Cùng với những định hướng trên, cũng như là người con đất Quảng nên chúng tôi quyết định áp dụng lí thuyết của phân tích diễn ngôn vào đề tài nghiên cứu “Vai trò của tiêu đề trong văn b
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
******
NGUYỄN THANH TUẤN
VAI TRÕ CỦA TIÊU ĐỀ TRONG VĂN BẢN BÁO CHÍ
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN
(KHẢO SÁT QUA BÁO IN BÁO QUẢNG NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Đà Nẵng, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
******
NGUYỄN THANH TUẤN
VAI TRÕ CỦA TIÊU ĐỀ TRONG VĂN BẢN BÁO CHÍ
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN
(KHẢO SÁT QUA BÁO IN BÁO QUẢNG NAM)
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5.1 Đối tượng nghiên cứu 10
5.2 Phạm vi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Ý nghĩa/ đóng góp của luận văn 12
7.1 Về mặt lí luận 12
7.2 Về mặt thực tiễn 12
8 Bố cục của luận văn 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 14
1.1 Một số vấn đề chung về lí thuyết phân tích diễn ngôn 14
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn 14
1.1.2 Khái niệm phân tích diễn ngôn 15
1.1.3 Lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống 17
1.1.4 Lí thuyết ngữ vực 20
1.1.5 Một số vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn 23
1.2 Khái niệm và chức năng của tiêu đề với văn bản 25
1.2.1 Khái niệm tiêu đề tác phẩm 26
1.2.2 Chức năng của tiêu đề với văn bản 27
1.2.3 Phân loại tiêu đề báo về phương diện ý nghĩa – chức năng 28
1.3 Vài nét về Báo Quảng Nam 30
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của Báo Quảng Nam 30
1.3.2 Vai trò của Báo Quảng Nam đối với đời sống - chính tri của tỉnh Quảng Nam 32
1.4 Tiểu kết 34
Trang 7CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG VỀ TRƯỜNG TRONG TIÊU ĐỀ BÁO QUẢNG
NAM 36
2.1 Đặc trưng về Trường trong tiêu đề Báo Quảng Nam qua các quá trình chuyển tác 37
2.1.1 Quá trình vật chất 39
2.1.2 Quá trình tinh thần 43
2.1.3 Quá trình hành vi 45
2.1.4 Quá trình phát ngôn 47
2.1.5 Quá trình hiện hữu/ tồn tại 48
2.1.6 Quá trình quan hệ 50
2.2 Đặc trưng về Trường trong tiêu đề Báo Quảng Nam qua chu cảnh chuyển tác 52
2.2.1 Về chu cảnh không gian 53
2.2.2 Về chu cảnh thời gian 55
2.2.3 Chu cảnh nguyên nhân, mục đích 58
2.3 Tiểu kết 59
CHƯƠNG 3 ĐẶC TRƯNG VỀ KHÔNG KHÍ VÀ CÁCH THỨC TRONG TIÊU ĐỀ BÁO QUẢNG NAM 61
3.1 Đặc trưng về Không khí trong tiêu đề Báo Quảng Nam 61
3.1.1 Đặc trưng về Không khí trong tiêu đề Báo Quảng Nam qua các kiểu cú phân theo mục đích nói năng 61
3.1.2 Đặc trưng về Không khí trong tiêu đề Báo Quảng Nam qua lớp từ ngữ đánh giá 66
3.1.3 Đặc trưng về Không khí trong tiêu đề Báo Quảng Nam qua các lớp từ Hán – Việt 68
3.2 Đặc trưng về Cách thức trong tiêu đề Báo Quảng Nam 70
3.2.1 Đặc trưng về Cách thức trong tiêu đề Báo Quảng Nam qua cấu trúc Đề - Thuyết 70
3.2.2 Đặc trưng về Cách thức trong tiêu đề Báo Quảng Nam qua cấu trúc diễn ngôn 74
3.3 Tiểu kết 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng thống kê các kiểu quá trình trong tiêu đề Báo Quảng
Bảng 3.1 Bảng thống kê tiêu đề Báo Quảng Nam qua các kiểu cú phân
theo mục đích nói năng
61
Bảng 3.2 Bảng thống kê các tính từ đánh giá tiêu biểu trong tiêu đề
Báo Quảng Nam ở mục Thời sự
66
Bảng 3.3 Bảng thống kê các tính từ đánh giá tiêu biểu trong tiêu đề
Báo Quảng Nam ở mục Tiêu điểm – Sự kiện
báo
77
Trang 9Tiêu đề là một trong những thành tố quan trọng cấu tạo nên một tác phẩm báo chí Nó cũng chính là nhân tố quyết định đến số phận bài báo rằng độc giả có thể tiếp tục đi sâu vào nội dung hay không Vì vậy, đặt tên bài báo là cả một nghệ thuật Việc đặt một tiêu đề hiệu quả sẽ dễ dàng thu hút sự chú ý của độc giả hơn
Tiêu đề có thể được đặt ngẫu nhiên nhưng phần lớn lại là có chủ ý, nhằm thể hiện một dụng ý nghệ thuật nào đó của tác giả Tiêu đề bài báo phải tạo được ấn tượng ban đầu, tạo sự hấp dẫn, thu hút sự chú ý của bạn đọc Nó gợi sự bí ẩn, kích thích trí tò
mò để đọc giả tìm hiểu tác phẩm nhằm lí giải được những băn khoăn với tiêu đề mà mình vừa đọc, từ đó suy ngẫm về nội dung bài báo Cái khó ở đây là làm sao chỉ dùng một số ít từ mà đáp ứng được ba yêu cầu cơ bản: thông báo nội dung chủ yếu của bài; hướng dẫn tư tưởng, tình cảm người đọc và thu hút sự chú ý của người đọc đối với bài báo đó
Trang 10Hay nói cách khác, không chỉ tạo sự hấp dẫn, ấn tượng ban đầu, tiêu đề còn làm nổi lên chủ đề tư tưởng của bài báo Nói khác đi, giữa tiêu đề và nội dung có mối quan
hệ, chi phối nhau Do đó, tiêu đề cũng chính là căn cứ xác định sự thống nhất, hoàn chỉnh của một bài báo Nó không chỉ nhằm nhận diện bài báo, mà còn là một yếu tố giữ vai trò định hướng giao tiếp cho độc giả khi tiếp nhận văn bản hoàn chỉnh Chính
vì thế có nhiều công trình nghiên cứu tiêu đề của một bài báo ở nhiều góc độ khác nhau với mong muốn góp phần làm cho việc sử dụng ngôn ngữ trở nên tinh tế hơn, hiệu quả hơn Đồng thời cũng minh chứng rằng, cách sử đặt tên một tiêu đề bài báo còn thể hiện được tập quán xã hội và là sự thể hiện các mặt của xã hội, giúp cho người viết trong quá trình sáng tạo có thể sử dụng những từ ngữ gây ấn tượng mạnh nhằm thu hút độc giả
Trong thời đại ngày nay, thông tin nói chung và thông tin báo chí nói riêng có một tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Sự phát triển giao lưu văn hóa, thông tin, khoa học kĩ thuật và nhất là việc khai thác hiệu quả thông tin đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bất kì quốc gia nào, bên cạnh đó việc hình thành nên "xã hội thông tin", "xã hội tri thức" đang có xu hướng lan rộng và mang tính quốc tế Quảng Nam là tỉnh mới được tái lập năm 1997 nên vấn đề đặt ra cấp bách là làm sao
để trở thành tỉnh công nghiệp - hiện đại nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển của xã hội là yêu cầu đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam Trong "nền kinh tế tri thức", " xã hội thông tin" thì thông tin là quyền lực và là sức mạnh của mỗi quốc gia Sự phát triển kinh tế - xã hội và khoa học - kĩ thuật của Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng đều cần được cung cấp đúng, đủ và kịp thời lượng thông tin cần thiết Trong đó, Báo Quảng Nam là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình phát triển và mạng lưới thông tin – tuyên truyền của tỉnh nhà
Với vai trò đặc thù của mình, Báo Quảng Nam trong những năm qua đã không ngừng cố gắng tổ chức, quản lí, thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin, truyền thông, phổ cập kiến thức Không những vậy, Báo Quảng Nam cùng với các Ban - Ngành trong tỉnh đã thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị - xã hội được giao để phát triển ngang tầm với công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đang diễn ra một cách sâu rộng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà cụ thể là các yêu cầu thông tin, truyền thông của tỉnh, người dân, mỗi đối tượng người dùng tin Từng chặng đường trải qua, Báo Quảng Nam luôn không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, nên cần đặc biệt chú trọng công tác quản lí
Trang 11Thực tế đã chứng minh, cho tới nay đã có một số công trình nghiên cứu lí thuyết phân tích diễn ngôn ở Việt Nam Và một điều dễ dàng nhận thấy, các tác giả thường lựa chọn một kiểu loại nào đó thuộc thể loại diễn ngôn chính trị - xã hội như Diễn văn của các nguyên thủ, Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, báo chí làm đối tượng nghiên cứu của mình, góp phần làm rõ đặc trưng của thể loại này từ góc độ phân tích diễn ngôn.Và đây cũng chính là mối quan tâm của các nhà phân tích diễn ngôn trên thế giới Cùng với những định hướng trên, cũng như là người con đất Quảng nên chúng tôi quyết định áp
dụng lí thuyết của phân tích diễn ngôn vào đề tài nghiên cứu “Vai trò của tiêu đề trong
văn bản báo chí từ góc nhìn phân tích diễn ngôn (Khảo sát qua báo in Báo Quảng Nam)” của mình
2 Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây, phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis – DA) có
thể xem là một trong những khuynh hướng tiên phong trong việc chuyển dạng đối tượng nghiên cứu từ bản thân một hệ thống ngôn ngữ trước đó sang việc sử dụng ngôn ngữ Chính bởi vì nó là hướng đi mới mẻ nên khơi gợi được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam đào sâu hơn Và minh chứng rõ nhất là đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về phân tích diễn ngôn cũng như vận dụng những lí thuyết đó vào việc nghiên cứu những diễn ngôn cụ thể Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xin được điểm qua những công trình nghiên cứu tiêu biểu về diễn ngôn ở nước ngoài cũng như Việt Nam
Khi nói đến người mở đầu cho việc nghiên cứu diễn ngôn không thể không nói nhắc tới Harris Ông là người mở đầu cho việc sử dụng khái niệm “phân tích diễn
ngôn” (vào năm 1952) trong một bài báo có tên Phân tích diễn ngôn (Discourse
Analysis) Ở bài báo này, ông đã đưa ra khái niệm “diễn ngôn” là văn bản liên kết, ở
bậc cao hơn câu Đồng thời, ông cũng cho rằng: Diễn ngôn là đối tượng của phân tích diễn ngôn Bên cạnh đó, ông cũng khẳng định: Văn bản mới là cái cốt lõi để thể hiện được sự hoạt động của ngôn ngữ chứ không phải là câu hay từ Và đặc trưng của đơn
vị này nằm ở sự thống nhất giữa nghĩa và chức năng giao tiếp Tuy nhiên, có thể thấy, khái niệm này còn khá mới mẻ đối với độc giả cho nên mặc dù Harris có đề cập đến phép phân tích toàn bộ diễn ngôn thì cũng chưa đủ sức thuyết phục Thêm vào đó, ông cũng chưa đưa ra được một mô hình phân tích hoàn chỉnh để minh chứng cho thuật ngữ của mình Vì vậy, ở thời điểm đó thì khái niệm diễn ngôn cũng như phân tích diễn ngôn cũng còn rất nhiều hạn chế và bị bó hẹp trong phạm vi nhất định
Vào năm 1957 thì khái niệm diễn ngôn cũng như phân tích diễn ngôn mới được đến gần với độc giả hơn qua sự tiếp nối của Mitchell và sau đó là Sinclair và
Trang 12Coulthard Tiêu biểu cho điều này là công trình nghiên cứu Towards an Analysis of
Discourse (Về Một phân tích diễn ngôn) của Sinclair và Coulthard hay công trình của
Coulthard được công bố vào năm 1977 có tên là An Introduction to Discourse Analysis
(Một dẫn luận về phân tích diễn ngôn) [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43]
Tiếp đó, năm 1975, Grice phác thảo được lí thuyết về hàm ngôn (Theory of
implicature) trong công trình nghiên cứu của mình có tên là: Logic and conversation
(Lôgích và hội thoại) Có thể nói, công trình này được nhiều người xem như là một
