1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cấu trúc và giải pháp bảo vệ, phục hồi rừng tự nhiên có loài Nghiến (Burretiodendron hsienmu) phân bố tập trung ở tỉnh Điện Biên

93 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu cấu trúc và giải pháp bảo vệ, phục hồi rừng tự nhiên có loài Nghiến (Burretiodendron hsienmu) phân bố tập trung ở tỉnh Điện Biên
Tác giả Phạm Văn Khiên
Người hướng dẫn GS.TS. Vũ Tiến Hinh
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Trên thế giới (11)
      • 1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng (11)
      • 1.1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng (12)
      • 1.1.3. Một số thông tin cơ bản về cây Nghiến (14)
    • 1.2. Ở việt nam (17)
      • 1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng (17)
      • 1.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng (19)
      • 1.2.3. Một số thông tin cơ bản về cây Nghiến (22)
  • Chương 2 ĐỐI TƯ NG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Phạm vi nghiên cứu (26)
      • 2.2.1. Phạm vi về nội dung nghiên cứu (26)
      • 2.2.2. Phạm vi về không gian (26)
      • 2.2.3. Phạm vi về thời gian (27)
    • 2.3. Mục tiêu nghiên cứu (27)
      • 2.3.1. Mục tiêu chung (27)
      • 2.3.2. Mục tiêu cụ thể (27)
    • 2.4. Nội dung nghiên cứu (27)
      • 2.4.1. Xác định một số nhân tố điều tra lâm phần (27)
      • 2.4.2. Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây cao (27)
      • 2.4.3. Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây tái sinh (27)
      • 2.4.4. Đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển loài Nghiến ở rừng tự nhiên (27)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 2.5.1. Phương pháp kế thừa số liệu (28)
      • 2.5.2. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp (28)
      • 2.5.3. Phương pháp xử lý, phân tích số liệu (31)
  • Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU TỔNG (35)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (35)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (35)
      • 3.1.2. Địa hình (35)
      • 3.1.3. Khí hậu - thủy văn (36)
      • 3.1.4. Tài nguyên đất (37)
      • 3.1.5. Tài nguyên rừng (40)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (40)
      • 3.2.1. Điều kiện xã hội (40)
      • 3.2.2. Đặc điểm kinh tế (43)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (45)
    • 4.1. Xác định một số nhân tố điều tra lâm phần (45)
    • 4.2. Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây cao (46)
      • 4.2.1. Tỷ lệ phần trăm theo một số nhân tố điều tra của loài nghiến so với các loài khác trong rừng tự nhiên (46)
      • 4.2.2. Phân bố số cây theo đường kính(N/D) của loài Nghiến và chung (48)
      • 4.2.3. Cấu trúc tầng tái sinh (52)
    • 4.3. Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và đề xuất giải pháp phục hồi và phát triển rừng nghiến ở điện biên (55)
      • 4.3.1. Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của huyện Tủa Chùa (55)
      • 4.3.2. Đề xuất mục tiêu, giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Tủa Chùa giai đoạn 2021-2025 (59)
  • Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ (0)
    • 5.1. Kết luận (69)
      • 5.1.1. Về cấu trúc tầng cây cao rừng tự nhiên có nghiến phân bố tập trung (69)
      • 5.1.2. Về tái sinh rừng (70)
      • 5.1.3. Kết luận chung về đối tượng nghiên cứu (70)
      • 5.1.4. Về quản lý bảo vệ rừng (70)
    • 5.2. Tồn tại (71)
    • 5.3. Kiến nghị (72)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và đã thu được những kết quả nhất định

Trong nghiên cứu cấu trúc rừng, có ba dạng chính: cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc theo thời gian Cấu trúc lớp thảm thực vật là kết quả của chọn lọc tự nhiên, phản ánh sự cạnh tranh giữa các loài thực vật và môi trường sống Từ góc độ sinh thái, cấu trúc rừng thể hiện hình thức bên ngoài, phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng.

Các nghiên cứu về cấu trúc rừng đều hướng tới việc xây dựng cơ sở khoa học và lý luận nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng, đáp ứng các mục tiêu đa dạng Ban đầu, các nghiên cứu này chủ yếu mang tính định tính, sau đó đã chuyển sang phương pháp định lượng.

Khi chuyển từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng, nhiều tác giả đã áp dụng các công thức và hàm toán học để mô hình hóa cấu trúc rừng và xác định mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc Điều này cho thấy rằng các quy luật cấu trúc lâm phần ngày càng được mô tả chi tiết hơn bằng các mô hình toán học, từ đó giúp phát triển các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm tối ưu hóa mô hình rừng cho từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể.

Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D 1.3 )

Mô phỏng phân bố số cây theo đường kính là quy luật cơ bản trong cấu trúc lâm phần, thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả Kiểu phân bố này thường được thể hiện qua các hàm toán học đa dạng.

Meyer (1934) đã mô tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer

Pierlot (1966) cho rằng việc sử dụng phương trình mũ để nắn đường thực nghiệm có thể dẫn đến sai số ở các cỡ kính nhỏ Ông đề xuất rằng hàm Hyperbol là lựa chọn tốt hơn để nắn đường thực nghiệm, giúp giảm thiểu sai số và cải thiện độ chính xác.

Balley (1973) [51] sử dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba

J.L.F Batista và H.T.Z Docouto (1992) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo-Brazin đã dùng hàm Weibull để nắn phân bố số cây theo đường kính và nhận xét rằng: hàm Weibull mô phỏng rất tốt phân bố này

1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Theo các nhà nghiên cứu lâm học, hiệu quả tái sinh rừng phụ thuộc vào mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con và đặc điểm phân bố Cây con đóng vai trò quan trọng trong việc thay thế cây già cỗi, do đó, tái sinh rừng có thể hiểu là quá trình phục hồi các thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu tập trung vào tầng cây gỗ.

Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên trên toàn cầu đã kéo dài hàng trăm năm, nhưng nghiên cứu về rừng nhiệt đới chỉ mới bắt đầu được chú ý từ những năm gần đây.

Kết quả nghiên cứu được tóm tắt như sau:

Nghiên cứu của Richards.P.W (1952) về tái sinh trong rừng mưa nhiệt đới cho thấy rằng trong các ô dạng bản, thế hệ cây tái sinh có thể có tổ hợp giống khác nhau hoặc khác biệt so với cây mẹ.

Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn (Mibbread, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubresville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Jones, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) Do tính chất phức tạp của tổ thành loài cây, chỉ một số loài có giá trị nên trong thực tiễn lâm sinh, việc khảo sát thường chỉ tập trung vào những loài cây có ý nghĩa nhất định.

Vansteenis (1956) đã chỉ ra rằng đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến tái sinh phân tán liên tục, và điều này lại tạo điều kiện cho sự hình thành một rừng mưa hỗn loài khác tuổi Các loài cây tái sinh ở lỗ trống chủ yếu là cây ưa sáng, có tốc độ sinh trưởng nhanh và đời sống ngắn, thường được mang đến bởi chim hoặc động vật Tỉ lệ cây ưa sáng tăng theo kích thước lỗ trống, với lỗ trống lớn hơn có tỉ lệ cây ưa sáng cao hơn Những cây này đóng vai trò quan trọng trong việc hàn gắn các lỗ trống trong rừng Khi các cây ưa sáng tạo ra bóng, cây tái sinh của các loài cây chịu bóng sẽ xuất hiện và thay thế chúng Nghiên cứu về rừng nhiệt đới ở Châu Á cho thấy hai đặc điểm tái sinh phổ biến: tái sinh vệt và tái sinh phân tán liên tục.

