1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học địa lí lớp 5 nhằm phát triển năng lực học sinh

122 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học địa lí lớp 5 nhằm phát triển năng lực học sinh
Tác giả Huỳnh Thị Khánh Vân
Người hướng dẫn PGS.TS. Đậu Thị Hòa
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 8,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi đã xác định được các cách sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới ở trên lớp, trong ôn tập, hệ thống hóa kiến thức và trong tự học ở nhà nhằm phát triển năng lực tự h

Trang 1

Đà Nẵng – Năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -

Đà Nẵng – Năm 2019

Trang 7

TÊN ĐỀ TÀI:

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5 NHẰM

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

Ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)

Họ tên học viên: Huyn Người hướng dẫn khoa học: PGD.TS Đậu Thị Hòa

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm

Chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu phương pháp xây dựng và sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 Đây là một trong những phương án tốt, nó giúp người dạy và học đạt được hai mục đích: một là nâng cao được chất lượng dạy học môn Địa lí lớp 5 Đồng thời, giúp học sinh phát triển năng lực tự học của bản thân

Trong lĩnh vực giáo dục tiểu học chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể nào về lĩnh vực vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh Đặc biệt, đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục tiểu học thì còn những vấn đề về vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học nhằm phát huy năng lực học sinh là rất cần thiết

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã đạt được những kết quả bước đầu như sau: Đã nghiên cứu, hệ thống hóa được cơ sở lí luận của Bản đồ tư duy, làm cơ sở cho giáo viên hướng dẫn học sinh lập và sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 Chúng tôi đã điều tra thực trạng hiểu biết và sử dụng Bản đồ tư duy trong giảng dạy của giáo viên và trong học tập của học sinh lớp 5 Trên cơ sở số liệu thu thập được, chúng tôi phân tích chỉ ra cơ sở thực tiễn và sự cần thiết của việc xây dựng và sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5

Chúng tôi đã xác định được các cách sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới ở trên lớp, trong ôn tập, hệ thống hóa kiến thức và trong tự học ở nhà nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh; tiến hành thực nghiệm ở 10 lớp tiểu học ở 10 trường tiểu học ở thành phố Đà Nẵng để kiểm chứng tính đúng đắn và khả thi của giả thuyết khoa học nêu ra

Kết quả cho thấy: Việc sử dụng Bản đồ tư duy vào dạy học môn Địa lí lớp 5 là rất cần thiết, đáp ứng được nhu cầu đổi mới dạy học, phát huy được tính tích cực độc lập, sáng tạo, tự học của học sinh Học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, sâu sắc hơn, nắm kiến thức một cách hệ thống, liên hệ kiến thức cũ và mới một cách chặt chẽ, khó quên, rèn luyện được kĩ năng thành lập Bản đồ tư duy và phát triển trí tưởng tượng sáng tạo, và phát triển năng lực tự học của học sinh

Căn cứ vào những kết quả đạt được, chúng tôi nhận thấy đề tài có thể phát triển theo những hướng sau: Mở rộng phạm vi nghiên cứu cho dạy học môn Địa lí lớp 4

Từ khóa: Bản đồ tư duy, phát triển năng lực tự học, Địa lí lớp 5

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người thực hiện đề tài

Đậu Thị Hòa Huỳnh Thị Khánh Vân

Trang 8

Name of thesis: USE MINDMAPS IN TEACHING AND LEARNING

GEOGRAPHY OF GRADE 5 TO DEVELOP SELF-LEARNING ABILITY

Major: Education sector

Full name of Master : Huynh Thi Khanh Van

Supervisors: Asso.Prof Dau Thi Hoa, PhD

Training institution: University of Education - Da Nang University system

We studied the method of building and using Mind Map in teaching and studying in Geography of Grade 5 This is one of the good options, it helps teachers and learners achieve two purposes: one is to improve the quality of teaching Geography of Grade 5 At the same time, help students develop their own self-learning ability

In the field of primary education, there has not been any specific research topic on the application of Minmaps in teaching and e have identified ways to use Mind Map in teaching new knowledge in class, in reviewing, systematizing knowledge and in self-study at home to develop students' self-learning ability; conducting experiments in 10 primary classes in 10 primary schools in

Da Nang city to verify the correctness and feasibility of the scientific hypothesis The test of multiple choice and essay is completely objective, processing data by percentage method

The results show that the use of Mind Map in teaching Geography of Grade 5 is very necessary, meeting the needs of teaching innovation, promoting the positive, independent, creative and self-learning of learning born Students absorb lessons faster, more deeply, hold knowledge in a systematic way, relate old and new knowledge in a tight and unforgettable way, train the skills of establishing Mind Map and develop mind creative imagination, and develop students' self-learning ability

In the field of primary education, there has not been any specific research topic on the application of thinking maps in teaching Geography of Grade 5 to promote students' self-learning ability In particular, in front of the requirement of fundamental and comprehensive innovation of primary education, there are also issues of applying mind maps in teaching to promote student capacity is very necessary In the process of implementing the project, we have achieved the following initial results: The theoretical basis of the Mind Map has been studied and systematized, as a basis for teachers to guide students to create and use the Mind Map in teaching Geography of Grade 5 Current status of understanding and using Mind map in teaching of teachers and in learning of 5th grade students Based on the collected data, we analyze to point out the practical basis and necessity of developing and using Mind Map in teaching Geography of Grade 5

We have identified ways to use Mind Map in teaching new knowledge in class, in reviewing, systematizing knowledge and in self-study at home to develop students' self-learning ability; conducting experiments in 10 primary classes in 10 primary schools in Da Nang city to verify the correctness and feasibility of the scientific hypothesis The results that the use of Mind Map in teaching Geography of Grade 5 is very necessary, meeting the needs of teaching innovation, promoting the positive, independent, creative and self-learning Students absorb lessons faster, more deeply, hold knowledge in a systematic way, relate old and new knowledge in a tight and

Trang 9

unforgettable way, train the skills of establishing Mind Map and develop mind creative imagination, and develop students' self-learning ability

Based on the results achieved, we found that the topic could develop in the following directions: Expanding the scope of research for teaching and studing of Geography of Grade

4

Key words: mindmaps; develop self-learning ability; Geography of Grade 5

Supervior’s confirmation Student

Đau Thi Hoa Huynh Thi Khanh Van

Trang 10

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.2 Tác dụng Bản đồ tư duy đối với việc dạy học và việc phát triển

năng lực tự học của học sinh

27

Bảng 1.5 Mức độ sử dụng Bản đồ tư duy trong ghi chép và học tập 28 Bảng 1.6 Tác dụng Bản đồ tư duy đối với việc học tập và phát triển năng

lực tự học của học sinh

29

Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra tiền trắc nghiệm của lớp đối chứng 50 Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra tiền trắc nghiệm của lớp thực nghiệm 50 Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra hậu trắc nghiệm của lớp đối chứng 50 Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra hậu trắc nghiệm của lớp thực nghiệm 51 Bảng 3.5 So sánh kết quả hậu trắc nghiệm của lớp ĐC và TN về mức độ

hiểu biết và khả năng vận dụng Bản đồ tư duy trong học tập của học sinh

52

Bảng 3.6 So sánh kết quả tiền và hậu trắc nghiệm của lớp đối chứng 52 Bảng 3.7 So sánh kết quả tiền và hậu trắc nghiệm của lớp thực nghiệm 53

Bảng 3.9 Điểm trung bình từng chỉ số hành vi cụ thể của 2 nhóm lớp 55 Bảng 3.10 Bảng phân bố mức điểm trung bình của HS thuộc hai nhóm lớp 55 Bảng 3.11 Thống kê điểm số (Xi) của bài kiểm tra 1 tiết nhóm TN và nhóm

ĐC

56

Bảng 3.12 Phân bố tần suất tích luỹ của nhóm TN và nhóm ĐC 57

Bảng 3.14 Kết quả đánh giá của GV về sự phát triển năng lực tự học của

HS

60 Bảng 3.15 Kết quả tự đánh giá của HS về sự phát triển năng lực tự học 60

Trang 12

Hình 2.5 Bản đồ tư duy biểu hiện đặc điểm địa hình Việt Nam 42 Hình 2.6 Bản đồ tư duy biểu hiện đặc điểm thứ nhất của địa

hình

43 Hình 2.7 Bản đồ tư duy biểu hiện đặc điểm 1 và 2 của địa hình 43 Hình 2.8 Bản đồ tư duy biểu hiện 2 nhánh chính của địa hình 44

Trang 13

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Tóm tắt đề tài bằng ngôn ngữ Tiếng Việt và Tiếng Anh

5.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3 5.3 Phương pháp xử lí thông tin 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÊ TÀI NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5 Ở TIỂU HỌC