trong những công trình có tầm ảnh hưởng lớn trong việc phát triển ngành ngữ dụng học Cũng ở trong công trình này, Grice đã đưa ra những lí thuyết của mình nhằm giải thích cho người nghe hiểu được rằng: Nghĩa từ phát ngôn của người nói, từ cấp độ ngữ nghĩa cho đến cấp độ hàm nghĩa của phát ngôn Không những thế, ông còn mô tả hai loại hàm ngôn, đó là: hàm ngôn quy ước và hàm ngôn hội thoại Cả hai loại này đều thể hiện được cấp độ nghĩa hàm ngôn ngoài cấp độ ngữ nghĩa của các từ ngữ trong mỗi phát ngôn
Tuy nhiên, phải đến năm 1983, với công trình Discourse Analysis (Phân tích
diễn ngôn) của Brow và Yule thì phân tích diễn ngôn mới thực sự được nghiên cứu
một cách đầy đủ và toàn diện nhất Ở công trình này, hai tác giả đã tập trung vào việc trình bày một cách cụ thể những vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn như khái niệm, phương pháp và cơ sở lí thuyết của việc phân tích diễn ngôn Ngoài ra, tác giả cũng chú ý đến việc sử dụng phương pháp ngôn ngữ học để phân tích diễn ngôn qua nguồn ngữ liệu là diễn ngôn tiếng Anh
Đến năm 1994, tác giả Schifrin tiếp tục tập trung vào việc khảo sát và tập hợp
được các đường hướng phân tích diễn ngôn như sau: “đường hướng dụng học, đường
hướng biến đổi ngôn ngữ, đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác bắt nguồn từ các lĩnh vực khác nhau như xã hội học, nhân chủng học; đường hướng dân tộc học giao tiếp, đường hướng phân tích hội thoại, đường hướng phân tích diễn ngôn trong tâm lí học xã hội, đường hướng giao tiếp liên văn hóa, đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp.” [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43] Có thể nói, mặc dù mỗi đường
hướng có hệ thống phương pháp đặc thù nhưng giữa chúng có một điểm chung là nhìn nhận ngôn ngữ như công cụ của một quá trình tương tác tạo nghĩa
Bên cạnh những tác giả trên, khi nói đến các nhà nghiên cứu về phân tích diễn ngôn mà ở Việt Nam biết đến nhiều phải kể đến Levinson (1983), Halliday (1985), Nunan (1997) Những công trình của họ đã đóng góp rất nhiều trong quá trình tạo nên một khung lí thuyết quan trọng cho việc nghiên cứu về diễn ngôn và cũng là định hướng cho sự tiếp cận phân tích diễn ngôn cũng như phân tích diễn ngôn phê phán ở
Trang 13giai đoạn sau này
Nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam xuất hiện khá muộn nhưng đã có nhiều công trình để lại nhiều giá trị thiết thực Có thể nói, phân tích diễn ngôn ở Việt Nam có thể chia thành 2 giai đoạn, đó là giai đoạn từ ngữ pháp văn bản và giai đoạn phân tích diễn ngôn
Ở giai đoạn ngữ pháp văn bản, các nhà ngôn ngữ đã bắt đầu nghiên cứu các vấn
đề liên quan đến giao tiếp, phân tích diễn ngôn và cấu tạo văn bản Mặc dù không đi sâu vào khái niệm và bản chất của phân tích diễn ngôn nhưng những quan điểm ở giai đoạn này của các tác giả đã tạo nên tiền đề cho những nhà nghiên cứu đi sau tiếp cận theo một hướng mới hơn Một trong những nhân tố định hướng và không thể thiế trong quá trình phân tích diễn ngôn đó là phương thức liên kết văn bản mà đặc biệt là vấn đề
mạch lạc trong văn bản Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm
(1985) là minh chứng đầu tiên cho những đóng góp đó Tiếp sau đó là Diệp Quang
Ban với hai công trình liên quan là Giao tiếp Văn bản Mạch lạc Liên kết Đoạn văn (2002) và Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (2006) cũng đã có những đóng góp nhất
định cho việc nghiên cứu diễn ngôn
Ở giai đoạn phân tích diễn ngôn, có công trình Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
(Tạp chí Ngôn ngữ, số 10/2000) của Đỗ Hữu Châu đã đề cập đến những liên hệ giữa ngôn ngữ với những yếu tố văn hóa, ngữ cảnh hay nói cách khác là những yếu tố ngoài
ngôn ngữ Và đến năm 2001, trong cuốn Giáo trình Đại cương Ngôn ngữ học, Tập hai:
Ngữ dụng học của tác giả thì những kiến thức về ngữ dụng học – liên quan trực tiếp
đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ như mối liên hệ giữa ngữ cảnh, chiến lược giao tiếp, lí thuyết hành động ngôn từ, lí thuyết hội thoại, ý nghĩa tường minh và hàm ngôn cũng
được đề cập một cách rõ ràng hơn “Công trình này đã cung cấp những kiến thức rất
quan trọng và góp phần định hướng cho những vấn đề nghiên cứu trong giao tiếp sau này.”[dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43]
Năm 2000, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã đề cập đến một số phân tích diễn
ngôn như “các quan niệm về văn bản và diễn ngôn; diễn ngôn và phân tích diễn ngôn;
diễn ngôn và văn hóa; liên kết và mạch lạc; ngữ cảnh và ý nghĩa; dụng học văn hóa, cấu trúc thông tin; ngữ dụng học diễn ngôn ” trong công trình Dụng học Việt ngữ
Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy, trong công trình nghiên cứu này, “tác giả còn lưu ý đến
những yếu tố ngữ vực bao gồm ba yếu tố, đó là trường diễn ngôn, tính chất diễn ngôn
và phương thức diễn ngôn.”[14]
Tác giả Nguyễn Hòa với chuyên luận Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lý
luận và phương pháp (2003) thì lí thuyết phân tích diễn ngôn mới thực sự được đề cập
Trang 14một cách toàn diện nhất ở Việt Nam Trong công trình này, tác giả đã lựa chọn
“phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp làm khung lí luận để tìm hiểu và phân
tích nó dựa trên nguồn cứ liệu là diễn ngôn tin trong tiếng Anh và thể loại bình luận chính trị” Từ cơ sở trên, chúng ta có thể thấy, những vấn đề của phân tích diễn ngôn
từ lí luận đến thực tiễn áp dụng đã được tác giả đề cập đến trong công trình này Đồng
thời, “tác giả cũng đã nhấn mạnh đến nội dung mạch lạc trong diễn ngôn và coi đây là
một trong những vấn đề thuộc về bản chất của diễn ngôn bên cạnh các nội dụng trọng tâm như khái niệm diễn ngôn, các đặc tính và các vấn đề liên quan đến diễn ngôn, các đường hướng chính trong phân tích diễn ngôn hay vấn đề về ngữ cảnh và giao tiếp.”[26]
Từ bước đệm đó, năm 2006, tác giả Nguyễn Hòa tiếp tục giới thiệu một công
trình nghiên cứu mới, đó là Phân tích diễn ngôn phê phán, lý luận và phương pháp
[28] Những vấn đề cơ bản của phân tích diễn ngôn phê phán (Critical Discourse Analysis – CDA) từ những vấn đề lí luận đến phương pháp vận dụng cũng được tác giả đề cập một cách chi tiết nhất trong công trình này Tác giả Nguyễn Hòa đã xây
dựng mô hình CDA với các yếu tố cơ bản như căn cứ tiếp cận, hoàn cảnh văn hóa –
xã hội, ngữ cảnh tình huống, phương tiện ngôn ngữ sử dụng, giao diện và cuối cùng là miêu tả, giải thích và tường giải dựa trên lí thuyết diễn ngôn phê phán dựa theo quan
điểm của Fairclough, lí thuyết chức năng hệ thống của Halliday và sự tích hợp các đường hướng phân tích CDA trên thế giới Trong chuyên luận này, tác giả cho rằng quá trình phân tích diễn ngôn cần hướng đến cả khía cạnh cấu trúc (nguồn lực ngôn ngữ) và chức năng (sự tương tác) Để làm rõ cho điều đó tác giả đã dành một mục lớn (Một số trường hợp xem xét cụ thể) để tiến hành phân tích bài phát biểu của tổng thống Hoa Kỳ - Bill Clinton dựa trên mô hình phân tích CDA của Fairclough kết hợp với mô hình tổng hợp của chúng tác giả với các yếu tố cơ bản như giá trị kinh nghiệm của từ vựng, ngữ pháp, hiểu và giải thích bài phát biểu
Tác giả Diệp Quang Ban với công trình Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn
bản (2012) cũng đã dành hẳn một chương (Chương 4) và một phần của chương 5 để
đề cập đến diễn ngôn và phân tích diễn ngôn Trong công trình này, tác giả còn xác định thêm một số hướng ứng dụng phân tích diễn ngôn vào phân tích ngôn ngữ nghệ thuật với những yếu tố như âm thanh ngôn ngữ có thể suy diện được, nhịp điệu có thể suy diễn được, từ có thể suy diễn được, việc chọn từ để dùng, hiện thực miêu tả có thể suy diễn được bên cạnh việc trình bày sự hình thành phân tích diễn ngôn và những vấn
đề liên quan đến phân tích diễn ngôn như phân tích diễn ngôn phê bình và diễn ngôn sinh thái [8]
Trang 15Chúng tôi nhận thấy, hai công trình của tác giả Nguyễn Hòa và công trình của Diệp Quang Ban là những công trình có nhiều đóng góp to lớn và là tài liệu quan trọng cho những nhà nghiên cứu muốn nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về lí thuyết phân tích diễn ngôn
Ngoài những tác giả mà đã đề cập ở trên, theo chúng tôi tìm hiểu được thì ở Việt Nam còn nhiều tác giả đã đề cập đến phân tích diễn ngôn ở nhiều góc độ khác nhau và mỗi góc độ thì có những đóng góp nhất định Đó là các tác giả Cao Xuân Hạo (1991), Nguyễn Đức Dân (1996, 1998), Hoàng Phê (2003)
Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí ngôn ngữ cũng đã cung cấp nhiều kiến thức về lí luận cũng như ứng dụng những lí luận đó vào thực tế, như tác
giả Nguyễn Hòa với hai công trình Bàn về mạch lạc của diễn ngôn (Tạp chí Khoa học ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 2/2002) và Phân tích diễn ngôn phê phán là
gì? (Tạp chí Ngôn ngữ số 2/2005); Diệp Quang Ban với công trình Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/2009; Một vài dạng cấu trúc nhân quả khó nhận biết trong diễn ngôn nghệ thuật ngôn từ đăng trên Tạp chí
Ngôn ngữ, số 4/2009 của tác giả Nguyễn Văn Thành
Có thể thấy, tuy phân tích diễn ngôn xuất hiện khá muộn ở Việt Nam nhưng nó lại là mảnh đất màu mỡ cho nhiều nhà nghiên cứu Đến nay, đã có khá nhiều công trình đề cập đến phân tích diễn ngôn và những vấn đề liên quan đến nó Ở mỗi khía cạnh của mỗi công trình đều có những ý nghĩa nhất định Nhìn chung thì tất cả đều khẳng định được vai trò, vị trí của lí thuyết phân tích diễn ngôn trong quá trình tìm hiểu và phân tích ngôn ngữ
Tuy mới xuất hiện nhưng nghiên cứu về phân tích diễn ngôn cũng đã có nhiều công trình ở bậc Tiến sĩ và Thạc sĩ
Đầu tiên là những công trình ứng dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn sử dụng cứ liệu ngôn ngữ trong các văn bản chính trị
Năm 2010, Nguyễn Thị Hà đã bảo vệ thành công luận án Khảo sát chức năng
ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn [17] Với
luận án này, tác giả đã vận dụng đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán chức năng hệ thống do Kress và Fairclough xây dựng để tiến hành phân tích ba siêu chức năng ngôn ngữ của Halliday Thành công của luận án là thấy được sự hiện thực hóa quyền lực trong văn bản quản lí Nhà nước cũng như sự tác động của chức năng ngôn ngữ đến chất lượng và hiệu quả của văn bản quản lí Nhà nước
Vào năm 2014, Huỳnh Thị Chuyên cũng đã bảo vệ thành công luận án của
mình với đề tài Ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt hiện nay [10] Với đề tài
Trang 16này, tác giả tập trung nghiên cứu ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt theo ngữ pháp chức năng của Halliday: ba siêu chức năng ngôn ngữ văn bản, đó là: siêu chức năng tư tưởng, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng tạo văn bản Luận án đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề thuộc lí luận phân tích diễn ngôn trong tiếng Việt: nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ trên phương diện cấu trúc mà cả trên phương diện chức năng trong tình huống giao tiếp