Khi nghiên cứu ở Châu Phi, A Obrevin (1938) phát hiện rằng cây con của các loài cây ưu thế trong rừng có thể rất hiếm hoặc không tồn tại, phản ánh hiện tượng không sinh sản của cây mẹ trong rừng mưa Ông cũng chỉ ra rằng tổ thành rừng trong rừng mưa thay đổi theo không gian và thời gian, với các tổ hợp loài cây khác nhau xuất hiện ngay cả trong cùng một địa điểm Ở quy mô nhỏ, tổ hợp loài cây tái sinh không mang tính chất thừa kế, nhưng ở quy mô rộng, chúng có xu hướng thừa kế theo phương thức tuần hoàn Thành công của A Obrevin đã khái quát hiện tượng bức khảm tái sinh và ông coi đây là “hiện tượng thuần tuý ngẫu nhiên”.

M.Loeschau (1977) 18 đã đưa ra một số đề nghị để đánh giá một khu rừng có tái sinh đạt yêu cầu hay không phải áp dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quát về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rất lớn

Trên thế giới, có nhiều phương pháp nghiên cứu tái sinh, nhưng tất cả đều dựa vào việc thu thập số liệu tái sinh trên ô dạng bản để phân tích và đánh giá Các nhà nghiên cứu cho rằng cần sử dụng ba chỉ tiêu chính: mật độ, sức sống và khả năng sinh trưởng của cây con để đưa ra đánh giá toàn diện Mật độ chỉ phản ánh số lượng cây con của các loài ở các tuổi khác nhau tại một thời điểm nhất định, mà không thể hiện khả năng tồn tại và sinh trưởng trong giai đoạn tiếp theo Do đó, việc kết hợp cả ba chỉ tiêu trong một thể thống nhất là cần thiết, mặc dù có thể tách riêng khi phân tích.

Nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới đã cung cấp thông tin quan trọng về phương pháp nghiên cứu và quy luật tái sinh ở một số khu vực Tuy nhiên, sự đa dạng và phức tạp của thảm thực vật rừng nhiệt đới, cùng với mối liên hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên ở từng địa lý, cho thấy cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên của hệ sinh thái rừng ở các vùng khác nhau Điều này sẽ tạo cơ sở cho việc phân tích và đề xuất các luận điểm khoa học chính xác hơn.

1.1.3 Một số thông tin cơ bản về cây Nghiến

Ở việt nam

Rừng tự nhiên ở Việt Nam đã thu hút sự chú ý và nghiên cứu từ nhiều tác giả, dẫn đến việc công bố nhiều công trình có giá trị khoa học và thực tiễn Một số tác giả tiêu biểu đã đạt được những kết quả đáng kể trong lĩnh vực này.

1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

Nghiên cứu cấu trúc rừng là nền tảng quan trọng cho việc quản lý và sử dụng rừng bền vững Trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã chú trọng đến việc nghiên cứu cấu trúc rừng tại Việt Nam.

Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D 1.3 )

Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam cho thấy, phân bố N/D1.3 của tầng cây cao (D6cm) có 2 dạng chính sau:

- Dạng giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa

- Dạng một đỉnh hình chữ J

Với mỗi dạng cụ thể, các tác giả chọn những mô hình toán học thích hợp để mô phỏng

Khi lập biểu thể tích cây đứng rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam, Đồng

Sỹ Hiền (1974) đã tiến hành nghiên cứu trên nhiều lâm phần khác nhau và rút ra kết luận rằng phân bố N/D thường có dạng giảm, tuy nhiên, do quá trình khai thác không theo quy tắc, đường thực nghiệm thường mang hình dạng răng cưa Để mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính cây rừng với kiểu phân bố này, tác giả đã áp dụng hàm Meyer và họ đường cong Pearson.

Nguyễn Văn Trương (1983) [44] đã thử nghiệm dùng các hàm mũ, logarit, phân bố Poisson và phân bố Pearson để biểu thị cấu trúc N/D của rừng tự nhiên hỗn loài

Nguyễn Hải Tuất (1986) [48] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ kính bắt đầu đo

Trần Văn Con (1991) [6] đã sử dụng phân bố Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở Tây Nguyên

Lê Minh Trung (1991) đã thực hiện một nghiên cứu mô phỏng phân bố N/D của rừng tự nhiên tại Gia Nghĩa, Đắk Nông, sử dụng bốn dạng hàm: Poisson, Weibull, Hyperbol và Meyer Kết quả cho thấy phân bố Weibull là phù hợp nhất cho mô hình này.

Bảo Huy (1993) đã thực hiện thử nghiệm mô phỏng phân bố thực nghiệm N/D cho rừng ưu thế Bằng lăng tại Đắk Lắk, áp dụng các dạng phân bố như Poisson, Khoảng cách, Hình học, Weibull và Meyer Kết quả cho thấy, phân bố khoảng cách là phương pháp phù hợp nhất so với các phân bố khác.

Trần Xuân Thiệp và Lê Sáu (1996) đã chứng minh rằng phân bố Weibull vượt trội hơn so với các phân bố khác trong việc mô tả phân bố N/D cho tất cả các trạng thái rừng tự nhiên, bất kể hình dạng thực nghiệm là giảm liên tục hay có một đỉnh Trong khi đó, Đào Công Khanh (1996) cho rằng mô tả phân bố N/D dưới dạng tần số lũy tích là thích hợp hơn, do biến động của đường thực nghiệm này thấp hơn nhiều so với biến động số cây hoặc tỷ lệ số cây ở các kích thước kính khác nhau.

Cấu trúc tổ thành rừng là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến sinh thái và hình thái của rừng, đồng thời là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá đa dạng sinh học, tính ổn định và bền vững của hệ sinh thái rừng Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu và đề cập đến cấu trúc tổ thành trong các công trình của họ.

Trần Ngũ Phương (1963) đã nghiên cứu cấu trúc thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam dựa trên kết quả điều tra từ 1961 đến 1965 Ông chỉ ra rằng tổ thành là nhân tố cấu trúc đầu tiên, từ đó phát hiện một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng, ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.

Bảo Huy (1993) và Đào Công Khanh (1996) đã nghiên cứu tổ thành loài cây trong rừng tự nhiên ở Đắk Lăk và Hương Sơn - Hà Tĩnh, xác định tỷ lệ tổ thành của các nhóm loài cây mục đích, hỗ trợ và phi mục đích Dựa trên kết quả này, họ đề xuất các biện pháp khai thác hợp lý nhằm điều chỉnh tổ thành cho từng nhóm loài cây.

Lê Sáu (1996) và Trần Cẩm Tú (năm 2000) đã nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên tại Kon Hà Nừng - Gia Lai và Hương Sơn - Hà Tĩnh, xác định danh mục các loài cây theo cấp tổ thành Kết quả cho thấy sự phân bố của một số loài cây theo cấp tổ thành tuân theo hàm phân bố giảm, với số loài giảm dần khi cấp tổ thành tăng lên.

Ngô Minh Mẫn (2005) đã nghiên cứu cấu trúc rừng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên và kết luận rằng sự phân bố số lượng loài cây theo cấp tổ thành của trạng thái IIIA1 và IIIA2 tuân theo quy luật phân bố khoảng cách.

Võ Văn Sung (2005) đã nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ven biển tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, cho thấy rằng cấu trúc tổ thành ở trạng thái IIB và IIIA2 tuân theo phân bố khoảng cách.

1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Rừng nhiệt đới Việt Nam có đặc điểm tái sinh chung của rừng nhiệt đới, nhưng chủ yếu là rừng thứ sinh bị ảnh hưởng bởi con người, dẫn đến sự xáo trộn trong quy luật tái sinh Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tái sinh rừng, nhưng việc tổng kết quy luật tái sinh cho từng loại rừng vẫn còn hạn chế Các kết quả nghiên cứu hiện tại chủ yếu được đề cập trong các công trình về thảm thực vật, báo cáo khoa học, hoặc các bài viết trên tạp chí lâm nghiệp.

