1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu đục ngọn lát hoa tại tỉnh nghệ an

72 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây Lát hoa đã được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái, phân bố, đặc điểm sâu hại, xây dựng các khảo nghiệm xuất xứ và kỹ thu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

Trang 2

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

gười cam đoan

Dương Xuân uấn

Trang 3

Ờ CẢ Ơ

Để hoàn thành luận văn này trước hết tôi xin gửi đến quý thầy, cô giáo trong trường Đại học Lâm nghiệp lời cảm ơn chân thành Đặc biệt, tôi xin gửi đến TS Nguyễn Minh Chí và PGS.TS Lê Bảo Thanh, những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn lời cảm ơn sâu sắc nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tìm hiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn dành sự động viên, giúp đỡ và ủng hộ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đã qua

Trong quá trình thực tập, hoàn thiện luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019

ác giả

Dương Xuân uấn

Trang 4

ỤC ỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CẤC HÌNH viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤ Ề NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

1.1.1 Các nghiên cứu về sâu đục ngọn gây hại cây họ Xoan 3

1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý sâu đục ngọn 4

1.1.3 Các nghiên cứu về gây trồng Lát hoa 6

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.2.1 Các nghiên cứu về sâu đục ngọn gây hại cây họ Xoan 7

1.2.2 Các nghiên cứu về quản lý sâu bệnh hại 9

1.2.3 Các nghiên cứu về gây trồng Lát hoa 11

Chương 2 MỤC ÊU, Ố ƯỢNG, PH M VI, NỘI DUNG VÀ ƯƠ Á Ê CỨU 15

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 15

2.1.1 Mục tiêu chung 15

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 15

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 15

2.3 Nội dung nghiên cứu 16

2.3.1 Điều tra bổ sung thành phần loài sâu hại trên cây Lát hoa 16

Trang 5

2.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, tập tính gây hại và triệu

chứng gây hại của sâu đục ngọn trên cây Lát hoa 16

2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 16

2.3.4 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa 16

2.4 Phương pháp nghiên cứu 16

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 16

2.4.2 Phương pháp điều tra thành phần loài sâu hại trên cây Lát hoa 16 2.4.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, tập tính gây hại và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn trên cây Lát hoa 17

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 18

2.4.5 Phương pháp đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa 20

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 20

Chương 3 ỀU KI N TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ 22

3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 22

3.2 Điều kiện kinh tế 24

3.3 Điều kiện xã hội 29

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Kết quả điều tra bổ sung thành phần loài sâu hại trên cây Lát hoa tại Nghệ An 33

4.2 Đặc điểm hình thái, tập tính gây hại và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn trên cây Lát hoa 37

4.2.1 Đặc điểm hình thái 37

4.2.2 Tập tính gây hại 38

4.2.3 Triệu chứng gây hại 39

4.3 Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 40

Trang 6

4.3.1 Ảnh hưởng của tuổi cây đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây

Lát hoa 40

4.3.2 Ảnh hưởng của phương thức trồng đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 42

4.3.3 Ảnh hưởng của độ cao tuyệt đối đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 43

4.3.4 Ảnh hưởng của đất đai đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 45

4.4 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC

Trang 7

DA ỤC CÁC KÝ U VÀ C Ữ V Ế Ắ

Ký hiệu và

ACIAR Australian Centre for International Agricultural Research BNN Bộ nông nghiệp

Bộ NN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

CSIRO Australian Tree Seed Centre

CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân

Fpr Xác xuất tính

IAA Indole-3-acetic acid

IBA Indole-3-butyric acid

KVNC Khu vực nghiên cứu

TCLN Tiêu chuẩn lâm nghiệp

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TTG Trung tâm giống

ΔD Lượng tăng trưởng bình quân đường kính

ΔH Lượng tăng trưởng bình quân chiều cao

Trang 8

DANH ỤC CÁC BẢ

Bảng 4.1 Thành phần các loài côn trùng trên cây Lát hoa tại Nghệ An 33 Bảng 4.2 Tỷ lệ các nhóm côn trùng thu được trên cây Lát hoa 34 Bảng 4.3 Kết quả ảnh hưởng của tuổi cây đến khả năng bị sâu đục ngọn 41Bảng 4.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức trồng Lát hoa 42Bảng 4.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của độ cao đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 44 Bảng 4.6 Một số đặc điểm lý, hóa tính của các loại đất trồng Lát hoa 45Bảng 4.7 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của loại đất đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 47

Trang 9

DA ỤC CẤC HÌNH

Hình 4.1 Vòi voi (Aclees sp.) đục thân gây hại Lát hoa ở Quỳ Hợp 35

Hình 4.2 Xén tóc (Aeolesthes sp.) đục thân gây hại Lát hoa ở Quỳ Hợp 36

Hình 4.3 Bọ ánh kim (Sagra femorata) đục thân gây hại Lát hoa ở Quỳ Hợp 36

Hình 4.4 Bổ củi, mối và sâu hại vỏ hại Lát hoa trồng xen ở Con Cuông 37

Hình 4.5 Sâu đục ngọn (H robusta) gây hại lát hoa 38

Hình 4.6 Triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn trên cấy Lát hoa 40

Trang 10

Ặ VẤ Ề

Cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A Juss) thuộc họ xoan Meliaceae,

chúng còn có các tên gọi khác là Lát da đồng và Lát chun Lát hoa là cây gỗ lớn, thân tròn, thẳng, có bạnh vè nhỏ Chiều cao cây đạt tới 35 - 37 m, đường kính ngang ngực có thể đạt 1,5 - 2 m Vỏ dày, nứt dọc, có rãnh sâu, màu nâu nhạt đến nâu đen, có nhiều bì khổng nổi rõ, lớp vỏ trong có màu đỏ tươi Lá kép lông chim 1 lần, cây non dưới 4 tuổi có lá kép giả 2 lần Nách lá có lông, khi non có màu tím nhạt (Trần Hợp, 2002; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2007)

Gỗ Lát hoa rất quý, được xếp vào nhóm 1, có giá trị kinh tế cao Gỗ có vân rất đẹp, thớ mịn, ít co giãn cong vênh, không bị mối mọt, gỗ giác màu hồng nhạt, gỗ lõi màu đỏ có ánh đồng, được ưa chuộng để làm đồ mộc cao

cấp ở nước ta (Phạm Đức Tuấn et al., 2002, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2007)

Nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu của Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp theo quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN, Bộ NN&PTNT với kế hoạch hành động và ưu tiên thực hiện 4 nhiệm vụ trọng tâm, gồm: (1) Nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất; (2) nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến; (3) phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp; (4) phát triển thị trường gỗ và sản phẩm Theo định hướng đó, cần đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trồng rừng

gỗ lớn đối với các tỉnh miền núi, nơi có thế mạnh về phát triển Lâm nghiệp nói chung và các tỉnh thuộc khu vực miền núi Tây Bắc và Bắc Trung Bộ

Để phục vụ cho đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT cũng đã có Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 xác định Lát hoa là loài cây chủ yếu cho trồng rừng ở bốn vùng sinh thái Tây Bắc, Trung Tâm, Đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ Kết quả kiểm kê rừng của Tổng cục Lâm nghiệp, giai đoạn 2012 - 2014 có trên 35.000 ha rừng Lát hoa với 20.388 ha rừng sản xuất và 14.661 ha rừng phòng hộ,

Trang 11

trong đó tỉnh Nghệ An là một trong những địa phương có diện tích rừng trồng Lát hoa rất lớn