1.2.1 Khái niệm

1.2.3 Ý nghĩa của Bản đồ tư duy trong dạy học 6

1.2.4 Các ứng dụng của Bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 5 12

Trang 14

b Đối với học sinh 171.2.5 Phần mềm Minmap (Phần mềm vẽ sơ đồ tư duy) 17 1.3.1.2 Cấu trúc của năng lực

1.3.1.1 Khái niệm

1.3.2 Những năng lực của người học trong thế kỉ XXI 19

1.4 Đặc điểm chương trình, sách giáo khoa môn Địa lí lớp 5 và khả năng sử

Trang 15

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ

2.1 Nguyên tắc xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn

2.1.1.3 Sử dụng đường dày cho các nhánh chính 34 2.1.1.4 Tạo hình dạng khác nhau cho các nhánh 35

2.1.2 Nguyên tắc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học 2.2.1.1 Xác định mục tiêu của chương, bài, phần dự kiến

2.2.1.2 Xác định từ khóa và những kiến thức cơ bản của Bản đồ tư duy

37

2.2.1.4 Xác định các kiến thức liên quan cần liên kết 38

2.2.4 Xây dựng một số Bản đồ tư duy để dạy các bài học môn

2.2.4.1 Xác định các nội dung để thành lập Bản đồ tư duy 40 2.2.4.2 Ví dụ minh họa: Vẽ Bản đồ tư duy cho bài Việt

2.3 Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí

2.3.1 Sử dụng Bản đồ tư duy trong việc tổ chức cho học sinh nắm

Trang 16

kiến thức mới ở trên lớp 44

2.3.2 Sử dụng Bản đồ tư duy trong ôn tập, hệ thống hóa kiến thức 47 2.3.3 Sử dụng Bản đồ tư duy trong việc tổ chức cho học sinh tự học

3.2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian thực nghiệm 64

3.3 KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC NGHIỆM

3.3.2.1 Về mức độ hiểu biết và khả năng có thể vận dụng Bản

3.3.2.3 Đánh giá kết quả kiểm tra cuối kì của HS 7

3.3.2.4 Kết quả đánh giá sự phát triển năng lực tự học của HS 76 thông qua bảng tra kiểm quan sát

3.4.2 Kiến nghị, hướng phát triển và ứng dụng của đề tài 79

3.4.2.2 Hướng phát triển và ứng dụng của đề tài 79

Trang 17

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Toàn nhân loại đang bước vào thời kì của sự toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế Đó

là thời kì của sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, kinh tế tri thức, xã hội học tập Để cùng nhân loại tiến lên phía trước, Đảng ta đã xác định thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội

Theo Luật Giáo dục 2009, Tiểu học là cấp học đầu tiên của bậc học phổ thông,

là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Chính vì vậy, cấp học này được Đảng và Nhà nước có sự quan tâm đặc biệt Đối với trường tiểu học, dạy học là hoạt động trọng tâm, xuyên suốt quá trình hoạt động của nhà trường Mặt khác, chất lượng dạy học là vấn đề đặc biệt được nhiều người quan tâm Muốn chất lượng dạy học được đảm bảo thì quá trình dạy học đóng vai trò cực kỳ quan trọng

Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: "Phương pháp giáo dục

phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS" [2] Do đó, vấn đề đổi mới phương

pháp dạy học cần thực hiện theo các định hướng cụ thể: tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy năng lực hình thành tính chủ động, sáng tạo của học sinh

Thay đổi cách tổ chức dạy học sẽ tạo được bước chuyển quan trọng trong việc đạt mục tiêu giáo dục Trong đó, tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát huy năng lực học sinh là rất quan trọng Để đạt được những mục tiêu trên, điều quan trọng nhất của người giáo viên là dạy cho học sinh các phương pháp tự học, tự nghiên cứu và phát triển các năng lực trong quá trình học tập

Môn Địa lí lớp 5 có rất nhiều mối quan hệ chi phối nhau theo cấu trúc dọc và ngang, nếu dạy học đơn thuần là thuyết trình thì học sinh lớp 5 rất khó hiểu, không nhận biết được các mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí trong chương trình học Để hiểu được các mối quan hệ phức tạp này cần sử dụng các phương pháp tích cực, tối ưu

để phát hiện và giải thích các mối quan hệ này, để học sinh phát triển năng lực tự học

Qua nghiên cứu lí thuyết về Bản đồ tư duy chúng tôi thấy Bản đồ tư duy là phương tiện tác động mạnh đến bộ não, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Từ một ý tưởng trung tâm sẽ được phát triển ra thành nhiều nhánh chính, từ các nhánh chính lại phát triển thành nhiều nhánh nhỏ và nhờ sự kết nối giữa các nhánh mà các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa vào mối quan hệ nội bộ của chúng Điều này khiến Bản đồ tư duy có khả năng bao quát các ý tưởng trên một phạm vi sâu, rộng mà một bản liệt kê ý tưởng thông thường không thể làm được Bản đồ tư duy cũng là một phương tiện tác động mạnh đến khả năng làm việc, khả năng tư duy của bộ não

Chính vì vậy, tôi đi sâu nghiên cứu phương pháp xây dựng và sử dụng Bản đồ

tư duy trong dạy học các môn Địa lí lớp 5 nhằm phát triển năng lực học sinh Đây là một trong những phương án tốt, nó giúp người dạy và học đạt được hai mục đích: một

là nâng cao được chất lượng dạy học môn Địa lí trong trường tiểu học Đồng thời, giúp

học sinh phát triển năng lực của bản thân

Trang 18

Trong lĩnh vực giáo dục tiểu học chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể nào về lĩnh vực vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 nhằm phát huy năng lực học sinh Đặc biệt, đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục tiểu học thì còn những vấn đề về vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học nhằm phát huy năng lực học sinh tiểu học

Nhằm góp phần bổ sung và làm phong phú kho tàng lí luận về đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung, đảm bảo chất lượng dạy học tiểu học nói riêng, đồng thời giúp cho việc tổ chức dạy học môn Địa lí lớp 5 có hiệu quả, người giáo viên dạy tiểu học có thêm cơ sở lí luận về dạy học phát triển năng lực học sinh Trên cơ sở đó, đề tài

“Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 5 nhằm phát triển năng lực học sinh” được lựa chọn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề xuất cách sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 nhằm phát huy năng lực của học sinh tại các trường tiểu học ở thành phố Đà Nẵng nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bản

đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học Nghiên cứu thực trạng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 nhằm phát triển năng lực của học sinh

2.2.2 Đề xuất phương pháp xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5

2.2.3 Thực nghiệm các tiết dạy sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí

5 nhằm phát triển năng lực của học sinh ở các trường tiểu học ở thành phố Đà Nẵng

3 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, việc dạy học môn Địa lí lớp 5 chưa phát huy được năng lực học sinh Dạy học theo hướng phát triển năng lực có nhiều giải pháp để phát triển năng lực học sinh

Nếu sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 nhằm phát huy năng lực tự học học sinh thì sẽ phát huy được năng lực tự học của học sinh, đảm bảo chất lượng dạy học tại trường tiểu học, đáp ứng các yêu cầu của mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu giáo dục tiểu học nói riêng

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí

lớp 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp

5 phát triển năng lực tự học của học sinh

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các công trình và các tài liệu khoa học có liên quan đến dạy học môn Địa lí lớp 5 theo hướng hướng phát huy năng lực của học sinh

5.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát việc tổ chức dạy học môn Địa lí lớp 5 ở một

số trường tiểu học

Trang 19

- Phương pháp điều tra thực tiễn: Tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng dạy

học môn Địa lí lớp 5 ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu các báo cáo tổng kết kinh

nghiệm, đánh giá quá trình dạy học môn Địa lí lớp 5 để so sánh, phân tích hiệu quả các biện pháp đề ra

- Phương pháp thử nghiệm: Tổ chức thử nghiệm đánh giá tác động của việc vận

dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 nhằm phát huy năng lực học sinh

5.3 Phương pháp xử lý thông tin

Bằng việc sử dụng công thức thống kê toán học áp dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục với mục đích xử lí các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời để đánh giá mức độ tin cậy của biện pháp đề xuất

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Danh mục công trình đã công bố, Luận án gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bản đồ tư

duy trong dạy học môn Địa lí lớp 5 nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh

Chương 2: Phương pháp xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn

Địa lí lớp 5

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 20

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÊ TÀI NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY

TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5 Ở TIỂU HỌC

1 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Đến giữa thập niên 70, Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền bá kĩ xảo về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục Từ đó đến nay, giáo viên sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học rất phổ biến và đem lại hiệu quả

1.1.2 Ở trong nước

Cho đến thời điểm hiện tại, có một số đề tài nghiên cứu về sử dụng Bản đồ tư

duy trong dạy học ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông Đề tài “Sử dụng sơ