Thái Văn Trừng (1963, 1978) trong nghiên cứu về “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã chỉ ra rằng ánh sáng là yếu tố sinh thái chủ yếu điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong rừng Nếu các yếu tố môi trường như đất, nhiệt độ và độ ẩm không thay đổi, thì sự tái sinh của các loài cây sẽ không có biến động lớn và không diễn ra theo chu kỳ, mà sẽ tuân theo các quy luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường.

Vũ Đình Huề (1975) 11] từ kết quả điều tra tái sinh tự nhiên theo các

Từ năm 1962 đến 1969, Viện Điều tra – Quy hoạch rừng đã nghiên cứu và tổng kết loại hình thực vật ưu thế của rừng thứ sinh tại Yên Bái, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Lạng Sơn, cho thấy tái sinh tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam mang đặc điểm của rừng nhiệt đới Trong rừng nguyên sinh, tổ thành cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, trong khi rừng thứ sinh lại có nhiều cây gỗ mềm với giá trị thấp Hiện tượng tái sinh theo đám dẫn đến sự phân bố không đồng đều của cây trên mặt đất rừng Dựa trên những kết quả này, tác giả đã xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc Việt Nam.

ĐỐI TƯ NG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu

Bài viết nghiên cứu các cấu trúc cơ bản của tầng cây cao và tầng cây tái sinh, đồng thời đề xuất giải pháp bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên có loài nghiến tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

2.2.2 Phạm vi về không gian

Rừng tự nhiên tại huyện Tủa Chùa, đặc biệt là xã Xá Nhè, là nơi phân bố chủ yếu của loài Nghiến, bên cạnh huyện Tuần Giáo Nghiên cứu sẽ được tiến hành chủ yếu tại huyện Tủa Chùa để tìm hiểu về loài cây này.

Hình 2.1 Sơ đồ khu vực có loài Nghiến phân bố ở huyện Tủa chùa và khu vực thu thập số liệu

2.2.3 Phạm vi về thời gian Đề tài thực hiện từ năm 2019 đến năm 2020

Mục tiêu nghiên cứu

Làm cơ sở bảo tồn và phát triển loài cây Nghiến ở huyện Tủa Chùa nói riêng và ở Điện Biên nói chung

-Xác định được một số cấu trúc cơ bản của rừng tự nhiên có loài nghiến phân bố tập trung

-Đề xuất được giải pháp bảo vệ rừng tự nhiên có loài nghiến phân bố tập trung

Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Xác định một số nhân tố điều tra lâm phần

2.4.2 Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây cao

- Xác định công thức tổ thành

- Xác định quy luật phân bố số cây theo đường kính

2.4.3 Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây tái sinh

- Thành phần loài cây tái sinh;

- Mật độ và tổ thành cây tái sinh;

- Phân bố số cây tái sinh theo chiều cao;

- Chất lượng cây tái sinh và số cây tái sinh có triển vọng

-Số lượng và chất lượng tái sinh của cây Nghiến

2.4.4 Đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển loài Nghiến ở rừng tự nhiên khu vực nghiên cứu

-Đề xuất giải pháp quản lí bảo vệ

-Đề xuất giải pháp phục hồi rừng

Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp kế thừa số liệu

- Luận văn kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên rừng; điều kiện kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu;

Kế thừa có chọn lọc các tài liệu và kết quả nghiên cứu liên quan tại khu vực nghiên cứu sẽ là nền tảng quan trọng để giải quyết nội dung nghiên cứu của luận văn.

- Kế thừa các báo cáo về thực trạng tài nguyên rừng, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực nghiên cứu

2.5.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

2.5.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thực hiện các nội dung 2.4.1 và 2.4.2

Nội dung bài viết dựa trên số liệu từ điều tra tầng cây cao ở các OTC được thiết lập trong khu vực nghiên cứu Các OTC được bố trí cụ thể để thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy.

Tại xã Xá Nhè, đã thiết lập 6 ô thử nghiệm cây (OTC) đại diện cho 3 mức độ tác động: mạnh, vừa và thấp, mỗi ô có kích thước 2000m² (40x50m) Việc điều tra tầng cây cao trong các OTC tập trung vào các cây gỗ có đường kính ngang ngực từ 6 cm trở lên, với các tiêu chí xác định bao gồm tên loài, đường kính ngang ngực và chiều cao vút ngọn của từng cây.

+ Trong mỗi ô, đánh dấu và đếm toàn bộ số cây trong ô

+ Xác định tên loài (những cây chưa xác định được tên cây, đánh là SP)

+ Đo chu vi vị trí độ cao 1,3 m của tất cả các cây có đường kính từ 6cm trở lên, từ đó suy ra đường kính

+Đo chiều cao vút ngọn tất cả các cây đo bằng thước đo cao Blumeleiss

2.5.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thực hiện các nội dung 2.4.3

Nội dung 2.4.3 được thực hiện dựa trên số liệu từ việc điều tra tầng cây tái sinh tại các ô dạng bản (ODB), được bố trí trên các OTC trong khu vực nghiên cứu Các ODB được sắp xếp cụ thể nhằm thu thập thông tin chính xác về sự phát triển của cây tái sinh.

Tại mỗi OTC bố trí 5 ODB, mỗi ODB có diện tích 25m 2 (5*5m) Các ODB được bố trí ở 4 góc và vị trí giữa OTC

- Phương pháp đo đếm cây tái sinh:

+ Xác định tên loài cây tái sinh;

+ Đo chiều cao vút ngọn bằng thước sào;

+ Xác định chất lượng cây: Phân theo tốt, xấu, trung bình;

Chất lượng cây tái sinh được phân theo 3 cấp:

+ Cây tốt (A): là những cây có tán lá phát triển đều, tròn, xanh biếc, thân tròn thẳng, không bị khuyết tật, không bị sâu bệnh

+ Cây trung bình (B): là những cây sinh trưởng kém hơn cây tốt, không cong queo sâu bệnh, cụt ngọn, ít khuyết tật

+ Cây xấu (C): là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởng kém, khuyết tật nhiều, bị sâu bệnh

+ Xác định nguồn gốc: Theo chồi, hạt cho từng cây, trong phiếu ghi theo số cây

Toàn bộ các số liệu thu thập, đo đếm tầng cây tái sinh được ghi chép theo mẫu biểu điều tra cây tái sinh

Biểu 1: Biểu điều tra cây tái sinh ĐIỀU TRA CÂY TÁI SINH

H Ch H Ch H ch H ch H ch H ch H ch Cộng

2.5.2.3 Phương pháp xác định độ tàn che trong mỗi OTC

Phương pháp xác địnhđo độ tàn che bằng phương pháp 100 điểm (đối với OTC 2000 m 2 , 50m*40m)

Chia ô tiêu chuẩn thành 10 tuyến điều tra theo cả hai chiều: chiều dài 50 m được chia thành 10 tuyến song song với đường đồng mức, mỗi tuyến cách nhau 5 m; chiều rộng 40 m được chia thành 10 tuyến vuông góc với đường đồng mức, mỗi tuyến cách nhau 4 m.

Tại mỗi điểm đo, sử dụng tờ giấy A4 khoanh tròn có đường kính 3 cm để quan sát tán cây Nếu tán cây che phủ hoàn toàn, ghi 1; nếu che một phần, ghi 0.5; và nếu không che, ghi 0 Sau khi hoàn tất việc điều tra, tính toán độ tán che bằng công thức: Độ tán che = Tổng giá trị các điểm đo / Tổng số điểm đo.

2.5.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu

Việc chỉnh sửa số liệu quan sát và lập các dãy phân bố thực nghiệm được thực hiện đồng bộ trên máy tính bằng phần mềm Excel và SPSS 24.0, bao gồm cả việc tạo biểu đồ thực nghiệm và tính toán các đặc trưng mẫu.