Vận dụng đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán (CDA) với khung lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống dựa trên cơ sở các siêu chức năng của ngôn ngữ
để mô tả một cách có hệ thống các đặc điểm của ngôn ngữ qua khẩu hiệu chính trị - xã hội tiếng Anh và tiếng Việt thông qua các đặc điểm sử dụng từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp
và cấu trúc diễn ngôn, tác giả Đỗ thị Xuân Dung đã bảo vệ thành công luận án Đối
chiếu đặc điểm diễn ngôn khẩu hiệu tiếng Anh và tiếng Việt [12] của mình Với luận
án này, tác giả đã góp phần chứng minh diễn ngôn không chỉ là một tập quán xã hội
mà còn là sự thể hiện các mặt của xã hội đó Không những thế, tác giả còn làm rõ được thái độ, hệ tư tưởng và quyền phát ngôn của người phát ngôn khẩu hiệu, định hướng những chiến lược xây dựng các khẩu hiệu đúng, thuyết phục vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật nhất định cũng như có gia trị giao tiếp cao
Dựa vào các mô hình lí thuyết ngữ vực và phương pháp phân tích để nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp đồng tiếng Việt thông qua những đặc trưng về Trường, đặc trưng về Ý chỉ và đặc trưng về Phương thức, tác giả Trần Thị Thùy Linh đã bảo vệ
thành công luận án Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp đồng tiếng Việt từ bình diện
Phân tích diễn ngôn [32] năm 2016 Trong luận án này, tác giả cũng đã nhấn mạnh
đến các chức năng của ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp, vài trò của nó trong phát ngôn nhằm đạt được một mục đích cụ thể nào đó thông qua những kết quả mà mình đã đạt được
Nguyễn Thị Hồng Nga với luận án Phân tích diên ngôn xã luận (trên ngữ liệu
báo Nhân Dân giai đoạn 1964 – 1975 (2017)[34] cũng đã nhìn nhận diễn ngôn xã luận
từ bình diện tổ chức thông điệp Ở công trình này, tác giả cũng đã chỉ ra được mối quan hệ giữa ngôn ngữ và quyền lực trong diễn ngôn xã luận
Các tác giả như Trần Thị Vân Anh, Lý Thị Thanh Yên, Hoàng Nguyệt Anh, Đặng Thị Anh Thư, Nguyễn Thị Phương Nam, Hà Thị Phước cũng dựa vào nguyên
lí CDA và Ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday để phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội, đặc biệt là thể hiện quyền lực của người nói trong các bài phát biểu chính trị lớn trên thế giới hoặc ngôn ngữ báo chí, truyền thông
Tiếp theo là những công trình ứng dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn sử dụng
Trang 17cứ liệu là ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học
Kết hợp giữa hai lí thuyết phân tích diễn ngôn và dụng học, tác giả Vũ Văn
Lang với luận án Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn
ngôn và dụng học (2013) [31] đã tập trung vào việc tìm hiểu và phân tích các vấn đề
bố cục và thời gian trong truyện, các lớp nhân vật, yếu tố lập luận, cách dùng từ ngữ
và một số dấu hiệu kí hiệu học xã hội Tác giả đã làm rõ nội dung chứa đựng trong tác phẩm trên cơ sở trình bày các chứng cứ ngôn ngữ có trong tác phẩm như nội dung
sự việc được trình bày, tính cách và cách nhìn nhân vật, tình huống vật lí và tình huống
xã hội – văn hóa liên quan đến đề tài cũng như những quan điểm, bút pháp của tác giả qua luận án
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2015) với luận án Diễn ngôn hội thoại trong
truyện ngắn Nam Cao - Đối thoại, độc thoại và mạch lạc [21] cũng tiếp cận những vấn
đề lí luận về phân tích diễn ngôn nói chung và phân tích diễn ngôn một tác phẩm văn học thuộc thể tự sự nói riêng Tác giả đã khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao từ góc độ phân tích diễn ngôn để chỉ ra các hình thức mạch lạc, đối thoại và độc thoại nội tâm… trong truyện ngắn ông Từ đó nhận ra được những dụng ý về nghệ thuật của nhà văn trong việc xây dựng các cuộc thoại đạt được các mục đích và hiệu quả giao tiếp
Tác giả Trần Bình Tuyên với công trình nghiên cứu Văn chính luận Nguyễn Ái
Quốc – Hồ Chí Minh từ góc nhìn phân tích diễn ngôn [43] cũng làm sáng tỏ những đặc
điểm diễn ngôn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ quan điểm chức năng
hệ thống của Halliday về phương diện ngữ vực (tác giả tập trung vào những đặc điểm của Trường được thực hiện hóa qua chức năng kinh nghiệm; đặc trưng về Không khí được thực hiện hóa qua chức năng liên nhân và đặc trưng về Cách thức được thực hiện hóa qua chức năng tạo văn bản) Qua đó, tác giả cũng góp phần chứng minh ngôn ngữ như một thực thể của xã hội mà ở thực thể ấy có mối quan hệ biện chứng với các yếu
tố bên ngoài ngôn ngữ Bên cạnh đó, những kết quả nghiên cứu từ luận án cũng góp phần vào việc phân tích những tác phẩm văn chính luận nói chung và văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói riêng trong nhà trường
Bên cạnh đó còn nhiều luận văn Thạc sĩ tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể cũng như đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu mà các tác giả đã sử dụng những đường hướng nghiên cứu diễn ngôn khác nhau Tiêu biểu cho điều này là các tác giả Phạm Thị Thu Trang (2008) đã ứng dụng những quan điểm của diễn ngôn hội thoại, diễn ngôn phê phán; tác giả Quách Thị Thanh Nhàn (2014) cũng đã tiếp cận đối tượng từ hai góc độ ngữ vực với các trường, thức, không khí chung, góc độ mạch lạc
và liên kết; tiếp đến, để tìm hiểu các đặc điểm từ ngữ, cấu trúc cú pháp cũng như cấu
Trang 18trúc diễn ngôn của đối tượng nghiên cứu thì tác gải Lê Thị Thảo Nguyên (2015) lại dựa vào những quan điểm của Halliday về các chức năng siêu ngôn ngữ hay mô hình tam phân ngữ pháp chức năng hệ thống
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn hoặc những vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn đã được thực hiện Vì mục đích cũng như đối tượng nên các tác giả đã lựa chọn cho mình những đường hướng và các khung lí thuyết khác nhau để thực hiện đề tài Đối với các công trình có đối tượng khảo sát là những văn bản chính trị - xã hội các tác giả thường lựa chọn những quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về các chức năng ngôn ngữ làm lí thuyết nghiên cứu Và đây cũng chính là hướng đi của luận văn chúng tôi Và những nghiên cứu đó cũng là những tư liệu quý giá cho chúng tôi trong việc thực hiện đề tài của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Vai trò của tiêu đề trong văn bản báo chí từ góc nhìn phân
tích diễn ngôn (khảo sát qua báo in Báo Quảng Nam) nhằm làm sáng tỏ vai trò về diễn
ngôn của tiêu đề đối với văn bản báo chí từ quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday Qua đó, luận văn cũng góp chứng minh ngôn ngữ như là một thực thể của xã hội, có mối quan hệ biện chứng với các yếu tố bên ngoài ngôn ngữ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau:
- Về nghiên cứu lí thuyết: Chúng tôi xác lập khung lí thuyết áp dụng cho phương pháp phân tích diễn ngôn nhằm xác định từng bước khảo sát, phân tích cụ thể
và những nội dung tiêu biểu (trọng tâm) mà luận văn hướng đến Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ hệ thống hóa những vấn đề lí luận và nghiên cứu tổng quan để làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo
- Khảo sát và thu thập ngữ liệu một cách khách quan nhất
- Từ khung lí thuyết đã xây dựng cùng với những vấn đề lí luận đã được xác định, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, phân tích ngữ liệu một cách có hệ thông trên những đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức
- Rút ra được những nhận xét tổng quát nhất các đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức trong tiêu đề Báo Quảng Nam đã được nghiên cứu
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm về diễn ngôn của tiêu đề báo
Trang 19chí bao gồm các đặc điểm về Trường, Không khí và Cách thức
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Hiện nay đã có rất nhiều đường hướng phân tích diễn ngôn, tuy nhiên để thực hiện đề tài này chúng tôi quyết định áp dụng đường hướng phân tích diễn ngôn dựa trên cơ sở lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về phương diện ngữ vực để nghiên cứu Cụ thể được biểu hiện như sau:
+ Đặc trưng về Trường được thực hiện hóa qua chức năng kinh nghiệm trên những tiêu đều báo chí: Chúng tôi tập trung tìm hiểu qua những quá trình chuyển tác với các loại chu cảnh chuyển tác thể hiện được nội dung, kinh nghiệm về thế giới hiện thực của chủ thể diễn ngôn
+ Đặc trưng về Không khí được thực hiện hóa qua chức năng liên nhân trong
tiêu đề báo chí: Chúng tôi nghiên cứu Thức trong các kiểu cú phân theo mục đích nói năng, lớp từ Hán – Việt, lớp từ ngữ biểu cảm, mang sắc thái đánh giá
+ Đặc trưng về Cách thức được thực hiện hóa qua chức năng tạo văn bản trong tiêu đề báo chí: Chúng tôi tìm hiểu cách thức tiến hành liên kết diễn ngôn qua các đặc điểm cấu trúc Đề - Thuyết và cấu trúc diễn ngôn
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi lựa chọn và khảo sát nguồn ngữ liệu là tiêu
đề chính của các bài báo mà cụ thể là tiêu đề báo in của Báo Quảng Nam trong năm
2018 Tuy nhiên, chúng tôi chỉ lựa chọn hai mục trong Báo Quảng Nam để tiến hành khảo sát, đó là mục Thời sự và Tiêu điểm – Sự kiện Trong quá trình ban đầu tiếp xúc với tiêu đề trong Báo Quảng Nam, chúng tôi nhận thấy, hai mục này thể hiện rõ rệt nhất những đặc trưng nhất của xứ Quảng Đồng thời, vì đây là báo ngày nên khối lượng tiêu đề trong Báo Quảng Nam khá nhiều và do thời lượng cũng như giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát mục Thời sự là 500 tiêu đề và mục Tiêu điểm – Sự kiện là 451 tiêu đề Sở dĩ có sự lựa chọn đó là do chúng tôi muốn so sánh giữa một khối lượng tiêu đề tương đương nhau như vậy thì nội dung trong những tiêu
đề có sự chênh lệch như thế nào khi áp dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích diễn ngôn: Chúng tôi tìm hiểu về đặc điểm các Trường được thực hiện hóa qua chức năng kinh nghiệm, đặc trưng về Không khí được thực hiện hóa qua chức năng liên nhân và đặc trưng về Cách thức được thực hiện hóa qua chức năng tạo văn bản của tiêu đề đối với văn bản báo chí nói chung và của Báo Quảng Nam nói riêng
Bên cạnh đó chứng tôi còn sử dụng kết hợp các phương pháp như: Phương
Trang 20pháp phân tích định tính kết hợp định lượng và phương pháp phân tích logic, ngữ nghĩa để làm rõ hơn vấn đề trong luận văn của mình
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu khác như thủ pháp thống kê, phân loại, thủ pháp phân tích ngữ cảnh
7 Ý nghĩa/ đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lí luận