đồ tư duy trong dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Chí Thuận Ở

đề tài, tác giả đã nghiên cứu cách hướng dẫn học sinh có thể hệ thống hóa kiến thức môn Lịch sử bằng sơ đồ Qua đó, giúp học sinh nhìn được tổng thể kiến thức một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ, rút ngắn được thời gian ôn tập củng cố, giúp học sinh hiểu bài, nắm được kiến thức cơ bản và nhớ lâu

Tác giả Nguyễn Đình Tuấn đã nghiên cứu đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy trong

dạy học môn Địa lí lớp 12” Ở đề tài này, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lí luận của việc

sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học, cách sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn Địa

lí ở phần ôn bài cũ, ôn tập kiến thức

Ở cấp tiểu học, tác giả Nguyễn Thương Huyền nghiên cứu đề tài “Sử dụng sơ

đồ tư duy trong dạy học yếu tố hình học cho học sinh tiểu học”

Tuy nhiên, việc vận dụng một số phương pháp dạy học cụ thể trong dạy học môn Địa lí lớp 5 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh thì chưa có tác giả nào nghiên cứu cụ thể Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng bản đồ tư duy trong dạy

học Địa lí lớp 5 nhằm phát triển năng lực tự học học sinh

1.2 Khái quát về bản đồ tư duy

1.2.1 Khái niệm

Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó là "Sắp xếp ý nghĩ" Tuy nhiên, có nhiều khái niệm, nhiều quan điểm khác nhau về Bản đồ tư duy [2]

Tài liệu: "Sử dụng trí tuệ của bạn", của biên dịch Lê Huy Lâm đã định nghĩa: Bản đồ tư duy là phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ

Trang 21

não Đây là cách ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay để phân tích vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh

Tài liệu: "Lập Bản đồ tư duy", của biên dịch Phạm Thế Anh cho rằng: Bản đồ

tư duy là phương pháp dễ nhất để truyền tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó [6]

Tài liệu: "Bản đồ tư duy cho trẻ em", của biên dịch Thanh Huyền lại quan niệm

về Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là một phương tiện ghi chép hiệu quả thể hiện sự "sắp xếp" ý nghĩ của bạn Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong

đó các đối tượng thì liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó các dữ liệu được ghi nhớ, nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn Thay vì dùng chữ viết để miêu

tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều

Quan niệm của nhóm Tư duy mới - New Thinking Group trong cuốn "Sử dụng

bản đồ tư duy trong công việc": Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng, đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn nữa Nhờ sự kết nối giữa các nhánh mà các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa vào mối liên hệ của bản thân các ý Điều này khiến Bản đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê các ý tưởng thông thường không thể làm được [5]

Một số nhà nghiên cứu về lí luận dạy học ở các bộ môn Vật lí, Sinh học cũng quan niệm: Bản đồ tư duy là công cụ xây dựng được một "hình ảnh" thể hiện mối liên

hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo

Tất cả những khái niệm, quan niệm trên về Bản đồ tư duy đều được phát triển trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu hay kiểm nghiệm trực tiếp với công cụ này Tuy cách định nghĩa có khác nhau, nhưng về bản chất đều nêu lên: Bản đồ tư duy là một sơ đồ được xây dựng để ghi lại và để thể hiện những ý chính về một vấn đề nào đó nhằm phục vụ cho việc học tập hoặc công tác của mỗi người Bản đồ tư duy được thể hiện bằng từ ngữ, hình, tranh ảnh, ý tưởng, nhiệm vụ, được liên kết và sắp xếp quanh một

từ, cụm từ, biểu tượng, hình ảnh hoặc một ý tưởng

1.2.2 Đặc điểm cấu trúc của Bản đồ tư duy

Không giống như cách viết thông thường, Bản đồ tư duy không xuất phát từ trái sang phải và từ trên xuống dưới theo kiểu truyền thống Thay vào đó Bản đồ tư duy được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau

đó là theo chiều kim đồng hồ [3]

Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh "Cái cây" ở giữa bản đồ là một ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm Nối với

nó là các nhánh lớn thể hiện các vấn đề liên quan với ý tưởng chính Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được nối kết với nhau Sự liên kết này tạo ra một "bức tranh tổng thể" mô tả

Trang 22

ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Từ đặc điểm trên cho thấy cấu trúc của Bản đồ tư duy gồm các bộ phận sau:

- Từ khóa: nằm ở vị trí trung tâm, từ khóa thể hiện một khái niệm, một chủ đề, một nội dung chính hay một ý tưởng Từ khóa đôi khi không thể hiện bằng chữ viết

mà thể hiện bằng một hình ảnh đặc trưng nhất

Ví dụ: Từ khóa hình bên

- Nhánh chính: đây là những tiêu đề chính hoặc các chủ đề cấp 1 liên quan trực tiếp đến chủ đề, đến khái niệm, đến nội dung từ khóa

Ví dụ: Các nhánh chính của từ khóa hình dưới đây

- Nhánh phụ: xuất phát từ các nhánh chính, tiếp tục phát triển đến các tiểu chủ

đề cấp 2, cấp 3, có liên quan đến nhánh chính

Ví dụ: Các nhánh phụ của nhánh chính 1 hình dưới đây

Trang 23

- Nhánh chi tiết: đây là những nhánh cuối cùng, có nhiệm vụ chứng minh, giải thích hoặc minh họa, làm rõ cho các nhánh phụ Nhánh chi tiết góp phần tạo nên sự hoàn thiện của bức tranh tổng thể

Ví dụ: Các nhánh hỗ trợ và chi tiết của nhánh 1 hình dưới đây

Trang 24

1.2.3 Ý nghĩa của Bản đồ tư duy trong dạy học

Bản đồ tư duy là một công cụ vô giá Đó là một công cụ có giá trị đặc biệt đối với những nhóm đến từ những nền văn hóa, ngôn ngữ và trình độ học vấn khác nhau Bằng cách kết hợp từ khóa với hình ảnh, nó đề cập đến sự đa trí tuệ, làm cho những cuộc đối thoại giao thoa văn hóa trở nên dễ dàng hơn [4]

So với các cách thức ghi chép truyền thống, thì phương pháp bản đồ tư duy có những điểm vượt trội như sau:

- Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng

- Quan hệ hỗ tương giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính

- Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác

- Ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn

- Thêm thông tin (ý) dễ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào bản đồ

- Mỗi bản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ

- Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bất chấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng và linh hoạt cho việc ghi nhớ

- Có thể tận dụng hỗ trợ của các phần mềm trên máy tính

- Bản đồ tư duy là phương tiện để học sinh phát huy năng lực trong quá trình học tập

a Truyền đạt thông tin

Bản đồ tư duy có chức năng truyền đạt thông tin rất tốt Nó có thể chuyển tải một lượng thông tin khổng lồ từ một văn bản viết tay hay một lát cắt của văn bản thành một sơ đồ rất đơn giản nhưng có ý nghĩa quan trọng Thông tin trên Bản đồ tư duy đòi hỏi phải chính xác, ngắn gọn, súc tích, bao hàm toàn bộ nội dung một vấn đề, chúng có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời nhau Thông tin được thể hiện theo từng cấp độ, thứ bậc và có tính minh họa rất tốt Thông tin trong Bản đồ tư duy được trình bày ở dạng thức cô đọng nhất với sự hỗ trợ của hình ảnh, màu sắc

Những tác dụng của Bản đồ tư duy trong truyền đạt thông tin giúp người đọc tiếp cận tri thức một cách hứng thú từ đó hướng tới một phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả

b Hỗ trợ trí nhớ

Trí nhớ được tạo thành bằng cách liên kết từng mảng thông tin với nhau Hay nói một cách cụ thể hơn, việc ghi nhớ một thông tin mới chỉ đơn giản là liên kết thông tin đó với một thông tin khác chúng ta đã biết Bản đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động, đó là liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mối nối liên kết để có thể được tìm thấy

và sử dụng Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó Vì vậy, Bản đồ tư duy hỗ trợ đắc lực cho việc ghi nhớ các kiến thức, đồng thời vận dụng các kiến thức đã học

c Phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề

Phát hiện và giải quyết vấn đề là một trong những cách tiếp cận mới trong lĩnh vực dạy học Mục đích của phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ là việc nắm vững

hệ thống tri thức mà còn là con đường, cách thức chiếm lĩnh tri thức, hình thành tính tích cực, sáng tạo cho người học Với việc lập Bản đồ tư duy giáo viên sẽ giúp sinh viên phát hiện và giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, từ đó chiếm lĩnh tri thức

Trang 25

khoa học, phát triển khả năng tư duy và hình thành thế giới quan học, giúp giáo viên điều chỉnh được hoạt động nhận thức của sinh viên

