1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm lâm học của rừng trồng các loài cây họ Sao Dầu trong các mô hình phục hồi rừng cây gỗ lớn bản địa tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu

157 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số đặc điểm lâm học của rừng trồng các loài cây họ Sao Dầu trong các mô hình phục hồi rừng cây gỗ lớn bản địa tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu
Người hướng dẫn TS. Bùi Việt Hải
Trường học Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Bà Rịa
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Một số đặc điểm lâm học của rừng trồng các loài cây họ Sao Dầu trong các mô hình phục hồi rừng cây gỗ lớn bản địa tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Bà Rịa, ngày 20 tháng 11 năm 2018

Người cam đoan

Trang 2

ơn chân thành nhất về những giúp đỡ đó

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Việt Hải là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều công sức giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn Xin chân thành cám ơn quí thầy cô lãnh đạo Phân hiệu ĐHLN, quí thầy cô trực tiếp giảng dạy thuộc Phân hiệu của Trường đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho NCS trong quá trình học tập và thực hiện luận án

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Khu BTTN Bình Châu-Phước Bửu, lãnh đạo xã Bưng Riềng và huyện Xuyên Mộc, cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và chia sẻ những khó khăn cùng tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này

Tác giả

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Những khái niệm liên quan 3

1.2 Một số kết quả nghiên cứu trồng cây họ Sao Dầu trong phục hồi rừng 4

1.2.1 Đặc trưng về cấu trúc quần xã cây họ Sao Dầu 4

1.2.2 Rừng trồng cây họ Sao Dầu 6

1.2.3 Các biện pháp lâm sinh tác động ở rừng trồng cây họ Sao Dầu 9

1.3 Một số nhận xét và bình luận 10

Chương 2.ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 12

2.1 Vị trí địa lý 12

2.2 Địa hình và thổ nhưỡng 13

2.2.1 Địa hình 13

2.2.2 Thổ nhưỡng 13

2.3 Khí hậu và thủy văn 14

2.4 Diện tích và tài nguyên rừng 15

2.4.1 Diện tích 15

2.4.2 Tài nguyên rừng 16

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 17

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17

3.3 Nội dung nghiên cứu 18

Trang 4

3.4 Phương pháp nghiên cứu 18

3.4.1 Phương pháp luận 18

3.4.2 Kế thừa các tài liệu có liên quan 19

3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu trên ô tiêu chuẩn 19

3.4.3.1 Xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 19

3.4.3.2 Phân chia đối tượng và xác định mẫu nghiên cứu 20

3.4.3.3 Thực hiện điều tra và ghi chép các chỉ tiêu nghiên cứu 21

3.4.4 Phương pháp xử lý và tính toán số liệu 23

3.4.4.1 Phân chia đối tượng nghiên cứu 23

3.4.4.2 Tính toán số liệu thực nghiệm 23

3.4.4.3 Thực hiện các phân tích số liệu thực nghiệm 24

3.4.4.4 So sánh giữa các trung bình mẫu 26

3.4.5 Công cụ tính toán 27

Chương 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Đặc điểm lâm học của mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu 28

4.1.1 Kết quả phân chia các mô hình rừng trồng 28

4.1.2 Biến động mật độ cây trồng theo loài và phương thức trồng rừng 32

4.1.2.1 So sánh tỷ lệ sống của cây trồng theo loài và phương thức trồng 33

4.1.2.2 Biến động mật độ cây trồng theo tuổi ở các mô hình rừng trồng 34

4.1.3 Biến động phẩm chất cây trồng theo loài và phương thức trồng 37

4.1.3.1 Biến động phẩm chất cây trồng ở các loài và mô hình rừng trồng 37

4.1.3.2 Biến động phẩm chất cây trồng theo tuổi ở các mô hình rừng trồng 38

4.1.4 Cấu trúc số cây ở các mô hình rừng trồng 40

4.1.4.1 Phân bố số cây ở các loài cây trồng giai đoạn 10 – 12 tuổi 41

4.1.4.2 Phân bố số cây ở các loài cây trồng giai đoạn 15 – 17 tuổi 43

4.1.4.3 Kiểm định tính quy luật của các phân bố 46

4.2 Sinh trưởng của Sao đen, Dầu cát, Sến cát ở các mô hình rừng trồng 49

4.2.1 Những đặc trưng sinh trưởng của các mô hình rừng trồng 49

4.2.2 Ước lượng sinh trưởng D1,3, Hvn và Dt ở các mô hình rừng trồng 53

Trang 5

4.2.2.1 Hàm sinh trưởng D1,3 ở các mô hình rừng trồng 53

4.2.2.2 Hàm sinh trưởng Hvn ở các mô hình rừng trồng 55

4.2.2.3 Hàm sinh trưởng Dtán ở các mô hình rừng trồng 56

4.2.3 Đặc điểm quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu sinh trưởng 58

4.2.3.1 Quan hệ chiều cao – đường kính thân của cây 58

4.2.3.2 Quan hệ chiều cao – đường kính tán của cây 60

4.2.3.3 Sinh trưởng của đường kính tán và sự cạnh tranh giữa các cây trồng 62

4.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố trồng rừng tới sinh trưởng rừng trồng 63

4.2.3.1 So sánh sinh sinh trưởng giữa các loài cây trồng chính 64

4.2.3.2 So sánh sinh trưởng giữa các phương thức trồng 65

4.3 Hiệu quả lâm sinh của các mô hình rừng trồng và đề xuất giải pháp 68

4.3.1 Xác định các tiêu chí cho đánh giá hiệu quả lâm sinh 68

4.3.2 Kết quả đánh giá hiệu quả lâm sinh của rừng trồng Sao đen, Sến cát 70

4.3.2.1 Về các kỹ thuật trồng 70

4.3.2.2 Sự đa dạng về mô hình trồng, độ lớn về diện tích mô hình 71

4.3.2.3 Kết quả đánh giá khả năng phục hồi của các mô hình rừng trồng 72

4.3.3 Đề xuất các biện pháp phục hồi rừng với cây họ Dầu 73

4.3.3.1 Đối với các kỹ thuật trồng rừng 73

4.4.3.2 Đối với loài Sao đen 74

4.4.3.3 Đối với loài Dầu cát và Sến cát 75

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 77

Kết luận 77

Tồn tại 78

Kiến nghị 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Phụ lục 1 Một số hình ảnh rừng trồng cây họ Sao Dầu tại KBT 83