Qua những gì chúng tôi đã nghiên cứu, hi vọng luận văn này sẽ góp một phần nào đó khẳng định thêm giá trị của phương pháp phân tích diễn ngôn: nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ trên phương diện cấu trúc mà cả trên phương diện chức năng trong các tình huống giao tiếp, cụ thể là không chỉ đơn thuần quan tâm đến cơ chế hình thức của
hệ thống ngôn ngữ mà còn tìm hiểu về vai trò của nó trong phát ngôn nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó trong giao tiếp Qua đó, chứng minh được ngôn ngữ như là một thực thể của xã hội và có mối quan hệ biện chứng với xã hội Đồng thời, nghiên cứu còn làm sáng tỏ những đặc điểm về chức năng của tiêu đề bài báo theo quan điểm chức năng hệ thống
7.2 Về mặt thực tiễn
Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi hi vọng luận văn sẽ góp một phần nào đó vào việc làm sáng tỏ những đặc điểm diễn ngôn báo chí nói chung và Báo Quảng Nam nói riêng, đặc biệt là tiêu đề báo chí trên các phương diện: đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức
Luận văn cũng góp phần làm phong phú thêm phần thực hành cho chuyên ngành Ngôn ngữ báo chí, một địa hạt hiện nay vẫn còn ít sự nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ cũng như các nhà báo
8 Bố cục của luận văn
Sau khi tiếp xúc với những vấn đề về lí luận được đề cập ở chương 1, chúng tôi nhận thấy những đặc trưng về Trường liên quan đến chức năng miêu tả của diễn ngôn
và những đặc trưng về Không khí và Cách thức liên quan đến chức năng phi miêu tả của diễn ngôn (đó là chức năng liên nhân và chức năng văn bản) Vì vậy, ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục thì chúng tôi chia bố cục của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Trong chương này, chúng tôi trình bày một cách chi tiết về lí luận phân tích diễn ngôn cũng như giới thiệu được những điểm nổi bật về tiêu đề như tên gọi, chức năng của nó Đồng thời, trong chương này, chúng tôi cũng đề cập đến Báo Quảng
Trang 21Nam ở khía cạnh quá trình hình thành và phát triển và những giá trị của Báo Quảng Nam trong sự phát triển của tỉnh nhà
Chương 2 Đặc trưng về Trường trong tiêu đề Báo Quảng Nam
Xuất phát từ cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo đường hướng phân tích diễn ngôn trên cơ sở lí thuyết chức năng hệ thống của Halliday về ngữ vực, chúng tôi tiếp tục làm rõ những đặc trưng về Trường thông qua việc phân tích các kiểu quá trình
và các loại chu cảnh thể hiện nội dung, kinh nghiệm và thế giới hiện thực được phản ánh trong chương này
Chương 3 Đặc trưng về Không khí và Cách thức trong tiêu đề Báo Quảng Nam
Ở chương 3, chúng tôi tìm hiểu và phân tích những đặc trưng về Không khí thông qua các biểu hiện chức năng liên nhân trong tiêu đề Báo Quảng Nam Đồng thời, trong chương này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu cấu trúc Đề - Thuyết và những điểm nổi trội trong cấu trúc diễn ngôn của tiêu đề Báo Quảng Nam với những cách thức tiến hành như trong chương 2
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Một số vấn đề chung về lí thuyết phân tích diễn ngôn
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Các nhà cấu trúc luận xem diễn ngôn của một đơn vị nào đó tương đương với câu, đoạn văn hay là các chương sách thì các nhà chức năng luận lại xem xét nó ở một khía cạnh khác, một cách tổng thể hơn như ngôn ngữ hành chức hoặc là tương tác xã hội Và theo hướng chức năng luận thì có rất nhiều tác giả đã đưa ra những quan điểm của mình về khái niệm của diễn ngôn
Đầu tiên phải nói đến quan điểm của Halliday và Hasan Theo hai ông thì diễn ngôn bắt buộc phải gắn với chức năng giao tiếp của nó và điều này thể hiện qua quan
điểm: “Văn bản (hay diễn ngôn) là đơn vị ngôn ngữ chức năng giao tiếp” [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43]
Widdowson đã đưa ra quan điểm mà trong đó ông cho rằng: “Diễn ngôn là một
quá trình giao tiếp Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong
sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản” [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43] Với quan điểm này thì ông đã đồng
hóa diễn ngôn với việc dùng những chuỗi câu để cấu tạo nên hành vi giao tiếp cũng như nối kết thành các đơn vị giao tiếp lớn hơn
Tiếp đến Van Dijk cho rằng: “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa
người nói và người nghe (người quan sát ) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nhau nào đó Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời” [47] Với quan điểm trên thì chúng tôi nhận thấy, Van Dijk
đồng quan điểm với Widdowson
Đến năm 1989 thì Cook đã xác định rõ sự khác biệt giữa diễn ngôn và văn bản dựa trên sự trái ngược nhau giữa chức năng với hình thức khi cho rằng diễn ngôn như
là những chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận có ý nghĩa, thống nhất với nhau và có mục đích Còn văn bản là chuỗi các ngôn ngữ được hiểu một cách hình thức và nằm ngoài ngữ cảnh
Năm 1992, Crystal đã có quan điểm về diễn ngôn Theo ông “Diễn ngôn là một
chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ lời nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, lời tranh luận,
Trang 23truyện vui hoặc truyện kể” [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43] Với quan niệm trên của
Crystal thì chúng tôi nhận thấy diễn ngôn như là một thuật ngữ mà thuật ngữ đó chỉ sự kiện giao tiếp có mục đích, chúng thống nhất với nhau cũng như có mạch lạc và được ghi lại bằng văn bản cụ thể
Kế thừa những quan điểm về diễn ngôn của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả
Nguyễn Hòa trong công trình Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lý luận và phương
pháp đã đưa ra khái niệm về diễn ngôn như sau: Diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể [26, tr 33]
Từ những quan điểm, khái niệm về diễn ngôn của các nhà nghiên cứu đã đề cập đến thì chúng tôi nhận thấy quan điểm của Widdowson là cụ thể nhất Với tư cách là
sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh, diễn ngôn có tính mục đích, thống nhất và có sự mạch lạc được ghi nhận lại bằng một văn bản cụ thể Và nó cũng bao gồm yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu tố dụng học và tác động của các chiến lược văn hóa
ở người sử dụng ngôn ngữ
Vì là một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh nên bắt buộc diễn ngôn phải có tính chủ
đề từ chủ đề bộ phận cho đến chủ đề chung có tính mạch lạc Và để tạo được mạch lạc thì diễn ngôn phải thể hiện được khả năng liên kết trên nhiều phương diện và tổ chức sao cho hợp lí giữa các yếu tố có giá trị giao tiếp tuân theo quy tắc cần và đủ Bên cạnh đó, khái niệm của Widdowson còn nhấn mạnh đến việc ảnh hưởng của các yếu tố tình huống ngoài ngôn ngữ đối với các hoạt động của ngôn ngữ
1.1.2 Khái niệm phân tích diễn ngôn
Cho đến nay, thuật ngữ phân tích diễn ngôn đã được áp dụng khá nhiều vào các lĩnh vực với những ý nghĩa khác nhau Để mô tả các hoạt động trong phạm vi có tính đan xen giữa các chuyên ngành có định hướng riêng như ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ tâm lí học, ngôn ngữ triết học người ta thường dùng phân tích diễn ngôn để mô
tả chúng Nếu như các nhà tâm lí học tập trung nghiên cứu vào những vấn đề liên quan đến việc nhận thức ngôn ngữ thì các nhà triết học và các nhà ngôn ngữ học hình thức lại chú ý đến những mối quan hệ ngữ nghĩa dựa trên mối liên kết giữa các cặp câu và kết cấu cú pháp tương ứng giữa chúng Trong khi các nhà ngôn ngữ học điện toán lại chú trọng đến việc nghiên cứu tạo ra những mô hình xử lí diễn ngôn cũng là lúc các nhà ngôn ngữ học xã hội lại dành mối quan tâm của mình đến cơ cấu của những mối quan hệ tương tác xã hội được biểu hiện trong hội thoại Khi mô tả những vấn đề này,
họ thường chú trọng vào những đặc điểm của bối cảnh xã hội hay tuân theo sự phân loại có tính xã hội học Như vậy có thể thấy các phương hướng tiếp cận như trên dù có
Trang 24những đặc điểm khác nhau thì tựu chung tất cả đều dựa vào một lĩnh vực, đó chính là ngôn ngữ học
Từ những đặc điểm mà đã đề cập ở trên và cũng xuất phát ở khái niệm về diễn ngôn của nhà nghiên cứu Widdowson, chúng tôi nhận thấy, khi nghiên cứu về ngôn ngữ, phân tích diễn ngôn luôn luôn gắn hệ thông ngôn ngữ với việc sử dụng để làm gì? Dựa vào quan điểm của phân tích diễn ngôn, chúng tôi nhận thấy, đối tượng nghiên cứu của nó phải là ngôn ngữ hoạt động trong hoàn cảnh xã hội – văn hóa chứ không phải là đối tượng tĩnh Xuất phát từ điều đó, nó đòi hỏi phải hình thành một hệ phương pháp luận phù hợp cho đối tượng mà vượt ra khỏi phạm vi của câu mà còn bao quát được các phạm trù thuộc về bản chất của hoạt động ngôn ngữ, đó là tính mạch lạc, các mối quan hệ giữa ngôn ngữ, cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ, sự tác động qua lại giữa các yếu tố từ ngữ cảnh tình huống Như vậy, ngôn ngữ, dưới quan điểm của phân tích diễn ngôn không chỉ dừng lại ở những câu hỏi đơn thuần của Ngôn ngữ học truyền thống, cấu trúc mà điều quan trọng chính là tác dụng của ngôn ngữ đó là gì? Từ đó, có thể thấy, sự quan tâm cơ bản của diễn ngôn chính là vấn đề giao tiếp trong mục đích sử dụng ngôn ngữ, điều mà các nhà ngôn ngữ học truyền thống chưa hề đề cập đến
Đối với các nhà phân tích diễn ngôn, ngôn ngữ được xem không chỉ là một công cụ giao tiếp đơn thuần mà ẩn sâu bên trong đó nó còn là thực tiễn của xã hội, là
lối sống, là hành động và thậm chí Firth cho rằng: “Ngôn ngữ còn là một bộ phận của
một nền văn hóa, và bộ phận này đáp ứng được Chu cảnh (môi trường đó)” [dẫn theo
33, tr 147]
Xuất phát từ điều đó, chúng tôi nhận thấy, phân tích diễn ngôn bắt buộc phải mang tính lịch sử và được đặt trong một hoàn cảnh xã hội nhất định Nói một cách khác, phân tích diễn ngôn đặc biệt chú trọng đến những yếu tố về văn hóa, xã hội và tư tưởng Chính chúng chi phối tổ chức cấu trúc và thể hiện nội dung của diễn ngôn
Chính nhờ nên móng trên nên Brown và Yule khi đề cập đến phân tích diễn
ngôn thì hai ông cho cũng có những nhận định như sau: “Phân tích diễn ngôn nhất
thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức Như vậy, không thể giới hạn phân tích diễn ngôn với việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ mà không quan tâm đến mục đích hay chức năng mà các hình thức này tạo ra để đảm nhận trong thế giới hoạt động của con người” [9, tr 15]
Tiếp đó đến năm 1990, trên địa hạt ngôn ngữ xuất hiện thêm một nhận định mới
về phân tích diễn ngôn của Fasold: “Nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu mọi khía
cạnh sử dụng của ngôn ngữ” [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43]