Bản đồ tư duy cũng giúp người học có được cái nhìn tổng quát và có thể nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ và sự quan trọng của nó Khi đã có được cái nhìn tổng quan về vấn đề đó, người học sẽ dễ dàng tìm ra được cách thức, phương pháp để giải quyết vấn đề một cách tốt nhất

d Hình thành tư duy tổng hợp

Ưu điểm của Bản đồ tư duy là giúp người ta nhìn thấy vấn đề toàn thể hơn, theo một cách nói khác thì Bản đồ tư duy là tư duy hệ thống từ khái quát đến cụ thể hoặc từ chi tiết đến khái quat Mỗi Bản đồ tư duy đều bắt đầu từ hình ảnh hay từ khóa nằm ở vị trí trung tâm và bao quanh là các nhánh rẽ thể hiện mối quan hệ với vấn đề chính Vì thế khi nhìn vào Bản đồ tư duy chúng ta nhanh chóng biết đâu là trọng tâm, những ý nào giải thích cho ý trọng tâm đó Từ đó, cho phép người đọc có được cái nhìn tổng quan về vấn đề đang nghiên cứu

Xuất phát từ vấn đề trung tâm, người học sẽ biết được mức độ quan trọng của từng nhánh rẽ xung quanh Các nhánh rẽ này lại được phân thành những nhánh nhỏ hơn nhằm thể hiện kiến thức ở mức độ sâu hơn Cứ như thế sự phân nhánh được tiếp tục, các kiến thức hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra "bức tranh tổng thể" mô tả ý tưởng một cách đầy đủ và rõ ràng

e Kích thích sự sáng tạo

Bất cứ khi nào chúng ta muốn khuyến khích sự sáng tạo, Bản đồ tư duy sẽ giúp giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự kiện theo dòng, cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo luồng tư duy xuất hiện Khả năng biến suy nghĩ thành ngôn ngữ và hình ảnh sẽ thúc đẩy những kĩ năng suy nghĩ và tăng cường trí thông minh Lợi ích của Bản đồ tư duy không chỉ nằm ở tính ứng dụng thực tế của việc ghi lại những ý tưởng mà còn tăng cường tính thông minh, sáng tạo

Từ trước đến nay, người ta thường cho rằng kiến thức địa lí chỉ cần học thuộc theo từng câu từng chữ trong tài liệu, giáo trình Đây là một quan điểm hoàn toàn sai lầm Cũng như các môn khoa học khác, khoa học Địa lí đi vào tìm hiểu và giải thích các mối quan hệ địa lí đa dạng và phức tạp, rất cần tư duy sáng tạo để giải quyết các mối quan hệ này Bản đồ tư duy là một công cụ, một phương tiện hữu hiệu để phát huy được sự sáng tạo đó Nhìn vào Bản đồ tư duy, người học dễ dàng nhận biết và giải thích được các mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí, nhờ vào cấu trúc đặc biệt của Bản đồ tư duy Vận dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí sẽ mang lại lợi ích đáng

kể về cả mặt phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo

g Tạo hứng thú học tập

Trong học tập, sự hứng thú là động lực quan trọng để tạo ra sự tích cực trí tuệ,

vì vậy, hình thành hứng thú học tập, đó là cơ sở để phát huy tính tích cực của người học

Một lí do khiến vẽ Bản đồ tư duy trở thành một phương pháp học tốt cho mọi lứa tuổi là vì nó đã làm cho việc học trở nên thú vị hơn và bổ ích hơn Quá trình vẽ, sử dụng hình ảnh, kí hiệu, màu sắc và việc khuyến khích ghi lại những ý tưởng theo cách đặc biệt là một cơ hội để thư giãn trước việc quá tải thông tin trên giấy hoặc trên màn hình máy tính Vẽ Bản đồ tư duy là cách tốt nhất để phân loại cảm xúc, suy nghĩ, giảm bớt sự căng thẳng Nếu sử dụng Bản đồ tư duy thì kiến thức được truyền tải bằng hình ảnh, từ khóa, sự liên kết và cả những yếu tố khác như màu sắc, hình dạng, kích thước

Trang 26

làm cho những điều quan trọng được nổi bật lên chắc chắn rằng sẽ thu hút sự tập trung của học sinh

h Tiết kiệm thời gian

Từ trước tới nay với cách ghi chép thông tin bằng các kí tự, đường thẳng, con

số thì chúng ta mới chỉ sử dụng nửa bộ não - não trái, mà chưa hề sử dụng kĩ năng nào bên não phải - nơi giúp chúng ta xử lí các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian

và sự mơ mộng Cách ghi chép của Bản đồ tư duy không chỉ sử dụng kí tự, con số mà còn sử dụng cả màu sắc, hình ảnh nên đã huy động tối đa khả năng của bộ não Lập Bản đồ tư duy bằng việc lựa chọn hình ảnh biểu trưng và những từ ngữ quan trọng thể hiện nội dung chính của vấn đề rồi liên kết chúng lại với nhau một cách rõ ràng, hợp lí

sẽ giảm lượng thời gian đáng kể Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh sáng tạo, một khối lượng lớn kiến thức, có thể được ghi chú hết sức cô đọng trong một trang giấy, mà không bỏ sót bất kì một thông tin quan trọng nào Như vậy, chúng ta đã

có thể tiết kiệm được 60 - 80% thời gian học một cách hiệu quả

1.2.4 Các ứng dụng của Bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 5

Những ứng dụng của Bản đồ tư duy bao gồm việc phân tích, giải quyết vấn đề, ghi nhớ, viết luận, quản lý và hội họp trong phạm vi cá nhân, gia đình, trong các lĩnh vực kinh doanh, giáo dục và các lĩnh vực chuyên môn khác

Trong giáo dục, Bản đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập tại các trường học cả phổ thông cũng như ở các bậc cao hơn vì ý nghĩa to lớn của

nó Trong Bản đồ tư duy tri thức được thể hiện rõ ràng, lô gic, sáng tạo ở cả 2 mạch:

Từ khái quát đến cụ thể và từ cụ thể đến khái quát Học tập thông qua Bản đồ tư duy tăng cường khả năng ghi nhớ và khả năng sáng tạo, đưa ra ý tưởng mới Sau đây là một số ứng dụng cụ thể của Bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 5

a Đối với giáo viên

* Lập kế hoạch làm việc: Lập kế hoạch là một trong những nguyên tắc cơ bản

nhất để quản lí thời gian một cách hiệu quả

Giáo viên có thể dùng Bản đồ tư duy để lập kế hoạch giảng dạy, kế hoạch chủ nhiệm cho một năm học, một học kì, một tháng hay kế hoạch cho một tuần cụ thể Dùng Bản đồ tư duy lập kế hoạch năm học giúp giáo viên có cái nhìn tổng quát về chương trình học cũng như các chương trình hoạt động ngoài giờ khác như văn nghệ, thể thao, dã ngoại, các hội thi

Bản đồ tư duy về một kế hoạch cụ thể nếu được tổ chức sắp xếp khoa học thì không những sẽ giúp cho giáo viên biết rõ ràng về những việc đã, đang và sẽ làm, còn rất thuận tiện khi muốn bổ sung một công việc mới vì không cần phải xóa bỏ cả sơ đồ

Bản đồ tư duy là công cụ lý tưởng cho việc giảng dạy và trình bày các khái niệm trong lớp học Bản đồ tư duy giúp giáo viên tập trung vào vấn đề cần trao đổi cho người học, cung cấp một cái nhìn tổng quan về chủ đề mà không có thông tin thừa Học sinh sẽ không phải tập trung vào việc đọc nội dung trên màn hình,thay vào đó sẽ lắng nghe những gì giáo viên diễn đạt Hiệu quả giảng bài sẽ được tăng lên

* Tổ chức dạy học ở trên lớp:

Bản chất của tổ chức dạy học tích cực là tạo ra được những hoạt động chủ động của người học - về thực chất là tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức

Tổ chức dạy học bằng phương pháp xây dựng bản đồ tư duy hoặc sử dụng bản

đồ tư duy thể hiện được nhiều đặc điểm của quá trình học tích cực, đó là:

Trang 27

- Giúp học sinh tập trung chú ý vào nhiệm vụ học tập mà người giáo viên đề ra

- Tự giác tham gia vào xây dựng Bản đồ tư duy, tích cực suy nghĩ, trao đổi, thảo luận để phân tích bản đồ

- Có nhiều sáng tạo trong xây dựng Bản đồ tư duy

- Hiểu bài và trình bày kiến thức đã hiểu theo cách riêng của mình

- Biết vận dụng những tri thức đã biết vào quá trình giải quyết vấn đề trên Bản

đồ tư duy

- Tạo hứng thú học tập cho người học

Trong dạy học đại học hiện nay nhiều giáo viên đã sử dụng phương pháp Bản

đồ tư duy để tổ chức dạy học theo hướng tích cực và đã thu được những kết quả khả quan