Phụ lục 2 Kết quả tính toán trên Statgraphics 15.1 84

Trang 6

ĐTQHR Điều tra quy hoạch rừng

FRr Đất feralit đỏ vàng trên phiến sét

FRx Đất feralit nâu vàng trên phù sa cổ

FRk Đất feralit nâu đỏ trên bazan

Hvn Chiều cao cây (m)

IUCN Hiệp hội quốc tế về bảo tồn thiên nhiên

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

QHTKNN Quy hoạch thiết kế nông nghiệp

TN-MT Tài nguyên - Môi trường

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Bố trí OTC tạm thời trong nghiên cứu rừng trồng cây họ Sao Dầu 20

Bảng 3.2 Thống kê các ô điều tra và số cây đo đếm theo từng mô hình 23

Bảng 4.1 Một số đặc điểm cơ bản của các mô hình rừng trồng họ Sao Dầu 30

Bảng 4.2 Biến động tỷ lệ cây sống (%) ở các loài cây trồng chính 33

Bảng 4.3 Biến động tỷ lệ cây sống (%) ở các phương thức trồng rừng 33

Bảng 4.4 Biến đổi mật độ cây (N/ha) theo tuổi ở các mô hình rừng trồng 35

Bảng 4.5 Biến động phẩm chất cây trồng (%) theo các loài cây trồng 37

Bảng 4.6 Biến động phẩm chất cây trồng (%) theo các mô hình rừng trồng 37

Bảng 4.7 Biến đổi tỷ lệ cây tốt (PCa,%) theo tuổi ở các mô hình rừng trồng 39

Bảng 4.8 Các đặc trưng của phân bố số cây theo D1,3 ở các loài cây trồng 41

Bảng 4.9 Các đặc trưng của phân bố số cây theo Hvn ở các loài cây trồng 42

Bảng 4.10 Các đặc trưng của phân bố số cây theo D1,3 ở các loài cây trồng 44

Bảng 4.11 Các đặc trưng của phân bố số cây theo Hvn ở các loài cây trồng 45

Bảng 4.12 Kết quả kiểm tra các dạng phân bố lý thuyết ở mô hình rừng trồng 47

Bảng 4.13 Đặc trưng sinh trưởng D1,3, Hvn và Dt của các mô hình rừng trồng 50

Bảng 4.14 Biến động sinh trưởng D1,3, Hvn và Dt của các mô hình rừng trồng 52

Bảng 4.15 Hàm sinh trưởng D1,3 của các mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu 53

Bảng 4.16 Sinh trưởng và tăng trưởng D1,3 bình quân của các mô hình 54

Bảng 4.17 Hàm sinh trưởng Hvn của các mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu 55

Bảng 4.18 Sinh trưởng và tăng trưởng Hvn bình quân của các mô hình 55

Bảng 4.19 Hàm sinh trưởng Dtán của các mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu 56

Bảng 4.20 Sinh trưởng và tăng trưởng Dtán bình quân của các mô hình 57

Bảng 4.21 Dạng hàm và tham số của quan hệ H-D ở các mô hình rừng trồng 59

Bảng 4.22 Dạng hàm và tham số của quan hệ H-Dt ở các mô hình rừng trồng 60

Bảng 4.23 Chỉ số CCI theo tuổi của các loài trong các mô hình rừng trồng 62

Bảng 4.24 Kết quả so sánh sinh trưởng D00, Hvn, Dt giữa các loài cây trồng chính 64

Bảng 4.25 Kết quả so sánh sinh trưởng D00, Hvn, Dt giữa các phương thức trồng 66

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí Khu bảo tồn và khu vực nghiên cứu 12

Hình 3.2 Bản đồ đất Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu 14

Hình 4.1 Tỷ lệ cây sống ở các mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu 34

Hình 4.2 Biến động mật độ của các mô hình ở rừng trồng cây họ Dầu 35

Hình 4.3 Tỷ lệ phẩm chất cây trồng ở các loài và mô hình rừng trồng 38

Hình 4.4 Tỷ lệ phẩm chất cây tốt theo tuổi ở các mô hình rừng trồng 39

Hình 4.5 Phân bố N-D của Sao đen, Dầu cát, Sến cát ở rừng trồng tuổi 12 42

Hình 4.6 Phân bố N-H của Sao đen, Dầu cát, Sến cát ở rừng trồng tuổi 12 43

Hình 4.7 Phân bố N-D của Sao đen, Dầu cát, Sến cát ở rừng trồng tuổi 17 44

Hình 4.8 Phân bố N-H của Sao đen, Dầu cát, Sến cát ở rừng trồng tuổi 17 45

Hình 4.9 Sinh trưởng D1,3 của các mô hình rừng ở hai giai đoạn tuổi 51

Hình 4.10 Sinh trưởng Hvn của các mô hình rừng ở hai giai đoạn tuổi 51

Hình 4.11 Sinh trưởng Dt của các mô hình rừng ở hai giai đoạn tuổi 51

Hình 4.12 Biểu diễn sinh trưởng D1,3 theo tuổi ở các mô hình rừng 54

Hình 4.13 Biểu diễn sinh trưởng Hvn theo tuổi ở các mô hình rừng 56

Hình 4.14 Biểu diễn sinh trưởng Dtán theo tuổi ở các mô hình rừng 58

Hình 4.15 Biểu diễn quan hệ hàm Hvn-D1,3 ở các mô hình rừng trồng 59

Hình 4.16 Biểu diễn quan hệ hàm Dt-Hvn ở các mô hình rừng trồng 61

Hình 4.17 Diễn biến của CCI theo tuổi ở các mô hình rừng trồng 63

Hình 4.18 So sánh sinh trưởng D1,3 và Hvn của Sao, Dầu và Sến 64

Hình 4.19 So sánh sinh trưởng D1,3, Hvn của 2 phương thức ở Sao đen 66

Trang 9

MỞ ĐẦU

Rừng tự nhiên là một hệ sinh thái phức tạp, sự duy trì trạng thái cân bằng và

ổn định được quyết định bởi nhiều yếu tố, trong đó con người là yếu tố tiên quyết Song những hiểu biết có hạn về rừng của con người, nên chính con người đã có những hoạt động làm cho rừng bị phá vỡ, số lượng và chất lượng rừng bị suy giảm nghiêm trọng Trên quan điểm sinh thái học, rừng và các yếu tố xung quanh có quan

hệ chặt chẽ với nhau, sự thiếu hụt của một hay nhiều yếu tố xung quanh hay tác động quá mức cũng sẽ làm cho rừng phát triển không theo quy luật

Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Bình Châu – Phước Bửu thuộc huyện Xuyên Mộc của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có tổng diện tích 10.880,3 ha (UBND-QĐ3059 về kết quả kiểm kê rừng, 2016) Rừng tự nhiên của KBT thuộc kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới (Rkx) Tại đây đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên (Võ Văn Sung, 2005), về đa dạng sinh học (Nguyễn Văn Quyết, 2010), đặc điểm lâm học của các ưu hợp thực vật (Dương Thị Ánh Tuyết, 2015) Thế nhưng, tất cả những nghiên cứu này đều nhắm vào đối tượng rừng tự nhiên Hiện nay, vẫn còn hạn chế những nghiên cứu về đặc điểm lâm học của đối tượng rừng trồng phục hồi tại KBT Vì thế, vẫn còn thiếu những căn cứ khoa học giúp đơn vị quản lý và đánh giá khả năng phục hồi của những loài cây trồng, đặc biệt là cây họ Sao Dầu; đồng thời đề xuất những giải pháp lâm sinh đối với loại rừng trồng này tại Khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu

Trong tổng diện tích rừng trồng cây họ Sao Dầu, có 3 loài chủ yếu có diện tích trồng lớn nhất xếp theo thứ tự là: Sao đen, (372,3 ha), Sến cát (305,3 ha) và Dầu cát (217,4 ha) Chúng được trồng thuần hay hỗn giao với nhau hoặc hỗn giao và một số loài cây gỗ khác Đây là những đối tượng có thể trở thành rừng cây gỗ lớn trong tương lai Tuy nhiên, trong mỗi loại hình trồng lại có nhiều mô hình rừng trồng khác nhau bởi yếu tố phương thức trồng Về phương thức có trồng thuần loài và trồng hỗn giao hai hay nhiều loài với nhau Về quy cách trồng hay mật độ trồng đều giống nhau (6 x 3,5 m) và trên cùng loại đất (cát pha) Do đó, việc đánh giá khả

Trang 10

năng phục hồi của những loài cây gỗ lớn này sẽ được xem xét trên từng phương thức trồng với từng loài cây cụ thể Điều đó dẫn đến lý do đánh giá phải bắt đầu từ những đặc điểm cơ bản nhất, dễ đo đếm nhất, đó chính là đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng của rừng trồng cây họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae)

Những đặc điểm lâm học có liên quan trực tiếp đến việc đánh giá khả năng phục hồi của rừng trồng trình bày ở đây là biến động về số lượng và chất lượng cây trồng Về số lượng có biến động số cây theo thời gian (tuổi), nó nói lên khả năng thích nghi của cây ở các giai đoạn khác nhau Về chất lượng có biến động phẩm chất cây trồng trong các điều kiện sống, nó cho phép đánh giá khả năng thành rừng thông qua số cây có phẩm chất tốt đang tồn tại Thêm nữa, một khi khả năng thành rừng tốt hơn thì bản thân nó cũng có một cấu trúc tương đối ổn định, đặc trưng cho loài và cho khu vực mà quần thụ hiện diện Do đó, nghiên cứu đặc trưng cấu trúc sẽ

là một bổ sung cần thiết cho đặc điểm lâm học của chuyên đề này

Việc phục hồi rừng bằng các loài thực vật tiêu biểu tại KBT không những được chú trọng ngay từ khi thành lập và hiện nay công tác này càng được đề cao hơn Để có những cơ sở nhằm đề xuất các giải pháp phục hồi rừng tại đây thì việc tìm hiểu, đánh giá hiệu quả mô hình phục hồi rừng là rất cần thiết Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Một số đặc điểm lâm học của rừng trồng các loài cây họ Sao Dầu trong các mô hình phục hồi rừng cây gỗ lớn bản địa tại Khu bảo tồn thiên

nhiên Bình Châu-Phước Bửu” đã được tiến hành

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Những khái niệm liên quan

Rừng trồng là rừng được hình thành do con người trồng, bao gồm: rừng trồng mới trên đất chưa có rừng; rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có; và rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác (Thông tư số 34/2009/TT-NNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

Theo Trần Văn Con (2006) trồng lại rừng (sau khai thác hay do bị mất rừng) được hiểu là hoạt động gây lại rừng trên đất trống đồi núi trọc, phân biệt với cải tạo rừng là hoạt động thay thế rừng nghèo kiệt thành rừng trồng có năng suất cao hơn

Hoạt động phục hồi rừng là các hoạt động có ý thức của con người nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hóa, có nhiều sự lựa chọn tùy thuộc vào từng đối tượng và mục đích cụ thể Lamb

và Gilmour (2003) đã đưa ra 3 nhóm hành động tương ứng với các mức độ khác nhau nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng, đó là: cải tạo rừng, phục hồi rừng và khôi phục rừng Theo đó, các hoạt động phục hồi rừng được diễn ra trên hai loại đối tượng chính là phục hồi rừng tự nhiên và phục hồi rừng trên đất trống (dẫn theo Trần Văn Con, 2006)

Theo Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ thì, cây phụ trợ (hay hỗ trợ) là cây trồng với cây trồng chính trong một thời gian nhất định có tác dụng thúc đẩy cây trồng chính sinh trưởng, phát triển tốt hơn Cây hỗ trợ được đề cập trong đề tài này được hiểu theo khái niệm nêu trên

186/2006/QĐ-Cũng theo Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính có thể áp dụng trong phạm vi của đề tài tại KBT bao gồm khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên và cải tạo rừng trồng hiện có hoặc trồng rừng

Trang 12

mới Theo đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã đề cập của đề tài này, ở đây chỉ tập trung vào nội dung cải tạo rừng trồng hoặc trồng rừng mới