Là người kế thừa những quan điểm trên, ở Việt Nam, vào năm 2002, Diệp
Trang 25Quang Ban cũng đã đưa ra định nghĩa mới về phân tích diễn ngôn Ông cho rằng:
“Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn / văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ
và ngữ cảnh tình huống với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong phú cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc)” [3, tr 158]
Có thể nói, quan điểm của phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn có sự đối lập cơ bản Nếu như phân tích văn bản xem xét các đặc điểm hình thức của văn bản tách rời khỏi ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ thì phân tích diễn ngôn sẽ quan tâm tới mặt chức năng này
Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Hòa trong công trình Phân tích diễn ngôn: Một số
vấn đề lý luận và phương pháp lại cho rằng: “Cũng như mối quan hệ giữa diễn ngôn
và văn bản, phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản không phải là hai bộ môn khác biệt, mà chỉ là hai mặt của phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp
xã hội” [26, tr 34]
Có thể thấy, những khái niệm trên đã thể hiện khá rõ về lí thuyết phân tích diễn ngôn Tuy nhiên, sau khi tiếp xúc với những khái niệm đó, chúng tôi nhận thấy khái niệm của Brown và Yule có tính bao quát và và cụ thể hơn cả Khái niệm đã làm nổi bật được đối tượng nghiên cứu của phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ hành chức, cũng như nhấn mạnh đến chức năng và tính mục đích của các hình thức ngôn ngữ trong quá trình hành chức của chính nó
Việc các nhà ngôn ngữ học chuyển sang nghiên cứu sự tồn tại của ngôn ngữ là điều tất yếu Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận sự tồn tại của các lí luận nghiên cứu ngôn ngữ trước đây của các nhà Ngôn ngữ học cấu trúc, chính những quan điểm
đó đã đặt nền móng cho lí luận phân tích diễn ngôn như Halliday khẳng định, không dựa trên nền tảng ngữ pháp (trong ngữ pháp cấu trúc) thì phân tích diễn ngôn chỉ trở
thành một diễn ngôn bình luận tràn lan không có trọng tâm Vì thế, có thể nói rằng
khía cạnh của văn bản sẽ bao gồm các yếu tố như liên kết, cấu trúc thông tin, kiểu loại diễn ngôn, còn khía cạnh của diễn ngôn bao gồm mạch lạc, hành động nói, sử dụng kiến thức nền trong quá trình diễn ngôn
1.1.3 Lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống
Ngôn ngữ khi đặt nó dưới góc nhìn của SFG thì nó như một hệ thống kí hiệu xã hội và được tổ chức theo các tầng bậc với quan hệ hiện thức hóa và cụ thể hóa Các tầng bậc dưới và các tầng bậc trên có sự ảnh hưởng mạnh mẽ với nhau hay nói đúng
Trang 26hơn thì các tầng bậc lớp dưới vừa hiện thực hóa các tầng bậc lớp trên và là trường hợp
cụ thể hóa của nó, nghĩa là tầng bậc tạo ra một nguồn lực nghĩa và là một tập hợp các khả năng lựa chọn Có thể thấy rõ điều này qua sự hình dung của Halliday, ông cho rằng nó như một thức thể mà trong đó bao gồm bốn tầng: ngữ cảnh (các phạm trù của tình huống xã hội), ngữ nghĩa học (các hệ thống tạo nghĩa), ngữ pháp – từ vựng (các đơn vị từ ngữ) và âm vị học (các tổ chức đơn vị âm thanh) và chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau trong cùng một chỉnh thể ngôn ngữ hoàn chỉnh
Theo Halliday, ông xem ngữ pháp như là một hệ thống chứ không phải là những quy tắc bắt buộc Ông quan niệm, ngôn ngữ phải là một tiềm lực về nghĩa và đồng thời, ông cũng đồng hóa nghĩa với chức năng và sử dụng cú như một đơn vị cơ
sở để giải thích chức năng đó của ngôn ngữ Trong quan niệm của ông, tổ chức chức năng của ngôn ngữ quyết định hình thức cũng như quy tắc ngữ pháp và ngôn ngữ là công cụ giao tiếp để chúng ta thực hiện ba chức năng, đó là: chức năng kinh nghiệm, chức năng liên nhân và chức năng tạo văn bản
a Ở chức năng kinh nghiệm, ta có thể hiểu rằng nó trả lời cho những câu trả lời
như: Ai?, Làm gì? Ở đâu? Chính những câu trả lời thể hiện được kinh nghiệm của con người về thế giới xung quanh, trong bản thân người phát ngôn và thể hiện nội dung giao tiếp Chức năng này lại được chia thành hai siêu chức năng khác, đó là siêu chức
năng logic và siêu chức năng kinh nghiệm Chúng ta có thể hiểu, siêu chức năng logic
là những nguồn lục cấu trúc xây dụng các tiểu cú thành câu, còn siêu chức năng kinh nghiệm là những nguồn lực liên quan đến dòng chảy của kinh nghiệm qua đơn vị cú trong câu [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43]
Các kiểu quá trình, tham thể và chu cảnh sẽ là đối tường trong việc lựa chọn hệ
thống chuyển tác nếu như chúng ta phân tích câu nói từ góc độ chức năng kinh nghiệm Và chính chức năng kinh nghiệm sẽ kiến tạo và phản ánh kiến tạo của con
người đến thể giới Cấu trúc nghĩa biểu hiện, cú được chia thành: Quá trình + tham thể + chu cảnh
Theo Halliday, cấu trúc nghĩa biểu hiện có 6 quá trình khác nhau, đó là: quá trình vật chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ, quá trình phát ngôn, quá trình tồn tại và quá trình hành vi Khi dựa vào 6 quá trình này với những cấu trúc chuyển tác khác nhau, ngôn ngữ luôn cung cấp cho người viết/ người nói những lựa chọn khác nhau để biểu đạt các loại kinh nghiệm khác nhau về thế giới
b Chức năng liên nhân
Đối với chức năng liên nhân, cú được tổ chức như là một sự tương tác giữa hai phía, đó là phía người viết hoặc nói dùng ngôn ngữ tác động và người đọc hoặc nghe
Trang 27Chức năng liên nhân của câu luôn luân phiên thay đổi vai trò trong cách mà chúng tác động qua lại
Có thể quy hai loại vai diễn cơ bản nhất của chức năng liên nhân đó là cho và đòi hỏi, cũng có thể là người nói / người viết đang cho người nghe / đọc một cái gì đó hoặc là người khác đang đòi hỏi cái gì đó từ người nghe / đọc
Halliday cho rằng, sự trao đổi, cho và đòi hỏi hàng hóa, dịch vụ, thông tin tạo thành bốn chức năng cơ bản của lời nói: đề nghị, ra lệnh, trình bày và hỏi Những chức năng này khi đến lượt chúng thì sẽ được làm cho phù hợp bởi bốn phản ứng được mong đợi, đó là: chấp nhận một lời đề nghị, thực hiện một mệnh lệnh, thừa nhận một lời tuyên bố hay trình bày hoặc trả lời một câu hỏi Như vậy, nghĩa liên nhân sẽ xác lập mối quan hệ giữa các vai giao tiếp, thể hiện cách ứng xử của các vai giao tiếp, thể hiện cách ứng xử của các nhân vật và qua đó bộc lộ được bản chất của họ Sự thể hiện
cá nhân của người của người nói/ người viết được thực hiện qua cách ứng xử của các nhân vật và qua đó bộc lộ bản chất của họ Sự thể hiện cá nhân của người nói/ người viết được thực hiện thông qua cách dùng từ ngữ mang tính đánh giá Theo Lí thuyết khung đánh giá của Martin và Peter White (2005) – một lí thuyết được phát triển gần đây dựa trên mô hình lí luận của ngôn ngữ học chức năng hệ thống do Halliday khởi xướng – thì từ ngữ thể hiện sự đánh giá của người nói/ người viết được xem xét ở các góc độ sau [dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 25]:
- Thái độ (Attiute): Người nói/ người viết trực tiếp bày tỏ thái độ tích cực hay
tiêu cực đối với người khác, đối với nội dung phản ánh hoặc tác động để người khác
có cùng thái độ với mình;
- Tăng giảm (Graduation): Người nói/ người viết điều biến (tăng hay giảm)
mức độ xác quyết, làm mờ hoặc làm rõ ranh giới giữa các phạm trù ngữ nghĩa mà người nói muốn biểu đạt;
- Dấn thân (Engagement): Người nói/ người viết hướng mình vào đối thoại hay tranh luận với những gì người khác đã nói hay có thể nói trước đó
Theo như Halliday thì chức năng liên nhân được biểu thị qua Thức Và từ đó,
cú được chia thành 2 phần: phần Thức và phần Dư Trong tiếng Anh, ngôn ngữ biến hình – phần Thức gồm hai tiểu phần là Chủ ngữ và động từ từ Hữu định (chia theo ngôi, thời và thể) Phần dư bao gồm vị ngữ, bổ ngữ và phụ ngữ Mỗi yếu tố đều có khả năng thể hiện nghĩa liên nhân khác nhau Tuy nhiên, như trong khung lí thuyết áp dụng, chúng tôi đã xác định: tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình nên cấu trúc phần Thức không hoàn toàn giống như tiếng Anh Do đó, việc phân tích các đặc trưng về Trường được thể hiện qua chức năng liên nhân trong tiêu đề Báo Quảng Nam vì thể
Trang 28cũng sẽ có những điểm khác biệt so với xuất phát từ những đặc trưng riêng của ngôn ngữ tiếng Việt
c Chức năng tạo văn bản
Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng thì cú được tổ chức như là một thông điệp mà trong đó mỗi phần của nó sẽ có một vị thế rất đặc biệt Mỗi thành phần trong
cú được xác định là thành phần Đề ngữ (bao gồm Đề chủ đề, Đề ngôn bản và Đề liên nhân), thành phần này sẽ kết hợp với những thành phần còn lại của cú để cùng nhau tạo nên một thông điệp hoàn chỉnh Đề ngữ là một thành phần trong một cấu trúc hình thể nhất định, được coi như là một hiện tượng tổng thể của tổ chức cú như một thông điệp, đó là cấu trúc Đề ngữ - Thuyết ngữ Trong hình thể này, Đề được xem như là điểm xuất của thông điệp, thành phần mà Đề ngữ phát triển được gọi là Thuyết ngữ
Halliday cho rằng “việc tổ chức Đề ngữ của các cú (và các cú phức, ở nơi nào phù
hợp) là nhân tố quan trọng trong việc phát triển ngôn bản” [16, tr 148] Đối với
người nói, phần Đề được xem như là phần tiêu biểu cho quan điểm của họ khi diễn đạt những điều họ cần truyền đạt và một phần nó cũng là điều cần thiết cho cái cách mà điều thông báo đó được thể hiện Ở khía cạnh người nghe, phần Đề giữ vai trò là một tín hiệu cho người nghe hướng đến khả năng liên quan liên quan đến một kiểu cấu trúc
có thể hình thành hoặc liên quan đến sự biểu hiện tinh thần của người nói về những gì
mà thông báo có thể bày tỏ Tóm lại, Đề là phần phần triển khai, nó như là thành tố xuất phát điểm của thông điệp, là phần mà người nói/ người viết muốn làm cho nổi bật Việc lựa chọn đề phụ thuộc vào những yếu tố xuất hiện trước và sau quy định Điều này làm cho văn bản càng tăng thêm tính mạch lạc hơn
Để đảm nhận vai trò là công cụ giao tiếp, hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ cũng được hình thành thành ba mạng lưới tương ứng với ba siêu chức năng, đó là: hệ thống chuyển tác tương ứng với chức năng biểu hiện, hệ thống tình thái và thức tương ứng với chức năng liên nhân và thông tin qua cấu trúc Đề / Thuyết, nội dung cho trước và thông tin mới có vai trò như tổ chức mệnh đề
1.1.4 Lí thuyết ngữ vực
Lần đầu tiên khái niệm ngữ cảnh tình huống được xuất hiện là vào năm 1953 do Malinowski sử dụng khi ông đề nghị một loại môi trường phi ngôn ngữ cho văn bản Theo ông thì ngữ cảnh tình huống được nêu ra là để đề cập đến một văn bản cụ thể, trong khi ngữ cảnh văn hóa thì liên quan đến lịch sử văn hóa và làm cơ sở cho các tham thể và các tập quán mà người nói tham gia Tuy nhiên, khái niệm về ngữ cảnh tình huống của Malinowski chỉ mới dừng ở lại giai đoạn sơ khai, khái niệm ấy chưa được mô hình hóa hay trừu tượng hóa về cấp độ lí thuyết Đến Firth (1957) thì khái
