuyết lịch sử Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Đặc điểm tiểu thuyết lịch
sử Nguyễn Triệu Luật sẽ giúp chúng ta hiểu hơn những giá trị về nội dung và
nghệ thuật mà Nguyễn Triệu Luật đã thể hiện trong những tác phẩm của
mình Trên cơ sở đó chúng ta khẳng định những đóng góp của tác giả trong
quá trình vận động và phát triển của thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
trong lịch sử văn học dân tộc nói chung, trong giai đoạn văn học từ đầu thế kỉ
XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945 nói riêng
Trong sách giáo khoa THCS, THPT hiện nay, các nhà biên soạn sách
đưa vào chương trình giảng dạy một số bài, đoạn trích như: Hoàng Lê nhất
thống chí trích hồi 14 trong tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí,
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Thái sư Trần Thủ Độ trích trong
Đại Việt sử kí toàn thư nhằm giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu nước, tinh thần
bảo vệ độc lập dân tộc thông qua những tấm gương của những vị anh hùng
Như vậy, việc tìm hiểu về tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật sẽ cung cấp
cho giáo viên, học sinh những tài liệu tham khảo bổ ích đồng thời nuôi
dưỡng nơi thế hệ trẻ lòng khát khao tìm hiểu lịch sử dân tộc và cả ý thức,
tình yêu đối với đất nước
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2.1 Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử
Khái niệm “tiểu thuyết lịch sử” vốn xuất hiện từ lâu và ngày nay đã trở
nên phổ biến trong giới nghiên cứu văn học Về tiểu thuyết lịch sử, có rải rác
những công trình nghiên cứu, bài viết, phê bình của các tác giả Nhìn chung,
Trang 8các tác giả đã đưa ra quan niệm xoay quanh các vấn đề về tiểu thuyết lịch sử, tuy nhiên quan niệm của các nhà sáng tác cũng như các học giả về đối tượng không phải hoàn toàn trùng khít
Theo Từ điển Văn học (bộ mới), tiểu thuyết lịch sử là thuật ngữ chỉ
“một loại hình tiểu thuyết hoặc tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính” [16, tr 1725]
Ở công trình Văn học Việt Nam 1900 - 1945, nhà nghiên cứu Phan Cự
Đệ khẳng định: “Giữa những năm 20 của thế kỉ XX, do chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và dân chủ trên văn đàn đã công khai xuất hiện nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử và có thể nói văn học mới với tiểu thuyết lịch sử đã tiếp cận với văn học yêu nước và cách mạng” [10, tr 225] Cũng với tác giả
Phan Cự Đệ, trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỉ XX ở phần hai, chương III
đề cập đến tiểu thuyết lịch sử Trong đó, tác giả nhận định: “Các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử vì tiểu thuyết lịch
sử ưu tiên khẳng định tính hư cấu của cốt truyện nhưng tạo cho nó một cái vẻ giống như thật bởi kết cấu, động lực sâu xa của hành động Bảo đảm cho độc giả mọi sự đều diễn ra như vậy và giúp họ hiểu tốt hơn những nguyên nhân và hậu quả của những gì trong quá khứ” [11, tr 165] Vì thế mà các “nhân vật của tiểu thuyết lịch sử sinh động hơn các nhân vật lịch sử vì các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử được trao cho sự sống còn các nhân vật lịch sử thì đã sống” [11, tr 166] Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng đã có sự phân biệt giữa hai khái niệm: Tiểu thuyết lịch sử và lịch sử được tiểu thuyết hoá
Trong Luận án Tiến sĩ Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu
thế kỷ XX đến 1945 của tác giả Bùi Văn Lợi năm 1999 đã đưa ra khái niệm
tiểu thuyết lịch sử như sau: “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam là những tác phẩm mang trọn đặc trưng của thể loại tiểu thuyết nhưng lại lấy nội dung lịch sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật” [22, tr 23] Tác giả còn chỉ ra
Trang 9quá trình hình thành, phát triển của thể loại này từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 Những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử qua từng giai đoạn cũng được tác giả làm rõ qua một số tác phẩm tiểu thuyết lịch sử cụ thể
Còn tác giả Phạm Xuân Thạch với bài viết Tiểu thuyết Việt Nam đương
đại - suy nghĩ từ những tác phẩm về chủ đề lịch sử đã chạm tới vấn đề có tính
bản chất của những tiểu thuyết về đề tài lịch sử: “Câu hỏi về cái gọi là “sự thật lịch sử” “Có hay không cái “sự thật lịch sử”, “tính chân thực lịch sử” của tiểu thuyết? Câu trả lời sẽ là vừa có vừa không Nó phụ thuộc vào chính quan
niệm về cái gọi là sự thật lịch sử” [42] Điều đáng chú ý và phải thừa nhận
rằng, lịch sử nhiều khi không phải là cái đích cuối cùng của một tiểu thuyết lịch sử Thông qua hư cấu, nhà văn đặt ra vấn đề về sự giải thoát, niềm tin tôn giáo, tham vọng và hạnh phúc, quyền lực và thân phận con người
Qua các công trình nghiên cứu cũng như các bài phát biểu trên báo chúng ta có thể thấy rằng, các tác giả đều xoay quanh khái niệm tiểu thuyết lịch sử, vấn đề viết tiểu thuyết lịch sử như thế nào, mối quan hệ giữa tính hư cấu nghệ thuật và tính chân thực lịch sử Về cơ bản, các tác giả đều thống
nhất tiểu thuyết lịch sử phải đảm bảo hai yếu tố là tiểu thuyết và lịch sử Mức
độ đậm nhạt giữa hai yếu tố này còn tuỳ thuộc vào bút pháp mà mỗi nhà văn lựa chọn khi sáng tác
2.2 Những công trình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Triệu Luật và tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật
Có thể nói giai đoạn trước năm 1975, những công trình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Triệu Luật và tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật không nhiều Chưa có một công trình chuyên luận nghiên cứu sự nghiệp văn chương của Nguyễn Triệu Luật nói chung và toàn bộ tiểu thuyết lịch sử của ông nói riêng
Trang 10mà chỉ xuất hiện một vài bài viết đưa ra những nhận xét chủ quan của các tác
giả đương thời về một số tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật
Trước tiên, có thể kể đến công trình nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan
trong Nhà văn hiện đại Ở mục tác giả Nguyễn Triệu Luật, Vũ Ngọc Phan xếp các tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật gồm: Bà Chúa Chè, Loạn kiêu binh,
Chúa Trịnh Khải, Ngược đường Trường Thi là những tác phẩm viết theo thể
kí sự lịch sử, còn Rắn báo oán viết theo thể lịch sử tiểu thuyết Tác giả cho
rằng: “Khi viết một quyển lịch sử, nhà chép sử không lưu tâm đến việc cá nhân không ảnh hưởng đến xã hội nhưng khi viết những bài lịch sử kí sự thì nhà văn có thể viết một cách tỉ mỉ những việc cá nhân không ảnh hưởng gì đến dân chúng mà chỉ có cái thú vị riêng của nó thôi Không những thế, khi viết một quyển lịch sử kí sự, nhà văn lại cần phải lưu tâm đến những việc tư lắm, lối ấy cũng gần như lối chép dã sử vậy” [26, tr 489] “Còn như viết tiểu thuyết lịch sử, nhà văn chỉ phải căn cứ vào vài việc cỏn con đã qua, rồi vẽ vời cho ra một truyện lớn, cốt giữ cho mọi việc đừng trái với thời đại, còn không cần phải toàn sự thật” [ 26, tr 490] Cũng trong mục này tác giả cũng đã trích
lời giới thiệu của Lan Khai về quyển Bà Chúa Chè Ông cho rằng cũng giống
như mình, Nguyễn Triệu Luật viết tiểu thuyết lịch sử nhưng “ông Luật riêng
chú trọng về sự thực” [26, tr 488] Trúc Khê đã có phản hồi bài viết của Vũ Ngọc Phan bằng bài Bà Chúa Chè có phải là cuốn lịch sử kí sự không? Ông lí giải ông Phan định tính chất quyển Bà Chúa Chè là quyển lịch sử kí sự không
phải là không có sở nhân nhưng theo ý ông nhận xét đó vẫn là cuốn tiểu thuyết Trúc Khê đã luận giải như thế nào là quyển lịch sử kí sự và sau đó ông
đã chỉ ra tính chất tiểu thuyết trong Bà Chúa Chè
Trong những năm gần đây, vấn đề Nguyễn Triệu Luật đã được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm, chú ý nhiều hơn Tác giả Hoài Anh trong
cuốn Chân dung Văn học đã có bài viết Nguyễn Triệu Luật với những cố gắng