Cây họ Sao Dầu (hay họ Dầu) ở Việt Nam được nghiên cứu một cách có hệ thống đầu tiên là các công trình nghiên cứu của người Pháp, trong đó phải kể đến bộ Thực vật chí Đông Dương gồm 8 tập của H Lecomte (1905-1952) Trong công trình về những hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978, 1998)

có liệt kê lại toàn bộ những kết quả nghiên cứu có liên quan đến thảm thực vật và các hệ sinh thái rừng chủ yếu ở nước ta, trong đó có nhiều công trình về cây họ Dầu Gần đây hơn, Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) trong tác phẩm “Cây họ Dầu ở Việt Nam” đã hệ thống và tập hợp một cách khá đầy đủ về những đặc trưng thực vật học, phân loại học, kỹ thuật trồng và mô tả 46 loài cây họ Dầu ở Việt Nam

Theo đó, tại Việt Nam cây họ Sao Dầu có xấp xỉ 50 loài thuộc 6 chi

(Anisoptera, Dipterocarpus, Hopea, Parashorea, Shorea và Vatica); trong đó, chi Dipterocarpus có 12 loài, chi Hopea có 11 loài là hai chi có nhiều loài nhất Các

loài cây họ Sao Dầu phân bố rải rác trên cả nước, nhưng phân bố tập trung chủ yếu

là vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

Cây Sao đen, Dầu cát, Sến cát ở Việt Nam đã có nhiều nhà khoa học mô tả

về hình thái, giải phẫu cũng như các đặc điểm sinh học, về cơ bản không có sự khác biệt so với các đặc điểm chung của loài này ở các nước khác Tại Việt Nam, Sao đen, Dầu cát và Sến cát phân bố tự nhiên ở hầu hết các tỉnh miền Nam từ Kon Tum trở vào, đặc biệt nhiều ở vùng Đông Nam Bộ như Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và các tỉnh Tây Nguyên Hiện nay, cả ba loài cây này đã được dẫn giống trồng nhiều nơi, kể cả các tỉnh phía Bắc, Sao đen còn được trồng

trên các trục đường phố, đường giao thông và ở một số mô hình trồng cây bản địa

1.2 Một số kết quả nghiên cứu trồng cây họ Sao Dầu trong phục hồi rừng 1.2.1 Đặc trưng về cấu trúc quần xã cây họ Sao Dầu

Từ rất nhiều kết quả nghiên cứu, có thể đi đến nhất trí rằng, cây họ Sao Dầu

ở Việt Nam mà chủ yếu là vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng tự nhiên (Phân viện Điều tra qui hoạch rừng Nam Bộ,

Trang 13

1994) Số loài cây trong họ Sao Dầu có thể không nhiều bằng những họ khác, nhưng số cá thể thường chiếm ưu thế ở nhiều ưu hợp thực vật rừng hay trạng thái rừng Ở vùng Đông Nam Bộ, cây họ Sao Dầu có 6 chi với gần 40 loài Ở các khu vực nhỏ của vùng như Khu BTTN Bình Châu-Phước Bửu (tỉnh Bà Rịa) có 13 loài, Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hoá (tỉnh Đồng Nai) có 18 loài Những ưu hợp có cây họ Sao Dầu thường thấy ở vùng Đông Nam Bộ là: ưu hợp họ Dầu + họ Thị + họ Sến; ưu hợp họ Dầu + họ Sến cát; ưu hợp họ Dầu + họ Bồ hòn + họ Sim; ưu hợp họ Dầu + họ Bồ hòn + họ Thị (Phân viện ĐTQHR Nam Bộ, 2000, 2003 và 2009)

Khả năng kết nhóm của các loài cây họ Sao Dầu là một đặc điểm lâm học quan trọng, giữa các loài cây luôn có các quan hệ hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sinh trưởng, sinh tồn và phát triển Nguyễn Văn Thêm (1993) đã áp dụng phương pháp phân tích để nghiên cứu sự kết nhóm của 4 loài Dầu rái, Dầu song nàng, Cám, Trâm quầng ở rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới khu vực Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) Tác giả đã chỉ ra rằng, trong tổ thành của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đối có hai nhóm sinh thái khá rõ rệt: nhóm Dầu song nàng – Dầu rái và nhóm Dầu rái – Cám – Trâm quầng

Kết quả nghiên cứu sự kết nhóm sinh thái giữa một số loài cây gỗ rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới của một số tác giải khác như Trần Văn Con (2006), Nguyễn Xuân Hùng (2009) cũng là một trong số những nghiên cứu theo hướng đó Một số kết quả chỉ ra rằng, trong kết cấu rừng của các ưu hợp ở khu vực rừng Bình Châu-Phước Bửu tồn tại các dạng kết nhóm theo cặp loài và tổ hợp loài Kết nhóm theo cặp (hai loài) có: Dầu cát – Cầy, Dầu cát – Sến cát, Dầu cát – Trâm trắng; kết nhóm theo tổ hợp (trên hai loài) có: Dầu cát – Trâm trắng – Cầy, Trâm trắng – Dầu cát – Sến cát Khi xử lý kiểu rừng này cần bảo vệ độ ưu thế của các loài trong kết cấu rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1994)

Ở phía Bắc, cùng mọc với các loài trong họ Sao Dầu ở tầng tán rừng và dưới tán còn có những loài cây lá rộng thường xanh khác trong hệ thực vật bản địa như

các loài trong họ Đậu (Leguminosaseae), họ Giẻ (Fagaceaea), họ Sim (Myrtacceae), họ Xoan (Meliaceae) (Hoàng Phú Mỹ và Võ Đại Hải, 2013)

Trang 14

1.2.2 Rừng trồng cây họ Sao Dầu

Công trình trồng cây họ Sao Dầu đầu tiên ở Việt Nam được biết đến là của Paul Mourand (1920) (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1998) đã thử nghiệm trồng Dầu rái

và Sao đen tại Trạm thực nghiệm Trảng Bom theo 3 công thức:

Công thức 1: Trồng thuần loài với mật độ cao lên tới 20.000 cây/ha Ưu điểm

là rất sớm hình thành quần thể nhưng nhược điểm rõ nhất là cạnh tranh và sớm, phải tỉa thưa và tốn kém trong việc tạo rừng