Trang 29niệm này mới được phát triển thành mô hình lí thuyết với các phạm trù sau: (1) Những
người tham gia vào tình huống: yếu tố này bao gồm bản thân người tham gia giao tiếp
cùng các đặc điểm về tâm lí, xã hội và vai trò của người đó trong tình huống giao tiếp;
(2) Hành động của những người tham gia vào quá trình giao tiếp: các hoạt động của
người đó trong tình huống giao tiếp, kể cả những hành động hữu ngôn và những hành
động phi ngôn; (3) Các đặc điểm riêng khác của tình huống: mọi sự vật và sự kiện xung quanh đều có ảnh hưởng đến những gì diễn ra trong quá trình giao tiếp; (4) Hiệu
quả của hành động hữu ngôn: khi những thay đổi là kết quả của hành động hữu ngôn
nào đó do những người tham gia trong tình huống giao tiếp thực hiện Xét cho cùng thì với quan niệm này, Firth đã thực sự tìm hiểu sâu hơn về bản chất của ngôn ngữ trong đời sống xã hội [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43]
Xuất phát từ khái niệm ngữ cảnh tình huống của Malinowski và quan điểm của Firth, khái niệm ngữ vực cũng từ đó được hình thành với mục đích ban đầu là dùng cho việc nghiên cứu các kiểu biến thể của ngôn ngữ trong quá trình sử dụng và gắn liền với một tình huống giao tiếp cụ thể Chúng tôi cũng đã tìm hiểu ở một số khái niệm cơ bản như sau:
Khái niệm ngữ vực lần đầu được sử dụng là bởi nhà ngôn ngữ Thomas Bertram Reid vào năm 1956 Nhưng khái niệm này được sử dụng phổ biến phải đến năm 1960, khái niệm này đã được các nhà ngôn ngữ học sử dụng khi muốn phân biệt rạch ròi giữa các biến thể ngôn ngữ gắn với người sử dụng như bối cảnh xã hội, địa lí, giới tình hay tuổi tác và các biến thể theo cách sử dụng Tuy nhiên, theo chúng tôi thì trọng tâm vẫn là cách sử dụng ngôn ngữ của người nói/ người viết trong các tình huống cụ thể nhất định
“Phạm trù ngữ vực được đưa ra để giải thích cho các hoạt động mà con người tiến hành bằng ngôn ngữ Khi chúng ta quan sát hoạt động ngôn ngữ ở các ngữ cảnh khác nhau, chúng ta phát hiện có các khác biệt trong lựa chọn kiểu loại ngôn ngữ cho phù hợp với các kiểu loại ngữ cảnh trong đó nó được sử dụng”, đó là quan điểm mà
Halliday và các đồng nghiệp của ông (Halliday et al) đưa ra Như vậy, theo Halliday,
một ngữ vực được hình thành nhờ mối quan hệ: con người (chủ thể hoạt động), ngữ cảnh (phạm vi hoạt động) và thực tế sử dụng ngôn từ (kiểu loại ngôn ngữ được sử
dụng) [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43]
Vào năm 1986, Fromkin và các đồng nghiệp của ông (Fromkin et al) lại đưa ra
định khác khác về ngữ vực dựa trên sự phân biệt với phong cách (style): “Trong khi
phong cách là biến thể ngôn ngữ bị quy định chủ yếu bởi cách xử lý ngôn ngữ của người nói/ người viết đối với người nghe/ người đọc, đối với chủ đề hoặc đối với mục
Trang 30đích giao tiếp thì ngữ vực là thuật ngữ được dùng cho một biến thể ngôn ngữ bị quy định bởi chủ đề Thông thường, việc chuyển sang một ngữ vực nào đó bao giờ cũng liên quan đến việc chuyển sang một hệ thống các thuật ngữ liên quan đến chủ đề đang bàn, và có thể, cả các cấu trúc cú pháp, chẳng hạn như trong ngôn ngữ luật” [dẫn
theo Trần Bình Tuyên, 43] Như vậy, theo chúng tôi nhận thấy, cùng một hiện tượng
ngôn ngữ nhưng khi xét nó trong một mối quan hệ nào đó với các nhân vật giao tiếp – nghĩa là liên quan đến chủ thể của các hoạt động giao tiếp – thì đó là phong cách; nếu xét từ các yếu tố khách quan chi phối quá trình giao tiếp (góc độ sử dụng, chủ đề, ngữ cảnh không gian và thời gian) – thì đó là ngữ vực
“Ngữ vực được tạo thành từ các đặc điểm ngôn ngữ có liên quan đặc biệt đến kết cấu và các đặc điểm tình huống” và là “tập hợp các nghĩa, cấu trúc của các mô hình nghĩa được suy ra từ các điều kiện cụ thể và những từ ngữ, cấu trúc được sử dụng để thực hiện hóa những nghĩa đó” [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43] là những
quan điểm mà Halliday và Hasan khẳng định vào năm 1989
Xuất phát từ những quan điểm trên, chúng tôi tán đồng với quan niệm của Halliday và các đồng sự của ông (1989) khi tác giả đề cập đến các kiểu biến thể ngôn ngữ trong quá trình sử dụng, gắn liền với một tình huống giao tiếp cụ thể, một cấu hình nghĩa và đề cập đến một nội dung nhất định Như vậy, có thể thấy được với Halliday, ngữ vực là một cấu hình có tính chất tiềm năng của văn bản, nó gắn liền với những đặc
điểm tình huống, được đặc trung bởi Trường (field), Không khí (tenor) và Cách thức (mode) Cụ thể như sau:
- Trường của diễn ngôn chỉ cái gì đang xảy ra, bản chất của hành động xã hội
đang diễn ra: cái mà những người tham dự vào là gì, trong đó ngôn ngữ xuất hiện như
là một thành phần cơ bản nào đó
- Không khí của diễn ngôn là chỉ ra việc ai đó đang tham gia vào, bản chất của
những người tham gia, các vai diễn và vị thế của họ: các kiểu mối quan hệ thủ vai nào
có được trong những người tham gia, kể cả các vai diễn trong lời nói mà họ đóng trong hội thoại và toàn bộ các mối quan hệ có ý nghĩa về mặt xã hội mà trong đó họ đang tham dự vào?
- Cách thức của diễn ngôn là chỉ ra vai trò nào đó của ngôn ngữ đang đóng, cái
mà những người tham gia đang chờ đợi ngôn ngữ thực hiện cho họ trong tình huống
đó là gì: tổ chức tượng trưng của ngôn bản, vị thế mà nó có, và chức năng của nó trong ngôn cảnh, kể cả kênh giao tiếp (nó là khẩu ngữ hay bút ngữ hay là sự kết hợp cả hai?)
và cả phương thức tu từ nữa, ngôn bản đạt được cái gì tính theo các phạm trù như thuyết phục, mô tả, giáo dục và các phạm trù khác tương tư [dẫn theo Hoàng Văn
Trang 31Vân, tr.116 – 117]
Từ quan điểm đó, chúng tôi nhận thấy, theo Halliday, Trường, Không khí và Cách thức của diễn ngôn không phải là các kiểu ngôn ngữ trong sử dụng mà chúng là một khung khái niệm để thể hiện một ngôn cảnh nào đó như một môi trường tín hiệu học, trong đó người ta trao đổi ý nghĩa với nhau Trong Ngôn ngữ học chức năng hệ
thống cũng nhấn mạnh, nếu được chi tiết hóa đầy đủ các yếu tố Trường, Không khí và
Cách thức bao nhiêu thì dễ nhận diện các đặc điểm diễn ngôn trong tình huống bấy
nhiêu Như vậy, những yếu tố ngôn cảnh này được xem như như là một bộ phấn cấu thành không thể thiếu, không thể tách rời trong giải thích và mô tả ngôn ngữ; hiện thực hóa qua các chức năng của nghĩa Theo đó, phân tích diễn ngôn theo lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thông trên phương diện ngữ vực có nghĩa là phân tích, lỉ giải những đặc điểm ngôn ngữ của diễn theo phải xuất phát từ những đặc điểm của ngữ cảnh tình huống, từ đó mới thấy rõ được các siêu chức năng tương ứng Có thể cụ thể hóa điều này bằng mô hình sau:
Ngữ cảnh tình huống Chức năng
Trường Tư tưởng (kinh nghiệm)
Không khí Liên nhân
Cách thức Tạo văn bản
Dựa vào quan điểm của Halliday, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi nghiên cứu tiêu đề của các bài báo ở Báo Quảng Nam trên các phương diện ngữ vực, nghĩa là
nghiên cứu về đặc đặc trưng của Trường, Không khí và Cách thức được hiện thực hóa
qua chức năng kinh nghiệm, chức năng liên nhân và chức năng tạo văn bản như đã được xác lập ở khung lí thuyết áp dụng trên
1.1.5 Một số vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn
a Tính chất quan yếu của diễn ngôn
Trong mối quan hệ giữa liên kết với mạch lạc diễn ngôn, tính chất quan yếu của diễn ngôn có một vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng Nó được hiểu như là sự phù hợp
về mặt nội dung của các đóng góp trong quá trình giao tiếp Các đóng góp này chính là các yếu tố quan yếu phát triển nội dung của chủ đề Điều này được Brown và Yule xác
định thông qua một định nghĩa sau: hãy làm cho các phần đóng góp của anh vào văn
bản sao cho có quan hệ với khung chủ đề đang có [9, tr 60] Quan yếu được thực hiện
hóa bởi các yếu tố quan yếu và các yếu tố này thường xuyên xuất hiện cùng với nhau tạo nên một cấu trúc hoàn chỉnh có tên gọi là cấu trúc quan yếu Cấu trúc quan yếu đến
Trang 32lượt nó lại tạo nên mạch lạc cho diễn ngôn
Tác giả Nguyễn Hòa cũng có quan niệm về yếu tố quan yếu như sau: Yếu tố
quan yếu chính là các đóng góp thể hiện tính giao tiếp của diễn ngôn [27, tr 61] Dựa
trên quan điểm đó của tác giả, chúng tôi nhận thấy, tính giao tiếp bao gồm cả nội dung mệnh đề/ biểu hiện và nội dung học Điều đó có nghĩa, các đóng góp là yếu tố quan yếu sẽ đồng thời thực hiện hai chức năng: biểu hiện một sự thể bao gồm các tham thể, quá trình và mối quan hệ giữa các tham thể cũng như ý nghãi dụng học đi kèm theo
nó Cũng theo đó, tính chất quan yếu còn bị quy định bởi cả những yếu tố thuộc về văn hóa như tác giả Nguyễn Hòa nhận định
b Cấu trúc diễn ngôn và chức năng xã hội của diễn ngôn
Dựa vào quan điểm Diệp Quang Ban khi ông xem cấu trúc là một trong những
đặc trưng của diễn ngôn, Nguyễn Hòa cũng đã đưa ra khái niệm nhưng cụ thể hơn: cấu
trúc diễn ngôn là sự tổ chức các yếu tố quan yếu, hay như là một mạng lưới các mối quan hệ tạo bởi các yếu tố tham gia vào hệ thống Quá trình tổ chức bao hàm một trật
tự nhất định [28, tr 66]
Cũng dựa vào những nhận định của Diệp Quang Ban, tác giả Đỗ Hữu Châu
cũng nhấn mạnh: kết cấu không chỉ là sự sắp đặt vị trí các yếu tố nội dung mà cơ bản
là việc tổ chức nghĩa của văn bản dựa trên mạng lưới các mối quan hệ logic giữa các yếu tố nội dung [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43]
Dựa vào những quan điêm trên, chúng tôi nhận thấy, cấu trúc của diễn ngôn bao gồm bốn phần (phần mở đầu, phần thân, phần kết và phần đầu đề) hoặc ba phần (mở đầu, phát triển và kết thúc) là những khuôn hình thông dụng và thường gặp nhất Và người viết sẽ phải lựa chọn cấu trúc phù hợp tùy thuộc vào từng mục đích giao tiếp cũng như người tiếp nhận cụ thể
Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy, các thành phần cấu trúc thường có mối quan hệ mật thiết và có sự tác động qua lại với nhau: phần mở đầu sẽ bổ sung những thông tin còn thiếu hoặc chưa được làm rõ và được trình bày dưới dạng hàm ngôn ở đầu đề và đây cũng chính là nền móng cho phần phát triển; phần triển khai sẽ cung cấp những thông tin, lí lẽ để chứng minh cho nội dung mà phần đầu đề và phần mở đầu đã đề cập đến, đồng thời đây cũng chính là cơ sở để đi đến phần kết cho diễn ngôn; phần kết có thể ở dạng đóng (khẳng định thông tin ở những thành phần trước) hoặc mở (gợi ra những vấn đề có liên quan nhằm định hướng suy nghĩ của người đọc)
Tính mục đích của người lập diễn ngôn có vai trò quyết định đến việc tổ chức diễn ngôn dù bên cạnh còn nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp như văn hóa, tập quán xã hội Và trong một diễn ngôn, những thành tố nội dung thực hiện một chức năng con