Trang 11đi vào tiểu thuyết lịch sử Tác giả đã chỉ ra những chỗ chưa thỏa đáng của Vũ
Ngọc Phan khi cho rằng các tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật đều là những sách viết theo thể kí sự Tác giả còn khẳng định: “chỉ đi ra khỏi cái bóng của
Hoàng Lê nhất thống chí, Nguyễn Triệu Luật mới sáng tác được một cuốn
thành công: Hòm đựng người” [1, tr 669]
Trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật - tinh thần nhân
bản dồi dào, tác giả Thi Thi đã trích dẫn lời nhận xét của nhà văn Trần Thùy
Mai về tuyển tập tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật: “Quả thực, với tuyển tập này, bạn đọc hôm nay có dịp tiếp cận được với những tác phẩm kết hợp giữa chất liệu hấp dẫn của sử liệu và sự rung động của văn chương” [5, tr 207] Trong đó, điểm chung dễ nhận thấy là một “tinh thần nhân bản dồi dào”
của ngòi bút Nguyễn Triệu Luật
Ngày 23/08/2012, nhân kỉ niệm 110 năm ngày sinh Nguyễn Triệu Luật, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức hội thảo Nguyễn Triệu Luật - Con người và tác phẩm Sau hội thảo, con trai cụ Luật đã tập hợp các bài tham luận, bài phát
biểu trong hội thảo và chịu trách nhiệm bản thảo để in thành sách Nguyễn
Triệu Luật - Con người và tác phẩm Nhờ những lời kể, lời nhận xét, đánh giá
của những người thân, những người đã từng tiếp xúc với Nguyễn Triệu Luật cũng như những nhà nghiên cứu, đã hé mở thêm nhiều chi tiết về cá tính, phẩm chất, đời sống cá nhân, quá trình hoạt động cách mạng của nhà văn, những yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến tác phẩm cũng như góp phần dẫn đến sự thành công của cây bút Nguyễn Triệu Luật
Trong bài viết Nguyễn Tuân bình luận về Nguyễn Triệu Luật của tác giả Hữu
Ngọc, ông chỉ ra rằng: tiểu thuyết lịch sử của ta trước 1945 khai thác những khía cạnh của tiểu thuyết lịch sử lãng mạn Pháp, phù hợp với tâm lý người đương thời, tìm thoát ly trong thời gian và không gian, hư cấu để dựng lại không khí xưa như thật với những chuyện li kì và nhân vật đặc biệt Tuy
Trang 12nhiên, Nguyễn Triệu Luật viết tiểu thuyết lịch sử để khơi mạch lòng yêu nước, bảo vệ những giá trị nhân văn của cha ông Không chỉ có thế, tác giả trích dẫn lời khen của Nguyễn Tuân về “cái học và cái tài” của Nguyễn Triệu
Luật trong Bà Chúa Chè (1938), “Viết đến chính sử, người ta thường kể đến
cái học - khảo cứu của sử gia Viết về tiểu thuyết, người ta thường bàn tới nghệ thuật của tác giả Nói về lịch sử tiểu thuyết, ngoài cái học kê cứu, sở cứu vào tài liệu, người ta còn phải điểm đến cả cái tài của bố cục, của tưởng
tượng Cuốn Bà Chúa Chè toàn thể được cả” [40]
Với tác giả Mai Thục trong bài Nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử của
Nguyễn Triệu Luật tác giả đã chỉ ra điểm mới trong tư duy nghệ thuật và
những nét đặc sắc trong nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật: “Khám phá nghệ thuật viết tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật thấy ông tư duy khoa học lịch sử, kết hợp giữa nghiên cứu và tưởng tượng Giọng kể chuyện theo phong cách hiện đại: đa thanh, đa giọng điệu, dùng nhiều đối thoại và ngôn ngữ kịch nói, hợp với nhịp nghĩ suy và nhịp vận động của con người hiện đại Đọc tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật, người đọc không thấy có mâu thuẫn giữa các sự kiện lịch sử và các nhân vật như họ từng được biết” [5, tr 116]
Nguyễn Huệ Chi với bài Nguyễn Triệu Luật - cây bút tiểu thuyết lịch sử
xuất sắc của nền tiểu thuyết Việt Nam hiếm có người so sánh đã chỉ ra điểm
thành công, thu hút độc giả của Nguyễn Triệu Luật là ở “bút pháp mổ xẻ và
hư cấu lịch sử táo bạo, trần trụi và chân thực đến độ người đọc không hề mảy may cảm thấy nhà văn nói thay lịch sử, cũng không phá vỡ khuôn hình lịch sử” [5, tr 247] Lịch sử trong tiểu thuyết của ông hàm chứa nhiều dự báo cho hiện tại, song vẫn là một lịch sử vận động tự nó, theo đúng những quy luật như nó vốn có
Nhà giáo Phạm Toàn có bài viết Nguyễn Triệu Luật: Tài hoa - uyên bác
- dấn thân, ông đã đánh giá tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật bằng
Trang 13con mắt của kẻ hậu sinh Ở bài viết này tác giả đã phân biệt: lịch sử - sử học - tiểu thuyết lịch sử đồng thời tác giả còn đưa ra quan niệm về tiểu thuyết lịch
sử của Nguyễn Triệu Luật cùng với những nỗi niềm của Nguyễn Triệu Luật gửi đến con người hiện đại
Trong bài viết: Tính lịch sử - Khả năng và mức độ qua tiểu thuyết Bà
Chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật, Phạm Tú Châu nghiên cứu dựa trên những
cứ liệu lịch sử trong Hoàng Lê nhất thống chí để so sánh với những cứ liệu lịch sử trong Bà Chúa Chè từ đó chỉ ra những điểm khác biệt cũng như những
chi tiết hư cấu trong hai tác phẩm để thấy được khả năng sáng tạo của ngòi bút Nguyễn Triệu Luật
Nhà văn Lê Văn Ba trong bài viết Nguyễn Triệu Luật: Tiểu thuyết lịch
sử - Văn hóa lịch sử tiểu thuyết đã tập trung lý giải những thế mạnh, những
điều làm nên sự khác biệt của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật Trước hết là ông đã viết như ông đã nghĩ, “dùng văn chương phục dựng lại cho người hôm nay chiêm ngưỡng tự hào cái hôm qua chỉ còn là ảo ảnh, nỗi niềm hoài cổ” [5, tr 90] Điều quan trọng thứ hai làm nên sự khác biệt trong những
tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật đó là việc “viết tiểu thuyết lịch sử giúp ông
ký thác tâm sự của mình” ng viết tiểu thuyết lịch sử để lấy chuyện xưa mà
nói nay Nguyễn Triệu Luật mong muốn bạn đọc nhìn vào quá khứ để thấy lại lịch sử dân tộc, thức dậy lòng yêu nước
viết tiểu thuyết lịch sử bị quên lãng, tác giả đã điểm lại những bài tham luận
của các tác giả trong buổi hội thảo về con người và sự nghiệp văn chương Nguyễn Triệu Luật, tác giả trích dẫn lời nhà giáo Phạm Toàn: “Khác với các
sử gia, người viết tiểu thuyết lịch sử tham gia vào tâm lý của nhân vật Nguyễn Triệu Luật đã viết tiểu thuyết lịch sử với tinh thần như thế chứ không phải một sử gia chép sử” [5, tr 255] và trích dẫn lời nhận xét của nhà văn
Trang 14Nguyễn Xuân Khánh về quan điểm của Nguyễn Triệu Luật “khi viết tiểu thuyết lịch sử có thể hư cấu hoàn toàn, có thể dựa trên sự kiện có thật 100% nhưng phải bằng đánh giá khách quan, có thể trộn lẫn giữa cái hư và cái thực” [5, tr 255] để rồi tác giả khẳng định cá tính sáng tạo riêng của Nguyễn Triệu Luật - đó là một trong những nhân tố góp phần làm nên thành công cho tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật
tác giả Dương Yến, Hồng Mây đã nói lên một sự thật đau lòng Nguyễn Triệu Luật là một nhà văn có những cống hiến lớn cho nền văn học nước nhà nhưng lại bị “lãng quên”
Triệu Luật Công trình của tác giả Mai Thị Thanh Hà ở Đại học Vinh, năm
2009 với đề tài Phong cách tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật Luận văn
đã làm nổi bật phong cách của Nguyễn Triệu Luật trong dòng chảy của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945 từ việc lựa chọn đề tài, cảm hứng sáng tạo và hình thức nghệ thuật Tiếp đến là luận văn của tác giả Đặng Thị Hương Liên ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nguyễn Triệu Luật dưới góc nhìn văn hóa và thi pháp Với phạm vi nghiên
cứu trong bốn tác phẩm: Hòm đựng người, Bà Chúa Chè, Chúa Trịnh Khải,
Loạn kiêu binh Luận văn đã đưa ra những lý giải về quan điểm sáng tác tiểu
thuyết lịch sử, các nhân tố ảnh hưởng đến việc sáng tác của tác giả Nguyễn Triệu Luật, đã khảo sát những biểu hiện văn hóa cũng như thi pháp trong bốn tác phẩm của nhà văn này với những dẫn chứng cụ thể giúp người đọc có thể hình dung được không gian văn hóa Việt Nam thời kỳ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Đồng thời, những đặc trưng về mặt thi pháp của tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật cũng được tác giả khái quát một cách khá cụ thể, chi tiết