Công thức 2: Trồng theo rạch dưới tán rừng tự nhiên Ở công thức này, cây trồng sinh trưởng kém do không cạnh tranh được với cây tự nhiên Sau này, có cải tiến mở các băng rộng hơn thay thế cho các rạch hẹp

Công thức 3: Trồng Sao đen, Dầu rái với các loài cây phù trợ như Đậu chàm

(Indigofera teysmanii) và Muồng đen (Senna siamea) Đây là hai loài cây che phủ

đất ban đầu, ngăn chặn cỏ dại và che bóng giai đoạn đầu

Từ những nghiệm thức này, về sau nhiều loài cây họ Sao Dầu khác cũng đã được thử nghiệm trồng và những cây phù trợ cũng đa dạng hơn như Keo lá tràm

(Acacia auriculiformis), Keo tai tượng (A mangium), Keo dậu (Leucaena leucocephala) hoặc một số loài cây nông nghiệp dài ngày khác như Điều (Anacardium occidentale), các cây ăn quả khác như Xoài, Mít, Bưởi, …

Có thể nói, Đông Nam Bộ là vùng có nhiều loài cây họ Sao Dầu nói riêng và cây bản địa nói chung được đưa vào thử nghiệm trồng đa dạng nhất ở nước ta, đặc biệt là các loài của rừng ẩm nhiệt đới như Dầu song nàng, Sến cát cát, Vên vên, Sao đen, Sến cát mủ… Thống kê bước đầu có 24 loài cây bản địa đã được gây trồng ở vùng Đông Nam Bộ thời gian qua Các loài cây trồng bản địa trong các mô hình thường gồm: Sến cát, Dầu trà beng, Sao đen, Vên vên, Bằng lăng, Gõ đỏ, Muồng đen, Gáo vàng,… Các loài tiêu biểu gồm có: Sến cát, Sao đen, Vên vên, Dầu song nàng, Dầu trà beng, Dầu mít, Sến cát, Gõ đỏ, Cẩm lai, Bằng lăng, Dáng hương, Gõ mật, Ươi, v.v (Nguyễn Chí Thành, 2005) Có thể điểm lại một số kết quả chính về trồng cây họ Sao Dầu trong vùng như sau:

Trang 15

(1) Tại Đồng Nai, có 94 mô hình trồng rừng có cây bản địa bao gồm: trồng thuần loại một loài cây có 10 mô hình, trồng hỗn giao hai loài cây có 36 mô hình, hỗn giao ba loài cây có 36 mô hình, hỗn giao bốn đến năm loài cây có 12 mô hình

Có hai phương thức trồng chính được áp dụng là trồng Sao đen và Sến cát thuần loài hoặc hỗn loài có xen với một số loài cây phù trợ như Keo lá tràm, Điều và cây

ăn quả như Xoài, Mít Ở những nơi có mật độ trồng cao (trên 1.600 cây/ha), cây sinh trưởng trung bình hoặc kém trong khi cây trồng có mật độ thấp hơn lại có các giá trị sinh trưởng tốt hơn (Nguyễn Văn Quý, 2011)

Tại rừng trồng Sao đen và Dầu rái thuần với mật độ 416 cây (Sao đen) và

312 cây (Dầu rái) có xen cây nông nghiệp sinh trưởng tương đối tốt trong những năm đầu do được chăm sóc và bảo vệ tốt Khi cây nông nghiệp được thu hoạch, người ta thường không tập trung vào các cây Sao đen, Dầu rái nên có sự suy giảm mật độ và sinh trưởng (Tô Bá Thanh, 2009; Phạm Xuân Hoàn, 2012)

Năm 2013, trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Hồng đã tiến hành nghiên cứu bổ sung kỹ thuật gây trồng Sao đen và Dầu rái tại Lâm Đồng, Bình Phước và Gia Lai Kết quả đã cho thấy các biện pháp làm đất (san ủi, cày toàn diện

và cuốc hố) đều cho tỷ lệ cây sống và sinh trưởng tốt ở cả hai loài cây trồng này Ở giai đoạn đầu, các phương thức trồng khác nhau chưa ảnh hưởng đến sinh trưởng của Sến cát nhưng với Sao đen, phương thức hỗn giao với Keo lai cho tăng trưởng tốt nhất cả về đường kính và chiều cao

(2) Tại Bình Phước, hầu hết các mô hình trồng Sao-Dầu thuần loài đều cho kết quả tốt hơn so với các mô hình trồng xen với Keo lá tràm hoặc với Điều Ở các rừng trồng có mật độ cao, theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), trồng Sao đen với 1.250 cây/ha (năm 1982) vẫn cho tăng trưởng bình quân về đường kính là 1,35 cm/năm và chiều cao là 0,97 m/năm Trong các mô hình trồng xen với Keo lá tràm cho thấy hầu hết cả Sao đen và Sến cát đều có tăng trưởng thấp, nguyên nhân chính vẫn là tỉa thưa Keo lá tràm chưa kịp thời và chưa xem xét tới nhu cầu ánh sáng của Sao đen và Sến cát ở giai đoạn Keo khép tán

Trang 16

Trần Quốc Hoàn (2013, 2014) đã tiến hành nghiên cứu phân vùng lập địa phục vụ cho phát triển sản xuất Lâm nghiệp tại Bình Phước, trong đó có xác định rõ vùng thích hợp để gây trồng hai loài Sao đen và Sến cát tại địa phương

(3) Tại Tây Ninh, mô hình trồng Sao Dầu phổ biến là xen với cây Điều với mật độ Sao, Dầu từ 200-400 cây/ha Giai đoạn đầu cả cây trông chính và cây trồng xen đều sinh trưởng tốt; nhưng khi Điều ra trái, cây Sao đen và Dầu rái bị tỉa cành quá nhiều dẫn đến sinh trưởng kém Mô hình trồng xen với Keo lá tràm cũng được xác định là mô hình không thành công Tại tỉnh này, mô hình trồng Dầu rái thuần tại Dương Minh Châu được coi là thành công nhất (Trần Quốc Dũng, 1995)