Lát hoa (C tabularis) là cây bản địa, gỗ lớn, sinh trưởng khá nhanh, có

giá trị kinh tế cao, gỗ có vân đẹp, rất được ưa chuộng để làm đồ mộc cao cấp

Để rừng trồng có thể phát triển bền vững thì công tác chăm sóc, bảo vệ sau khi trồng là hết sức quan trọng Do nhu cầu của xã hội, cây Lát hoa được trồng trên diện tích rộng ở các tỉnh, hiện tại diện tích rừng cây Lát hoa thuần loài là khá lớn Theo đúng quy luật sinh học, khi có nguồn thức ăn là có sâu hại, có thể thấy rõ điều này khi rừng cây Lát hoa được hình thành, một khối lượng thức ăn là lá, thân cành rất lớn đã tạo điều kiện thuận lợi cho những loài côn trùng đơn thực và hẹp thực sinh sôi và phát triển Qua quá trình điều tra

sơ bộ đã phát hiện một số loài sâu hại, trong đó có sâu đục ngọn cây Lát hoa

là rất nguy hiểm Sau khi cây Lát hoa bị sâu đục ngọn, ngọn cây bị chết và sẽ mọc thành cụm chồi mới, gây hiện tượng đa thân, nhiều cành, làm giảm chất lượng hình thân và ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng

Cây Lát hoa đã được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái, phân bố, đặc điểm sâu hại, xây dựng các khảo nghiệm xuất xứ và kỹ thuật gây trồng nhưng trở ngại rất lớn để trồng rừng Lát hoa là sâu đục ngọn Do đó, việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa tại tỉnh Nghệ An là rất cần thiết và có ý nghĩa cao cả về khoa học và thực tiễn

Trang 12

Chương 1

Ổ QUA VẤ Ề Ê CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Các nghiên cứu về sâu đục ngọn gây hại cây họ Xoan

Các loài sâu đục ngọn Hypsipyla spp thường gây hại các loài cây họ xoan, cụ thể như Hypsipyla robusta đục ngọn cây Dái ngựa, Xà cừ, và Xoan mộc ở Ấn Độ, Sri Lanka, Philippin (Varma, 2001), H robusta đục ngọn Lát

hoa ở Bangladesh, Lào, Malaysia, Thái Lan (Eungwijarnpanya, 2001; Samontry, 2001) Nghiên cứu đặc điểm gây hại của sâu đục ngọn trên cây

Hồng xuân (Toona australis) cho thấy vị trí chồi cây có liên quan rất chặt đến

sự tấn công của sâu đục ngọn Những cành ở độ cao trên 90% so với chiều

cao của cây thường bị hại nặng nhất (Mo et al., 1997)

Rừng trồng Lát hoa thuần loài, tập trung, không che bóng tại 5 địa điểm

ở Thái Lan cho thấy tỷ lệ cây bị sâu đục ngọn Hypsipyla gây hại thấp nhất ở

Ratchaburi, từ 7 - 68%, nơi trung bình (Prachuap Khiri Khan) từ 21 - 77%, và nơi cao nhất (Kansanaburi) từ 98 - 100% (Pinyopusarerk and Kalinganire,

2003) Lát hoa bị sâu đục ngọn (H robusta) gây hại nhiều khi trồng nơi chúng

phân bố tự nhiên (Thái Lan, Lào) và bị hại nhẹ hơn ở khi trồng các nước khác

(Australia và Phillipin) (Cunningham et al., 2005)

Ở Malaysia, Lát hoa dễ bị sâu đục ngọn gây hại hơn so với các loài cây

họ xoan khác Sâu đục ngọn cũng gây hại Lát hoa ở các nước thuộc phía Nam Châu Phi và ở Trung và Nam châu Mỹ (Ho and Noshiro, 1995) Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái học của sâu đục ngọn đã được thực hiện khá đầy đủ, qua đó xác định được các đặc điểm phát sinh, vòng đời, thời gian xuất hiện các pha trong năm, đặc điểm gây hại góp phần xác định biện pháp phòng trừ, hạn chế thiệt hại do sâu đục ngọn gây ra đối với rừng trồng các loài cây thuộc họ xoan và cho cây Lát hoa nói riêng (Gripjma và Roberts, 1975;

Griffiths, 1996; Griffiths et al., 2004)

Trang 13

Thí nghiệm cây Lát 1 năm tuổi tại Australia cho thấy sâu đục ngọn (H

robusta) thường đẻ trứng ở những khe nứt của vỏ cây, điều kiện ánh sáng ảnh

hưởng đến quá trình đẻ trứng của sâu trưởng thành, trên các cây được che bóng chỉ có 41% số trứng, trong khi có tới 59% số trứng trên cây trồng trong điều kiện đủ ánh sáng Sâu non bắt đầu ăn sau 2 giờ trứng nở tại những vị trí non như các đỉnh sinh trưởng, nách lá, nách lá chét và gân lá và phá hại mạnh nhất ở khoảng 8 giờ sau khi trứng nở (Đào Ngọc Quang, 2008) Một nghiên

cứu khác đối với hai loài Khaya anthotheca và K ivorensis cũng cho thấy

điều kiện ánh sáng ảnh hưởng rõ đến tỷ lệ bị sâu đục ngọn, rừng trồng mở tán 55% có tỷ lệ bị sâu đục ngọn 85%, trong khi ở công thức mở tán 26% và 11%

tỷ lệ bị sâu đục ngọn tương ứng là 11% và 0% Tuy nhiên, khi mở tán 26% và

11% cây sinh trưởng chậm hơn đáng kể (Opuni-Frimpong et al., 2008a)

Đến nay, sâu đục ngọn được xác định là sinh vật gây hại chính và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với rừng trồng Lát hoa cũng như các loài cây

họ xoan khác Do vậy, các nghiên cứu trên thế giới đều tập trung vào các loài sâu đục ngọn mà chưa có nghiên cứu về các loài sinh vật gây bệnh đối với cây Lát hoa

1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý sâu đục ngọn

Sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng đã được thực hiện từ rất lâu và đạt hiệu quả cao, tác dụng nhanh (McGrath, 2009; Blaedow et al., 2010) nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nếu sử dụng quá mức

Phòng trừ các loài sâu đục ngọn Hypsipyla spp cho rừng trồng các loài

cây thuộc họ xoan nói chung và cho cây Lát hoa nói riêng đã được thử nghiệm kết hợp giữa các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, sinh học và sử dụng hóa chất để kiểm soát sâu đục ngọn (Gripjma and Roberts, 1975; Griffiths, 1996)

Việc phòng trừ các loài sâu đục ngọn Hypsipyla spp cho các loài cây họ xoan

đã được thử nghệm với 51 loại thuốc hóa học ở nhiều quốc gia từ vùng Nam

Á, Châu Phi đến Nam Mỹ (Wylie, 2001; Griffiths et al., 2004)

Trang 14

Phòng trừ các loài sâu đục ngọn Hypsipyla spp cho các loài cây họ

xoan bằng các loài côn trùng thiên địch đã được thực hiện hiện, qua đó xác

định được các loài ký sinh gồm Anthocephalus renalis, Tetrastichus

spirabilis, Phanerotoma sp., Trichogrammatoidea nana và T robusta có thể

kiểm soát sâu đục ngọn ở các nước vùng Caribea (Sands and Murphy, 2001)

Nghiên cứu các cá thể sâu bị chết đã xác định sinh vật ký sinh là Bacillus

thuringiensis, Deuteromycete và nucleopolyhedrovirus (NPV) (Hauxwell et al.,

2001) Thí nghiệm nhiễm ký sinh cho sâu đục ngọn ở các nước Mỹ Latinh đã xác

định Apanteles sp có khả năng ký sinh, gây chết sâu đục ngọn (Blanco-Metzler et

đục ngọn gây hại rừng trồng K anthotheca và K ivorensis Frimpong et al., 2008a)