Trang 15Ngoài ra, còn có luận văn của tác giả Ngọ Thị Minh ở Đại học Quốc gia Hà
Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2014 với đề tài Thế
giới nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật Tác giả luận văn đi sâu
nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật qua những biểu hiện của thế giới nghệ thuật trong tám tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật bao gồm toàn bộ nội dung: hiện thực cuộc sống, con người, xã hội, cũng như các phương thức nghệ thuật: cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu
Qua những tham luận, các bài viết và các công trình luận văn thạc sĩ, có thể thấy vấn đề Nguyễn Triệu Luật - tác giả và tác phẩm là một vấn đề hấp
dẫn và vẫn còn rất mới mẻ Vì thế, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm tiểu thuyết
lịch sử Nguyễn Triệu Luật để nghiên cứu Thông qua đề tài này, chúng tôi
muốn làm rõ những nội dung tư tưởng, giá trị nghệ thuật mà Nguyễn Triệu Luật đã tạo ra để phần nào giải mã, khái quát lại những đặc điểm chính trong tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Nguyễn Triệu Luật trên cơ sở đó khẳng định những đóng góp của tác giả đối với quá trình vận động của văn học Việt Nam hiện đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trong đề tài này, đối tượng mà chúng tôi nghiên
cứu là các đặc điểm tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật bao gồm các vấn đề thuộc nội dung: cảm hứng tư tưởng, hiện thực lịc sử, thế giới nhân vật
và các phương diện thuộc hình thức nghệ thuật của tác phẩm như kết cấu, cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu
Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi khảo sát mười tiểu thuyết lịch sử của
tác giả Nguyễn Triệu Luật trong quyển Nguyễn Triệu Luật - Tiểu thuyết lịch
sử của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2013 như sau:
- Trần Hữu Lượng - một người Việt Nam xưng đế ở Tàu (1933)
- Hòm đựng người (1936)
Trang 16- Bà Chúa Chè (1938)
- Loạn kiêu binh (1939)
- Ngược đường Trường Thi (1939)
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật, chúng
tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử: Chúng tôi đặt tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật trong mối quan hệ với lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học có liên quan đến đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Luận văn sử dụng phương pháp này vói ý thức đặt nhà văn Nguyễn Triệu Luật trong trong toàn bộ dòng tiểu thuyết lịch sử để đánh giá và thấy được sự đóng góp của nhà văn
- Phương pháp thống kê: Theo phương pháp này, luận văn thu thập, thống kê các số liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: luận văn sử dụng phương pháp này
để so sánh với các tác giả cùng thời viết về mảng tiểu thuyết lịch sử nhằm làm nổi rõ đặc điểm của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp
5 Đóng góp của luận văn:
Luận văn góp phần tái hiện chân dung của Nguyễn Triệu Luật - nhà văn, viết tiểu thuyết lịch sử từng bị quên lãng
Trang 17Luận văn sẽ góp phần tìm hiểu một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật cũng như đánh giá sự đóng góp của nhà văn trong quá trình hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỉ XX
Những kết quả của công trình nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho quá trình dạy và học ở chương trình THPT
Trang 18CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT
1.1 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
1.1.1 Tiền đề lịch sử - xã hội
Vào giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, bối cảnh lịch sử Việt Nam đã thay đổi nhiều so với trước Bằng nhiều thủ đoạn đàn áp đẫm máu, thực dân Pháp
đã bình định xong Việt Nam Chúng đã thiết lập bộ máy hành chính để cai trị,
để trấn áp và từng bước đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa với mục đích khai thác nguồn nguyên liệu ở thuộc địa để cung cấp cho những ngành công nghiệp ở chính quốc và sử dụng triệt để nguồn nhân công rẻ mạt ở nước ta Chỉ trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chúng tiến hành ở Việt Nam hai cuộc khai thác lớn Chính quá trình khai thác thuộc địa cùng với việc đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở một số đô thị lớn: Hà Nội, Vinh, Sài Gòn đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp một cách nhanh chóng và sâu sắc Song song tồn tại với quan hệ sản xuất phong kiến, một quan hệ sản xuất mới bắt đầu hình thành - quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa trong một nước thuộc địa Như vậy có nghĩa là xã hội Việt Nam lúc này bên cạnh giai cấp nông dân, địa chủ đã xuất hiện giai cấp tư sản bản xứ vốn yếu hèn đồng thời một giai cấp vô sản tương đối mạnh mẽ hơn cũng xuất hiện - đây vốn là con đẻ của giai cấp nông dân nhưng họ bị thực dân Pháp cướp hết ruộng đất trở thành những người thợ làm thuê trong các nhà máy và công xưởng Vốn là một đứa con sinh sau đẻ muộn trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, một mặt chưa thoát thai được cái đuôi phong kiến, mặt khác bị đế quốc chèn ép, giai cấp tư sản Việt Nam sớm phân hóa thành tư
Trang 19sản mại bản và tư sản dân tộc Cùng với đó là sự xuất hiện tầng lớp tiểu tư sản
và dân nghèo thành thị
Bên cạnh chính sách bóc lột về kinh tế với những thủ đoạn hết sức dã man thì về mặt chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân, tiến hành nhiều chủ trương và biện pháp lừa bịp giả dối, chúng truyền bá tư tưởng văn hóa phản động, đồi trụy, khiêu dâm của phương Tây vào Việt Nam Không những thế, chúng lại ngăn chặn những ảnh hưởng tích cực của cách mạng thế giới vào nước ta Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Các trường học có hệ thống giáo dục nhất định trong đó việc dạy tiếng Pháp đã lấn
át hẳn tiếng Việt Cùng với chế độ học đường như thế chúng đã đào tạo ra ít nhiều những tên tay sai cho nhà nước bảo hộ của nước mẹ đại Pháp
Với sự đô hộ của thực dân Pháp cùng công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế đã làm băng hoại tinh thần và ý chí chiến đấu của người Việt Nam Làm cho tâm lí của người Việt Nam phân hóa theo chiều hướng ngày càng phức tạp Cùng với đấu tranh quân sự là đấu tranh chính trị, nhiều cuộc bãi công diễn ra quyết liệt Trong bối cảnh thời đại ấy, các tác giả cảm thấy cần
có một hướng đi mới trong sáng tác, ngoài những đề tài quen thuộc Nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thời đại, trong điều kiện bấy giờ, để tránh sự kiểm duyệt khắt khe của thực dân Pháp, không còn cách nào khác là mượn chuyện lịch sử hàng trăm năm trước, để ẩn vào đó nội dung hiện thực đương thời mang nặng một nỗi niềm trăn trở, một nỗi day dứt khôn nguôi về vận mệnh dân tộc, đất nước Họ đã sáng tác những tác phẩm văn học yêu nước
Bộ phận văn học này không chỉ vẽ ra sự thật về một giai đoạn đau thương của dân tộc mà họ đã làm sống lại những trang sử hào hùng của dân tộc, để rồi ẩn vào đó nội dung hiện thực đương thời Đó như là sự tìm về quá khứ dân tộc,
sự an ủi, sự gửi gắm nỗi niềm của các tiểu thuyết gia Không chỉ có thế, tác phẩm tiểu thuyết lịch sử như là chiếc cầu nối giữa con người thực tại với lịch
Trang 20sử cha ông Thông qua tác phẩm, độc giả không chỉ biết, tự hào về quá khứ của dân tộc mà còn biết đớn đau, nuối tiếc trước thực tại đau thương của dân tộc nhờ thế cũng đã khơi gợi lòng yêu nước nồng nàn, truyền lại ngọn lửa yêu nước, giữ nước của cha ông vào con người hiện tại
thuyết lịch sử những năm đầu thế kỉ XX đã ra đời và phát triển cùng với sự xuất hiện của ý thức đấu tranh giành độc lập dân tộc, ý thức về lòng tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước.Tác phẩm tiểu thuyết lịch sử mượn câu chuyện đời xưa để nói nay Nói nay để rồi không chỉ khích lệ tinh thần yêu nước, lòng