2.5.3.2.Tính toán một số nhân tố điều tra lâm phần

Các nhân tố điều tra lâm phần bao gồm mật độ (N), đường kính bình quân ( D 1.3), chiều cao bình quân ( tổng tiết diện ngang (G), và trữ lượng (M)

Giá trị trữ lượng thực tế được tra ở biểu thể tính cây đứng rừng tự nhiên Việt Nam (Viện Điều tra và quy hoạch rừng xuất bản năm 1995)

2.5.3.3 Xác định công thức tổ thành:

+ Xác định tổng số cá thể của từng loài (ni)

+ Xác định tổng số cá thể chung cho các loài 

+ Tính số cá thể trung bình của 1 loài: m x  N (4.2)

+ So sánh các ni với x :

Nếu ni  x thì loài cây đó có mặt trong công thức tổ thành

Nếu ni< x thì loài cây đó có thể bỏ qua

+ Công thức tổ thành có dạng: k1A1 + k2A2 + … + knAn

Trong đó: Ai là tên loài ki là hệ số được tính theo công thức:

M%: là phần trăm số cá thể ở tầng cây cao của loài nào đó so với tổng số cây trên OTC

N% là phần trăm số cá thể ở tầng cây cao của loài nào đó so với tổng số cây trên OTC

G% là phần trăm tiết diện ngang của loài cây nào đó so với tổng tiết diện ngang của OTC

Trong lâm phần, những loài cây có M% lớn hơn 5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinh thái Theo Thái Văn Trừng (1978), nếu một nhóm loài cây chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây cao, nhóm đó được coi là nhóm loài ưu thế Việc xác định loài và nhóm loài ưu thế dựa vào những chỉ dẫn này là rất quan trọng Để xác định, cần tính tổng M% của các loài có trị số này lớn hơn 5% từ cao đến thấp, và dừng lại khi tổng M% đạt 50%.

2.5.3.4 Xử lí số liệu tầng cây tái sinh

- Tổ thành cây tái sinh

Tổ thành loài cây tái sinh được xác định dựa trên tỷ lệ phần trăm giữa số lượng cây của một loài cụ thể và tổng số cây tái sinh được điều tra trong khu vực nghiên cứu (OTC).

Ki: hệ số tổ thành cây tái sinh của loài i;

Ni: số cây tái sinh của loài i trên các ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn; N: tổng số cây tái sinh của các loài trên các ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn

Nếu Ki%  5% thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành

Nếu Ki% < 5% thì loài đó không tham gia vào công thức tổ thành

- Mật độ cây tái sinh

Mật độ cây tái sinh được xác định theo công thức:

N/ha: mật độ cây tái sinh

No: tổng số cây tái sinh trong các ô dạng bản

So: tổng diện tích các ô dạng bản

- Mật độ cây tái sinh có triển vọng

Mật độ cây tái sinh có triển vọng được xác định theo công thức:

Ntv/ha: mật độ cây tái sinh có triển vọng

Ntv/o: tổng số cây tái sinh có triển vọng trên các ô dạng bản

So: tổng diện tích các ô dạng bản

Phân bố số cây tái sinh theo chiều cao được nghiên cứu thông qua việc sử dụng phân bố lý thuyết nhằm mô phỏng cấu trúc tần số.

- Xác định tỷ lệ cây tái sinh theo chất lượng

Tỷ lệ được xác định theo công thức:

Ni%: tỷ lệ % của cấp chất lượng i;

Ni: tổng số cây tái sinh ở cấp chất lượng i;

N: tổng số cây tái sinh trong các ô

2.5.3.5 Phương pháp thực hiện nội dung 2.4.4(Đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển loài Nghiến) Ở đây có hai giải pháp dự kiến được đề xuất, đó là giải pháp lâm sinh và giải pháp quản lí bảo vệ Cơ sở để đề xuất giải pháp kĩ thuật lâm sinh là kết quả nghiên cứu của các nội dung 2.4.1; 2.4.2; 2.4.3 Cơ sở đề xuất giải pháp quản lí bảo vệ rừng là những kết quả nghiên cứu về điều kiện kinh tế, xã hội cùng những báo cáo về tình tình quản lí bảo vệ rừng từ trước đến nay.

ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU TỔNG

Điều kiện tự nhiên

Tủa Chùa là huyện vùng cao, sâu và xa thuộc tỉnh Điện Biên, được xếp vào diện đặc biệt khó khăn và là một trong 62 huyện nghèo của cả nước Huyện có tọa độ địa lý từ 22°09' Vĩ Bắc đến 105°28' Kinh Đông, giáp với huyện Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu) ở phía Bắc, huyện Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La) ở phía Đông, huyện Tuần Giáo ở phía Nam, và huyện Mường Chà cùng thị xã Mường Lay ở phía Tây.

Trung tâm huyện lỵ huyện Tủa Chùa nằm ở phía Đông - Bắc và cách trung tâm tỉnh Điện Biên 126km

Tủa Chùa có địa hình phức tạp với các dãy núi cao và vực sâu kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Ảnh hưởng từ hoạt động kiến tạo địa chất đã dẫn đến sự chia cắt mạnh mẽ của địa hình, tạo nên cấu trúc núi cao chiếm ưu thế và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của huyện Độ cao trung bình của khu vực này là

Nằm ở độ cao 800 - 1000m so với mặt biển, địa hình Tủa Chùa bị bào mòn mạnh, hình thành các thung lũng hẹp và bãi bồi dọc theo các sông suối Tổng quan, khu vực này có ba dạng địa hình chính.

Địa hình Tủa Chùa được chia thành hai tiểu vùng chính Khu vực phía Nam huyện gồm các xã như Mường Báng, Xá Nhè, Mường Đun, Tủa Thàng, và Huổi Só Nơi đây có đồi núi với độ dốc thấp, nguồn nước phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi.

- Khu vực phía Bắc gồm các xã: Sính Phình, Trung Thu, Lao Xả Phình,

Tả Phìn, Tả Sìn Thàng và xã Sín Chải Khu vực này có nhiều núi cao, vực sâu, nhiều núi đá vôi, nguồn nước khan hiếm

Huyện Tủa Chùa nằm trong vùng á ôn đới được chia làm 2 mùa rõ rệt

Mùa mưa ở khu vực này kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8, với lượng mưa lớn và độ ẩm cao, đặc biệt tập trung từ tháng 6 đến tháng 8 Đầu mùa thường có hiện tượng mưa đá và lốc lớn, với lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2000 đến 2200 mm Số ngày mưa trung bình trong năm khoảng 120 ngày, và lượng mưa không phân bố đều trong suốt cả năm.

Mùa khô ở khu vực này kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, với thời tiết lạnh, khô hanh và ít mưa Đặc biệt, trong các tháng 12, 1 và 2, thường xảy ra các đợt rét đậm, rét hại kèm theo sương muối.

- Nhiệt độ trung bình cả năm đạt khoảng từ 20 - 22 0 C Nhiệt độ cao nhất khoảng 35 0 C và có thời gian nhiệt độ thấp nhất xuống tới dưới 0 0 C

- Số ngày nắng trong năm vào khoảng 110 ngày, số ngày lạnh trong năm khoảng 95 ngày, độ ẩm tương đối trung bình hàng năm đạt khoảng

- Gió: Do phụ thuộc vào cấu trúc của địa hình, gió mùa Tây Nam thường xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 7 làm cho khí hậu ban ngày khô nóng

Các tiểu vùng có độ cao trên 900m so với mực nước biển thường trải qua sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa ngày và đêm Kết quả điều tra cho thấy, cứ mỗi 4-5 năm, những khu vực này lại xuất hiện hiện tượng rét đậm vào mùa Đông.