(Opuni-Nghiên cứu phòng trừ tổng hợp các loài sâu đục ngọn cho rừng trồng các loài cây họ xoan muốn đạt hiệu quả và quản lý thành công cần có thêm các nghiên cứu bổ sung về phân loại sâu hại, các yếu tố liên quan giữa cây chủ và tác động của sâu hại, kết hợp các biện pháp phòng từ hóa học và sinh học

(Speight and Cory, 2001) Việc sử dụng kết hợp nấm Beauveria bassiana (mật

độ 108 Cfu/mg, liều lượng 4 kg/ha), thuốc trừ sâu và giống kháng sâu để hạn

chế sâu đục ngọn cho rừng trồng cây họ xoan ở Cu Ba (Casanova et al., 2001)

Nghiên cứu phòng trừ sâu đục ngọn cho các cây họ xoan đã được thực hiện nhưng mới chỉ có một số kết quả mang tính thăm dò Chưa có nghiên cứu phòng trừ tổng hợp sâu đục ngọn Lát hoa Các kết quả nghiên cứu nêu trên là nguồn thông tin hữu ích để đề tài tham khảo

Trang 15

1.1.3 Các nghiên cứu về gây trồng Lát hoa

Các nghiên cứu về thu hái và bảo quản hạt giống đã xác định được thời gian thu hái quả thích hợp ở hầu hết các nước từ tháng 10 năm trước đến tháng

3 năm sau Thu hái khi quả chuyển màu nâu Nên xử lý, phơi trong nắng nhẹ 2

- 3 ngày, đập để tách hạt Cần bảo quản hạt trong điều kiện lạnh, tỷ lệ nảy mầm trung bình sau 3 năm khi bảo quản ở nhiệt độ trong phòng (23oC) đạt 29% và 79% khi bảo quản lạnh (Kalinganire and Pinyopusarek, 2000)

Kỹ thuật gieo ươm: Gieo từ 7,5 - 30 g hạt/m2

và nên xử lý hạt trước khi gieo Hạt thường nảy mầm sau 1 tuần với tỷ lệ từ 80 - 90% Khi cây mạ có 2 cặp lá thì có thể cấy cây vào bầu Cây con 6 - 7 tháng tuổi, cao 30 cm có thể đem trồng (Anon, 1974; Ho and Noshiro, 1995)

Nhân giống hom đã được thử nghiệm, trong đó xử lý hom bằng chất kích thích ra rễ IAA và IBA (0,5 - 2 mg/l) cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, đạt 96% với cây 1 năm tuổi và đạt 65 - 70% với hom lấy từ cây 5 năm tuổi đã được trẻ hóa từ cây 20 năm tuổi (Kalinganire and Pinyopusarek, 2000) Qua đó cho thấy hoàn toàn khả thi để nhân giống các giống Lát hoa có các đặc điểm ưu trội về sinh trưởng và tính chống chịu sâu, bệnh

Mật độ trồng đã được thử nghiệm từ 2.500 - 3.000 cây/ha ở Ấn Độ trên các vùng đất màu mỡ Tuy nhiên đường kính thân cây thường nhỏ và sẽ không hiệu quả với mật độ này khi không có thị trường gỗ nhỏ do đó cần phải tỉa thưa Các nghiên cứu cho thấy nên trồng với mật độ được khuyến cáo từ

400 - 1.100 cây/ha, bón lót từ 100 - 150 g NPK (15:15:15)/hố Trong 3 năm đầu cần chăm sóc ít nhất 2 lần/năm Lát hoa sinh trưởng tương đối nhanh trong những năm đầu, tăng trưởng chiều cao có thể đạt 3m/năm trong điều kiện thuận lợi và trung bình đạt 0,7 - 1 m/năm ở điều kiện bình thường Ở Ấn

Độ, tăng trưởng chiều cao đạt từ 2,7 - 5,5 m sau 2 năm, 8,5 - 9,1 m sau 5 năm

và tăng trưởng đường kính trung bình đạt 2,5cm/năm (Kalinganire and Pinyopusarek 2000, Pinyopusarerk and Kalinganire, 2003)

Trang 16

Lát hoa đã được trồng nhiều ở các nước như Australia, Trung Quốc, Lào, Malaysia, Mianmar và Thái Lan và cũng đã được đưa vào thử nghiệm tại các nước khác như Cameroon, Nigeria, Nam Phi, Puerto Rico & Costa Rica

và đã đạt được nhiều kết quả khả quan, cây sinh trưởng nhanh (Ho and Noshiro, 1995) Kết quả trồng thử nghiệm các loài cây gỗ năm 1998 tại Northern Territory, Australia sau 3 năm tuổi cho thấy Lát hoa tuy có sinh trưởng chậm hơn các loài cây khác nhưng có ưu thế về chiều cao và rất có

triển vọng để phát triển trồng rừng gỗ lớn tại Australia (Reilly et al., 2006)

Tuy nhiên, chúng thường bị sâu đục ngọn, gây ra hiện tượng phân cành sớm, qua đó làm giảm sinh trưởng và giảm chất lượng gỗ (Kalinganire and Pinyopusarek, 2000; Pinyopusarerk and Kalinganire, 2003)

Các nghiên cứu về Lát hoa ở trên thế giới chưa đầy đủ, chưa đề cập đến phương thức trồng, mới đề cập đến sâu đục ngọn Do vậy, rất cần nghiên cứu xác định các biện pháp gây trồng phù hợp để đảm bảo tăng sinh trưởng, đồng thời hạn chế sâu hại

1.2 ình hình nghiên cứu ở Việt am

1.2.1 Các nghiên cứu về sâu đục ngọn gây hại cây họ Xoan

Kết quả điều tra thành phần sâu đục ngọn trên một số loài cây thuộc họ

xoan cho thấy có hai loài sâu đục ngọn là Hypsipyla robusta Moore thuộc họ ngài sáng Pyralidae bộ cánh vảy Lepidoptera và Zeuzera coffea Nietner thuộc họ ngài sâu đục gỗ Cossidae bộ cánh vảy Lepidoptera Trong đó Z coffea vừa hại ngọn và hại thân cây, còn H robusta chỉ hại các ngọn cây, ngọn cành, đặc biệt là ngọn chính nhưng tỷ lệ cây bị hại và mức độ bị hại do H robusta lớn hơn rất nhiều

so với Z coffea, tương ứng là 58,8% và 3,6% (Nguyễn Văn Độ, 2002; 2003)

Sâu đục ngọn (H robusta) được xác định là loài gây hại chính đối với

rừng trồng Lát hoa ở Việt Nam (Nguyễn Văn Độ, 2002) Các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học của loài này cụ thể như sau:

Trang 17

 Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái các pha của Sâu đục ngọn Lát hoa (H robusta) đã được Nguyễn Văn Độ (2002; 2003) nghiên cứu, mô

và sau đều có lông riềm

 Đặc điểm sinh học: Sâu đục ngọn (H robusta) có phân bố rộng,

chúng gây hại rừng trồng các loài cây thuộc họ xoan từ miền Bắc đến Nam Trung Bộ Sâu non ở giai đoạn tuổi 1 - 2 mới chỉ ăn lá non và chồi non, sau

đó chúng thường tấn công đầu tiên vào ngọn chính rồi mới đến các ngọn của cành bên Mức độ gây hại lớn nhất thường xảy ra với các cây từ 1 - 2 tuổi, hàng năm xuất hiện một lứa sâu với mật độ cao vào tháng 6, gây hại nghiêm

trọng nhất với cây ở giai đoạn 10 - 12 tháng tuổi (Nguyễn Văn Độ, 2003)

Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ cây bị sâu đục ngọn ở rừng trồng Lát hoa rất cao Kết quả đánh giá trên rừng trồng Lát hoa tại Ba Vì (Hà

Nội) cho thấy loài C velutina có tỷ lệ bị sâu đục ngọn từ 54,8 - 67,3%; loài C

tabularis có tỷ lệ bị sâu đục ngọn từ 77,3 - 95,7% Ngọn chính của những cây

bị sâu đục ngọn bị chết sau đó mọc lên 2 - 3 ngọn phụ, cây trở thành nhiều thân, làm giảm sinh trưởng, thậm chí ngừng sinh trưởng về chiều cao do bị

sâu hại liên tục (Lê Đình Khả et al., 2003)

Trang 18

Kết quả đánh giá đối với rừng Lát hoa ở giai đoạn 12 tháng tuổi cho

thấy tỷ lệ cây bị sâu đục ngọn (H robusta) trung bình tại Ba Vì, Hà Nội là

58,8%, tại Kim Bôi, Hòa Bình là 21,8% và Mang Yang, Gia Lai là 1,7% (Nguyễn Văn Độ và Đào Ngọc Quang, 2001)

Các nghiên cứu đã xác định được các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học, phân bố và tình hình gây hại của sâu đục ngọn đối với rừng trồng Lát hoa Tuy nhiên, chưa có hiên cứu về sinh vật gây bệnh Lát hoa và các nghiên cứu trên cho thấy ở các địa điểm với điều kiện lập địa khác nhau, rừng trồng Lát hoa bị sâu đục ngọn gây hại rất khác nhau Do đó, cần nghiên cứu bổ sung

về sự ảnh hưởng của các yếu tố lập địa, địa hình, khí hậu đến sự gây hại của sâu đục ngọn đối với rừng trồng Lát hoa

1.2.2 Các nghiên cứu về quản lý sâu bệnh hại

Phòng bệnh bằng cách bón các chế phẩm sinh học cho một số loài cây trồng rất khả quan, bón chế phẩm MF1 đã giúp tăng sinh trưởng của bạch đàn, thông, keo đồng thời có thể giảm tỷ lệ Hình 1bị bệnh rất hiệu quả (Nguyễn

Hoài Thu et al., 2009; Phạm Quang Nam et al., 2015)

Nghiên cứu sử dụng vi sinh vật nội sinh để phòng trừ sâu bệnh đã thành công trên một số đối tượng như: phòng trừ bệnh sọc tím trên cây Luồng do

nấm F equiseti gây ra (Nguyễn Thị Thúy Nga và Phạm Quang Thu, 2006), phòng trừ bệnh khô cành ngọn Keo tai tượng do nấm Collectotrichum

gloeosporioides (Vũ Văn Định et al., 2012)

Sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng rất phổ biến và thường cho hiệu quả nhanh, Sâu ăn lá keo đã bị tiêu diệt hoàn toàn

sau 1 ngày phun thuốc hóa học (Bùi Quang Tiếp et al., 2016)

Nhiều chế phẩm sinh học đã được sử dụng để phòng trừ sâu hại như:

Chế phẩm Bt (Bacillus thuringiensis) trừ Sâu róm thông (Đào Xuân Trường, 1992); chế phẩm nấm Bạch cương (Beauveria bassiana) để phòng trừ sâu róm

thông và sâu xanh ăn lá Bồ đề (Phạm Thị Thùy, 1999; Nguyễn Văn Tuất,

Trang 19

2006) Trừ sâu ăn lá keo bằng vi khuẩn B thuringiensis và nấm Bạch cương rất hiệu quả (Bùi Quang Tiếp et al., 2016) Đặc biệt, tạo nội sinh nhân tạo

nấm Bạch cương cho Bạch đàn camal đã giúp phòng trừ rất hiệu quả ong gây

u bướu (Lê Văn Bình et al., 2016)

Nghiên cứu phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa đã được thử nghiệm ở Việt Nam và đạt một số kết quả cụ thể: (1) Thông qua chọn giống đã đề xuất sử dụng các xuất xứ Lát hoa chống chịu tốt (xuất xứ Thanh Hóa, Gia Lai…); (2) biện pháp lâm sinh, đề xuất trồng xen Lát hoa dưới tán rừng keo 1 tuổi, cắt nõn diệt sâu và tỉa cành tạo tán; (3) biện pháp sinh học, sử dụng chế phẩm

Metarhizium anisopliae; (4) biện pháp hóa học sử dụng thuốc Ofatox 400EC

(Nguyễn Văn Độ, 2003)

Trong khuôn khổ dự án ACIAR (FST/1996/005) giữa tổ chức CSIRO - Australia và Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 28 xuất xứ Lát hoa đã được khảo nghiệm năm 1999 tại Hòa Bình, Ba Vì - Hà Nội, Gia Lai và Phú Thọ Kết quả khảo nghiệm sau 1 năm cho thấy các xuất xứ Lát hoa thu từ Việt

Nam (C tabularis) có sinh trưởng tương đối nhanh ở nhiều nơi khảo nghiệm còn các xuất xứ của loài C velutina sinh trưởng chậm hơn Tuy nhiên, ở giai đoạn 3 năm tuổi tại Ba Vì cho thấy các xuất xứ của loài C velutina có chiều cao 5 - 6 m, đường kính ngang ngực 6-7cm, trong khi các xuất xứ của loài C

tabularis chỉ cao 3 - 4 m và đường kính từ 3 - 4,5 cm Kết quả nghiên cứu

cũng cho thấy các xuất xứ thuộc loài C velutina có tỷ lệ sống thấp hơn các xuất xứ của loài C tabularis, nguyên nhân có thể do sự sinh trưởng chậm

trong giai đoạn đầu (Lê Đình Khả et al., 2003)

Kết quả khảo nghiệm xuất xứ ở giai đoạn 5,3 năm tuổi ở Việt Nam cho

thấy các xuất xứ Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa và Tuyên Quang thuộc loài C

tabularis của Việt Nam vẫn sinh trưởng chậm hơn các xuất xứ thuộc loài C velutina của Thái Lan và Myanmar Tuy nhiên, các xuất xứ Lát hoa (C tabularis) thu ở Việt Nam có ưu thế hơn về các chỉ tiêu độ thẳng thân, độ nhỏ

cành và tỷ lệ cây đơn thân (Gunn et al., 2006)

Trang 20

Các nghiên cứu đã xác định được các biện pháp lâm sinh, hóa học, sinh học để phòng trừ một số loài sâu, bệnh hại cây trồng lâm nghiệp nhưng nghiên cứu phòng trừ Sâu đục ngọn Lát hoa mới chỉ được đề cập với một số biện pháp lâm sinh, biện pháp sinh học, hóa học một cách riêng rẽ mà chưa có

mô hình phòng trừ tổng hợp

1.2.3 Các nghiên cứu về gây trồng Lát hoa

Các nghiên cứu đã đề xuất kỹ thuật thu hái và bảo quản hạt gồm: thời gian thu tốt nhất từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau Quả thu về rải đều và phơi dưới nắng nhẹ, đập lấy hạt, phơi hạt trong khoảng 2 ngày, bảo quản lạnh ở 0 - 5oC Hạt mới thu có tỷ lệ nảy mầm trên 80% (Nguyễn Bá Chất, 1996; Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 2010)