tự tôn dân tộc mà còn thức tỉnh nhân dân để họ hiểu, nhập cuộc và dấn thân cho sự nghiệp đất nước Có lẽ đó cũng là nguyên nhân và là mục đích, động
cơ để các nhà tiểu thuyết gia viết tiểu thuyết lịch sử Như vậy sự ra đời của tiểu thuyết lịch sử xuất phát từ yêu cầu khách quan của thời đại và dân tộc
1.1.2 Tiền đề văn hóa, văn học
cấp tầng lớp mới Chính những tầng lớp này đã tạo nên công chúng văn học mới Họ đòi hỏi một thứ văn học khác đáp ứng nhu cầu nhận thức và thẩm mĩ của họ Khác với những thế hệ nhà nho cuối mùa, thế hệ thanh niên tư sản, trí thức, viên chức cao cấp đã có một cuộc sống “Âu hóa ở thành thị” Ở họ có những yêu cầu mới về văn hóa và văn nghệ Những thanh niên có tâm huyết, khát khao tìm đọc các sách báo, có tinh thần yêu nước và cách mạng Những thay đổi về mặt tư tưởng, tình cảm, quan điểm thẩm mĩ đặt ra cho nhiều thế
hệ nhà văn những năm hai mươi của thế kỉ trước, nhiệm vụ phải xây dựng một nền văn hóa mới hiện đại
Cùng với đó là sự xuất hiện và phát triển khá mạnh của nghề in, nhà xuất bản, với kĩ thuật hiện đại Viết văn cũng trở thành một nghề kiếm sống Nhà văn và công chúng có sự gắn bó hơn trước Phê bình văn học cũng ra đời và
Trang 21phát triển trên báo chí Chữ quốc ngữ ngày càng được phổ biến, lần đầu tiên chính quyền thực dân cho giảng dạy ở ba lớp dưới của bậc tiểu học với Nghị định được kí ngày 18/9/1924 với toàn quyền Merlin
Bên cạnh đó, những năm cuối thế kỉ XIX, cùng với sự xâm chiếm của văn hóa Tây phương, nền văn học nước ta phải chứng kiến sự tan rã của nhiều quan niệm và nhiều thể loại văn học trung đại Chính quá trình hiện đại hóa này đã làm cho diện mạo văn học Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng và đi theo quỹ đạo, quy luật phát triển của văn học thế giới Sự thay đổi phạm trù văn học theo hướng hiện đại hóa bắt đầu từ sự thay đổi hình thái xã hội, kéo theo là sự thay đổi ý thức hệ trong văn học Sự thay đổi này kéo theo sự chuyển đổi phạm trù văn học từ trung đại sang hiện đại “Từ phạm trù văn học hiện đại này đã đặt ra những yêu cầu phải đổi mới về hệ thống thể loại” [22, tr.44] Nhiều thể loại mới ra đời trong đó thể loại chủ công là tiểu thuyết Sự ra đời của tiểu thuyết lịch sử cũng xuất phát từ yêu cầu khách quan về sự đa dạng hóa các thể loại văn học cũng như quá trình hình thành những quan niệm văn học mới trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc, thoát khỏi những thể loại xưa cũ Ngoài sự tác động của yếu tố thời đại, tiểu thuyết lịch sử ra đời còn có sự tham gia của những yếu tố khác, trong đó phải kể đến những yếu tố văn hóa - văn học truyền thống làm tiền đề như thể loại truyền thuyết lịch sử - một thể loại văn xuôi tự sự bằng chữ Hán (truyện danh nhân lịch sử); truyện thiền sư; tiểu thuyết chương hồi được xây dựng trên cơ sở của một cốt lõi lịch sử có thật nhưng được hư cấu và hoang đường hóa một phần nào đấy Chính những
di sản văn học quá khứ đã góp phần ươm mầm cho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX xuất hiện và phát triển Rõ ràng những “độc giả mới làm quen với văn học Pháp và văn học châu Âu, làm quen với kĩ thuật viết văn, viết báo hiện đại Những bạn đọc ấy của văn học không thể nào bằng lòng mãi với tiểu thuyết chương hồi” [9, tr 18] Hơn thế, chính sự tiếp xúc với văn học và
Trang 22văn hóa nước ngoài góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa văn học trong
đó phải kể đến phong trào dịch thuật truyện và tiểu thuyết Trung Quốc
Đối với tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, bên cạnh việc ảnh hưởng của truyện Tàu thì càng về sau, sự ảnh hưởng đó càng giảm, thay vào đó là ảnh hưởng tiểu thuyết hiện đại phương Tây, đặc biệt là tiểu thuyết Pháp Vào những năm 1930 trở đi, sự ảnh hưởng không chỉ bằng con đường dịch thuật mà bằng con đường giáo dục trong nhà trường Pháp - Việt “Trong khi tiếp thu văn hóa phương Tây thông qua văn hóa Pháp, người Việt Nam đã tìm thấy ở đó những nhân tố mới phục vụ cho công cuộc đấu tranh tự lực tự cường, mở đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc” [19, tr 11] Người Việt
đã tiếp thu được những tư tưởng tiến bộ “tự do - bình đẳng - bác ái” của Cách mạng Pháp; của triết học ánh sáng Mác - Ăng Ghen Vì thế mà những lớp thanh niên những năm 1920 đã đi học và đi theo con đường giáo dục mới Chính lớp học giả này đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu và dịch thuật đặc biệt về khoa học xã hội, nhất là tiểu thuyết
Trước thời đại và vận mệnh dân tộc, đội ngũ sáng tác tiểu thuyết lịch sử ngày một đông đảo Điều này có lẽ xuất phát từ tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc cùng với những tâm sự, nỗi buồn, niềm yêu đối đất nước, đối với cha ông và hơn hết bằng chính tài năng, bản lĩnh của người nghệ sĩ có tâm huyết muốn nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với vận mệnh chung của quốc gia, dân tộc
1.2 DIỆN MẠO TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ
KỈ XX
1.2.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1930
Có thể nói văn học Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX vẫn đang vận động chuyển mình từ văn học trung đại sang văn học hiện đại Ở giai đoạn này, tiểu thuyết lịch sử tuy chưa nhiều nhưng đã có nội dung phong
Trang 23phú và tập trung vào một số chủ đề chính Theo kết quả nghiên cứu ở luận án tiến sĩ của tác giả Bùi văn Lợi, ông đã chỉ ra rằng “chủ đề nổi bật của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này là phản ánh những sự kiện quan trọng trong lịch
sử giữ nước và cứu nước của dân tộc” [22, tr 72] Ở mảng đề tài này có tác
phẩm Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu - một tác phẩm đã ca ngợi
những vị anh hùng dân tộc, với vẻ đẹp có sự kết hợp “giữa chất phi thường và tính chất bình thường, giữa sức mạnh tập thể và sức mạnh cá nhân Họ là những con người xuất phát từ lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sôi sục chứ không đơn thuần là chỉ vì lòng trung nghĩa như trong lịch sử” [22, tr 73] Phan Bội Châu đã xây dựng người anh hùng cụ thể là Trần Quý Khoáng đã lãnh đạo nhân dân chống lại ách đô hộ của Nhà Minh ở trại Trùng Quang vào
những năm đầu thế kỉ XV Tác phẩm Tiếng sét đêm đông của Nguyễn Tử
Siêu đã tái hiện lại hai lần chiến thắng oai hùng của dân tộc ta trước quân Nam Hán dưới tài cầm quân của Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền Ngoài ra
Nguyễn Tử Siêu còn có các tác phẩm khác Vua Bố Cái, Lê Đại Hành “Tiểu
thuyết của ông thấm nhuần ý thức và cảm hứng dân tộc, thể hiện tấm lòng kiên trung đối với đất nước, với lịch sử dân tộc” [24, tr 673] Với tác giả Tân
Dân Tử có các tác phẩm Giọt máu chung tình, Gia Long tẩu quốc Trong
Giọt máu chung tình, Tân Dân Tử đã ca ngợi những tấm gương đã cống hiến
cho sự nghiệp giữ nước của dân tộc Điều đặc biệt ở đây là người anh hùng không chỉ là những trang nam nhi hào kiệt mà còn là những người phụ nữ - những giai nhân tuyệt sắc Với tác giả Phạm Minh Kiên thì có các tác phẩm
Việt Nam anh kiệt (1927), Việt Nam Lí Trung Hưng (1929) Trở về với quá
khứ dân tộc, bằng cảm hứng yêu nước dạt dào, cảm hứng dân tộc sâu sắc, bằng việc ngợi ca những người anh hùng dũng cảm, những người phụ nữ thủy chung, các tác giả muốn đánh thức hiện tại, khích lệ lòng yêu nước, yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc Trong các tác phẩm của mình, nhà văn đã tận
Trang 24dụng mọi cơ hội để ám chỉ thời cuộc, nói lên sự đau xót đối với đất nước bị giặc ngoại xâm Bằng tài năng của mình họ đã làm sống lại một số giai đoạn lịch sử, khắc họa được chân dung của nhiều nhân vật anh hùng có thật trong lịch sử