3.1.3.2 Về chế độ thuỷ văn:

Huyện Tủa Chùa có tất cả 20 sông, suối lớn nhỏ Trong đó có 2 con sông chính và một số suối chính như sau:

Sông Đà chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, tạo thành ranh giới giữa Tủa Chùa - Sìn Hồ và Tủa Chùa - Quỳnh Nhai, thuộc tỉnh Sơn La Sông có lưu lượng dòng chảy lớn và độ dốc cao, góp phần quan trọng vào hệ thống thủy văn của khu vực.

- Sông Nậm Mức: Chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, là gianh giới tiếp giáp giữa huyện Tủa Chùa với huyện Mường Chà, huyện Tuần Giáo

Các suối chính tại khu vực này bao gồm suối Nà Sa, suối Tà Là Cáo và suối Nậm Seo Tất cả các suối đều có những đặc điểm chung như: chiều dài ngắn, độ dốc cao, lưu vực nhỏ, nhiều ghềnh và thác, lưu lượng nước thay đổi theo mùa, và khả năng khai thác không hiệu quả.

Huyện còn sở hữu một số nguồn nước nhỏ với tiềm năng lớn cho việc khai thác, phục vụ cho việc xây dựng các công trình thủy lợi nhằm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt.

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Tủa Chùa là 68.414,88 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 59,62% với 40.710,17 ha, đất lâm nghiệp có rừng chiếm 30,99% với 21.204,18 ha, và đất nuôi trồng thủy sản là 81,42 ha Ngoài ra, đất phi nông nghiệp chiếm 4,51% với 3.082,48 ha, trong khi đất chưa sử dụng chiếm 4,88% với 3.336,22 ha Các nhóm đất chủ yếu tại đây bao gồm đất phù sa ven sông, đất đen, đất mùn, đất đỏ vàng trên núi, đất vàng nhạt trên núi cao và đất mùn vàng nhạt trên đá cát.

Nhóm đất phù sa ven sông suối là loại đất nằm ở khu vực thấp, địa hình phẳng gần bờ sông và bờ suối Diện tích của loại đất này thường nhỏ và không liên tục, chủ yếu tập trung tại các khu vực như Mường Báng, Huổi Só, Xá Nhè, Tủa Thàng và Mường Đun.

- Nhóm đất đen: Được tập trung chủ yếu tại khu vực xã Mường Báng và thị trấn Tủa Chùa

- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Đây là loại đất có thành phần cơ giới trung bình, kết cấu tương đối bền chặt, hàm lượng mùn thấp

Nhóm đất mùn đỏ vàng trên phiến sét có chất lượng tương đối tốt, chủ yếu phân bố ở vùng cao Mặc dù tầng canh tác của loại đất này khá mỏng, nhưng nó phù hợp cho việc trồng một số loại cây công nghiệp và cây dược liệu.

Hiện trạng sử dụng Đất

Trong giai đoạn 2014-2018, huyện không có sự biến đổi lớn về sử dụng đất, nhưng có sự thay đổi đáng kể trong đất phi nông nghiệp, phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội hợp lý và nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng Từ năm 2017 đến 2018, cơ cấu sử dụng đất đã có sự biến động lớn, với việc giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp và tăng diện tích đất lâm nghiệp, do người dân hạn chế trồng cây trên nương và chuyển sang trồng rừng cũng như khoanh nuôi tái sinh rừng.

Trong giai đoạn 2014-2018, diện tích đất nông nghiệp của huyện chỉ giảm nhẹ, với tổng diện tích giảm 164,3 ha vào năm 2018 so với năm 2014, cho thấy sự biến động không đáng kể trong tổng diện tích đất tự nhiên.

Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1.1 Dân số, mật độ dân số

Năm 2018, huyện Tủa Chùa có tổng dân số trung bình là 53.738 người, tương đương 11.165 hộ, chiếm 9,31% tổng dân số tỉnh (576.658 người) Khu vực này có sự đa dạng về dân tộc với 07 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm tỷ lệ cao nhất với 73,2%, tiếp theo là dân tộc Thái với 16,5%, và dân tộc Kinh với 5,1% Các dân tộc khác bao gồm Dao, Hoa, Khơ Mú và Phù Lá.

Trong năm 2018, lực lượng lao động trong độ tuổi làm việc tại huyện đạt 32.768 người, chiếm 60,97% tổng dân số Tuy nhiên, trình độ lao động còn thấp, với tỷ lệ lao động thiếu chuyên môn cao Tổng số lao động tham gia vào các ngành kinh tế quốc dân là 31.126 người, tương đương 98,4% dân số trong độ tuổi lao động.

Tổng số lao động qua đào tạo đạt 8.559 người, tương đương 26,1% dân số trong độ tuổi lao động Trong khi đó, số lao động làm việc trong ngành Nông - Lâm - Thủy sản lên tới 26.150 người, chiếm 79,8% dân số trong độ tuổi lao động.

Bảng 3.2 Dân số, lao động huyện Tủa Chùa giai đoạn 2014 - 2018

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm

Tỷ lệ dân số khu vực nông thôn

3 Dân số trong độ tuổi lao động Người 29.105 29.479 30.080 31.372 32.768

Tỷ lệ so với dân số % 56,72 56,75 57,25 59,04 60,97

Lao động tham gia hoạt động kinh tế

Tỷ lệ so với dân số % 53,88 53,91 54,38 54,29 57,92

Tỷ lệ so với lao động trong độ tuổi lao động

(Nguồn: Theo Niên giám thống kê huyện Tủa Chùa hàng năm)

Lao động tại huyện chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm 79,8% tổng số lao động, tuy nhiên tỷ lệ này đang có xu hướng giảm dần Sự chuyển dịch sang các ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ đã được ghi nhận, với tỷ lệ lao động trong nông nghiệp giảm từ 85,39% vào năm 2014 xuống còn 79,8% vào năm 2018.

Bảng 3.3 Hiện trạng cơ cấu lao động huyện Tủa Chùa giai đoạn 2014-2018

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm

2 Dân số trong độ tuổi lao động Người 29.105 29.479 30.080 31.372 32.768

Lao động tham gia hoạt động kinh tế

Lao động hoạt động trong ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại

Tỷ lệ so với tổng số lao động toàn huyện

Lao động hoạt động trong ngành nông - lâm nghiệp

Tỷ lệ so với tổng số lao động toàn huyện

(Nguồn: Theo Niên giám thống kê huyện Tủa Chùa hàng năm)

Tổng giá trị sản xuất của huyện Tủa Chùa năm 2014 đạt 971,051 tỷ đồng, trong đó khu vực nông nghiệp đóng góp 381,215 tỷ đồng, công nghiệp và xây dựng 294,400 tỷ đồng, và thương mại, dịch vụ 295,436 tỷ đồng Đến năm 2018, tổng giá trị sản xuất đã tăng lên 1.382,137 tỷ đồng, gấp 1,42 lần so với năm 2014, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế địa phương.

Bảng 3.4 Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Tủa Chùa giai đoạn 2014-2018 (Theo giá hiện hành) Đơn vị tính: Tỷ đồng

(Nguồn: Theo Niên giám thống kê huyện Tủa Chùa)

Trong giai đoạn 2014-2018, huyện ghi nhận sự tăng trưởng giá trị sản xuất ấn tượng với mức tăng bình quân đạt 7,3% Sự phát triển này được thúc đẩy bởi tất cả các lĩnh vực, bao gồm công nghiệp - xây dựng với mức tăng 6,2%, thương mại - dịch vụ đạt mức tăng cao nhất 11,7%, và nông nghiệp với tỷ lệ tăng trưởng 4,28%.

Giai đoạn 2014-2018, cơ cấu giá trị sản xuất huyện Tủa Chùa thể hiện sự cân bằng giữa ba ngành kinh tế: công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, và nông - lâm - thủy sản Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian này diễn ra tích cực, với tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần hàng năm, trong khi ngành thương mại - dịch vụ lại tăng trưởng nhanh chóng.