* Tổ chức hoạt động nhóm:

Trong hoạt động nhóm, nhất là thảo luận nhóm sử dụng phương pháp Bản đồ tư duy cũng có nhiều hiệu quả, nhiều giáo viên đã sử dụng để tổ chức cho sinh viên hoạt động nhóm

Bản đồ tư duy chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi

cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của Bản đồ tư duy và tổng quan toàn bộ kết quả của nhóm ra sao Điều này giúp tiết kiệm thời gian làm việc trong nhóm do các thành viên không mất thời gian giải thích ý tưởng của mình thuộc ý lớn nào Trong quá trình thảo luận nhóm có rất nhiều ý kiến, trong khi đó mỗi người luôn giữ ý kiến của mình, không hướng vào mục tiêu đã đề ra dẫn đến không rút ra được kết luận cuối cùng Sử dụng Bản đồ tư duy sẽ khắc phục được những hạn chế đó, bởi Bản đồ tư duy tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đều suy nghĩ tập trung vào một vấn đề chung cần giải quyết, tránh được hiện tượng lan man và đi lạc chủ đề Bản đồ tư duy còn tạo nên sự cân bằng giữa các cá nhân và cân bằng trong tập thể Mọi thành viên đều đóng góp ý kiến và cùng nhau xây dựng Bản đồ tư duy của cả nhóm Các thành viên tôn trọng ý kiến của nhau và các ý kiến đều được thể hiện trên Bản đồ tư duy [8]

* Hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu

Để giúp học sinh tự học, tự nghiên cứu một cách tích cực và sáng tạo, một trong những phương pháp mà người giáo viên sử dụng một cách có hiệu quả là cho những bài tập nghiên cứu và trình bày nội dung nghiên cứu bằng Bản đồ tư duy, hoặc phân tích một Bản đồ tư duy

Thông qua phương pháp này, giáo viên khuyến khích sinh viên tự lực khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết Tham gia vào các hoạt động học tập, học sinh được đặt vào các tình huống, trực tiếp quan sát, làm việc với các nguồn tri thức để đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách riêng của mình Qua đó sinh viên không những chiếm lĩnh được kiến thức, rèn luyện được kĩ năng mà còn làm chủ được cách thức xây dựng kiến thức, bộc lộ được tính tự chủ và sáng

b Đối với học sinh

Bản đồ tư duy được sử dụng để ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học và đưa ra các ý tưởng

Đối với học sinh, mỗi cá nhân có thể sử dụng Bản đồ tư duy để ghi chép, hệ thống hóa thông tin, kiến thức Do đó, học sinh có thể sử dụng bản đồ tư duy trong

Trang 28

việc tìm hiểu bài mới, hoàn thành các nhiệm vụ cá nhân, nhóm, tự ôn bài, học bài ở nhà

Mục đích của ghi chép là ghi lại những thông tin đã được cung cấp hoặc đã biết nhằm tăng cường khả năng ghi nhớ Những bài ghi chép, nếu chỉ là những từ, cụm từ dài, lan man sẽ hạn chế nhiều trong quá trình ôn tập, ghi nhớ, các kiến thức không thể hiện được các mối liên hệ, hơn nữa nếu ghi chép như vậy sinh viên ít có cơ hội bổ sung những ý tưởng của mình

Lập Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép hiệu quả hơn rất nhiều Kĩ thuật ghi chép này cho phép học sinh nhanh chóng ghi lại các ý tưởng bằng các từ khóa, các chủ

đề, sắp xếp một cách cơ bản thông tin khi nó được truyền tải và cho sinh viên cơ hội

để hình thành những mối liên hệ và liên tưởng Sinh viên cũng có thể tham gia vào bài học bằng cách bổ sung những suy nghĩ, quan điểm và cảm nghĩ của chính mình

Khi sử dụng Bản đồ tư duy để học bài mới hoặc khi tự học nếu học sinh sử dụng Bản đồ tư duy giúp sinh viên phát triển tư duy lô gic, tư duy sáng tạo Khi học bài, nếu học sinh chuyển tải nội dung bài học thành Bản đồ tư duy, sẽ giúp học sinh phát huy cao độ quá trình làm việc của bộ não để lựa chọn những vấn đề cơ bản và sắp xếp các vấn đề theo các mạch tri thức lô gic từ khái quát đến cụ thể theo hướng giải quyết vấn đề mà bản thân suy nghĩ Từ việc lựa chọn từ khóa, Bản đồ tư duy tự động loại bỏ những từ ngữ không quan trọng và đưa ra sự sắp xếp sơ bộ thông tin được tiếp nhận Để rút ra các từ then chốt, sinh viên cần phải chú ý và tham gia vào bài học, qua

đó nắm được nội dung cơ bản của bài học, tăng khả năng hiểu bài và ghi nhớ của học sinh

Như vậy, ưu điểm của Bản đồ tư duy là đem đến cho học sinh những lợi ích cụ thể trong quá trình học tập: nắm được nội dung cơ bản của bài học, hệ thống nội dung kiến thức và biểu thị bằng sơ đồ, ghi nhớ nội dung học tập một cách sâu sắc, rèn luyện

kĩ năng lập dàn bài khi đọc tài liệu Có thể sẽ gặp khó khăn lúc đầu khi tập cho học sinh xây dựng Bản đồ tư duy, nhưng dần dần khi đã hình thành thói quen, học sinh sẽ rất thích thú sử dụng trong học tập, và hình thành thói quen làm việc sau này từ việc nắm vững vấn đề, biểu thị bằng sơ đồ vận hành các biện pháp giải quyết Bản đồ tư duy càng có tác dụng nếu học sinh sử dụng cho những bài ôn tập, tổng kết chương

Tóm lại, sử dụng thành thạo và hiệu quả Bản đồ tư duy trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp dạy của giáo viên Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy, phát triển năng lực tự học Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một Bản đồ tư duy thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức [8]

1.2.5 Công cụ hỗ trợ vẽ bản đồ tư duy

Một Bản đồ tư duy có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các loại bút màu khác nhau Tuy nhiên, cách thức này có nhược điểm là khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để tạo ra Bản đồ

tư duy Dưới đây là một số phần mềm hỗ trợ vẽ bản đồ tư duy:

a Free Mind

FreeMind là tiện ích hỗ trợ vẽ sơ đồ tư duy hoàn toàn miễn phí và đầy đủ tính năng, đặc biệt là rất gọn nhẹ FM được phát triển bằng Java, nên có thể tương thích với mọi hệ điều hành thông dụng, có cài đặt Java 1.4 trở lên

Trang 29

b Edraw Mind Map

Edraw Mind Map là chương trình nhỏ và miễn phí nhưng rất tiện dụng trong

việc phát thảo các sơ đồ tiến trình, tiến độ, kế hoạch công tác hay phương cách

giảiquyết một vấn đề, nhờ có sẵn 600 mẫu biểu đồ và biểu tượng cùng nhữngcông cụ

vẽ dễ dùng

Trong số các phần mềm thuộc loại “mind map”, tức sơ đồ mô tả ý tưởng của mình về một phương pháp giải quyết vấn đề, phân tích sự kiện, lấy quyết định thì EDraw Mind Map là một ứng dụng mới ra đời nên hội tụ được những ưu điểm của những phần mềm đi trước, dung lượng khá nhỏ gọn và hấp dẫn nhất là miễn phí Không chỉ lập bản đồ tư duy, Edraw MindMap còn giúp ta tạo ra các hình minh họa, bản vẽ để chèn vào trong tài liệu của mình, họa đồ kiến trúc, bản đồ, bản vẽ kỹ thuật,…

Một tính năng rất hay của EDraw Mind Map là cho phép nhúng vào bản vẽ các thành phần như văn bản Word, bảng tính và biểu đồ Excel, các công thức toán học Equation nằm trong bộ MS Office,… Edraw MindMap cho phép ta xuất bản tài liệu ra nhiều định dạng khác nhau như cá định dạng ảnh phổ biến bmp, jpg, png, tif, định dạng pdf, html, svg,…

c Mindjet MindManager Pro

Đây là phần mềm khá là nhẹ, chạy nhanh, ít tốn RAM (nhất là bản 7.0)

Giao diện rất giống Office với các Ribbon và Tab nên rất dễ tìm các nút lệnh Dễ sử dụng, mọi người có thể thể yên tâm nếu khả năng tin học còn hạn chế Có hệ thống icon và image sẵn rất tiện, nếu ta muốn minh họa các nhánh trên sơ đồ (mấy cái hình này có điểm rất hay là khi kéo to ra cũng không bị mờ) Ngoài ra, các icon và image rất dễ kéo – thảbằng chuột khi muốn điều chỉnh vị trí trên nhánh so với chữ