cũng đã khẳng định “đề tài nội trị cũng là đề tài được nhiều tác giả đề cập
đến” [22, tr 77] Ở mảng đề tài này, có các tác phẩm của Tân Dân Tử: Gia
Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc Trong đó “tác phẩm Gia Long tẩu quốc
phản ánh cuộc giao tranh của Nguyễn Ánh và tập đoàn Tây Sơn vào những
năm cuối thế kỉ XVIII” [22, tr 77] Ngoài ra còn có tác phẩm Đinh Tiên
Hoàng của Nguyễn Tử Siêu
thoát khỏi kết cấu chương hồi, bố cục thời gian tuyến tính, đơn tính, không có
sự đa dạng trong kết cấu Hầu như còn chịu ảnh hưởng nhiều của thi pháp cổ điển - chủ yếu là tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc Ngôi kể sử dụng chủ yếu là ngôi thứ ba, ngôn ngữ theo lối biền ngẫu, kết thúc đa phần có hậu theo kiểu truyện dân gian Tuy nhiên, ta cũng thấy được một số chuyển biến
rõ rệt so với trước đó, đặc biệt ở nghệ thuật xây dựng nhân vật Nhân vật chính trong các tác phẩm đều là những nhân vật có thật trong lịch sử, nhân vật thiên về hành động là chính nhưng được miêu tả một cách sinh động, có hồn với những suy tư, vui buồn, cảm xúc, lo nghĩ rất thường nhật Có thể nói rằng, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này còn nhiều ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ điển, song vẫn có một số tác phẩm bước đầu đổi mới theo hướng hiện đại chủ yếu
là sự đổi mới về kết cấu
1.2.2 Giai đoạn từ 1930 - 1945
Đây là giai đoạn tiểu thuyết lịch sử phát triển khá mạnh mẽ nhưng cũng khá phức tạp trong tư tưởng nghệ thuật và tư tưởng chính trị Tác giả Bùi văn
Trang 25Lợi đã chỉ ra cái nhìn khác nhau của nhiều tác giả viết tiểu thuyết lịch sử Có nhiều tác giả viết tiểu thuyết lịch sử như là sự tìm về với quá khứ hào hùng của dân tộc, xem đó “là động cơ để nhà văn thể hiện nỗi niềm yêu nước, lòng
tự hào, tự tôn dân tộc và ý chí đánh giặc cứu nước” [22, tr 81] Ở quan điểm
này có các tác giả như Nguyễn Tử Siêu với Hai bà đánh giặc, Vua bà Triệu
Ẩu, Mai Hắc Đế Nguyễn Huy Tưởng với Đêm hội Long Trì Chu Thiên có
Lê Thái Tổ, Bà Quận Mỹ Nhưng cũng có nhà văn sáng tác tiểu thuyết lịch
sử như là sự tìm về quá khứ, lịch sử và xem đó như ngôi nhà trú ẩn để nương náu, để chối bỏ, để “trốn tránh thực tại, thi vị hóa hiện thực lịch sử thời xa
xưa, để đối lập với thực tại mà mình đang sống” [22, tr 81] như Tiêu Sơn
tráng sĩ của Khái Hưng, Bánh xe khứ quốc của Phan Trần Chúc …
Song song với mảng đề tài này, đề tài nội trị phát triển nhanh so với giai
đoạn trước với hàng loạt các tác phẩm của đội ngũ sáng tác mới: Ai lên Phố
Cát của Lan Khai, Đêm hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng, Chúa Trịnh Khải, Bà Chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật…
Có thể nói ở chặng 1930 - 1945, tiểu thuyết lịch sử đã có những bước tiến rõ về thi pháp, qui mô tác phẩm, nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm
Về phương diện thi pháp, các nhà tiểu thuyết vẫn chưa thoát li hẳn tiểu thuyết cổ điển nhưng đã mạnh dạn hơn trong việc đổi mới cách viết theo lối của tiểu thuyết hiện đại phương Tây Khuynh hướng lãng mạn đã làm cho tiểu thuyết lịch sử chặng đường này giảm đi tính lịch sử và tăng chất tiểu thuyết Qui mô tác phẩm cũng được tăng lên và được thể hiện ở độ dày của các trang sử tiểu thuyết và số lượng nhân vật được xây dựng trong tác phẩm
Về mặt nội dung, các tác giả e dè hơn trong mảng đề tài đấu tranh chống xâm lược mà thay vào đó là đề tài nội trị Họ như tránh sự kiểm duyệt khắt khe cũng như sự đàn áp thẳng tay của thực dân Pháp nên đa phần đội ngũ
Trang 26sáng tác như chỉ mượn chuyện xưa để nói bóng gió chuyện đời nay Đó là cách duy nhất để nhà văn mượn văn chương - vũ khí tinh thần đánh vào thực tại xã hội, là cách giải bày nỗi niềm, đánh thức và cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân Và nhờ thế mà họ có thể đồng hành cùng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
1.3 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT
1.3.1 Những yếu tố tiểu sử ảnh hưởng đến sáng tác của Nguyễn Triệu Luật
Nguyễn Triệu Luật (1903 - 1946) quê ở làng Du Lâm, huyện Đông
Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thuộc Đông Anh (nay là Hà Nội) Nhắc đến
Bắc Ninh chúng ta không thể không nhớ đến vùng đất Kinh Bắc đầy truyền thống với một nền tảng văn hóa - lịch sử lâu đời, nơi được coi như cái nôi của nền văn hóa Việt cổ với biết bao hình thức sinh hoạt văn hóa, biết bao sự kiện lịch sử Chính mảnh đất giàu truyền thống văn hóa này đã tạo điều kiện giúp Nguyễn Triệu Luật sớm được tiếp xúc với lịch sử dân tộc qua những câu chuyện kể, qua các trò chơi, lễ hội, các hình thức diễn xướng dân gian vốn được diễn ra thường xuyên tại đây (như chèo, múa rối, tuồng cổ )
Nguyễn Triệu Luật được sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa cử ng là hậu duệ đời thứ mười hai của dòng họ Nguyễn (gốc Lý) ở làng Vân Điềm, xã Vân Hà, huyện Đông Anh - Hà Nội Khi Trần Thủ Độ ép
Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, một cành họ Lý phải đổi sang
họ Nguyễn (phiêu dạt về Vân Điềm) và bị đầy lên vùng biên ải chỉ làm dân đen không được đi học trong suốt thời nhà Trần Tuy nhiên, đến thời Lê Trung Hưng, sau khi trở về trấn Kinh Bắc, cành họ này mới có người đi học, trở thành thầy đồ ở làng, sau đó nổi lên thành một dòng họ khoa bảng ở Kinh Bắc Mở đầu cho dòng họ khoa bảng này là cụ Nguyễn Thật - vốn là anh học trò nghèo con ông đồ làng Từ đời cụ Nguyễn Thật trở đi, tất cả con cháu đều
Trang 27là những quan đầu triều có quyền cao chức trọng nhưng họ không ham quyền lực chỉ là phò vua trị nước, an dân Suốt thời Lê - Trịnh cho đến vua Tự Đức triều Nguyễn, dòng họ mười một đời khoa bảng có tám tiến sĩ, nhiều cử nhân Bản thân Nguyễn Triệu Luật là cháu năm đời của danh sĩ Nguyễn Án, tác giả
tập Tang thương ngẫu lục (cùng soạn với Phạm Đình Hổ), còn ông nội của
nhà văn chính là Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản, một đại nho đồng thời là một tác giả văn học lớn của thế kỷ XIX, một đại thần triều Tự Đức Nổi bật của dòng họ này là coi trọng việc giáo dục, đào tạo thế hệ tương lai và lưu truyền văn hóa tốt đẹp của dân tộc Tài sản quý báu mà họ để lại cho con cháu là tài liệu, sách vở Điều này cũng được ông Nguyễn Triệu Căn nhắc lại, nhớ lại ở
Du Lâm thân sinh ông tức là Nguyễn Triệu Luật đã dành hai gian nhà chứa nhiều các sách chữ Nho, các sách kim cổ, các trước tác của Nguyễn Án, tổ năm đời của ông và toàn bộ tác phẩm của ông nội ông Nguyễn Tư Giản Qua những câu chuyện ghi lại bằng gia phả của dòng họ, các cụ đại khoa khi đi sứ
đều sưu tầm sách hay, sách quý nước ngoài cho con cháu Riêng thân sinh của
cụ Nguyễn Triệu Luật là cụ Nguyễn Quý Viên đã từng làm thụ giáo tại Hải Phòng Ông đã cùng một số anh em tích cực ủng hộ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục
Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống như vậy, hẳn là Nguyễn Triệu Luật ngay từ bé đã được rèn giũa một cách nghiêm chỉnh, lại có điều kiện sớm tiếp xúc với sách vở, đặc biệt là các sách lịch sử, văn chương cổ Chính điều này đã kích thích tinh thần ham học, ham tìm hiểu trong con người nhà văn, đặc biệt là niềm đam mê đối với lịch sử dân tộc
Không chỉ cha mình, đến Nguyễn Triệu Luật vẫn chọn học Sư phạm Nguyễn Triệu Luật tốt nghiệp ngành Sử, trường Nam Sư phạm Hà Nội, sau
đó đi dạy nhiều nơi tại các tỉnh Tuyên Quang, Hà Nội, Hải Phòng Trong quá trình giảng dạy, ông đồng thời tham gia vào Việt Nam Quốc dân Đảng Trong