Bảng 3.5 Cơ cấu giá trị sản xuất huyện Tủa Chùa giai đoạn 2014-2018 Đơn vị tính: %

(Nguồn: Theo Niên giám thống kê huyện Tủa Chùa)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Xác định một số nhân tố điều tra lâm phần

Bảng 4.1 Giá trị một số nhân tố điều tra trên các OTC

Tác động OTC N (cây/ô) D(cm) H(m) G(m2/ô) M(m3/ô) Tàn che (P)

Bảng 4.2 Giá trị một số nhân tố điều tra trên hecta Tác động OTC N(cây/ha) D(cm) H(m) G(m2/ha) M(m3/ha) Tàn che (P)

Đường kính bình quân của các OTC dao động từ 21,6 cm đến 41,7 cm, cho thấy xu hướng tăng dần từ những OTC có tác động mạnh đến những OTC có tác động nhẹ.

Mật độ các OTC biến động từ 65 cây/ha đến 115 cây/ha và không thể hiện rõ quy luật theo mức độ tác động

Chiều cao trung bình của các OTC dao động từ 12,6 m đến 20,2 m, cho thấy sự gia tăng chiều cao và đường kính trung bình từ các OTC có tác động mạnh đến những OTC có tác động nhẹ.

Tổng diện ngang có sự khác biệt rõ giữa các OTC có mức độ tác động khác nhau, cụ thể là:

-Ở những OTC có mức độ tác động mạnh, G/ha từ 5,9 đến 7,3 m2/ha; -Ở những OTC có mức độ tác động trung bình, G/ha từ 9,9 đến 13,6 m2/ha;

Tại các OTC có mức độ tác động nhẹ, giá trị G/ha dao động từ 14,3 đến 17,6 m2/ha Sự khác biệt rõ rệt trong trữ lượng cũng được ghi nhận giữa các OTC với mức độ tác động khác nhau.

-Ở những OTC có mức độ tác động mạnh, M/ha từ 47 đến 88 m3/ha; -Ở những OTC có mức độ tác động trung bình, M/ha từ 94 đến 146 m3/ha;

Tại các khu vực OTC có mức độ tác động nhẹ, chỉ số M/ha dao động từ 156 đến 253 m3/ha Độ tàn che trong khu vực này nằm trong khoảng từ 0,46 đến 0,65 và không cho thấy xu hướng biến đổi rõ rệt theo mức độ tác động.

Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây cao

4.2.1 Tỷ lệ phần trăm theo một số nhân tố điều tra của loài nghiến so với các loài khác trong rừng tự nhiên

Trong quá trình điều tra thu thập số liệu ngoài hiện trường, do hạn chế về nhận biết cây rừng, chỉ có thể xác định phần trăm số cây, tổng diện ngang và trữ lượng của loài Nghiến so với tất cả các loài trong lâm phần, mà không thể tính công thức tổ thành theo số cây hay chỉ số M% Kết quả cụ thể được trình bày trong bảng 4.3.

Bảng 4.3 Kết quả tính tỷ lệ phần trăm theo một số nhân tố điều tra của loài nghiến so với các loài khác trong các OTC

Tác động OTC N N nghiến N% G G nghiến G% M M nghiến

Tỷ lệ phần trăm cá thể loài nghiến trong các OTC dao động từ 20% đến 55% Cụ thể, 37,5% các OTC cho thấy mức độ tác động mạnh, 35% thể hiện mức độ tác động vừa, và 22,5% còn lại đại diện cho mức độ tác động nhẹ.

-Tỷ lệ phần trăm tổng diện ngang loài nghiến trong các OTC chiểm từ

Trong một nghiên cứu, tỷ lệ tác động của các OTC được phân loại như sau: 54,3% cho mức độ tác động mạnh, 68,9% cho mức độ tác động vừa và 75,6% cho mức độ tác động nhẹ.

Tỷ lệ phần trăm trữ lượng loài nghiến trong các OTC dao động từ 48,7% đến 88,5% Trong đó, các OTC với mức độ tác động mạnh chiếm 56,9%, mức độ tác động vừa là 73,6%, và mức độ tác động nhẹ là 82,7%.

Tỷ lệ phần trăm của loài nghiến trong rừng đã tăng từ N% lên G% và M%, cho thấy loài nghiến có kích thước vượt trội so với các loài khác.

4.2.2 Phân bố số cây theo đường kính(N/D) của loài Nghiến và chung cho các loài cây rừng tự nhiên nơi có loài Nghiến phân bố

Dữ liệu từ các OTC cho thấy rằng quy luật phân bố số cây theo đường kính của loài Nghiến, cũng như các loài khác, không tuân theo quy luật chung, cho thấy cấu trúc rừng tự nhiên tại khu vực này đã bị phá vỡ do khai thác liên tục và thiếu thiết kế Do đó, luận văn không mô phỏng phân bố N/D theo lý thuyết mà chỉ thể hiện quy luật cấu trúc N/D qua phân bố thực nghiệm, từ đó đưa ra nhận xét và đánh giá.

Bài viết trình bày các biểu đồ phân bố N/D thực nghiệm của loài Nghiến (ft1) và các loài chung (ft) từ 6 OTC, phản ánh 3 mức độ tác động khác nhau Cụ thể, OTC số 1 và 2 thể hiện rừng bị tác động mạnh, OTC 3 và 4 đại diện cho rừng bị tác động vừa, trong khi OTC 5 và 6 phản ánh rừng bị tác động nhẹ.

Hình 4.1 Phân bố N/D OTC số 1 (ft:chung các loài; ft: cây nghiến)

Hình 4.2 Phân bố N/D OTC số 2 (ft:chung các loài; ft1: cây nghiến)

Hình 4.3 Phân bố N/D OTC số 3 (ft:chung các loài; ft1: cây nghiến)

Hình 4.4 Phân bố N/D OTC số 4 (ft:chung các loài; ft1: cây nghiến)

Hình 4.5 Phân bố N/D OTC số 5 (ft:chung các loài; ft 1 : cây nghiến)

Hình 4.6 Phân bố N/D OTC số 6 (ft:chung các loài; ft 1 : cây nghiến)

Các biểu đồ phân bố N/D thực nghiệm cho thấy quy luật chung của phân bố nhiều đỉnh, không liên tục và đứt quãng, điều này chứng tỏ rằng cấu trúc rừng đã bị phá vỡ và không còn thể hiện quy luật chung.

4.2.3 Cấu trúc tầng tái sinh

4.2.3.1 Mật độ và chất lượng cây tái sinh chung cho các loài

Bảng 4.4 Mật độ và tổ thành cây tái sinh chung cho các loài

Bảng 4.4 chỉ ra rằng mật độ tái sinh ở các OTC dao động từ 3.280 đến 5.280 cây/ha, trong đó tái sinh hạt chiếm ưu thế, từ 73% đến 91% Đặc biệt, tỷ lệ cây tái sinh tốt rất cao, với tái sinh hạt chiếm 91% trong số các cây tốt.

Bảng trên cho thấy rằng số lượng và chất lượng tái sinh ở các đối tượng rừng bị tác động khác nhau, với OTC số 1 và 2 đại diện cho rừng bị tác động mạnh, OTC 3 và 4 đại diện cho rừng bị tác động vừa, và OTC 5 và 6 đại diện cho rừng bị tác động nhẹ, nhưng không có sự khác biệt rõ rệt giữa các mức độ tác động.