Dễ export ra các định dạng (với nhu cầu của sinh viên chắc chỉ cần 2 định dạng pdf và jpg là đủ)

Buzan’s iMindMap là một công cụ sáng tạo mang lại sự linh hoạt,thân thiện thị giác và tư duy của não Là công cụ duy nhất được chính thức xác nhận bởi Tony Buzan, người phát minh của MindMap, nó cho phép ta lập kế hoạch công việc, tạo liên kết hệ thống kiến thức giúp hỗ trợ dạy học, hỗ trợ giao tiếp, giải quyết vấn đề,… IMindMap là phần mềm hỗ trợ tạo Bản đồ tư duy được tạo ra bởi Tony Buzan Bản đồ tư duy được ứng dụng để hỗ trợ trong việc học tập, nghiên cứu và nhiều lĩnh vực khác nhằm phát huy tính tích cực trong tư duy trí não, đưa ra các ý tưởng và sắp xếp chúng dưới dạng một sơ đồ tư duy; giúp con người khai thác và hiện thực ý tưởng tốt hơn

Trang 30

IMindMap giúp phác họa quá trình tư duy, nhận thức, ghi nhớ, phân tích bằng hình ảnh và ký tự; là một dạng bản đồ kết hợp giữa hình ảnh và màu sắc, đi kèm với việc sử dụng các từ khóa để thể hiện mối liên kết giữa các ý tưởng

IMindMap giúp thiết kế bản đồ trong không gian 3D với hình vẽ mang tính nghệ thuật, kèm chú thích, đường dẫn, tập tin và bình luận để biểu diễn thông tin trực quan;

có thể xuất bản đồ ra nhiều file định dạng khác nhau như: PDF, JPEG

IMindMap có sẵn hàng trăm mẫu hình ảnh có sẵn, người sử dụng cần lựa chọn một hình ảnh phù hợp cho các ý tưởng trung tâm đến các nhánh con khác nhau

Hiện nay, phần mềm đã và đang được sử dụng nhiều trong các tổ chức lớn: NASA, Walt Disney, Microsoft, Pepsi, IBM Những tính năng chính: sử dụng những hình ảnh cần thiết; tạo trung hình ảnh, nội dung tổng quát; sử dụng các màu sắc

để làm nổi bật vấn đề mà bạn quan tâm; vẽ sơ đồ nhanh chóng và dễ dàng

IMindMap là phần mềm giúp người sử dụng vẽ Bản đồ tư duy trên máy vi tính một cách nhanh chóng, dễ dàng, tiện lợi Đưa các ý tưởng của bạn vào khu bản đồ tư duy, phát triển và tổ chức chúng trong iMindMap một cách trực quan Đó là một quá trình đổi mới hoàn toàn cho các nhà tư tưởng sáng tạo những người muốn kết quả, chứ không phải hệ thống quản lý dự án phức tạp và cồng kềnh

Một số tính năng chính của phần mềm IMindMap:

- Kỹ thuật vẽ chuyên nghiệp

- Có rất nhiều tùy chọn hình ảnh mà người dùng có thể lựa chọn

- Xuất ra nhiều định dạng khác nhau như PDF, JPEG… để chia sẻ với bạn bè

- Sử dụng các màu sắc để làm nổi bật vấn đề mà bạn quan tâm

- Giao diện trực quan giúp vẽ sơ đồ tư duy một cách nhanh chóng và dễ dàng Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chọn phần mềm IMindMap để hướng dẫn học sinh cài đặt trên máy và vẽ bản đồ tư duy phục vụ trong dạy và học môn Địa lí lớp 5

1.3 Năng lực và dạy học phát triển năng lực

1.3.1 Khái niệm và cấu trúc của năng lực

a Khái niệm

Năng lực là một phạm trù được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực

là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào

đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”

Đứng về góc độ tâm lý học, năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động mới nào đó Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau Năng lực gắn

bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách

Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định

Trang 31

Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành

vi nhất định” Còn A.N.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”

Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng

và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích

Trong các giáo trình tâm lý học các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm

về năng lực Trong đó đa số đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ

Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý

cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một

hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn

Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên có thể định nghĩa như sau: Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức

và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống

Như vậy, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói về một lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy… Năng lực của học sinh là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội [15]

b Cấu trúc của năng lực

Trang 32

Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau

- Nhóm năng lực chung bao gồm:

• Khả năng hành động độc lập thành công

• Khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ

• Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất

- Nhóm năng lực chuyên môn liên quan đến từng môn học riêng biệt:

Sử dụng các ký hiệu, công thức, các yêu tố thuật

1.3.2 Những năng lực của người học trong thế kỉ XXI

Năng lực cốt lõi là những năng lực cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả trong nhiều loại hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội Đó là những năng lực chung cần thiết cho mọi người Trên cơ sở phân tích đặc điểm kinh tế

- xã hội của thế kỉ 21, chúng tôi xác định hệ thống 11 năng lực chung cần có ở HS phổ thông Việt Nam trong thế kỉ XXI:

Năng lực Đọc - Viết: HS phải có năng lực sử dụng cả ngôn ngữ đọc, viết và

nói để thể hiện và diễn giải các khái niệm, suy nghĩ, cảm xúc, các sự kiện và quan điểm/ý kiến một cách tự tin, rõ ràng và súc tích Bên cạnh đó, các em phải biết sử dụng ngôn ngữ có hiệu quả trong giao tiếp với người khác và tham gia vào đời sống

xã hội HS phải biết nghe, đọc, nhìn thấy, nói, viết và sáng tạo bằng lời, viết ra những bài học bằng thị giác hoặc số hóa, sử dụng, chỉnh sửa ngôn ngữ phù hợp với những mục đích và trong các ngữ cảnh khác nhau Các em cần phải biết đặt câu hỏi, phân tích các tình huống, giải thích và minh họa kết quả…

Năng lực Tính toán: HS phải có kiến thức và kĩ năng sử dụng toán học một

cách tự tin thông qua toàn bộ các lĩnh vực học tập trong nhà trường và trong cuộc sống của chúng HS thừa nhận và hiểu vai trò của toán học trong đời sống và có thái

độ, cũng như năng lực sử dụng kiến thức và kĩ năng toán có mục đích Các em cần phải biết áp dụng những khái niệm toán và khoa học vào việc giải những bài toán mới trong học tập và cuộc sống, biết áp dụng những qui tắc, định lý và phép tính vào cuộc sống hàng ngày

Năng lực Tự học: Đây được xem là ưu tiên chủ yếu, cốt lõi mà giáo dục cần

phải hướng đến hình thành ở HS trong quá trình học ở trường – “học cách học” phải là một trong những mục đích hàng đầu của GD nhà trường Đó là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập của cá nhân một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập và nỗ lực phấn đấu thực hiện; lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nền nếp; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; …

Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông: HS cần phải hiểu những tiềm

năng to lớn cũng như những hạn chế của những công nghệ dựa vào máy vi tính Tất cả

HS cần phải có những kỹ năng cần thiết để đánh giá các kho thông tin mà khả năng máy tính ngày nay có thể xử lí được HS phải có khả năng sử dụng thiết bị kỹ thuật

Trang 33

số, máy tính, phần mềm… để tìm kiếm thông tin phù hợp, phục vụ có hiệu quả cho các lĩnh vực học tập ở nhà trường, và trong cuộc sống của các em ở ngoài trường học Năng lực CNTT đòi hỏi HS phải biết quản lí thông tin, sử dụng thông tin một cách có phê phán và chọn lọc, khả năng đánh giá tài nguyên, độ tin cậy, chính xác và giá trị của thông tin mang lại và hạn chế những rủi ro đối với chính các em và những người khác trong môi trường số…

Năng lực tư duy phản biện: HS phát triển năng lực tư duy phản biện bởi vì các

em học để phát triển và đánh giá kiến thức, làm rõ những khái niệm và ý tưởng, tìm kiếm các khả năng, quan tâm đến những phương pháp thay thế, giải quyết vấn đề và ra quyết định, phát triển lập luận và sử dụng các minh chứng chứng minh cho lập luận của mình Tư duy phản biện đòi hỏi HS suy nghĩ rộng và sâu hơn khi sử dụng các kĩ năng, hành vi và thái độ như lập luận, logich, trí tưởng tượng và sáng tạo trong tất cả các lĩnh vực học tập ở trường học và trong cuộc sống của chúng ở ngoài nhà trường