Trang 28thời gian tham gia cách mạng, ông đã tiếp thu được nhiều tư tưởng yêu nước mới, để làm đầy thêm tư duy chính trị, lí luận của mình Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, ông bị Pháp bắt đi tù, sau đó bị quản thúc ở quê nhà Du Lâm, bị đuổi không cho dạy học ở trường công Để kiếm sống, sau đó ông phải đi dạy ở trường Lễ Văn (Vinh - Nghệ An) Những năm tháng thăng trầm, khổ cực, phải lăn lộn tại nhiều mảnh đất, chứng kiến nhiều mảnh đời khác nhau, cũng như những “gông kìm” mà thực dân Pháp đeo lên cổ nhân dân đã giúp Nguyễn Triệu Luật hiểu một cách sâu sắc hơn về đất nước, con người dân tộc mình, từ đó mà đau đáu những nỗi niềm về nhân sinh, thời cuộc Vì vậy, từ một nhà giáo dạy lịch sử, ông đã chuyển hướng vừa dạy học, vừa viết báo, viết văn (chủ yếu là các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử) Nguyễn Triệu Luật trở thành một nhà văn - nhà tiểu thuyết lịch sử biết kết hợp những kiến thức lịch
sử học được với tư duy nghệ thuật, cái nhìn thẩm mỹ của văn chương, để viết nên những trang tiểu thuyết lịch sử có giá trị đến tận ngày nay
Các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật có sức hấp dẫn
và thuyết phục người đọc có lẽ không chỉ bởi sự tài hoa của cây bút tiểu thuyết lịch sử mà còn là sự am hiểu lịch sử của Nguyễn Triệu Luật Hơn thế, các cụ tổ của ông đã từng giữ chức vụ cao trong bộ Lại, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình thời vua Lê - chúa Trịnh Nhờ vậy mà phần nào tác giả đã hiểu sâu sắc
về tình hình triều chính thời Lê - Trịnh, cách thức tổ chức quân đội, cách xưng hô, nghi lễ cách thức hiểu rõ hơn hồn cốt của một thời vua chúa với
cả tầng sâu văn hóa, kiến trúc, y phục, ngôn ngữ giao tiếp, phong cách sống Vốn xuất thân trong một gia đình khoa bảng coi trọng Nho học, coi trọng việc dạy con cháu chữ Hán Mặt khác, thân sinh của Nguyễn Triệu Luật là một người thấm nhuần tư tưởng canh tân đất nước Ông đã cho con trai mình
là Nguyễn Triệu Luật học trường Tiểu học Pháp - Việt và khuyến khích con đọc sách văn hóa Pháp ngay từ tiểu học Bản thân Nguyễn Triệu Luật lại là
Trang 29thế hệ trưởng thành trong những năm 1920, 1930 nên sớm tiếp xúc với nền giáo dục Tây học Đến khi học trường Nam Sư phạm Hà Nội, ông đã thông thạo cả Việt văn, Hán văn và Pháp văn Có lẽ vì thế mà “ông vừa có đạo làm người - gốc đạo của Nho giáo, vừa có khoa học và cả tính dân chủ của phương Tây đặc biệt là tính khoa học chính xác, cách lập luận logic và cả ý thức phong phú được tiếp thu từ văn hóa phương Tây qua các sách mà ông dày công nghiên cứu trong những năm học sư phạm” [5, tr 258]
Hơn một nhà văn, một nhà giáo, Nguyễn Triệu Luật còn là một chí sĩ yêu nước, Nguyễn Triệu Luật đã gặp gỡ nhiều tù chính trị - cộng sản từ các trường tư thục ở Vinh, ở họ nhóm lên ngọn lửa cách mạng, ngọn lửa yêu nước sục sôi Chính điều này đã khiến Nguyễn Triệu Luật trăn trở làm thế nào thổi tình yêu nước, lòng tự hào dân tộc vào thế hệ học trò - thế hệ trẻ khi bối cảnh bấy giờ là Nhật thuộc, mật thám nhiều vô kể Sách giáo khoa về sử thì đã xóa nhòa lòng yêu nước Chỉ còn cách Nguyễn Triệu Luật “tìm cách lách khéo để qua bài giảng vẫn gợi lên được lòng yêu nước” [5, tr 21] Chính những bài giảng về lịch sử ấy của ông là những cứ liệu lịch sử có giá trị, ít nhiều phục vụ đắc lực cho những trang tiểu thuyết lịch sử của mình sau này
Vì vậy, điều ấn tượng của độc giả về Nguyễn Triệu Luật - một nhà giáo mẫu mực, uyên bác, nhà văn tài hoa là: “một trí thức thuộc thế hệ con cái các nhà nho chuyển sang Tây học nên ôm ấp trong lòng những đạo lí làm người truyền thống, tư chất khí khái và nỗi ưu tư sừng sững vì đất nước, một con người biết giữ cuộc sống thanh đạm và biết dấn thân vì lí tưởng của mình” [5,
tr 248]
Chính quê hương Du Lâm - Bắc Ninh cùng dòng họ khoa bảng, hiếu học
và cuộc đời đầy sóng gió của Nguyễn Triệu Luật trước cơn bão táp của thời đại, là điểm tựa để tác giả có thể phóng bút một cách đầy “tài hoa, dấn thân”,
để viết nên những trang tiểu thuyết lịch sử tái hiện cả một thời kì lịch sử đầy
Trang 30biến cố, phức tạp, thấm đẫm tình cảm, ý chí yêu nước và cả một niềm tự hào của một nhà giáo, nhà tiểu thuyết, nhà nho hiện đại - Nguyễn Triệu Luật
1.3.2 Quan niệm của Nguyễn Triệu Luật về tiểu thuyết lịch sử
Nguyễn Triệu Luật là một trong những cây bút tiểu thuyết lịch sử xuất sắc góp thêm cho dòng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam những năm 1930 - 1945 một phong cách riêng
Khởi đầu là một thầy giáo dạy môn lịch sử mô phạm và uyên bác nhưng bằng tinh thần yêu nước, ông đã chọn con đường trở thành nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử để kí thác tình cảm và ý chí yêu nước của mình
Chúng ta biết rằng lịch sử những năm 1930 - 1945, đặc biệt là sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại, nhiều đảng viên đã bị bắt, bị giết hại, một số khác bị tù trong đó có Nguyễn Triệu Luật Sau khi được thả ra, bằng vốn văn hóa tri thức cùng với tư tưởng Nho giáo và truyền thống gia đình cùng với con người sớm tiếp xúc với Tây học, Nguyễn Triệu Luật đã viết tiểu thuyết lịch sử bằng cái tâm của một người “dấn thân” thấm thía nỗi đau của một người dân nô lệ, bằng dũng khí của một nhà Nho hiện đại và cả niềm đam mê, với nhu cầu tìm kiếm, khám phá những bước thăng trầm của lịch sử Để rồi từ những tác phẩm của mình, người đọc như hiểu hơn về lịch sử dân tộc, thôi thúc lòng yêu nước nơi họ và nung nấu ý chí quyết tâm đánh đuổi kẻ thù xâm lược “Họ tìm đến lịch sử như tìm đến với niềm an ủi, một ý chí tự hào, khát vọng thầm kín vào tiền đồ đất nước” [5, tr 24]
Vốn là một nghệ sĩ chân chính và có tài năng, lại là một thầy giáo dạy sử uyên bác, mang một nỗi đau chung của dân tộc, đất nước, Nguyễn Triệu Luật
đã đào sâu vào khoa học lịch sử để gửi gắm vào đó nỗi ưu tư Vì thế, khi viết
về đề tài lịch sử, Nguyễn Triệu Luật đã có những tuyên ngôn riêng cho cách viết của mình
Trang 31Khác với quan niệm của các cụ đi trước, viết tiểu thuyết lịch sử là “chép lại những việc thuộc sử cả” Với Nguyễn Triệu Luật trong tiểu thuyết lịch sử
có hai phần tiểu thuyết và lịch sử “Tiểu thuyết nghĩa là hư cấu và lịch sử nghĩa là chính xác, chân thật về các nhân vật và sự kiện lịch sử” [5, tr 78] Ở
phần lời tựa tiểu thuyết Bà Chúa Chè, ông đã đưa ra quan điểm riêng của
mình “Tôi chỉ là người thợ vụng, có thế nào làm nên thế, gốc tre già cứ để làm gốc tre già chứ không có thể và cũng không muốn hun khói, lấy màu vẽ vân cho thành gốc trúc hóa long” [22, tr 101,102] Từ lời tựa trên, tác giả nhấn mạnh: là một nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử thì phải hết sức thận trọng, tôn trọng sự thật lịch sử Phải đánh giá bằng lí trí, khách quan, khoa học, bằng
sự công bằng và chính xác Không được để cảm xúc chi phối quá nhiều, không được để tình cảm cá nhân làm sai lệch lịch sử, bởi “Lịch sử là hình bóng con người thật Họ đã sống và chết trong những hoàn cảnh xã hội của họ” [5, tr.117] “Người viết tiểu thuyết lịch sử là viết về chính con người thật
đó, không thể tưởng tượng hư cấu một cách tùy tiện theo cách nghĩ phóng túng của mình” [5, tr 117] Rõ ràng “Lịch sử là cuộc tái sinh hoàn toàn của quá khứ” Người viết tiểu thuyết lịch sử có tài và khéo léo ở chỗ không chỉ phục dựng lại những bối cảnh xưa, lối sống xưa, không khí thời xưa qua những số liệu chính xác như sách vở mà tính chân thực của tiểu thuyết lịch sử
- tác phẩm nghệ thuật là ở khả năng miêu tả “chân thực và như thật của nó” Như thế có nghĩa là tác phẩm tiểu thuyết lịch sử không chỉ là chép sử “Lịch
sử không phải đích cuối cùng của tác phẩm tiểu thuyết lịch sử mà thông qua tiểu thuyết lịch sử tác giả sử dụng quá khứ như một khí cụ để vẽ nên những điểm tương đồng giữa quá khứ - hiện tại, để làm sáng rõ hiện tại” [4, tr 132] Nói cách khác, cả người cầm bút và người tiếp nhận tác phẩm phải thấy được tác dụng của tiểu thuyết lịch sử là “khả năng soi sáng những thời kì quá khứ con người đã trải qua với mục đích rõ ràng, gạn lọc những tình trạng tiến