Khi gieo ươm cần ngâm hạt trong nước ấm 25 - 35o

C trong 2 - 3 giờ, vớt ra rửa chua rồi ủ, hàng ngày rửa chua, sau 6 - 7 ngày hạt nứt nanh đem gieo, 1 kg hạt gieo trên diện tích từ 100 - 150 m2, lấp một lớp đất từ 0,3 - 0,5

cm lên bề mặt luống gieo, phủ rơm, rạ và giữ đủ ẩm Khi cây mạ có 5 - 7 lá thì cấy vào bầu, cây con ở vườn ươm cần che sáng 30% trong 5 tháng Cây 7-

8 tháng tuổi, cao 70 - 90 cm, đường kính gốc 0,5 - 0,6 cm, phát triển tốt đủ tiêu chuẩn xuất vườn (Nguyễn Bá Chất, 1996)

Thí nghiệm giâm hom Lát hoa cho thấy: Với hom lấy từ cây 2 tuổi (xuất xứ Sơn La), tỷ lệ ra rễ đạt 50% ở công thức đối chứng, 80 - 90% khi xử

lý TTG1 Kết quả thí nghiệm tuổi cây mẹ lấy hom cho thấy hom của cây 6 tháng tuổi có tỷ lệ ra rễ 95,6%, hom của cây 2 tuổi đạt 80%, hom của cây 5 tuổi đạt 75,2% còn hom lấy từ chồi vượt của cây 20 tuổi đạt 70% (Lê Đình

Khả et al., 2003) Lát hoa cũng được nuôi cấy mô thành công với tỷ lệ thành

cây khi cấy ra bầu đạt 82 - 93% (Đoàn Thị Mai và Lê Sơn 2013)

Lát hoa sinh trưởng khá nhanh, cây trồng trong điều kiện thuận lợi, đất tốt, tầng dày, ẩm có thể đạt lượng tăng trưởng hàng năm về đường kính từ 1,7

- 2,3 cm và 1,5 - 2,1 m về chiều cao Cây 15 tuổi đường kính đạt từ 30 - 32

Trang 21

cm và chiều cao đạt 17 - 22 m Cây trồng phân tán thường có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn (Nguyễn Bá Chất, 1994) Kết quả nghiên cứu một số phương thức trồng Lát hoa của Nguyễn Bá Chất tại Nghĩa Đàn, Nghệ An cho thấy: (1) Có thể trồng theo băng, băng trồng rộng 30 m, băng chừa rộng 20 m; (2) Trồng xen cây nông nghiệp như lúa chịu hạn, lạc 2 - 3 vụ trong 2 năm, cây sinh trưởng tốt; (3) trồng Lát hoa hỗn giao với mỡ, keo, bạch đàn (Nguyễn

Bá Chất, 1996) hoặc trồng trong vườn chè, dứa với mật độ 200 cây/ha (Nguyễn Văn Định, 1992) Tuy nhiên các nghiên cứu gây trồng Lát hoa với các loài cây khác còn mang tính chất thăm dò, cần nghiên cứu tiếp để chọn cây hỗn loại và phương thức thích hợp nhất (Nguyễn Bá Chất, 1996) Không nên trồng thuần loài, trồng với mật độ dày và ở những nơi đất xấu, tầng mỏng Rừng trồng ở mật độ trên 1.500 cây/ha cần phải tỉa thưa nuôi dưỡng để kinh doanh gỗ lớn có chất lượng cao (Nguyễn Bá Chất, 1994) Thời vụ trồng Lát hoa tốt nhất vào vụ xuân và vụ thu, nên chọn ngày mưa ẩm Đất trồng còn tốt, sâu, ẩm, độ pH từ 5 - 6 (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 2010)

Kết quả thử nghiệm trồng dưới tán rừng keo dây (A difficilis) 3 tuổi có

khoảng cách 4x1 m, trồng Lát hoa giữa hai hàng keo theo khoảng cách 4x3 m, đánh giá sau 2,5 năm, phương thức này không bị sâu đục ngọn hoặc chỉ bị 7,5% ở công thức mở tán rừng keo dây nhưng phải đào rãnh cắt rễ keo dây và

có bón thúc để hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng (Lê Đình Khả et al., 2005) Kết

quả trồng thử nghiệm tại Tuyên Quang và Vĩnh Phúc cho thấy Lát hoa sinh

trưởng khá, chỉ thấp hơn so với Xà cừ (Huỳnh Đức Nhân et al., 2007)

Các dự án KfW3, KfW4 và KfW7 đã đầu tư trồng rừng Lát hoa trên diện rộng tại nhiều tỉnh, đặc biệt dự án KfW7 trồng rừng Lát hoa ở Hòa Bình và Sơn La rất thành công ở 2 năm đầu nhứng sau đó thường bị sâu đục ngọn Từ các nghiên cứu trên có thể thấy, Lát hoa đã được trồng ở nhiều nơi và có sinh trưởng tốt Tuy nhiên, khi trồng rừng thuần loài, thường bị sâu đục ngọn gây ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và chất lượng gỗ (Nguyễn Bá Chất, 1996;

Trang 22

Lê Đình Khả et al., 2003) Đây là vấn đề tồn tại cần được nghiên cứu khi triển

khai các nội dung của đề tài này

Như vậy, các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng Lát hoa đã cho thấy để đảm bảo rừng trồng Lát hoa sinh trưởng tốt cần chọn nơi đất tốt, tầng dày, ẩm với phương thước trồng phù hợp là phương thức hỗn loài hoặc có cây phù trợ hoặc theo phương thức làm giàu rừng Đến nay các nghiên cứu về chọn giống

đã xây dựng được một số khảo nghiệm xuất xứ, đã có đánh giá ban đầu về tính chống chịu sâu đục ngọn của các xuất xứ, các mô hình khảo nghiệm đều

do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam quản lý Các nghiên cứu về đặc điểm của cây Lát hoa khá đầy đủ nhưng chưa có nghiên cứu về các đặc điểm sinh học, lâm học và sinh thái của Lát hoa liên quan đến sự gây hại của sâu, bệnh Các nghiên cứu đều tập trung vào các loài sâu đục ngọn thuộc chi

Hypsipyla mà chưa có nghiên cứu về các loài sinh vật gây bệnh đối với cây

Lát hoa Nghiên cứu phòng trừ Sâu đục ngọn Lát hoa mới chỉ được đề cập với một số biện pháp nhằm hạn chế sâu hại Các nghiên cứu về tính chống chịu của cây đối với sâu, bệnh hại đã và đang được thực hiện và đã đạt được những thành công ban đầu Các khảo nghiệm giống trước đây là nguồn vật liệu rất quan trọng để đề tài kế thừa và tiếp tục nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu trên là các cơ sở để đề tài xây dựng các nội dung nghiên cứu phù hợp cho việc chọn giống và kỹ thuật trồng rừng Lát hoa với kháng sâu bệnh, sinh trưởng nhanh phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở các tỉnh vùng Tây Bắc và Bắc

Trung Bộ

Nhận xét chung:

Lát hoa (C tabularis) là cây bản địa, gỗ lớn, sinh trưởng khá nhanh, có

giá trị kinh tế cao, gỗ có vân đẹp, rất được ưa chuộng để làm đồ mộc cao cấp Cây Lát hoa đã được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái, phân bố, đặc điểm sâu hại, xây dựng các khảo nghiệm xuất xứ và kỹ thuật gây trồng nhưng trở ngại rất lớn để

Trang 23

trồng rừng Lát hoa là sâu đục ngọn Một số vấn đề còn tồn tại cần được nghiên cứu đối với cây Lát hoa, đặc biệt là chưa có nghiên cứu chi tiết về đặc điểm lâm học và sinh thái của Lát hoa liên quan đến sự gây hại của sâu, bệnh; chưa có nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của sâu đục ngọn, đặc biệt là nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các yếu tố lập địa, địa hình, khí hậu đến sự gây hại của sâu đục ngọn đối với rừng trồng Lát hoa