Trang 33và tất cả các thành tố sẽ có sự giao thoa về chức năng với nhau Từng bước thực hiện chức năng con đó tựu chung đều xuất phát từ việc thể hiện một chức năng lớn hơn đó
là chức năng giao tiếp chung của diễn ngôn Do bị quy định bởi tính mục đích nên các
thành tố nội dung có hai đặc tính quan trong: một là, sự xuất hiện có trật tự của các
thành tố trong diễn ngôn sẽ bị ràng buộc bởi chức năng con mà thành tố đó đảm nhận trong mối quan hệ không thể tách rời để tồn tại với chức năng chung của toàn diễn
ngôn; hai là, trong diễn ngôn, thành tố có thể là bắt buộc và cũng có thể là không bắt
buộc Việc dựa vào trật tự cố định hay linh động và tính chất bắt buộc hay không bắt buộc đối với mỗi thành tố trong diễn ngôn mà các chủ thể giao tiếp có thể nâng tầm
tính sáng tạo trong giao tiếp ngôn ngữ như tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Bố cục
còn là một nghệ thuật trình bày các yếu tố nội dung, mang tính chủ quan của người viết Trong bố cục, người viết có thể thay đổi trật tự các đặc điểm, các sự kiện, luận
cứ, kết luận, để tạo ra điểm nhấn, tạo cao trào cho văn bản, làm cho văn bản có sức hấp dẫn về tấm lý đối với người đọc.” [dẫn theo Trần Bình Tuyên, 43]
Như vậy, cấu trúc diễn ngôn là một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc tạo dựng nên một mạch lạc hoàn chỉnh của diễn ngôn Để tạo ra được sự mạch lạc
đó thì bắt buộc diễn ngôn phải xây dựng được một cấu trúc như thế nào cho phù hợp với việc xây dựng, duy trì cũng như phát triển từng chủ để, từng ngữ cảnh cụ thể hợp lí; các hình thức và nội dung của diễn ngôn phải có sự dung hợp gắn bó chặt chẽ với nhau, lồng vào nhau, tồn tại trong nhau, chi phối, điều chỉnh lẫn nhau, bao giờ cũng vậy, chúng phải có mặt ở trong một diễn ngôn Nếu như thiếu một trong các thành phần cấu trúc diễn ngôn, nếu không phải vì tính mục đích của người viết thì việc truyền tải nội dung sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều, hay nói khác đi mạch lạc của diễn ngôn
sẽ không còn được trọn vẹn
Từ những khái niệm cũng như những đặc tính riêng của lí thuyết phân tích diễn ngôn, chúng tôi sẽ áp dụng vào việc xem xét, phân tích những đặc điểm của tiêu đề báo Quảng Nam từ hướng đó Từ việc áp dụng đó, chúng tôi hi vọng sẽ chứng minh được mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và các tình huống giao tiếp Qua đó, làm
rõ hơn vài trò của tiêu đề với việc tạo lập một văn bản báo chí hoàn chỉnh
1.2 Khái niệm và chức năng của tiêu đề với văn bản
Khi đọc một văn bản hoàn chỉnh, người đọc thường chú ý đến nội dung, chủ đề
tư tưởng, giá trị nghệ thuật hay mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm Trong khi đó, tiêu đề của tác phẩm chính là vành đai rất quan trọng, thu hút người đọc
để từ đó người đọc có thể hiểu hơn về nội dung mà tác phẩm phản ánh trong tác phẩm Không những vậy, tiêu đề của tác phẩm thường chỉ được nhắc đến để điểm tên, liệt kê,
Trang 34trích dẫn mà ít được xem xét với tư các là một yếu tố đại diện cho tác phẩm, có vai trò quan trọng trong việc định hướng nội dung tác phẩm Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã chú ý đến việc nghiên cứu về tiêu đề, dù là những bài báo, tác phẩm văn học hay một bài khoa học nào đó, trong đó có Trịnh Sâm, Diệp Quang Ban… là những tác giả đã nghiên cứu sâu về vấn đề này Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu một cách khoa học và gọi tên tiêu đề cho các văn bản Đó là tiêu đề trong phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ văn chương… Vì vậy, để hiểu rõ hơn thế nào là tiêu đề văn bản trước hết
cần phải bắt đầu tìm hiểu từ khái niệm tiêu đề
1.2.1 Khái niệm tiêu đề tác phẩm
Khi nghiên cứu về văn bản nói chung, một văn bản hoàn chỉnh là một văn bản phải có tiêu đề Bởi tiêu đề có chức năng hết sức quan trọng đối với nội dung của văn bản Thế những, lâu nay, khi nghiên cứu về văn bản, người ta thường ít chú ý đến tín hiệu đặc biệt này
Tiêu đề là một bộ phận của văn bản và là một tín hiệu đại diện của văn bản, có liên quan đến toàn văn bản Về tên gọi tiêu đề mỗi nhà nghiên cứu lại có rất một cách gọi khác nhau Tác giả Phan Mậu Cảnh cho rằng: Tiêu đề còn gọi là đầu đề, tựa đề, nhan đề… là tên gọi của văn bản, là một bộ phận hợp thành của văn bản Như vậy Phan Mậu Cảnh không phân biệt rõ ràng thuật ngữ tiêu đề, tựa đề, nhan đề, ông gọi các khái niệm này là tiêu đề
Còn PGS Trịnh Sâm lại cho rằng “tiêu đề” là cái để ngắm, để người ta dễ nhận
ra, chỉ tên gọi của văn bản Tiêu đề phù hợp với tất cả những sở chỉ mà “đầu đề”,
“nhan đề”, “tựa đề”… biểu thị
Cũng có hai cách để hiểu về “đầu đề” như từ điển tiếng Việt đề cập đến Đầu tiên, “đầu đề” có thể là tên của bài thơ, văn, nhạc và có thể là đầu bài – là đề ra cho học sinh làm bài kiểm tra, bài thi và lúc đó ta gọi là tiêu đề Còn nếu là tên đặt cho cuốn sách hoặc bài viết thì gọi là nhan đề
Khác với tiêu đề của tác phẩm văn học, tiêu đề báo có vai trò rất quan trọng Vì thế, tác giả Vũ Quang Hào đã nhận xét tiêu đề báo như “là bộ phận hữu cơ của tác phẩm báo chí” Đồng thời, nó có khả năng “khái quát được nội dung của cả bài báo trong một cấu trúc ngôn ngữ định danh xác định, chuẩn mực, ngắn gọn và có thể có sức biểu cảm.” [18, tr 142] Nó là yếu tố tiếp xúc đầu tiên giữa tác phẩm với công chúng Chính điều quan điểm này đã làm rõ hơn tầm quan trọng của tiêu đề với nội dung của văn bản báo chí
Dựa theo khái niệm của Vũ Quang Hào, khi nghiên cứu “Vai trò của tiêu đề
Trang 35trong văn bản báo chí từ góc nhìn phân tích diễn ngôn (Khảo sát qua báo in Báo Quảng Nam)”, theo chúng tôi, dùng thuật ngữ “tiêu đề” là phù hợp nhất Vì tiêu đề là
tên gọi chính thức cho một tác phẩm hoàn chỉnh, là điều kiện để phân biệt tác phẩm này với tác phẩm khác Và nó cũng là chính là tên gọi chính thức của một tác phẩm hoặc một đoạn trích được đặt tên Về nội dung, nó đại diện cho đối tượng nó làm tên gọi Về hình thức, nó có cấu trúc đơn hoặc phức, gián cách hoặc không gián cách và thường được thể hiện bằng những kiểu chữ, cỡ chữ và màu sắc riêng giúp người đọc
dễ dàng phân biệt nó với phần còn lại của văn bản Và để đặt được một tiêu đề hay không phải là điều dễ dàng Tiêu đề hay phải khái quát ở mức cao nhất về nội dung tư tưởng của văn bản, của tác phẩm; phải cô đọng được cái hồn của tác phẩm đó
1.2.2 Chức năng của tiêu đề với văn bản
Ta có thể thấy, tiêu đề là tín hiệu định danh văn bản, làm cho văn bản có một tên gọi thống nhất Với chức năng này, tiêu đề giống như một nhãn hiệu để phân biệt văn bản này với văn bản khác Một văn bản hoàn chỉnh là một văn bản có tiêu đề hoặc
có thể đặt tiêu đề cho chính nó
Tiêu đề có thể hiện chủ đề - nội dung cô đúc, khái quát nhất của văn bản Ta
thường gặp loại tiêu đề này trong các văn bản khoa học như Hệ thống liên kết văn bản
tiếng Việt…, nghệ thuật như Chiến tranh và hòa bình…, hành chính, pháp lí và rõ nhất
là ở trong văn bản báo chí
Tiêu đề có chức năng xác định phạm vi, khuôn khổ của văn bản Qua chức năng này, tiêu đề làm đường viền “đai” xung quanh, làm cho người viết không vượt quá giới hạn đó và người đọc suy diễn, liên hệ cũng phải đặt nội dung trong khuôn khổ đó Tên đặt ra cho chuyện không phải là vô ích Nó chứa đựng trong bản thân nó chủ đề quan trọng nhất Nó định ra toàn bộ cơ cấu chuyện kể Tuy nhiên không chỉ là định hướng, tiêu đề trong văn bản còn có chức năng hồi cố và dự báo
a Chức năng dự báo
- Tính dự báo thể hiện ở chỗ tiêu đề hướng sự chú ý của người đọc đến sự trình bày Nó dẫn dắt, định hướng người đọc đến nội dung văn bản Vì tiêu đề luôn làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm Hay nói cách khác, tiêu đề thường ngầm báo những
gì sẽ xảy ra trong văn bản, nó cũng chính là căn cứ xác định sự thống nhất, hoàn chỉnh của văn bản Khi tìm hiểu xong tác phẩm chúng ta sẽ thấy rõ nguyên nhân vì sao tác giả đặt tên tiêu đề là như thế Qua đó, người đọc cũng hiểu được những suy nghĩ mà tác giả muốn thể hiện…
- Mặt khác, khi đọc văn bản, người đọc chú ý trở lại tên gọi, liên hệ tên gọi với nội dung của văn bản để tìm ra mối quan hệ giữa chúng Một khi đã tiếp xúc với văn
Trang 36bản, để làm sáng tỏ nội dung chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, các độc giả có xu hướng
so sánh tiêu đề với nội dung với tác phẩm Đó chính là tính hồi cố của tiêu đề văn bản Như vậy, giữa tiêu đề và phần còn lại của văn bản, tức nội dung cụ thể được phản ánh trong văn bản, có mối quan hệ hai chiều Điều này giống như I.R.Galperin đã nhận xét tiêu đề gọi sự chú ý của bạn đọc vào điều bạn sẽ trình bày trong quá trình đọc một văn bản Thường đọc giả sẽ chú ý đến tên gọi, cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của nó và liên hệ với nội dung văn bản Việc đặt tiêu đề cho văn bản không phải là tất yếu
Và tác dụng chủ yếu của tiêu đề là để nhận diện văn bản cũng phản ánh hướng, đích và cấu trúc nội dung của văn bản
b Chức năng định vị, khái quát
Khi so sánh với tên gọi khác trong đời sống, chúng ta nhận thấy tiêu đề văn bản
là một tín hiệu đại diện cho toàn bộ văn bản đó Văn bản là một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ được tổ chức lại, nên tiêu đề cũng có thể xem như là một tín hiệu của tín hiệu, một thứ “siêu tín hiệu” Cho nên giữa phần tiêu đề và phần nội dung tác phẩm có mối quan
hệ hữu cơ chặt chẽ và tất yếu, ít khi võ đoán và ngẫu hứng So với các câu được sử dụng trong văn bản, cả tiêu đề và câu văn bản đều mang nội dung thông báo, tuy nhiên
có một tầm quan trọng hơn nữa đó là khái quát được cả vấn đề mà văn bản muốn nói đến Tiêu đề có chức năng xác định phạm vi, khuôn khổ của văn bản và người viết không quá giới hạn đó và người đọc suy diễn, liên hệ cũng phải đặt nội dung trong khuôn khổ đó
Tiêu đề là tên gọi của tác phẩm, tức là mang chức năng định danh Nhưng lại nó cũng chứa đựng nội dung khái quát Trong nhiều văn bản nói chung và văn bản báo chí nói riêng, tiêu đề chính là nội dung cô đúc, nén kín Nếu xét mối quan hệ giữa tiêu
đề và nội dung tác phẩm, ta thấy ý nghĩa của tiêu đề có thể rõ ràng, đơn nghĩa hoặc đa nghĩa và hàm ẩn Ngoài ra, tiêu đề còn là một tín hiệu mang tính khơi gợi cảm hứng, mang tính quảng cáo và tính thầm mĩ Đây chính là điểm lan tỏa cảm xúc, phát triển cảm xúc của tác giả đồng thời khơi gợi tình cảm thẩm mĩ, kích thích người đọc
Tiêu đề không chỉ bộc lộ trực tiếp chủ đề văn bản mà còn có tính hàm ẩn Nó bắt buộc người đọc phải vận dụng vốn hiểu biết về cuộc sống để giải mã nó, lần tìm nội dung Vì kiểu tiêu đề này có tầm khái quát, có ý nghĩa tượng trưng tư tưởng cao hơn nội dung văn bản
1.2.3 Phân loại tiêu đề báo về phương diện ý nghĩa – chức năng