Trang 32thoái lưỡng nan của hiện tại” [4, tr 131] Và Nguyễn Triệu Luật đã làm được, nghĩa là đọc tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật người đọc như được đưa vào những thời đại khác nhau, những sự khốn khổ khác nhau và giữa những thời đại và sự khác nhau đó người ta tìm thấy được sự tương tri Giữa cái bộn
bề của những thời đại đã qua, Nguyễn Triệu Luật đã vẽ nên những nhân vật
cụ thể bằng ngòi bút của nhà tiểu thuyết gắn liền với sự kiện lịch sử vì thế những nhân vật chính sử trở thành nhân vật tiểu thuyết “Đó có thể là người thanh niên hoàng tộc Lê Duy Lễ bị thất sủng cùng với tiểu thư Đặng Ấu Mai
làm nên cặp tình nhân đẹp nhưng đầy bi kịch trong tiểu thuyết Hòm đựng
người; cũng có thể là vị Quan phục hầu - Nguyễn Trãi và người thiếp tài sắc
Nguyễn Thị Lộ trong Rắn báo oán; cũng có thể là cô gái hái chè vùng Kinh
Bắc với khát vọng “đảo hành nghịch thi” đã trở thành tuyên phi làm khuấy đảo phủ chúa; rồi chúa Trịnh Sâm vì mê đắm mĩ sắc nên đã phế con trưởng lập con thứ gây ra cái họa khủng khiếp và triền miên trong phủ chúa Đó là sự
đố kị và tranh giành quyền lực giữa các phe cánh ở tiểu thuyết Bà Chúa Chè;
hay vị chúa Đoan Nam Vương Trịnh Khải - một vị chúa chứng kiến sự sụp đổ của một dòng họ “không vương không bá, quyền nghiêng thiên hạ” trong
Loạn kiêu binh, Chúa Trịnh Khải, hay như những lính kiêu binh, quân tam
phủ vừa giúp Trịnh Khải dựng cơ nghiệp vừa kéo đổ cơ đồ nhà chúa trong
Loạn kiêu binh” [5, tr.117] Hay đó cũng có thể là Hồ Quý Ly - kẻ đoạt ngôi
độc tài cùng với những dũng sĩ chống lại ông trong Thiếp chàng đôi ngả, hay
như Trần Hữu Lượng, dẫu là con của Trần Ích Tắc - một người bán nước cầu vinh nhưng lại là người có tài thao lược đã cầm binh đánh đuổi giặc ngoại
xâm và xưng đế trong Trần Hữu Lượng- một người Việt nam xưng đế ở Tàu
Và cũng có thể đó là những nho sinh với số phận và con đường khoa cử gắn
liền với những bước thăng trầm biến loạn của thời thế trong Bốn con yêu và
hai ông đồ, Ngược đường Trường Thi Để những nhân vật chính sử ấy trở
Trang 33thành những nhân vật tiểu thuyết và cũng là nơi để tác giả gửi gắm nỗi niềm thì Nguyễn Triệu Luật phải chứng tỏ tài năng văn chương và năng lực nghệ thuật của chính mình Ông phải phục dựng lại bối cảnh cũ, miêu tả lại người xưa với những đặc điểm tâm lí được lồng ghép để người đọc thấy được số phận, hình hài, tâm lí Không chỉ thấy được sự thật lịch sử với những tên người, tên nhân vật lịch sử, tên việc trần trụi mà trước mắt người đọc là những bức chân dung sống động cùng với những nỗi niềm lịch sử gửi gắm Nhưng nếu tiểu thuyết lịch sử chỉ có yếu tố lịch sử thì chưa đủ hấp lực để mời gọi độc giả Như trên đã trình bày, trong tiểu thuyết lịch sử có hai phần
“lịch sử và hư cấu”, chính yếu tố hư cấu làm nên sự độc đáo riêng trong cá
tính sáng tạo của Nguyễn Triệu Luật Trong lời nói đầu của tiểu thuyết Hòm
đựng người, Nguyễn Triệu Luật đã bày tỏ quan điểm “ Trái lại, viết tiểu
thuyết lịch sử không cần theo phép sử học, không cần có sự thật Tác giả chỉ phải tưởng tượng ra một chuyện “có thể có” ở một thời đại rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy Mục đích là lấy một chuyện không đâu mà làm sống lại một thời đại” [22, tr 5] Vậy làm thế nào để Nguyễn Triệu Luật thuyết phục người đọc đinh ninh rằng những điều nhà văn đương tưởng tượng rồi kể ra là những câu chuyện “có thật” chứ không phải bịa đặt? Điều đó phụ
thuộc tài văn của tiểu thuyết gia Tiểu thuyết Hòm đựng người của cụ Luật là
một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt nhưng có có thể có trong thời vua Lê chúa Trịnh Vì vậy, người đọc không chỉ tin và xem tác phẩm như là một câu chuyện có thật mà hơn thế tất cả đều được cuốn hút, hấp dẫn bởi ma lực của
sự “huyền hoặc” Đó là một câu chuyện tình giữa Vũ Lăng Hầu Lê Duy Lễ với nàng Ấu Mai - một tiểu thư họ Đặng trở thành một cung nữ được sủng ái đến mức khi vua chết còn được tuyển dụng để hương khói và canh xác cựu vương Giữa chốn Sơn lăng ấy - một nhà tù chung thân của hơn một trăm chị
em cung nhân giờ trở thành một trăm bóng ma áo trắng lại là nơi nảy nở
Trang 34những nỗi niềm ân ái nhờ âm mưu của Thúy Hồng Trong một lần thăm nuôi
nàng Ấu Mai, người nhà đã cho ông hoàng thất sủng Duy Lễ trốn vào trong
hòm Bất chấp tất cả, hai người đã trùng phùng bởi dám dấn thân vào con
đường nguy hiểm để tìm đến nhau, để được sống trong tình yêu say đắm,
nồng nàn giữa một đời quân chủ - nhất là đời vua Lê chúa Trịnh oai quyền với
những hình phạt cay nghiệt, tàn nhẫn, bất công và cả thói tham lam của kẻ
chuyên chế ngay cả lúc chết còn muốn đem theo hàng trăm người vô tội Vậy
mà cung nữ Ấu Mai dám mang người yêu vào cung cấm - một việc khó có thể
diễn ra giữa chốn phủ chúa nghiêm ngặt Qua cốt truyện hết sức li kì, Nguyễn
Triệu Luật đã khiến cho người đọc chẳng ngờ mà phải ngờ “Lẽ nào người
cung nữ ấy chẳng sợ tội chăng Nhưng dù Ấu Mai chẳng sợ tội chăng nữa
cũng không tài nào mang nỗi một người lọt qua con mắt của quan nhân” [5,
tr 183] Chính những điều ngờ vực đó sẽ được hóa giải nếu người đọc lần
theo những tình tiết, cốt truyện, cách trình bày nhân vật, sắp xếp từng đoạn đã
tạo được hấp lực lớn khiến người đọc lồng tâm trạng mình vào chính nhân vật
Như vậy, thoạt đầu ta cứ tưởng quan điểm viết tiểu thuyết của Nguyễn
Triệu Luật không thuần nhất nhưng đi sâu vào quan niệm viết tiểu thuyết lịch
sử của ông, ta thấy ông đang mở rộng biên độ về quan niệm viết của mình, tác
giả đã đưa quan niệm phương Tây vào tiểu thuyết lịch sử nước nhà Rõ ràng
“hư cấu là thuộc tính của văn chương”, “hư cấu nghệ thuật là một thao tác
nghệ thuật không thể thiếu trong tư duy sáng tạo của tiểu thuyết” [12, tr 193]
hay nói cách khác “hư cấu là đặc quyền của tiểu thuyết” và tiểu thuyết lịch sử
cũng phải hư cấu Vấn đề đặt ra là hư cấu đến đâu? Giữa hư cấu và lịch sử có
phải cái này diệt cái kia hay không? Ở tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật,
bằng bút pháp lựa chọn của nhà văn, ông “chú trọng về sự thực” [26, tr 488],
nên hư cấu trong các tác phẩm tiểu thuyết của ông đều hướng đến chân thực
Trang 35lịch sử và chân thực cuộc sống Vì vậy hư cấu và lịch sử trong tiểu thuyết lịch
sử của Nguyễn Triệu Luật nó có mối quan hệ khăng khít, cái này phục vụ cho cái kia, cái này bù đắp cho cái kia Và thế là Nguyễn Triệu Luật đã mượn lịch
sử như “cái cớ sử dụng tính ẩn dụ của nghệ thuật từ cái cớ lịch sử để gợi ý được nhiều hơn với người đời” [5, tr 58]
Có lẽ một cách viết mà Nguyễn Triệu Luật chịu ảnh hưởng nhiều của lí thuyết phương Tây là cách viết “pha trộn cái hư cấu với cái chân sử” Không chỉ nhập cảng lí thuyết “trộn lẫn chân sử với lông bông” của nhà làm phim Sacha Guitry của Pháp, Nguyễn Triệu Luật đã đem nó vào chính địa hạt văn chương của mình để thể hiện những suy nghĩ của người đương thời về lịch sử cha ông Ông quan niệm “sự trộn lẫn của Sacha là một sự hóa hợp chứ không phải một hỗn hợp Nó như một cái tài kim trong tiền tệ Vàng với đồng, bạc với đồng nhưng vẫn có giá” “ có giá vì biết lấy chất rẻ làm cho chất đắt cứng thêm Vàng thuần thì dễ mòn mà đồng thuần thì tuy cứng nhưng rẻ quá không đủ thủ tín trong thị trường, Triệu Luật phỏng theo lối ấy mà viết cuốn
tiểu thuyết Ngược đường Trường Thi Phần chân sử ở trong cũng như có giá
mà phần lông bông thêm thắt may ra cũng có giá” [22, tr 302] Vì vậy mà tác
phẩm ấy được viết rất phóng khoáng, rất mở ng đã tạo nên sự tương tác trong đối thoại mà nhân vật đối thoại lại là nhiều nhân vật của nhiều thời đại Nguyễn Triệu Luật có sự tương tác với tổ tiên, rồi thầy giáo Luật lại có sự tương tác với học trò và vì thế sẽ kéo theo học trò sẽ tương tác cùng với tổ
tiên của cụ Một sự tương tác qua lại Do đó Ngược đường Trường Thi không