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp, công ty lâm nghiệp và hộ gia đình có nhu cầu trồng rừng Lát hoa cung cấp gỗ lớn trên quy mô lớn như Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đường 9 - Quảng Trị, Công ty lâm nghiệp dịch vụ Hương Sơn - Hà Tĩnh, Công ty TNHH một thành viên Lâm Nông nghiệp Sông Hiếu, Lâm trường Quỳ Hợp, Lâm trường Quỳ Châu - Nghệ An, Công ty cổ phần Giống cây trồng Thanh Hóa, Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam, Trung tâm giống cây trồng tỉnh Hòa Bình, Công ty TNHH giống cây trồng Lai Châu, Trung tâm giống cây trồng tỉnh Sơn La, Công ty Cổ phần giống Nông nghiệp Điện Biên nhưng đến nay vẫn chưa có hướng xử lý hiệu qủa sâu đục ngọn

Trang 24

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định bổ sung được thành phần phần loài sâu hại cây Lát hoa

- Xác định được một số đặc điểm hình thái, tập tính gây hại và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn cây Lát hoa

- Xác định được ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến khả năng

bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa

- Đề xuất được một số biện pháp phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa

2.2 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cây Lát hoa (Chukrasia tabularis)

- Sâu đục ngọn (Hypsipyla robusta)

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, đề tài nghiên cứu bổ sung thành phần sâu hại trên cây Lát hoa và chỉ nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, tập tính gây hại và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn trên cây lát hoa; nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức trồng, độ cao tuyệt đối, đất đai và tuổi cây đến sâu đục ngọn; điều tra thành phần loài sâu hại trên cây lát hoa

Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 10 năm 2019 tại tỉnh Nghệ An

Trang 25

2.3 ội dung nghiên cứu

2.3.1 Điều tra bổ sung thành phần loài sâu hại trên cây Lát hoa

2.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, tập tính gây hại và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn trên cây Lát hoa

- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của sâu đục ngọn trên cây Lát hoa

- Nghiên cứu một số đặc điểm tập tính gây hại của sâu đục ngọn trên cây Lát hoa

- Nghiên cứu triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn trên cây Lát hoa

2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến khả năng

bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cây đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức trồng đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ cao tuyệt đối và đất đai đến khả năng

bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa

2.3.4 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa

2.4 hương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Kế thừa các tài liệu, các kết quả nghiên cứu đã công bố Trên cơ sở kế thừa, hệ thống hóa lại các kết quả nghiên cứu trước đây, xác định các nội dung cần nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện, các nội dung cần nghiên cứu mới, lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp để thực hiện tốt các nội dung cho luận văn này

2.4.2 Phương pháp điều tra thành phần loài sâu hại trên cây Lát hoa

Điều tra bổ sung thành phần loài sâu hại trên cây Lát hoa theo phương pháp điều tra trên ô tiêu chuẩn (OTC) để xác định thành phần loài sâu hại

Căn cứ theo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN 8927:2013) lập các OTC để điều tra

Trang 26

các loài sâu hại Các OTC có diện tích mỗi ô là 500 m2 ở rừng trồng Lát hoa Ranh giới OTC được xác định bằng cọc mốc sơn đỏ hoặc sơn vàng

Địa điểm điều tra: Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Con Cuông, Quế Phong Tổng

số = 5 OTC/huyện x 4 huyện = 20 OTC

Trong các OTC điều tra thu mẫu sâu hại ở các cây trong OTC Thời gian điều tra định kỳ 30 ngày một lần, trong thời gian 3 tháng

Thu mẫu ở ngoài hiện trường: đối với trưởng thành bay được sử dụng vợt chuyên dụng kết hợp với kẹp để lấy mẫu và bảo quản trong hộp nhựa đục

lỗ nhỏ; đối với sâu non sử dụng dụng cụ cơ bản để thu như: panh, chổi lông, ống nghiệm, túi nilông và kết hợp với một số dụng cụ chuyên dụng khác Đối với các loài mọt sử dụng bẫy phễu để thu con trưởng thành, sâu non, trứng và nhộng được thu từ các đoạn gỗ khúc, chẻ nhỏ Bảo quản mẫu sâu non, nhộng

và bằng cồn 70% và formol Tất cả các mẫu thu đều được phân loại theo giống, loài và các mẫu này được ghi rõ các thông tin như: thời gian thu mẫu, cây chủ, người thu, địa điểm thu mẫu

Làm tiêu bản: Mẫu trưởng thành được sử dụng kim côn trùng để cố định và ghi rõ các thông tin trên nhãn (tên phổ thông, tên la tinh, người giám định, người thu mẫu, thời gian thu, địa điểm thu và cây chủ bị hại) Bảo quản tiêu bản: đối với sâu trưởng thành sau khi được cố định bằng kim trong các hộp mẫu sẽ được đặt trong tủ sấy ở nhiệt độ 35 - 40oC trong thời gian 5 - 10 ngày trước khi đặt vào tủ mẫu cùng với sillicagel để hút ẩm; đối với trứng, sâu non và nhộng được bảo quản trong lọ nhựa hoặc thủy tinh chứa dung dịch bảo quản sử dụng cồn 70% và formol

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, tập tính gây hại

và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn trên cây Lát hoa

- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của sâu đục ngọn cây Lát hoa Thu mẫu các pha gồm: trưởng thành, trứng, sâu non và nhộng, mô tả chi tiết về kích thước, màu sắc, râu đầu, cánh trước, cánh sau và đối chiếu với khóa phân loại của Varma (2001), Eungwijarnpanya (2001) và Samontry (2001)

Trang 27

- Nghiên cứu một số tập tính gây hại của sâu đục ngọn cây lát hoa Theo dõi, quan sát đặc điểm gây hại của sâu đục ngọn trên rừng trồng Lát hoa và trên các mẫu ngọn cây bị sâu hại Các chỉ tiêu quan sát gồm vị trí gây hại, tuổi cây, độ tuổi của cành, ngọn bị hại, độ cao trên cây, mùa Các chỉ tiêu điều tra kèm theo gồm độ cao tuyệt đối, phương thức trồng, ánh sáng, đất đai, nhiệt độ

- Nghiên cứu triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn cây Lát hoa

Theo dõi, quan sát đặc điểm gây hại của sâu đục ngọn trên rừng trồng Lát hoa và trên các mẫu ngọn cây bị sâu hại Các chỉ tiêu quan sát gồm vị trí gây hại, màu sắc và phân bố sâu trên cây Theo dõi sự thay đổi về màu sắc, sức sống và khả năng phát triển của ngọn cây sau khi bị sâu hại

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa

Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cây đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa

Đề tài tiến hành phân cấp mức độ bị sâu đục ngọn của rừng trồng Lát hoa thuần loài tại tỉnh Nghệ An để điều tra

Tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cây với 3 công thức gồm:

Trang 28

Cấp bị hại ức độ biểu hiện triệu chứng

0 Cây khỏe, ngọn không bị hại

Lập các ô tiêu chuẩn diện tích 500 m2

tại rừng trồng Lát hoa ở giai đoạn 1 - 3 năm tuổi hiện có với 4 phương thức trồng gồm:

- Rừng trồng Lát hoa thuần loài;

- Rừng trồng Lát hoa hỗn loài với cây bản địa;

- Rừng trồng Lát hoa hỗn loài với cây nông nghiệp;