Tiêu đề văn bản nói chung và tiêu đề báo chí nói riêng rất đa dạng về hình thức
và nội dung Tuỳ theo góc nhìn khác nhau mà chúng ta sẽ có những cách phân loại khác nhau Tuy nhiên, khi xét về phương diện ý nghĩa – chức năng, chúng tôi chia tiêu
Trang 37đề báo chí thành những loại như sau:
- Tiêu đề bình luận
Đây là loại tiêu đề mà ở đó, tác giả đã bộc lộ những nhận xét, đánh giá khách quan của mình về sự kiện hay sự việc [1, tr.65] Đồng thời, nó còn tỏ ra hữu dụng với thể loại bình luận
- Tiêu đề xác nhận
Loại tiêu đề này có nhiệm vụ xác nhận sự tồn tại của các sự kiện, hiện tượng hay cảnh huống , trong thực tế khách quan được phản ánh Nguyễn Đức Dân gọi loại tiêu đề này là tiêu đề khẳng định [11, tr.91]
Ở thể loại tin tức, loại tiêu đề này có tính chất thông tin trọn vẹn, rõ ràng và khá
cụ thể về sự kiện, hiện tượng Ở các thể loại phóng sự, kí, ghi chép thì tiêu đề này có chức năng là xác nhận thông tin chỉ dừng lại ở sự gọi tên các sự kiện, cảnh huống…
- Tiêu đề câu hỏi
Tiêu đề thuộc loại này vừa gợi lên sự phán đoán của độc giả về vấn đề bức xúc cần được quan tâm, vừa hứa hẹn một câu trả lời thoả đáng ở phía dưới Nó có tác dụng thu hút sự chú ý của độc giả Trên báo chí tiếng Việt, loại tiêu đề này xuất hiện với tần
số tương đối cao, chỉ đứng sau dạng tiêu đề là câu trần thuật có giá trị ngôn trung là khẳng định
- Tiêu đề kêu gọi
Loại tiêu đề này có tính chất nổi bất là kêu gọi độc giả hướng suy nghĩ, hành động của mình về điều mà người viết đề cập đến Ngoài ra, nó có tác dụng khơi gợi tâm tư, tình cảm của người đọc về sự kiện được phản ánh Phần lớn tiêu đề loại này là những câu cầu khiến
- Tiêu đề trích dẫn
Tiêu đề báo ở đây là một “khách ngôn”, tức là, chúng là “một bộ phận của phát
ngôn đã có sẵn trong xã hội, tồn tại khách quan ngoài sự sáng tạo riêng tư của người phát ngôn” [36, tr 38] Đây là loại tiêu đề mà ở đó người viết trích dẫn nguyên văn lời
của những nhân vật nổi tiếng, hay có một địa vị, có sức ảnh hưởng nhất định nào đó trong xã hội
Không những thế, loại tiêu đề trích dẫn này còn tạo cảm giác rằng nguồn tin
mà người viết đang đề đến là hoàn toàn chính xác và đáng tin cậy Bởi vì, “sức mạnh của báo chí nếu có, chính là sự tin cậy của độc giả, của công chúng, chứ hoàn toàn không phải do mình có quyền” [35, tr.249]
- Tiêu đề gợi cảm
Trang 38Đây là loại tiêu đề mà ở đó người viết sử dụng những hình thức diễn đạt mới lạ, độc đáo, “khác thường”, giàu hình ảnh, sinh động, hấp dẫn và có tác dụng gây ấn tượng mạnh đối với độc giả
Trên đây là các loại tiêu đề chúng ta thường gặp nếu xét về phương diện ý nghĩa – chức năng Ngoài ra, chúng ta có thể gặp một số loại tiêu đề báo khác như: tiêu
đề tuyên bố, tiêu đề tường thuật, tiêu đề thông báo, tiêu đề giật gân…
1.3 Vài nét về Báo Quảng Nam
Hơn hai phần ba thế kỉ trôi qua, Báo Quảng Nam đã cùng mảnh đất và con người xứ Quảng trải qua quá trình hình thành và phát triển đầy đau thương nhưng cũng rất đáng để tự hào Báo Quảng Nam thực sự là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền cũng như nhân dân trên mảnh đất chỉ hai mùa nắng mưa đơn điệu của miền Trung đầy nặng nghĩa tình và đầy âm hưởng anh hùng ca cách mạng “trung dũng kiên cường”
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của Báo Quảng Nam
Quá trình hình thành và phát triển của lịch sử báo chí của Quảng Nam gắn liền với truyền thống lịch sử, văn hóa của đất Quảng “Đất chưa mưa đà thấm” chính là đất
có sự nhạy bén mà qua mỗi thời kì đều đóng góp những con người với tư tưởng có tính chất mở đường, và từ mảnh đất ấy những tác phẩm báo chí được ươm mầm, lớn dậy Cho nên thời kì tiền khởi nghĩa, Quảng Nam đã có những con người làm báo cấp tiến như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Thế Mỹ, Phan Thanh, Phan Bôi, Lưu Quý Kỳ Càng xanh tươi hơn, khi có những “hạt giống đỏ” của cách mạng, của Đảng gieo xuống mảnh đất ấy để tạo nên báo chí cách mạng, báo Đảng
Ngày 28 tháng 03 năm 1930 Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam được thành lập Trước tình hình mới, nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi mọi tổ chức phải vận dụng nhiều hình thức khác nhau trong công tác đấu tranh, tuyên truyền các chính cương, tôn chỉ, mục đích của Đảng, đồng thời phát huy thanh thế của đảng bộ Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và trước mắt là phục vụ kịp thời cho ngày Quốc tế Lao động 1 – 5 – 1930, Tỉnh Ủy cho ra mắt tờ báo Lưỡi Cày Báo Lưỡi Cày in bằng thạch (đông sương) với nội dung như truyền đơn và tài liệu phục vụ cho yêu cầu cách mạng Tờ báo cũng là một trong những sản phẩm của cơ quan in ấn Tỉnh ủy do đồng chí Bí thu Tỉnh ủy Phan Văn Định lãnh đạo
Vào cuối tháng 10 năm 1930, cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam bị lộ và bị bắt cả người lẫn tài liệu Báo Lưỡi Cày bị gián đoạn, nhưng trong nhà giam của đế quốc các chiến sĩ cách mạng vẫn ra tờ báo lấy tên là Mõ Nhà Pha (sau đổi tên là Vắt Cơm Bi) Không thể in ấn được, tờ báo được viết bằng tay trên giấy manh, truyền tay nhau đọc
Giai đoạn 1931 – 1940, ở Quảng Nam các loại truyền đơn, tài liệu các loại sách
Trang 39báo tiến bộ từ phong trào dân chủ được lưu hành rộng rãi Song phải đến tháng 03 năm
1940, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam mới được tổ chức lại do đồng chí Võ Toàn làm Bí thư Từ đây công tác tuyên truyền, vận động cách mạng được đẩy lên một bước Năm
1942, Tỉnh ủy chủ trương phát hành báo Cờ Độc Lập bằng thạch, nhằm tuyên truyền phổ biến các tài liệu của Đảng Báo phát hành được 5 số thì cơ sở bị vỡ, nhiều đồng chí bị bắt nên phải tạm ngưng
Bước sang năm 1945, tình thế cách mạng mới xuất hiện, Tỉnh Ủy quyết định ra
tờ báo Giải Phóng thay cho tờ Cờ Độc Lập Đến ngày 2 – 9 – 1955 tờ báo được đổi tên thành Quyết Tiến cho phù hợp với tình hình mới Năm 1962, tờ báo lại một lần nữa được đổi tên thành Giải Phóng Báo ra hàng tháng với số lượng lúc đầu khoảng 200 tờ, sau tăng lên 1000 tờ Cuối năm 1967 tờ báo đã ra được 4 trang, khổ 23 X 42 cm
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cùng với cả nước, tỉnh Quảng Nam cũng nhanh chóng bắt tay vào công cuộc tái thiết và xây dựng lại quê hương Báo Đảng Quảng Nam cũng luôn sát cánh trong công cuộc đó
Ngày 11 – 7 – 1975 tờ báo được đổi tên thành báo Quảng Nam – Đà Nẵng để phù hợp với nhiệm vụ mới, mở ra thời kì phát triển mới của báo Đảng Các kì báo trong tuần và số lượng báo phát hành mỗi kì được tăng lên: năm 1975 ra 3 kì / tháng; năm 1977 ra 1 kì / tuần; năm 1979 ra 2 kì / tuần; năm 1982 đến năm 1995 ra 3 kì / tuần với số lượng báo mỗi kì là 10.000 tờ (4 trang, khổ 39 X 58 cm) và một kì Quảng Nam – Đà Nẵng chủ nhật (số lượng 12.000 tờ, 16 trang, khổ 28 X 42 cm) Từ năm 1995 –
1996, báo ra hằng ngày
Năm 1997, tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng lại chia tách Với điều kiện ban đầu còn khó khăn, thiếu thốn nhiều mặt, song với truyền thống cách mạng lâu dài, tờ báo Quảng Nam đã vượt qua mọi trở ngại để hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền các nhiệm
vụ chính trị được giao, nhằm góp phần xây dựng quê hương trong giai đoạn mới Từ phát hành 4 kì / tuần với lượng in ấn 5.000 tờ / kì
Đến nay báo Quảng Nam đã ra rằng ngày, với số lượng báo in đã trên 10.000 tờ / ngày Bên cạnh đó các chuyên trang, chuyên mục, tờ báo điện tử cũng không ngừng được cải thiện, tạo ra nhiều lựa chọn và phương thức tiếp cận thông tin được dễ dàng hơn, tiện ích hơn Phản ánh sinh động mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội tỉnh nhà Đội ngũ những người làm báo cũng không ngừng tăng lên, đến nay Báo Quảng Nam
đã có 56 cán bộ, 02 văn phòng đại diện và 01 trụ sở Tòa soạn báo khang trang, đầy đủ các trang thiết bị kĩ thuật tác nghiệp Ban Biên tập đang định hướng xây dựng Báo Quảng Nam theo mô hình tòa soạn điện tử, cập nhật nhanh chóng tin tức để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của lãnh đạo tỉnh nhà, của đông đảo bạn đọc
Trang 401.3.2 Vai trò của Báo Quảng Nam đối với đời sống - chính tri của tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là vùng đất giàu tiềm năng kinh tế và bản sắc văn hoá Sau hơn 10 năm tái lập tỉnh (1997 - 2012), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của người dân từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế trong tỉnh đang chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng
dần tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ
Mục tiêu quan trọng nhất mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam đang ra sức phấn đấu để đưa Quảng Nam về cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020 Trong nhiệm vụ chung đó, nổi bật lên vai trò của cơ quan báo Báo Quảng Nam
a Nâng cao dân trí
Báo chí là một phân nhánh, một bộ phận của hoạt động văn hoá và tư tưởng, cũng có thể nói đây là hoạt động tinh thần Nổi bật ở đặc điểm này của báo chí là cơ quan văn hoá – thông tin, là cầu nối đưa thông tin, kiến thức, sự hiểu biết đến cho mọi người Báo Quảng Nam đã đáp ứng các nhu cầu văn hoá tinh thần cho con người, đó là đối tượng bạn đọc, người sử dụng thông tin Con người luôn có nhu cầu nâng cao kiến thức, sự hiểu biết để phát triển toàn diện, hoàn thiện sự nhận thức về các sự vật – hiện tượng tự nhiên và xã hội
Vai trò phản biện xã hội mà báo chí và nhà báo - những người cầm bút, phải đảm đương, thể hiện sự dân chủ hóa trong đời sống xã hội, luôn cập nhật các sự kiện xảy ra trong đời sống để phản ánh một cách sinh động, khách quan, đem đến cái nhìn mới mẻ, toàn diện về đời sống xã hội cho nhân dân
b Phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Để các chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước ta đến được với mọi người dân, để họ hiểu được và thực hiện Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng nhiều kênh thông tin – tuyên truyền khác nhau như phát thanh – truyền hình, báo chí v.v…Trong các hoạt động đó, hệ thống thông tin báo chí là một thiết chế truyền thông được tổ chức chuyên sâu, thường xuyên và luôn đem lại hiệu quả sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, mọi vùng miền, mọi lứa tuổi, trình độ học vấn
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, lãnh đạo tỉnh Quảng Nam luôn quan tâm đến hoạt động báo chí, coi báo chí là công cụ đắc lực để tuyên truyền, vận động nhân dân Thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến thông tin và việc tổ chức mạng lưới phân phối, các hoạt động thông tin báo chí luôn quan tâm định hướng cho bạn đọc những thông tin có giá trị, mang tính bao quát mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, bên cạnh việc chú trọng cập nhật thường xuyên các sự kiện kinh tế, chính trị,