đơn thuần là cuốn tiểu thuyết về dòng họ với những bước thăng trầm nhất định Một dòng họ mười một đời khoa bảng, một dòng họ mà chính tác giả là hậu duệ đời thứ mười hai Hay nói đúng hơn là Nguyễn Triệu Luật đã viết như là một sự trở về, sự lật lại gia phả tổ tiên để ngậm ngùi xót xa nhưng cũng đầy tự hào Đó cũng có thể là một bài dạy về lịch sử, về cội nguồn của nhánh
Trang 36họ Nguyễn gốc Lý, vì thủ đoạn, quỷ kế tiêu diệt những tông thất nhà Lý của Trần Thủ Độ, ông đã cho chôn sống hơn bảy mươi người trong họ nhà Lý rồi sau đó những người còn lại bị đem lên chỗ giáp địa đầu cho ở tụ vào hai làng Bằng Hà và Ba Điểm và chỉ được làm lính không được thi cử Vì vậy tác phẩm không có nhân vật chính mà chỉ là sự tiếp nối của các nhân vật có thật ở các đời nối tiếp nhau trong lịch sử Để các nhân vật có sự nối kết, cụ Luật đã phải phóng bút lan man, lông bông bằng những câu chuyện kể dân gian, những câu hát đồng dao, những bài toán vui học Và nhờ thế, câu chuyện logic hơn, hấp dẫn hơn
Triệu Luật, tác giả đã thực hiện được nhiệm vụ thiêng liêng của người nghệ
sĩ, là thổi vào tâm hồn bạn đọc những tình cảm yêu nước, lòng tự hào và tự tôn dân tộc ng đã viết bằng cả động cơ khai sáng cho người đương thời, bằng cả sứ mệnh “dấn thân” của người nghệ sĩ chân chính, “một nhà khai sáng” Hơn thế, những tác phẩm ấy còn có thể là những nỗi niềm mà Nguyễn Triệu Luật gửi gắm, những nỗi niềm có thể thoát thai từ ao ước muốn đào thoát khỏi hiện tại của chính tác giả và đồng thời thỏa mãn ao ước tương tự của độc giả chăng? Đó là điểm gặp gỡ giữa quá khứ và hiện tại, giữa độc giả
và tác giả vốn là những người bạn đồng hành trên hành trình đi tìm kiếm sự tương tri, trong hành trình đồng sáng tạo Chính điều này đã tạo nên phong cách riêng của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật giữa dòng chung của tiểu thuyết những năm đầu thế kỉ XX
1.3.3 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Triệu Luật
Trước khi dấn thân vào địa hạt văn chương đặc biệt là thể loại tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật đã thử bút trên lĩnh vực báo chí Từ những năm
1922 đến những năm 1942 ông có hàng loạt các bài viết thuộc lĩnh vực khoa
học xã hội đăng trên các báo và tạp chí như Nhật Tân, Phổ thông bán nguyệt
Trang 37san, Nam Phong, Tao Đàn Sau hội thảo Nguyễn Triệu Luật - Con người và
tác phẩm, con trai cụ Luật đã tập hợp, sưu tầm các bài báo và cho xuất bản
cuốn sách Nguyễn Triệu Luật - Tác phẩm đăng báo Cụ thể là các bài:
đầu tay thuộc lĩnh vực Văn hóa - Giáo dục đăng trên tờ Nam Phong số 67
tháng 1 năm 1923
- Bàn góp về Truyện Kiều [6, tr 73] là bài viết thuộc lĩnh vực Lí luận - Phê bình được đăng ở tạp chí Nam Phong số 81 ra vào tháng 3/1924
1926 đây là loại sách giáo khoa lịch sử và các bài giải đề thi lịch sử được soạn
chung thuộc lĩnh vực Giáo dục
- Tâm lí học [6, tr 235] là một bài viết thuộc lĩnh vực tâm lí được Nguyễn
Triệu Luật biên dịch từ tâm lí học đại cương của phương Tây và phần phụ lục về
Tâm lí học toàn đồ đã đăng trên tạp chí Nam Phong từ tháng 11/1924 đến
8/1926
- Tướng quân làm thơ [6, tr 131], đăng trên báo Nhật Tân tháng 4/1933
là một bài viết thuộc lĩnh vực Lí luận - Phê bình
- Tiểu thuyết có cần văn không [6, tr 139] cũng là bài Lí luận - Phê bình đăng trên tờ Nhật Tân tháng 9/1933
- Mồm cụ lại với mép làng chơi (12/12/1934) [6, tr 83], Thơ ông Đông
Hồ (19/12/1934) [6, tr 125], Tình anh tình em (26/12/1934) [6, tr 135], là ba
bài viết thuộc lĩnh vực lí luận - phê bình cùng được đăng ở báo Nhật Tân với
các số ra liên tiếp trong tháng 12/1934
- Lối nói khoác của nhà Nho [6, tr 143] được đăng trên báo Nhật Tân
ra ngày 23/1/1935 Đây cũng là bài nghiên cứu thuộc lĩnh vực Lí luận - Phê bình
Trang 38- Cũng trong năm 1935, Nguyễn Triệu Luật có bài bút chiến Ông Phan
Trần Chúc bôi nhọ quốc sử [6, tr 149] in trong phụ san của báo Công dân
tháng 11/1935
có đăng bài viết thuộc lĩnh vực Văn hóa - Giáo dục: Cái gì bất hủ ở đời? [6,
tr 49]
- Năm 1939 là năm Nguyễn Triệu Luật đã cho đăng khá nhiều bài
thuộc nhiều lĩnh vực và đăng trên các báo và tạp chí Có thể nói đây là năm
Nguyễn Triệu Luật gặt hái nhiều thành quả:
+ Đầu tiên là bài viết về lĩnh vực Ngôn ngữ: Điển chế văn tự [6, tr 177]
đăng trên tạp chí Tao Đàn số 2 ngày 16/03/1939
+ Sau một tháng, cũng lĩnh vực Ngôn ngữ, trên tạp chí Tao Đàn số 4 ra
ngày 16/04/1939 tác giả đã có bài viết Một số ý kiến thô sơ về cách điển chế văn
tự [6, tr 183]
+ Trong hai số báo liên tiếp trong tháng 5 của tạp chí Tao Đàn, Nguyễn
Triệu Luật cho in liên tiếp hai bài thuộc lĩnh vực Văn hóa và Giáo dục: Làm
sao mà gây được một nền văn hóa riêng cho dân tộc Việt Nam? [6, tr 19] in
trên Tao Đàn số 5 tháng 01/05/1939 và Một cách để gây dựng cho dân tộc ta
một cái nguyên tắc tinh thần trên Tao Đàn số 6 ngày 16/5/1939 [6, tr 31] + Với bài Phương pháp làm quyển mẹo Tiếng Việt Nam [6, tr 191], một
bài viết chuyên sâu vào lĩnh vực ngôn ngữ, tác giả đã gửi tạp chí Tao Đàn số
7 đăng tháng 6/1939
+ Trong tháng 7, ở lĩnh vực Lí luận - Phê bình của tạp chí Tao Đàn đã
đăng bài viết Văn Tản Đà [6, tr 87] của Nguyễn Triệu Luật ở hai số báo liên
tiếp số 9, 10 của tháng 7/1939
Trang 39+ Đến tháng 8, ông lại được đăng cùng lúc hai bài ở lĩnh vực Văn hóa -
Giáo dục Mấy lời phi lộ [6, tr 41] và Nhân đọc một bài ở tập Responsible [6,
tr 43] trên cùng số báo 11 của tạp chí Tao Đàn tháng 8/1939
chuyên sâu về ngôn ngữ khá dài nên được đăng lần lượt các phần trên Tao
Đàn liên tiếp 3 số 11, 12, 13 của tháng 8, 9, 10/1939
+ Cũng trên tạp chí Tao Đàn số báo 13 ra tháng 10/1939, bên cạnh các
bài báo được đăng ở lĩnh vực ngôn ngữ, Nguyễn Triệu Luật cũng góp cho lĩnh
vực Lí luận - Phê bình bài viết Việt hóa một bài văn Tây chân giời, góc bể
lênh đênh [6, tr 103]
Ngoài ra trong tạp chí Tao Đàn năm 1939 số đặc biệt về Tản Đà và Vũ Trọng Phụng tác giả Nguyễn Triệu Luật đã có bài viết Ảnh hưởng của Tản Đà
đối với nhà văn lớp sau [6, tr 109] Bài viết như là lời nhận xét của ông về
văn chương Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu và ảnh hưởng của Tản Đà đối với
lớp tân học Còn bài viết Vũ Trọng Phụng với tôi [6, tr 115] như là hồi ức của
tác giả về nhà văn Vũ Trọng Phụng
Với hàng loạt các bài được đăng trong năm 1939, bẵng đi một thời gian
đến năm 1942 trên tờ Phổ thông bán nguyệt san ba số liên tiếp 114, 115, 116
đã đăng bài viết chuyên sâu về ngôn ngữ Vài điều nhận thấy trong ngữ pháp
Việt Nam [6, tr 227]
Đó là các loạt bài khoa học xã hội, các bài về Văn hóa - Giáo dục, các bài giảng về Lịch sử, các tác phẩm dịch thuật, Ngôn ngữ học, Tâm lí học, Lí luận - phê bình Tất nhiên, trong các cuốn sách và các bài viết thời kì đầu này, Nguyễn Triệu Luật viết như để diễn giải, trình bày, phân tích về các lĩnh vực nghiên cứu có kèm theo quan điểm của mình, dưới góc độ nghiên cứu, học thuật Bằng việc đóng góp những bài chuyên luận, phê bình, ông xem báo chí như một kênh giao tiếp hiệu quả nhất để truyền đạt thông tin, kiến thức, tư tưởng
Trang 40Những thành tựu nổi bật đầu tiên của Nguyễn Triệu Luật nằm ở mảng học thuật, nghiên cứu, phê bình, nhưng phải khẳng định rằng thành tựu quan trọng khẳng định vị trí của Nguyễn Triệu Luật trong văn đàn lại nằm ở mảng
tiểu thuyết lịch sử với tuyển tập Nguyễn Triệu Luật - Tiểu thuyết lịch sử
Tuyển tập gồm các tác phẩm:
- Trần Hữu Lượng - một người Việt Nam xưng đế ở Tàu (1933)
- Hòm đựng người (1936)
- Bà chúa Chè (1938)
- Loạn kiêu binh (1939)
- Ngược đường Trường Thi (1939)
tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Triệu Luật viết như là một cách thức chống lại trào lưu văn học Tàu, thái độ sùng bái sử Tàu mà lãng quên sử Việt, ông viết như để giữ lại những những hồn cốt của dân tộc Việt, để thức tỉnh tinh thần dân tộc và vun đắp lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