- Lát hoa trồng phân tán

Địa điểm nghiên cứu: Quỳ Hợp, Con Cuông tỉnh Nghệ An

Số lượng: 6 ô/phương thức x 4 phương thức = 24 ô tiêu chuẩn Điều tra sâu đục ngọn theo phương pháp đã được quy định trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8927-2013, vào thời điểm có mật độ sâu cao nhất (tháng 6, 7)

Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của độ cao tuyệt đối và đất đai đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa

Đề tài tiến hành phân cấp mức độ bị sâu đục ngọn của rừng trồng Lát hoa thuần loài, đào phẫu diện, mô tả và thu mẫu đất để phân tích tại tỉnh Nghệ An

Tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của độ cao với 4 đai độ cao gồm:

- Rừng trồng Lát hoa ở độ cao dưới 200 m so với mực nước biển;

Trang 29

- Rừng trồng Lát hoa ở độ cao từ 200 m đến dưới 400 m;

- Rừng trồng Lát hoa ở độ cao từ 400 m đến dưới 600 m;

- Rừng trồng Lát hoa ở độ trên 600 m

Lập ô tiêu chuẩn diện tích 500 m2 tại rừng trồng Lát hoa thuần loài ở giai đoạn 1 - 3 năm tuổi Số lượng: 6 ô/đai cao x 4 đai cao = 24 ô tiêu chuẩn Phân cấp mức độ bị sâu đục ngọn với 5 cấp theo phương pháp đã được quy định trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8927-2013, vào thời điểm có mật độ sâu cao nhất (tháng 6, 7)

Trên mỗi ô tiêu chuẩn thuộc các công thức nghiên cứu ảnh hưởng của

độ cao nêu trên, tiến hành đào 01 phẫu diện, mô tả đặc điểm đất và thu 01 mẫu đất ở độ sâu 0 - 30 cm để phân tích một số tính chất lý hóa tính của đất tại Phòng phân tích đất của Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

Số lượng mẫu đất: 1 mẫu đất/ô tiêu chuẩn x 24 ô tiêu chuẩn = 24 mẫu đất Trên cơ sở kết quả phân tích số liệu về tỷ lệ, mức độ bị sâu hại ở các độ cao, kết hợp với đặc điểm tính chất đất để đánh giá mối liên hệ (sự ảnh hưởng) của điều kiện lập địa (độ cao và đất đai) đến khả năng bị sâu đục ngọn của rừng trồng Lát hoa

2.4.5 Phương pháp đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa

Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa dựa trên các kết quả điều tra, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu đục ngọn tại địa bàn nghiên cứu và từ các thí nghiệm thực nghiệm của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp của William và Matheson (1994) bằng phần mềm Genstat 12.0 Đồng thời sử dụng kết hợp với các phương pháp xử lý số liệu thông dụng bằng phần mềm Excel, cụ thể như sau:

Trang 30

* Xử lý số liệu về sâu hại

Trên cơ sở kết quả phân cấp bệnh, các chỉ tiêu tỷ lệ bị bệnh và chỉ số sâu hại được tính theo các công thức sau:

+ Tỷ lệ cây bị hại (P%) được xác định theo công thức:

N: Tổng số cây điều tra

+ Chỉ số bị hại (R) được xác định theo công thức:

N

.vi

i 1

ni R

Trong đó:

ni: Số cây bị hại với chỉ số bị hại i;

vi: Trị số của cấp bị hại thứ i;

N: Tổng số cây điều tra

- Mức độ bị hại được xác định dựa trên chỉ số bị hại (R) với 5 mức như sau: + R = 0: Không bị sâu;

+ 0 < R ≤ 1: Bị sâu hại nhẹ;

+ 1 < R ≤ 2: Bị sâu hại trung bình;

+ 2 < R ≤ 3: Bị sâu hại nặng;

+ 3 < R ≤ 4: Bị sâu hại rất nặng

Trang 31

Chương 3

ỀU K Ự Ê , D S K Ế

3.1 iều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

iều kiện tự nhiên:

Nghệ An có diện tích tự nhiên 1.648.997,1 ha, là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước

Vị trí địa lý:

Nghệ An nằm ở vĩ độ 18033' đến 20001' vĩ độ Bắc, kinh độ 103052' đến

105048' kinh độ Đông, ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam

Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa

Nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Myanmar - Thái Lan - Lào - Việt Nam theo Quốc lộ 7 đến cảng Cửa Lò Nghệ An có 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện Trong đó, Thành phố Vinh là đô thị loại 1, là trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh và của cả khu vực Bắc Trung bộ

ịa hình:

Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển

Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711 m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu) Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh

Khí hậu:

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa

Trang 32

Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 - 24,20C Tổng lượng mưa trong năm là 1.200 - 2.000 mm

Độ ẩm trung bình hàng năm 80 - 90% Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1.460 giờ

hủy văn:

Tỉnh Nghệ An có 7 lưu vực sông (có cửa riêng biệt) với tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2

Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2

(riêng ở Nghệ An là 15.346

km2) Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3

ài nguyên đất:

Đất nông nghiệp 1.249.176,1 ha (đất sản xuất nông nghiệp: 276.047,1

ha, đất lâm nghiệp có rừng 963.691 ha, đất nuôi trồng thủy sản 7.984,1 ha, đất làm muối 837,8 ha, đất nông nghiệp khác 616,1 ha); Đất phi nông nghiệp 129.171,6 ha; Đất chưa sửa dụng: 270.649,4 ha Đất đai lớn là tiềm năng để phát triển sản xuất nông, lâm, thuỷ sản trên quy mô lớn, tập trung, tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến các loại sản phẩm từ cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày, cây ăn quả, cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm

ài nguyên rừng:

Với 885.339 ha diện tích đất có rừng, rừng tự nhiên chiếm tỷ lệ lớn với diện tích 732.741 ha, rừng trồng chiếm 152.867 ha, độ che phủ đạt gần 54% Rừng Nghệ An mang nhiều nét điển hình của thảm thực vật rừng Việt Nam Theo thống kê có đến 153 họ, 522 chi và 986 loài cây thân gỗ, chưa kể đến loại thân thảo, thân leo và hạ đẳng Trong đó có 23 loài thân gỗ và 6 loài thân thảo được ghi vào sách đỏ Việt Nam Rừng tập trung ở các vùng đồi núi với hai kiểu rừng phổ biến là rừng kín thường xanh, phân bố ở độ cao dưới 700 m

và rừng kín hỗn giao cây lá kim, phân bố ở độ cao lớn hơn 700 m

Trang 33

3.2 iều kiện kinh tế

Kinh tế Nghệ An duy trì tốc độ tăng trưởng khá và chuyển dịch đúng hướng, sản xuất và kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực tiếp tục được phát triển

Riêng đối với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu ảnh hưởng rất lớn của thiên tai, dịch bệnh, song với sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị và nhiều cơ chế chính sách phù hợp, kịp thời nên vẫn phát triển khá

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành Nông, Lâm, Thủy sản bình quân nhiệm kỳ 2010 - 2015 đạt 4,58%; Giá trị tổng sản phẩm Nông, Lâm, Thủy sản Năm 2010: 22.513,14 tỷ đồng; Năm 2014: 27.036,95 tỷ đồng Cơ cấu ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát triển đúng hướng Năm

2010 cơ cấu nội ngành: Nông nghiệp 85,17%; Lâm nghiệp: 6,41%; Thủy sản: 9,92% Năm 2014: Các chỉ tiêu cơ bản về sản xuất Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đều hoàn thành và vượt mức kế hoạch đề ra với tốc độ tăng trưởng đạt 4,5%/KH 4,0 - 4,5%; Trong đó: Nông nghiệp tăng 3,83%; Lâm Nghiệp: 5,66%; Ngư Nghiệp: 8,68%; Tỉ lệ dân nông thôn được sử dụng nước hợp về sinh theo quyết định 51 của bộ Nông nghiệp đạt 72%/KH 72%; Độ che phủ rừng đạt 54,6%/KH54,6%