Năng lực sáng tạo: HS phải có khả năng đưa ra ý tưởng nào đó là mới đối với

cá nhân, xử lí các tình huống hiện hành với một phương pháp mới, nhận biết những giải thích khác, thiết lập các mối liên hệ và tìm ra các cách thức mới nhằm vận dụng những ý tưởng để tạo ra được kết quả tích cực Sáng tạo đòi hỏi những đặc điểm như

tư duy linh hoạt, mềm dẻo, tâm hồn phóng khoáng, khả năng thích ứng và sẵn sàng thử nghiệm các phương pháp mới và tạo ra sản phẩm độc đáo, thích làm những việc đòi hỏi phải suy nghĩ, tìm tòi…

Năng lực giải quyết vấn đề: HS phải có khả năng phát hiện và nêu được các

tình huống có vấn đề xảy ra trong học tập và cuộc sống; phân tích, tiên lượng được diễn biến có thể xảy ra khi giải quyết vấn đề theo những cách khác nhau và xử lí được các tình huống xảy ra trong cuộc sống, trong học tập… cũng như thấy trước được những khó khăn nảy sinh và tìm cách để vượt qua;

Năng lực giao tiếp: HS phải có khả năng lựa chọn mục đích, nội dung, cách

thức và thái độ giao tiếp phù hợp với đối tượng và bối cảnh khác nhau Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, HS phải biết giao tiếp với những người thuộc các nền văn hoá khác nhau thông qua hình thức và phương tiện giao tiếp đa dạng giúp cho việc mọi người hiểu lẫn nhau và dẫn tới các quan hệ xã hội thân thiện và tốt đẹp hơn Các em phải biết lắng nghe/ phản hồi tích cực, thể hiện sự tôn trọng, thiện chí, cảm thông với người khác trong giao tiếp…

Năng lực hợp tác: HS phải có khả năng làm việc hòa thuận với người khác để

giải quyết các vấn đề nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên và góp phần vào mục đích chung; nhận rõ và chấp nhận vai trò của cá nhân và tập thể, có tinh thần trách nhiệm, có mối quan hệ với cá nhân và nhóm khác nhau, nhận biết được sức mạnh của các thành viên trong nhóm và xây dựng được các mối quan hệ XH tích cực…

Năng lực làm chủ bản thân: HS phải có khả năng tự nhận thức được bản thân

như xác định điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức… hay xác định giá trị bản thân; phải làm chủ được bản thân bằng cách tự đặt mục tiêu, quản lý thời gian, hành

vi và kế hoạch của cá nhân, dám nhận trách nhiệm về hành vi và việc thực hiện của mình; biết học từ những thành công và thất bại; nhận biết và điều tiết cảm xúc, xây dựng mối thiện cảm và hiểu người khác, thiết lập các mối quan hệ tích cực, đưa ra những quyết định có trách nhiệm, làm việc hiệu quả trong nhóm và giải quyết các xung đột mang tính xây dựng HS phải biết tự đánh giá, tự điều chỉnh được hành động của bản thân trong học tập và cuộc sống hàng ngày, thích nghi với sự thay đổi…

Trang 34

Năng lực công dân: Năng lực công dân bao gồm năng lực cá nhân, liên nhân

cách, liên văn hóa và gồm tất cả các dạng hành vi trang bị cho cá nhân tham gia theo cách có hiệu quả và mang tính xây dựng vào cuộc sống xã hội và công việc, đặc biệt trong xã hội ngày càng đa dạng và trong việc giải quyết mâu thuẫn khi cần Năng lực công dân trang bị cho cá nhân tham gia đầy đủ vào cuộc sống công dân dựa trên những kiến thức về khái niệm và cấu trúc xã hội và chính trị, và cam kết tham gia tích cực và dân chủ HS phải biết tôn trọng kỷ cương, tôn trọng sự cam kết vàhHành động có trách

nhiệm và đạo đức Các em phải tham gia tích cực các hoạt động xã hội – cộng đồng

dựa trên một lợi ích hay văn hoá chung, đồng thời phải biết giữ gìn bản sắc văn hoa

dân tộc, nhận thức và nhạy cảm với các vấn đề văn hóa xã hội…

1.3.3 Những năng lực của học sinh tiểu học

Việc dạy học định hướng phát triển năng lực về bản chất không thay thế mà chỉ mở rộng hoạt động dạy học hướng nội dung bằng cách tạo một môi trường, bối cảnh cụ thể để HS được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái độ của mình Như vậy việc dạy học định hướng phát triển năng lực được thể hiện ở các trong các thành tố quá trình dạy học như sau:

- Về mục tiêu dạy học

- Về phương pháp dạy học

- Về nội dung dạy học

- Về kiểm tra đánh giá

Trong chương trình giáo dục phổ thông ở một số nước, việc phát triển năng lực cho học sinh THPT đã được đề cập:

- Các chương trình giáo dục của Đức thống nhất đưa ra 4 năng lực cần hình thành cho học sinh như sau: Năng lực chuyên môn; năng lực phương pháp; năng lực

xã hội; năng lực cá nhân [13]

- Năng lực của học sinh phổ thông do tổ chức OEDC đề nghị gồm:

Năng lực GQVĐ, năng lực xã hội, năng lực linh hoạt sáng tạo, năng lực sử dụng thiết

bị một cách thông minh

- Năng lực của học sinh phổ thông của một số nước như Australia được yêu cầu trong chương trình giáo dục bao gồm: Năng lực đọc hiểu, năng lực làm toán, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ứng dụng CNTT

Theo quy định của Thông tư 22 về đánh giá học sinh Tiểu học Năng lực của học sinh tiểu học gồm 3 nhóm chính: Năng lực tự phục vụ, tự quản; năng lực hợp tác; năng lực tự học và giải quyết vấn đề [1]

STT Các biểu hiện cụ thể được quan sát ở từng năng lực

I Tự phục vụ, tự quản

1 HS tự vệ sinh thân thể, ăn, mặc gọn gàng sạch sẽ

2 HS tự chuẩn bị đồ dùng học tập cá nhân ở trên lớp, ở nhà

3 HS tự giác hoàn thành công việc được giao đúng hạn

4 HS chủ động khi thực hiện các nhiệm vụ học tập

Trang 35

5 HS tự sắp xếp thời gian học tập, sinh hoạt cá nhân, vui chơi hợp lí

6 HS tự sắp xếp thời gian làm các bài tập theo yêu cầu của giáo viên

II Hợp tác

7 HS có kĩ năng giao tiếp, sẵn sàng giúp đỡ các bạn

8 HS tích cực tham gia vào các công việc ở nhóm/ tổ

9 HS dễ làm quen, dễ dàng kết bạn

10 HS biết nói lời cảm ơn khi người khác giúp mình một điều gì đó

11 HS tích cực, tự giác hoàn thành công việc được nhóm giao đúng hẹn

12 HS lắng nghe và dễ dàng thỏa thuận với các bạn trong nhóm

III Tự học và giải quyết vấn đề

13 HS tự thực hiện được các nhiệm vụ học tập cá nhân, học tập theo nhóm

14 HS tự giác, chủ động hoàn thành các bài tập được giao đúng hẹn

15 HS tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập để điều chỉnh việc học

16 HS vận dụng điều đã học để giải quyết các vấn đề trong học tập

17 Để giải quyết một vấn đề, HS thường cố gắng đến cùng

18 HS chủ động nghĩ ra những cách khác nhau để giải quyết vấn đề

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi đi sâu nghiên cứu về năng lực tự học

1.3.4 Năng lực tự học

Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp Nó bao gồm

kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học

có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra Năng lực tự học là sự bao hàm cả cách học, kỹ năng học và nội dung học

Năng lực tự học là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau Năng lực tự học là những thuộc tính tâm lí mà nhờ đó chúng ta giải quyết được các vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất, nhằm biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu của riêng mình

Năng lực tự học là một khái niệm trừu tượng và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố Trong nghiên cứu khoa học, để xác định được sự thay đổi các yếu tố của năng lực tự học sau một quá trình học tập, các nhà nghiên cứu đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của năng lực tự học được bộc lộ ra ngoài

Năng lực tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân Tuy nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường văn hóa – xã hội năng lực tự học là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những

ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn

Trang 36

Thời gian mỗi chúng ta ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì

vậy tự học và năng lực tự học của học sinh sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết

định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính là nền

tảng để các em tự học suốt đời

Như vậy: Năng lực tự học là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một

cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu

thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn

chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời

góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học

tập

Kỹ năng tự học của HS được hiểu đó là những việc làm, hành động, thao tác cụ

thể của các em trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Con đường tích lũy, thu thập cũng

phải tuân theo những quy định phù hợp, tránh tùy tiện Muốn được như vậy, người học

phải được rèn luyện một số kỹ năng tự học quan trọng Đó là kỹ năng định hướng, tìm

kiếm thông tin, xác định tài liệu, tìm tài liệu, lựa chọn tài liệu, đọc tài liệu, ghi chép tài

liệu, phân tích tài liệu, sử dụng tài liệu… Đứng trước các nguồn tư liệu, thông tin

phong phú, đa dạng người học phải biết lựa chọn những tư liệu, thông tin phù hợp, cốt

lõi nhất, gắn với yêu cầu học tập của mình, giúp cho việc học tập có kết quả hữu hiệu