4.2.3.2.Mật độ và chất lượng cây tái sinh có triển vọng chung cho các loài

(Cây chất lượng từ TB trở lên và H>1.5m)

Bảng 4.5 Mật độ và chất lƣợng cây tái sinh có triển vọng chung các loài

4.2.3.3 Mật độ và chất lượng tái sinh của loài Nghiến

Về cơ bản khi điều tra không thấy loài nghiến có tái sinh chồi, vì thế đối tượng nghiên cứu ở đây là tái sinh hạt

Bảng 4.6 Mật độ và chất lƣợng tái sinh của loài Nghiến

Bảng 4.6 cho thấy, mật độ tái sinh của loài Nghiến rất cao, dao động từ

Mật độ tái sinh của loài nghiến dao động từ 1280 đến 1920 cây/ha, với trung bình là 1600 cây/ha và chất lượng tái sinh đạt trên 83% Số lượng và chất lượng tái sinh không có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực có mức độ tác động khác nhau Cụ thể, tại khu vực có tác động mạnh, mật độ tái sinh đạt 1520 cây/ha với tỷ lệ cây tốt là 93%; khu vực có tác động vừa có mật độ tái sinh 1760 cây/ha và tỷ lệ cây tốt là 84%; trong khi khu vực có tác động nhẹ có mật độ tái sinh 1540 cây/ha và tỷ lệ cây tốt đạt 95%.

4.2.3.4 Tái sinh có triển vọng của loài Nghiến

Tái sinh khả thi của loài Nghiến phụ thuộc vào chất lượng cây, với tiêu chí là những cây có chất lượng từ trung bình trở lên và chiều cao tối thiểu 1,5 m, tương đương với chiều cao trung bình của cây bụi thảm tươi ở các OTC.

Bảng 4.7 Số lƣợng tái sinh có triển vọng loài Nghiến

Bảng 4.7 chỉ ra rằng loài nghiến có khả năng tái sinh mạnh mẽ, với số lượng cây từ 1000 đến 1360 cây/ha, trung bình đạt 1170 cây/ha Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi của loài cây này trong khu vực nghiên cứu.

Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và đề xuất giải pháp phục hồi và phát triển rừng nghiến ở điện biên

4.3.1 Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của huyện Tủa Chùa

4.3.1.1.Hệ thống tổ chức lực lượng Ở cấp huyện có một Ban Chỉ đạo chương trình mục tiêu phát triển lâmnghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 gồm 22 thành viên của Ủy ban nhân dân huyện, Hạt Kiểm lâm và Chủ tịch Ủy ban nhân dân 11 xã, thị trấn tham gia do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện làm trưởng ban

Huyện có Hạt Kiểm lâm với 15 công chức và một hợp đồng lái xe theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP, tổ chức bao gồm một Hạt trưởng, một Phó Hạt trưởng, một Tổ Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng, cùng với các công chức phụ trách pháp chế, kế toán, kỹ thuật và 11 công chức kiêm lâm địa bàn xã Tại cấp xã, có 11 Ban Chỉ đạo chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 với 201 thành viên, do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm trưởng ban Ngoài ra, có 135 tổ, đội quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng với 1.020 thành viên tham gia, do Trưởng thôn hoặc đại diện chủ rừng cộng đồng lãnh đạo.

4.3.1.2 Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật

Trong những năm qua, huyện Tủa Chùa đã tích cực tuyên truyền và phổ biến Luật Lâm nghiệp cùng các chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Các hoạt động này được triển khai rộng rãi qua thông tin đại chúng và báo chí, với nhiều hình thức phong phú như xây dựng chuyên trang, tổ chức 71 hội nghị tuyên truyền thu hút trên 11.550 người tham dự Huyện cũng đã đăng tải 146 tin bài về bảo vệ rừng, thu hút 18.203 lượt độc giả Đài Phát thanh - Truyền hình huyện đã phát 56 chuyên mục, 72 phóng sự và 59 tin nhằm cảnh báo nguy cơ cháy rừng và khuyến khích toàn dân tham gia bảo vệ rừng.

Việc quán triệt và tuyên truyền các chủ trương của Đảng cùng chính sách, pháp luật của nhà nước đã góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, từ cấp tỉnh đến thôn bản, về công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.

4.3.1.3 Quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên rừng Ủy ban nhân nhân huyện Tủa Chùa đã triển khai thực hiện Quyết định số 2242/QĐ-TTg ngày 11/12/2014 của Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường công tác quản lý khai thác gỗ rừng tự nhiên giai đoạn 2014-2020; huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đã tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ trướng Chính phủ tại Thông báo số 511/TB-VPCP ngày 01/11/2017 của Văn phòng Chính phủ, trên địa bàn huyện Tủa Chùa đã chấm dứt việc khai thác chính, khai thác gỗ gia dụng từ rừng tự nhiên, khai thác tận thu, tận dụng gỗ; các hoạt động khai thác gỗ trên địa bàn chủ yếu từ rừng trồng và cây trồng phân tán, ngoài ra và khai thác lâm sản ngoài gỗ, sản lượng không lớn Tuy nhiên, tình hình khai thác, mua, bán, cất giữ, vận chuyển lâm sản gỗ nghiến vẫn diễn ra phức tạp ở một số xã như: Xá Nhè, Mường Đun, Mường Báng, Tủa Thàng a) Kết quả ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp

Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, dưới sự lãnh đạo quyết liệt của cấp ủy và chính quyền huyện Tủa Chùa, Hạt Kiểm lâm và Công an huyện đã phát hiện 343 vụ vi phạm về lâm nghiệp Cụ thể, năm 2016 ghi nhận 49 vụ, năm 2017 có 106 vụ, năm 2018 là 80 vụ, năm 2019 có 69 vụ, và trong sáu tháng đầu năm 2020 đã phát hiện 39 vụ Các cơ quan chức năng đã xử phạt vi phạm hành chính 338 vụ và xử lý hình sự 5 vụ, đồng thời tiến hành tịch thu tài sản liên quan đến các vụ vi phạm.

Trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, đã tịch thu 151 m³ gỗ, bao gồm 147 m³ gỗ nghiến và 4 m³ gỗ thông thường, cùng với 123 phương tiện vi phạm, trong đó có 2 xe ô tô và 115 xe máy, thu nộp ngân sách nhà nước 2 tỷ 700 triệu đồng Tuy nhiên, tình trạng vi phạm vẫn diễn ra do chính quyền địa phương chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý lâm nghiệp, chủ rừng thiếu trách nhiệm trong việc phát hiện và ngăn chặn khai thác trái phép Ngoài ra, một số công chức quản lý lâm sản có năng lực yếu kém và thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc kiểm tra và tham mưu xử lý vi phạm Sự phối hợp giữa các cấp, ngành và lực lượng chức năng trong việc đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp cũng còn thiếu chặt chẽ và đồng bộ.

Từ năm 2016 đến năm 2020, huyện đã trồng mới 197,9 ha rừng thay thế và rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 814,1 ha, đồng thời chi trả 64 tỷ đồng cho dịch vụ môi trường rừng và trồng mới 66.000 cây phân tán Huyện cũng tăng cường kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, triệt phá các “đầu nậu” mua bán gỗ nghiến dạng thớt, bảo vệ diện tích rừng tự nhiên, đặc biệt là các khu rừng có nhiều cây gỗ nghiến tại các xã như Xá Nhè, Mường Đun, Tủa Thàng, Huổi Só và Sín Chải.

4.3.1.4 Đánh giá chung thực trạng quản lý bảo vệ và phát triển rừng

Trong giai đoạn 2016 - 2020, huyện Tủa Chùa đã chú trọng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đạt được nhiều kết quả quan trọng Công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật về lâm nghiệp đã có sự chuyển biến tích cực, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, cộng đồng dân cư và người dân Nhờ đó, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện đã nhận thức rõ vai trò quan trọng của rừng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Huyện đã thiết lập trật tự và kỷ cương trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt chú trọng đến các khu rừng tự nhiên có loài nghiến Công tác bảo vệ rừng được lãnh đạo và chỉ đạo hiệu quả, đồng thời kết quả rà soát và điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2025, với định hướng đến năm 2030, đã được công bố đến từng thôn, bản để người dân nắm rõ và thực hiện.

Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng sản xuất mới là những hoạt động quan trọng được triển khai, cùng với việc khoanh nuôi và tái sinh phục hồi rừng Việc chuyển mục đích sử dụng rừng, đặc biệt cho các dự án thủy điện, khai thác khoáng sản và làm đường giao thông, được quản lý và giám sát chặt chẽ Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được áp dụng tại 12 xã, góp phần nâng cao tỷ lệ che phủ rừng của huyện lên 37,5% vào năm 2019, đạt mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tủa Chùa lần thứ XVII.

Công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện gặp nhiều khó khăn, bao gồm tình trạng khai thác lâm sản trái phép, đặc biệt là gỗ nghiến tròn dạng thớt, diễn ra phức tạp Việc trồng rừng chậm tiến độ và chưa đạt chỉ tiêu đề ra Lực lượng kiểm lâm mỏng, thiếu trang thiết bị, và một số cán bộ có trình độ hạn chế Chế độ chính sách cho lực lượng kiểm lâm và bảo vệ rừng thôn bản chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao.

4.3.2 Đề xuất mục tiêu, giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Tủa Chùa giai đoạn 2021-2025

Kết quả nghiên cứu cho thấy rừng tự nhiên có loài nghiến tập trung tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đang ở trạng thái rừng nghèo và rừng trung bình Để đảm bảo sự phát triển bền vững cho rừng trong giai đoạn 2021-2025, cần thiết phải có giải pháp quản lý, bảo vệ và phục hồi.

Theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 21/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, huyện Tủa Chùa được quy hoạch 2 loại rừng, bao gồm rừng phòng hộ và rừng sản xuất, với tổng diện tích 40.624,7 ha, chiếm 59,37% tổng diện tích tự nhiên của huyện Cụ thể, rừng phòng hộ chiếm 29.624,7 ha và rừng sản xuất 11.096,08 ha Huyện Tủa Chùa hàng năm nhận được từ 16 đến 20 tỷ đồng từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Dựa trên những tiềm năng này, học viên đề xuất một số mục tiêu và giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của huyện Tủa Chùa giai đoạn 2021-2025.

4.3.2.1 Mục tiêu, giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Tủa Chùa giai đoạn 2021-2025 a) Về mục tiêu

Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ và giải pháp theo Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, nhằm tăng cường lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Đồng thời, thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TU ngày 02 tháng 08 năm 2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Điện Biên, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác này tại tỉnh Điện Biên, phù hợp với Nghị quyết số 71/NQ-.

CP ngày 08/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm

Ngày đăng: 15/05/2021, 12:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Baur G.N. (1964), Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa, Vương Tấn Nhị dịch, Nxb KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Tác giả: Baur G.N
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 1964
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2001), Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh, tập II, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2001
7. Catinot R. (1965) , Hiện tại và tương lai rừng nhiệt đới ẩm, Thái Văn Trừng, Nguyễn Văn Dưỡng dịch, tư liệu KHKT, Viện KHLNVN, tháng 3 – 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tại và tương lai rừng nhiệt đới ẩm
8. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2002), Thực vật rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
9. Trần Văn Con (1991), Khả năng ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu một vài đặc trưng cấu trúc và động thái của hệ sinh thái rừng Khộp Tây Nguyên, Luận án PTSKH Nông nghiệp, Viện KHLNVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu một vài đặc trưng cấu trúc và động thái của hệ sinh thái rừng Khộp Tây Nguyên
Tác giả: Trần Văn Con
Năm: 1991
10. Nguyễn Duy Chuyên (1985), Bước đầu nghiên cứu tái sinh khu rừng Quỳ Châu, Nghệ An, Viện Điều tra quy hoạch rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu tái sinh khu rừng Quỳ Châu, Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Duy Chuyên
Năm: 1985
11. Đinh Quang Diệp (1993), Góp phần nghiên cứu tiến trình tái sinh tự nhiên ở rừng khộp Easup, ĐắkLắk, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu tiến trình tái sinh tự nhiên ở rừng khộp Easup, ĐắkLắk
Tác giả: Đinh Quang Diệp
Năm: 1993
13. Đồng Sỹ Hiền (1974), Lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng Việt Nam, Nxb KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng Việt Nam
Tác giả: Đồng Sỹ Hiền
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 1974
14. Vũ Đình Huề (1984), “ Phân loại các kiểurừng phục vụ sản xuất Lâm nghiệp ”, Tạp chí Lâm nghiệp số (7), tr. 23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại các kiểurừng phục vụ sản xuất Lâm nghiệp ”
Tác giả: Vũ Đình Huề
Năm: 1984
15. Bảo Huy (1993), Góp phần nghiên cứu rừng nửa rụng lá, rụng lá Bằng lăng (Lagerstroemia calyculata Kuzr) làm cơ sở đề xuất giải pháp kỹ thuật khai thác nuôi dưỡng ở Đắc Lắc – Tây Nguyên, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Viện KHLN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu rừng nửa rụng lá, rụng lá Bằng lăng (Lagerstroemia calyculata Kuzr) làm cơ sở đề xuất giải pháp kỹ thuật khai thác nuôi dưỡng ở Đắc Lắc – Tây Nguyên
Tác giả: Bảo Huy
Năm: 1993
16. Nguyễn Hữu Hiến (1970), “Cách đánh giá tổ thành rừng nhiệt đới”, Tập san Lâm nghiệp (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách đánh giá tổ thành rừng nhiệt đới”, "Tập san Lâm nghiệp (
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiến
Năm: 1970
17. Vũ Tiến Hinh (1991), Đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên, Tập san Lâm nghiệp ( 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập san Lâm nghiệp
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Năm: 1991
18. Vũ Đình Huề, Phạm Đình Tam (1989), Kết quả khảo nghiệm quy phạm khai thác đảm bảo tái sinh vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh, Một số kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp 1976 - 1985, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo nghiệm quy phạm khai thác đảm bảo tái sinh vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh
Tác giả: Vũ Đình Huề, Phạm Đình Tam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1989
19. Nguyễn Văn Hoàn, Lê Ngọc Công (2006), Bước đầu nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang, Tạp chí LN số 11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn, Lê Ngọc Công
Năm: 2006
20. Đào Công Khanh (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn - Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn - Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng
Tác giả: Đào Công Khanh
Năm: 1996
21. M.Loeschau (1977), Một số đề nghị về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới, Triệu Văn Hùng dịch năm 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đề nghị về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới
Tác giả: M.Loeschau
Năm: 1977
22. M.Loeschau (1966), Phân chia kiểu trạng thái và phương hướng kinh doanh rừng hỗn giao lá rộng thường xanh nhiệt đới, Nguyễn Văn Khanh và Nguyễn Văn Thịnh dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân chia kiểu trạng thái và phương hướng kinh doanh rừng hỗn giao lá rộng thường xanh nhiệt đới
Tác giả: M.Loeschau
Năm: 1966
23. Hoàng Thị Phương Lan (2004), Nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy tại huyện Mai Sơn -tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy tại huyện Mai Sơn -tỉnh Sơn La
Tác giả: Hoàng Thị Phương Lan
Năm: 2004
24. Vũ Biệt Linh (1984), “ Vấn đề phân chia rừng theo hệ thống phân loại kinh doanh ”, Tạp chí Lâm nghiệp (11), tr.27-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Vấn đề phân chia rừng theo hệ thống phân loại kinh doanh ”
Tác giả: Vũ Biệt Linh
Năm: 1984
25. Nguyễn Ngọc Lung (1985), Những cơ sở bước đầu để xây dựng qui phạm khai thác gỗ, Một số kết quả nghiên cứu Khoa học - Kỹ thuật Lâm nghiệp 1976- 1985. Viện Lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở bước đầu để xây dựng qui phạm khai thác gỗ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w