Đặc biệt năm 2014 là năm đầu tiên Sở Nông nghiệp và PTNT Nghệ

An triển khai thực hiện Quyết định số 6593/QĐ- UBND ngày 31/12/2013 của

Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp và PTNT Nghệ An theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2013 - 2020 Sở Nông nghiệp và PTNT đã tái cơ cấu theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huy các sản phẩm lợi thế của tỉnh Áp dụng các biện pháp thâm canh bền vững, đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, giống nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu Tập trung phát triển công

Trang 34

nghệ sau thu hoạch theo hướng hiện đại, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm Nên trong năm 2014 các chỉ tiêu cơ bản về sản xuất nông nghiệp đạt các chỉ tiêu đề ra Tổng sản lượng lương thực lần đầu tiên vượt qua 1.200 tấn, tăng 20% so với năm 2010 Hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của thị trường, thích ứng dần với biến đổi khí hậu, nâng cao giá trị gia tăng trên đơn vị diện tích Năng suất, chất lượng, sản lượng nhiều loại cây trồng, vật nuôi năm sau luôn cao hơn năm trước Tuy nhiên, đối với cây công nghiệp dài ngày như cây cao su, chè công nghiệp, năng suất có tăng nhưng sản lượng giảm và chưa đáp ứng đủ

công suất của nhà máy chế biến Trong đó:

- Về Lâm nghiệp:

Tốc độ tăng giá trị sản xuất đạt 3,34%, thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng (hiện nay có hơn 900 ngàn ha được bảo vệ); Khoanh nuôi rừng 55 ngàn ha; diện tích trồng rừng tập trung hàng năm đạt 14.000 ha đến 15.000 ha (chỉ tiêu nhiệm kỳ 2015 - 2015 là 10.000 ha đến 12.000 ha); chăm sóc rừng 22.000 ha; trồng cây phân tán khoảng 5 triệu cây mỗi năm Tỷ lệ che phủ rừng dự kiến đến hết năm 2015 đạt 55%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết 17 của Tỉnh Đảng bộ Nghệ An đề ra; Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng lâm sản bình quân 150 triệu USD; Huy động các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ và Phát triển rừng từ Trung ương, địa phương, các dự án hợp tác quốc tế và các doanh nghiệp bình quân 250 tỷ đồng trên năm; Nguồn ủy thác dịch vụ môi trường rừng từ năm

2011 đến nay cũng đã đạt trên 140 tỷ đồng góp phần tăng trưởng nguồn thu phục vụ cho công tác Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Nghệ An

- Về Thủy sản:

Đẩy mạnh nuôi trồng, nâng cao hiệu quả khai thác và chế biến thủy sản; làm tốt công tác chuyển đổi diện tích sản xuất nông nghiệp năng suất thấp sang diện tích nuôi trồng thủy sản; Hệ thống trang trại sản xuất giống thủy sản được đầu tư đồng bộ và hiệu quả; sản lượng nuôi trồng, khai thác và

Trang 35

chế biến đều đạt và vượt mức chi tiêu Tổng số tàu cá được đăng ký quản lý là: 3.968 chiếc Tổng công suất tàu cá toàn tỉnh so với đầu nhiệm kỳ là: 443.764/239.236 CV đạt 185% Tổng sản lượng thủy sản năm 2014 đạt 145 ngàn tấn, tăng hơn 45% so với sản lượng đầu nhiệm kỳ (2010: 95,659 ngàn tấn) Tốc độ tăng giá trị sản xuất giai đoạn 2010 - 2014 bình quân đạt 8,5 - 8,7%/ năm Năm 2014 thành lập mới 110 tổ hợp khai thác trên biển với 951 phương tiện; thành lập được 01 nghiệp đoàn nghề cá với 12 tổ hợp tác và 58 tàu cá

- Về Giao thông:

Các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ được đầu tư, nâng cấp, xây dựng và đang từng bước hoàn thiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định bổ sung sân bay Vinh vào mạng lưới quy hoạch sân bay quốc tế trong cả nước, công nhận và công bố sân bay Vinh thành sân bay Quốc tế Có Công trình xây dựng Cầu vượt QL46B nối đường Đặng Thai Mai với Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam tại xã Nghi Kim Thành phố Vinh và Dự án nhà ga hành khách

Cảng hàng không Vinh Các công trình được thiết kế đồng bộ, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, đáp ứng yêu cầu về quy hoạch và xây dựng của địa phương theo nội dung “Đề án phát triển thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ” đã được Chính phủ phê duyệt với kiến trúc hiện đại Công trình hoàn thành sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông, đường sắt Bắc - Nam tăng cường an toàn chạy tàu và góp phần hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông của tỉnh Đặc biệt có con đường Hồ Chí Minh đi qua Nghệ An dài 132 km đã tạo điều kiện cho kinh tế phía Tây Nghệ An phát triển

- Về cơ sở hạ tầng cho giáo dục, y tế, Nông, Lâm nghiệp:

Cũng được quan tâm xóa phòng học bằng tranh, tre, nứa, lá cơ bản

đã hoàn thành Hệ thống các Bệnh viện, trạm y tế từ cấp cở sở đến huyện tỉnh đều được quan tâm nâng cấp, sữa chữa Nhiều công trình cơ sở hạ tầng

Trang 36

phục vụ phát triển ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn như hạ tầng đường Lâm nghiệp gắn phòng cháy, chữa cháy, đường giao thông nông thôn, cơ sở sản xuất giống Lâm nghiệp chất lượng cao, công trình phòng chống cháy rừng

- Về Thủy lợi, đê điều và phòng chống lụt bão:

Cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, trong đó có Nông nghiệp và nông thôn Trong 5 năm qua Nhà nước đã đầu tư trên 2.000

tỷ đồng để xây dựng và tu bổ trên 400 công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và phòng chống bão lũ, giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, cấp nước chủ động cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh đều đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ 2010 - 2015 Các dự án trọng điểm như dự án công trình thủy lợi, Thủy điện bản Mồng, tu sữa cống Nam Đàn, cải tạo hệ thống thủy lợi Bắc, kè chống sạt lở và lũ ven Sông Lam được triển khai với sự đầu tư của Nhà nước và các tổ chức quốc tế Công tác tái định cư di dân vùng lòng hồ, ven sông được chỉ đạo kịp thời Hệ thông kênh mương từng bước được bê tông hóa

- Về Điện:

Lưới điện quốc gia đã có 20/20 huyện, thành thị của tỉnh Nghệ An Gần

90 % số xã có điện thắp sáng Các công trình thủy điện đã, đang và chuẩn bị khởi công xây dựng là những công trình quan trọng góp phần nhằm hạn chế

lũ lụt, điều hòa và cung cấp nguồn nước, gồm: Thủy điện Bãn Vẽ, Bản Cốc, Sao Va, Bản Cánh, Hủa na, Nậm Mô, Cửa Đạt, Khe Bố, Nậm Pông, Sông Quang, Nậm Cắn, Ca Lôi, Yên Thắng, Nậm Nơn Đặc biệt các Công trình Thủy điện đã đi vào hoạt động đạt hiệu quả cao trong vai trò cung cấp dòng điện hòa vào mạng lưới quốc gia phục vụ xây dựng đất nước trên con đường Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong đó góp phần tạo ra nguồn tài chính bền vững cho Bảo vệ và Phát triển rừng thông qua việc thực hiện chính sách Chi trả Dịch vụ môi trường rừng

Ngày đăng: 15/05/2021, 13:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w