Với thông tin trên mạng, người học cũng cần được trang bị tri thức nhất định (về

đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước; về pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ…) để

không bị những thông tin xấu không đúng với bản chất của sự vật, hiện tượng làm rối

nhiễu, sai lạc cách tiếp nhận của mình Điều này là vô cùng quan trọng Ngoài ra,

trong số các kỹ năng HS cần được rèn luyện, kỹ năng sử dụng CNTT là một kỹ năng

quan trọng Đồng thời, xuyên suốt các yêu cầu đối với hoạt động tự học nhằm đạt

được một năng lực nhất định, người học cần có các phẩm chất, đức tính như cần cù,

chăm chỉ, không ngại khó khăn, có ý thức vượt khó khăn, có nhu cầu tìm hiểu, khám

phá cái mới của tri thức [15]

a Cấu trúc của năng lực tự học

Trong đề tài nghiên cứu chúng tôi tập trung đi sâu các thành tố 4 của năng lực

tự học, các tiêu chí của mỗi thành tố và các mức độ của mỗi tiêu chí chúng được thể

hiện qua bảng sau:

- Không xác định được mục tiêu môn học, nhiệm vụ học tập

- Xác định mục tiêu môn học, nhiệm vụ học tập nhưng chưa

rõ ràng, chưa đầy

đủ

- Xác định được mục tiêu môn học, nhiệm vụ học tập

Trang 37

vụ đúng thời gian

- Không lập kế hoạch học tập, không hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao

- Lập được kế hoạch học tập và hoàn thành nhiệm

vụ chưa đúng thời gian, thực hiện kế hoạch chưa thường xuyên

- Lập được kế hoạch học tập và hoàn thành nhiệm

vụ cá nhân

- Không tự giác hoàn thành các nhiệm vụ cá nhân

các nhiệm vụ cá nhân nhưng phải có

sự nhắc nhở

- Tự giác hoàn thành các nhiệm

vụ cá nhân đúng thời gian

- Tích cực tham gia các hoạt động học

- Không tích cực tham gia các hoạt động học

- Tham gia các hoạt động học nhưng chưa chủ động, thiếu tích cực

- Tích cực tham gia các hoạt động học

- Tìm tòi, mở rộng kiến thức

- Trình bày thắc mắc; tham gia tranh luận, chia sẻ

về nội dung bài học

- Không tìm tòi, mở rộng kiến thức

- Không có thắc mắc, không tham gia chia sẻ về nội dung bài học

- Tìm tòi, mở rộng kiến thức

- Có thắc mắc; tham gia tranh luận, phát biểu, chia sẻ về nội dung bài học nhưng chưa tích cực

- Luôn chủ động tìm tòi, mở rộng kiến thức

- Nêu thắc mắc; tham gia tranh luận, chia sẻ về nội dung bài học

để làm các bài tập, giải thích vấn

đề thực tế

năng lực vận dụng kiến thức đã học vào thực tế

- Vận dụng được kiến thức đã học

để làm các bài tập, giải thích vấn đề thực tế nhưng chưa đầy đủ

tốt kiến thức đã học để làm các bài tập, giải thích vấn đề thực tế

- Không đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra; chưa đánh giá được kết quả học tập; chưa

có biện pháp điều chỉnh

- Đánh giá được kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra;

đánh giá được kết quả học tập nhưng chưa có biện pháp điều chỉnh

- Đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra; đánh giá được kết quả học tập;

đề ra được biện pháp điều chỉnh phù hợp

b Biểu hiện của năng lực tự học

Để phát triển năng lực tự học cần phải xác định các biểu hiện của năng lực đó,

- Nhóm đặc điểm bên ngoài: Chính là phương pháp học nó chứa đựng kĩ năng

học tập cần phải có của người tự học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá

trình học, do đó phương pháp dạy của GV sẽ có tác động rất lớn đến phương phương

pháp học của trò, tạo điều kiện để hình thành, phát triển và duy trì năng lực tự học

Trang 38

- Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách): được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối nhiều bởi yếu tố tâm lí Chính vì điều đó người dạy nên tạo mội trường để người học được thử nghiệm

và kiểm chứng bản thân, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học

Năng lực tự học được biểu hiện thông qua:

1.4.1 Đặc điểm chương trình, Sách giáo khoa môn Địa lí lớp 5

a Đặc điểm chung của chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 5

3 Có năng lực đánh giá, kĩ năng xử lí thông tin và giải quyết vấn đề

Năng lực tự học

Trang 39

Lịch sử và Địa lí ở cấp tiểu học là môn học bắt buộc, được dạy học ở lớp 4 và lớp 5 Môn học được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển từ môn Tự nhiên và Xã hội các lớp 1, 2, 3 và là cơ sở để học môn Lịch sử và Địa lí ở cấp trung học cơ sở, đồng thời góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục về khoa học xã hội ở các cấp học trên

Môn Lịch sử và Địa lí gồm các mạch kiến thức và kĩ năng cơ bản, thiết yếu về địa lí, lịch sử của địa phương, vùng miền, đất nước Việt Nam, các nước láng giềng và một số nét cơ bản về địa lí, lịch sử thế giới Nội dung chương trình môn Lịch sử và Địa

lí còn liên quan trực tiếp với nhiều môn học và các hoạt động giáo dục khác như: Đạo đức, Tiếng Việt và Hoạt động trải nghiệm, Môn học coi trọng việc tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực tế, tạo cho học sinh cơ hội tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên và

xã hội xung quanh; vận dụng kiến thức vào thực tiễn, học cách ứng xử phù hợp với tự nhiên và xã hội

Phương pháp dạy học môn Lịch sử và Địa lí cấp tiểu học nhằm phát triển năng lực, góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung đã được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

Cụ thể là:

– Năng lực tự chủ và tự học: thể hiện ở việc học sinh tự mình thực hiện những nhiệm vụ được phân công khi học tập, tham quan; biết đặt ra các câu hỏi đơn giản, tự tìm kiếm và phân tích nguồn thông tin, trả lời câu hỏi về lịch sử và địa lí

– Năng lực giao tiếp và hợp tác: thể hiện ở việc học sinh có khả năng diễn đạt

rõ ràng ý kiến của mình, trao đổi, thảo luận khi có các quan điểm khác nhau; biết làm việc theo nhóm, chia sẻ suy nghĩ, lắng nghe ý kiến của người khác; tự tin khi đưa ra ý kiến; cùng nhau xây dựng ý tưởng trong quá trình học tập các vấn đề về lịch sử và địa

– Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: thể hiện ở việc học sinh có khả năng phát hiện một số vấn đề trong cuộc sống xung quanh, đặt câu hỏi, tìm thông tin, thực hiện các thao tác phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh, trong giải quyết vấn đề; biết đưa ra ý kiến, nhận xét, bình luận theo các cách khác nhau về các vấn đề địa lí và lịch sử trong cuộc sống xung quanh Phương pháp giáo dục chú trọng tổ chức các hoạt động dạy học để giúp học sinh tự tìm hiểu, tự khám phá, không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn; chú trọng rèn luyện cho học sinh biết cách sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới; tăng cường phối hợp tự học với học tập, thảo luận theo nhóm, đóng vai, dự án; đa dạng hoá các hình thức tổ chức học tập, coi trọng việc dạy học trên lớp và các hoạt động xã hội Chương trình khuyến khích học sinh được trải nghiệm, sáng tạo trên

cơ sở giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn cho học sinh tìm kiếm và thu thập thông tin, gợi mở giải quyết vấn đề, tạo cho học sinh có điều kiện thực hành, tiếp xúc với thực tiễn, học cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề

b Phân bố chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 5

Theo công văn số 9832/BGD&ĐT-GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, môn Địa lí lớp 5 được dạy trong 35 tuần, mỗi tuần 1 tiết

Nội dung các bài học được phân bố ở 35 tuần như sau:

1 Việt Nam - đất nước chúng ta

Trang 40

13 Công nghiệp (tiếp theo)

14 Giao thông vận tải

20 Châu Á (tiếp theo)

21 Các nước láng giềng của Việt Nam

28 Châu Mĩ (tiếp theo)

29 Châu Đại Dương và châu Nam Cực

30 Các đại dương trên thế giới

31 Địa lí địa phương

32 Địa lí địa phương

33 Ôn tập cuối năm

34 Ôn tập học kì II

Ngày đăng: 15/05/2021, 12:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w