(4) Tại Bình Dương, từ năm 1982 người ta đã trồng thử nghiệm xen Keo lá tràm, Xà cừ với Sao đen-Dầu rái Hiện trạng sinh trưởng của cây trồng trong các mô hình trồng xen cũng tương tự như ở các tỉnh nêu trên, nghĩa là phụ thuộc rất lớn vào thời điểm và cường độ tỉa thưa cây phù trợ Trong những năm đầu, tăng trưởng của Dầu rái và Xà cừ đều khá tốt, rất có triển vọng (Nguyễn Minh Cảnh, 2003 và Lục Văn Cường, 2009)

(5) Ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, những mô hình trồng Sao đen, Sến cát ở đây được đánh giá là cho kết quả khả quan hơn, kể cả ở những mô hình có trồng xen Keo lá tràm khi được chặt tỉa kịp thời và phù hợp với giai đoạn sinh trưởng của cây trồng chính Rừng Sao đen ở Xuyên Mộc trồng thuần là một ví dụ điển hình cho nhận xét trên (Nguyễn Chí Thành, 2005; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005)

(6) Tại tỉnh Bình Thuận, mô hình trồng Sao đen và Dầu rái theo rạch dưới tán rừng bị đánh giá là không thành công không chỉ vì những lý do kỹ thuật mà còn

cả những lý do liên quan đến quản lý, bảo vệ Người dân chặt phá không kiểm soát được các khâu chăm sóc và nuôi dưỡng cây trồng ở giai đoạn đầu Đối với mô hình trồng xen hai loài này với Điều cho thấy kết quả khả quan hơn và cả hai loài cây trồng trên đều có tăng trưởng bình thường (Nguyễn Chí Thành, 2005; Phân viện ĐTQHR Nam Bộ, 1994)

Nhìn chung, các nghiên cứu về trồng rừng đều xoay quanh việc đánh giá khả năng sinh trưởng và phục hồi của rừng trồng cây họ Dầu ở các điều kiện khác nhau

Trang 17

1.2.3 Các biện pháp lâm sinh tác động ở rừng trồng cây họ Sao Dầu

Phương thức trồng theo rạch dưới tán rừng tự nhiên của Paul Mourand cho thấy cây mới trồng dễ sống nhưng chỉ đến năm thứ 2 thì chúng đã thể hiện thiếu ánh sáng trực xạ trực tiếp một cách rõ rệt (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978) Chỉ có những cây ở khoảng trống của tán rừng bên trên thì sinh trưởng bình thường, còn tất

cả đều sinh trưởng yếu, bệnh tật Mô hình trồng Sao đen theo rạch trong rừng tự nhiên tại Bình Thuận năm 1994 được coi là thất bại vì những nguyên nhân như rừng trồng không được chăm sóc, bảo vệ, dân tự do chặt phá làm rẫy; mặc dù cây sinh trưởng khá tốt, đường kính tăng trưởng 1,53 cm/năm, chiều cao 1,13 cm/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005)

Khi trồng theo rạch trên hiện trạng rừng phục hồi nghèo kiệt, thực bì chủ yếu

là cây bụi, các kết quả thử nghiệm cho thấy mật độ trồng cao (lớn hơn 1.600 cây/ha) thường chỉ cho kết quả sinh trưởng trung bình hoặc kém, trong khi đó mật độ thấp lại cho kết quả sinh trưởng khá hơn (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) Trong quy phạm

kỹ thuật trồng rừng Dầu rái (Bộ Lâm nghiệp, 1988), mật độ trồng đề xuất là 833 cây/ha (4 x 3m), 660 cây/ha (5 x 3m), 400 cây/ha (10 x 2,5m) Kỹ thuật gây trồng Dầu rái và Sao đen đã được hướng dẫn khá chi tiết trong quy phạm kỹ thuật trồng rừng Dầu rái đã được Bộ Lâm nghiệp ban hành năm 1988 cũng như trong quy trình

kỹ thuật trồng rừng Sao đen và Dầu rái được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam xây dựng (2002) Tuy nhiên, khâu chăm sóc rừng sau khi trồng được hướng dẫn chủ yếu tập trung vào làm cỏ, xới đất xung quanh gốc, vun gốc, gỡ dây leo cuốn vào cây trồng và chặt bỏ cây tái sinh lấn át cây trồng Các nghiên cứu về tác động lâm sinh như bón phân, tỉa cành, tỉa cây để nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng trồng Dầu rái

và Sao đen vẫn còn rất hạn chế

Qua quan sát tại khu vực nghiên cứu, các kỹ thuật chăm sóc và bảo vệ đối với rừng trồng Sao đen, dầu rái và Sến cát phải được thực hiện nghiêm túc sau khi trồng tối thiểu là 4 năm liền Trong phương thức trồng xen thì sau 1-2 năm phải tiến hành tỉa cành nhánh hoặc chặt ngang thân không để cây phụ trợ chụp lên tán cây họ Sao Dầu Công việc này nhất thiết phải thực hiện đúng lúc

Trang 18

Rừng trồng thuần loài Sao đen, Sến cát không có cây che phủ ban đầu (Dương Minh Châu, Tây Ninh) hay có xen cây nông nghiệp trong những năm đầu (Đồng Nai) cho sinh trưởng khá tốt trong những năm đầu Tăng trưởng bình quân năm về chiều cao là 0,78 - 0,95 m/năm, đường kính 1,10 - 1,92 cm/năm đối với Sao đen, còn Sến cát khoảng 1,13 m/năm chiều cao và 1,63 cm/năm đường kính Nhìn chung, Sao đen tăng trưởng chiều cao kém hơn Sến cát (Nguyễn Chí Thành, 2005); Phạm Xuân Hoàn và ctv, 2012)

1.3 Một số nhận xét và bình luận

Từ những thông tin tóm tắt ở trên, đề tài nhận thấy cần phải thảo luận một số

vấn đề như sau đây:

Trước hết, cần phải thấy rằng dù là tập hợp chưa đầy đủ thì những nghiên cứu về cây họ Sao Dầu là rất nhiều nhưng cũng rất tản mạn Sẽ có những loài phân

bố ở nhiều khu vực và cũng sẽ có những loài chỉ có số ít cá thể Việc chọn loài nào trong số các loài cây họ Sao Dầu là một câu hỏi lớn của đề tài này Nó không đơn giản là loài phổ biến hay loài có số cá thể nhiều, hay loài cây đang có giá trị kinh tế,

mà quan trọng là loài có khả năng thành rừng hay không (trên quan điểm sinh thái), đặc biệt là ở rừng trồng mới? Điều đó có thể dẫn tới việc một loài cây họ Sao Dầu

có thể sinh trưởng tốt trong rừng tự nhiên, nhưng chưa chắc sẽ là loài cây trồng được chọn để khôi phục rừng trên đất trống Do đó, đối tượng nghiên cứu là cây họ Sao Dầu đã được trồng từ nhiều năm trước đây sẽ là một trong số các ưu tiên của

việc chọn loài cây

Thứ hai, các nghiên cứu về cây họ Sao Dầu ở rừng trồng cũng rất phong phú Điểm qua các công trình đã công bố, có thể thấy chủ yếu là những kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng của rừng này Do vậy, những chỉ báo để xác định khôi phục được rừng tại những mô hình rừng trồng ở nghiên cứu này sẽ gồm nhiều yếu tố hơn

so với những đánh giá sinh trưởng thông thường ở rừng trồng Trọng tâm của đề tài luận văn sẽ phải tập trung để giải quyết những vấn đề còn tồn tại này và những kết quả mong đợi chính của luận án sẽ luận giải tính hiệu quả lâm sinh của kỹ thuật

phục hồi rừng cây họ Sao Dầu tại KBT theo định hướng đó

Trang 19

Thứ ba, do hiện trường gồm rất nhiều dạng mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu, cộng với các loại đất trồng, phương thức trồng, mật độ trồng cây trồng chính

và thời điểm trồng cây hỗ trợ cũng khác nhau, dẫn đến tồn tại rất nhiều công thức trồng khác nhau Do đó, đề tài phải nhất quán về đơn vị điều tra cơ sở Đơn vị điều tra cơ sở là cấp điều tra có cùng loài cây trồng, phương thức trồng và mật độ trồng Phương thức trồng có trồng thuần và hỗn giao (với cây trồng chính), mật độ trồng quy về 1 loại; như vậy mỗi loài cây trồng là Sao đen, Dầu cát hay Sến cát có thể có đến 2 - 3 loại mô hình rừng trồng khác nhau Đề tài lấy ô tiêu chuẩn (OTC) có kích thước 1.000 m2 làm đơn vị điều tra tại hiện trường, mỗi đơn vị cơ sở có ít nhất 3 OTC Phương pháp so sánh số liệu cơ bản dựa vào phân tích phương sai (ANOVA)

và kiểm nghiệm t-Student Tất cả đều nhắm đến việc chọn mô hình rừng trồng tốt

hơn trong số các mô hình rừng trồng đã xem xét

Trang 20

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Vị trí địa lý

Khu BTTN Bình Châu-Phước Bửu nằm trong địa giới hành chính của các xã: Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang, Phước Thuận và thị trấn Phước Bửu thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có ranh giới:

- Phía Đông Bắc giáp Suối Bang

- Phía Tây giáp Sông Hoả

- Phía Bắc giáp Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp

- Phía Nam giáp biển Đông giới hạn bởi bờ biển từ ấp Thuận Biên, xã Phước Thuận đến xã Bình Châu với khoảng 12 km đường ven biển

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu

Trang 21

2.2 Địa hình và thổ nhưỡng

2.2.1 Địa hình

Toàn bộ Khu BTTN BC-PB có địa hình tương đối bằng phẳng, hơi thoải từ phía Bắc đến phía Nam, từ phía tây sang phía Đồng tạo thành 4 vùng địa hình khác nhau như sau:

- Vùng bằng phẳng chiếm diện tích lớn nhất khoảng 9.000 ha, trải rộng từ phía Bắc đến phía Nam

- Vùng đồi: Có diện tích khoảng 600 ha, bao gồm một số ngọn đồi có độ cao

từ 50 m đến 150 m như: Núi Hồng Nhung (118 m) nằm ở phía Bắc khu bảo tồn, cụm Hồ Linh nằm ở ven biển thuộc Tiểu khu 28, khu vực Mộ Ông - Gái Ma ở phía Tây Nam thuộc tiểu khu 25

- Vùng cồn cát ven biển có diện tích khoảng 500 ha, ở phía Nam Khu bảo tồn

từ ấp Thuận Biên, xã Phước Thuận đến gần bến Lội thuộc xã Bình Châu

- Vùng hồ có diện tích khoảng 200 ha, gồm các hồ trũng ven suối thường ngập nước vào mùa mưa như: hồ Linh, hồ Tràm, hồ Cốc, bàu Nhám, bàu Tròn,…

Các dạng địa hình khác nhau tạo cho Khu BTTN BC-PB có cảnh quan đa dạng và phong phú các loài sinh vật, thích hợp cho nghiên cứu khoa học và tham quan du lịch

2.2.2 Thổ nhưỡng

Theo kết quả điều tra, đánh giá phân loại đất của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp Nam Bộ (2003) cho thấy đất đai ở Khu BTTN BC - PB có các loại đất chính sau đây:

- Đất Feralit vàng nhạt: Phát triển trên đá mác ma-granit và trầm tích thuộc nhóm đất hình thành tại chỗ, chiếm diện tích rất lớn, có màu xám trắng đến vàng nhạt, thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất sâu, tầng mùn mỏng, hàm lượng NPK thấp

- Đất Feralit màu đỏ: Phát triển trên đá bazan có màu nâu vàng đến nâu đỏ, tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nặng (sét tới 60%), hàm lượng NPK cao

Trang 22

- Đất chua phèn: Chiếm diện tích khá lớn, được hình thành trên các bưng ngập nước vào mùa mưa Đất có màu xám trắng đến xám đen, độ pH từ 4 - 4,5 Thành phần cơ giới nhẹ (cát từ 50 - 60%), hàm lượng NPK thấp

- Đất cát ven biển: chạy dọc theo bờ biển hình thành 2 dạng đất khác nhau: Cồn cát di động không ngập nước biển và đất cát ướt thường bị ngập nước thủy triều dâng Cả 2 loại đất này đều có tỷ lệ cát từ 60 - 70%, tầng mùn hầu như không

có, hàm lượng NPK rất thấp, hút và thoát nước mạnh, độ che phủ thực vật rất thấp

Hình 2.1 Bản đồ đất Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu

2.3 Khí hậu và thủy văn

Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu nằm trong vùng ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới mưa mùa Theo số liệu quan trắc của Trạm Vũng Tàu ghi nhận như sau:

Trang 23

- Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.396 mm, số ngày mưa bình quân trong năm là 124 ngày, thấp hơn hẳn so với các khu vực lân cận

Lượng mưa phân bố không đều trong năm, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng

5 và kết thúc vào cuối tháng 10, nhưng lượng mưa thường tập trung vào tháng 7, 8,

9 hàng năm Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 11 kéo dài đến tháng 4 năm sau, trong khi đó lượng bốc hơi lại cao, chiếm gần 60% tổng lượng bốc hơi, dẫn đến đất

bị giảm chất hữu cơ và chai cứng bề mặt

- Nhiệt độ bình quân hàng năm của không khí đạt 25,30c , nhiệt độ cao nhất thường xuất hiện vào tháng 4 -5, thấp nhất vào tháng 12, tháng 1

- Độ ẩm của không khí khá cao, độ ẩm tuyệt đối trung bình hàng năm là 85.2%, độ ẩm thấp nhất vào tháng 1 đến tháng 3

- Chế độ gió: Khu vực KBT và huyện Xuyên Mộc chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió thịnh hành theo hai mùa là: Gió Tây Nam thổi vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 Gió Đông Bắc thổi vào mùa khô từ giữa tháng 11 đến tháng năm sau

Hai hướng gió này đều từ biển Đông thổi vào và có sự ảnh hưởng rất lớn đến phân bố thực vật cũng như quá trình sinh trưởng, phát triển

- Thuỷ văn: Trong rừng có khoảng 43 km sông, suối như: suối Cát, suối Nhỏ, suối Bang,… Ngoài ra, còn có một số bàu và hồ có nước theo mùa như: bàu Nhám,

+ Đất có rừng : 9.309,81 ha;

* Rừng tự nhiên : 8.017,27 ha;

* Rừng trồng : 1.292,54 ha;

+ Đất chưa có rừng : 1.570,52 ha

Trang 24

Trong diện tích trồng rừng, bao gồm các loài cây bản địa (họ Sao Dầu, họ Đậu) và các loài cây mọc nhanh (Keo lai, Keo lá tràm)

2.4.2 Tài nguyên rừng

Theo kết quả khảo sát của Phân viện ĐTQHR Nam Bộ (2000) và Trung tâm ĐDSH & Phát tiển (CBD) năm 2012, thành phần thực vật rừng của KBT BC-PB

được ghi nhận như sau:

- Thực vật bậc cao: Kết quả điều tra xác định tại Khu BTTN BC-PB có 796 loài thuộc 142 họ, 486 chi, trong đó có 10 loài nguy cấp và 12 loài sắp nguy cấp

- Động vật: Tổng số 325 loài thuộc 96 họ, 29 bộ, trong đó: Thú 27 loài, Chim

194 loài, Bò sát 55 loài, Lưỡng cư 19 loài, có 27 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam

Trang 25

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được một số đặc điểm lâm học cơ bản của các mô hình rừng trồng phục hồi rừng cây họ Sao Dầu (Sao đen, Dầu cát, Sến cát)

- Xác định được ảnh hưởng của các yếu tố tới sinh trưởng của loài cây trong các mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu (Sao đen, Dầu cát, Sến cát)

- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật để phục hồi và nuôi dưỡng rừng trồng đối với cây họ Sao Dầu (3 loài)

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các mô hình đưa vào nghiên cứu sẽ được giới hạn chỉ cho loài cây Sao đen, Dầu cát và Sến cát của họ Sao Dầu ở 2 giai đoạn tuổi tương ứng là từ 10 - 12 tuổi và

15 - 17 tuổi (căn cứ vào tuổi rừng trồng)

Phạm vi nghiên cứu là 3 loài cây trồng rừng: Sao đen (Hopea odorata Roxb.), Dầu cát (Dipterocarpus insularis Hance) và Sến cát (Shorea roxburghii

G.Don) với tổng diện tích là 660,3 ha được thiết kế theo quy cách trồng là 6 x 3,5 (m) (hàng cách hàng 6 m, cây cách cây 3,5 m) trên mỗi phương thức trồng Cụ thể,

Trang 26

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã tập trung vào 3 nội dung chính sau đây:

(1) Đặc điểm lâm học của rừng trồng cây họ Sao Dầu theo từng giai đoạn tuổi và theo phương thức trồng của các mô hình rừng trồng

- Kết quả phân chia các mô hình rừng trồng trong KBT

- Biến động mật độ cây trồng theo điều kiện và kỹ thuật trồng

- Biến động phẩm chất cây trồng ở các điều kiện và kỹ thuật trồng

- Cấu trúc số cây theo các chỉ tiêu ở các mô hình rừng trồng

(2) Đặc điểm sinh trưởng và ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật tới sinh trưởng và khả năng thành rừng của các mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu

- Khái quát về những đặc trưng sinh trưởng của các mô hình rừng trồng

- Hàm sinh trưởng của chỉ tiêu đường kính, chiều cao và đường kính tán

- Quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng của cây trồng theo loài cây trồng

- Ảnh hưởng của các yếu tố trồng rừng tới sinh trưởng rừng trồng

(3) Đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi và nuôi dưỡng các mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu

- Tổng hợp, lựa chọn các tiêu chí đánh giá hiệu quả rừng trồng

- Một số đề xuất biện pháp trồng rừng Sao đen, Dầu cát, Sến cát

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp luận

Từ các mô hình rừng trồng cây Sao đen, Dầu cát và Sến cát, đề tài sẽ nghiên cứu các đặc điểm lâm học thông qua những chỉ tiêu được thống kê: mật độ cây (N/ha) đường kính ngang ngực (D1,3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (Dt) của quần thể trong từng giai đoạn tuổi và từng quy cách trồng để có thể biết được sự sinh trưởng và sinh thái của từng mô hình rừng trồng Sao đen, Dầu cát, Sến cát tại nơi nghiên cứu Các chỉ báo này chứa cả hai mặt định tính và định lượng, làm tiền đề cho các nghiên cứu về việc phục hồi của chúng tại KBT

Trang 27

Mỗi mô hình rừng trồng đều được thể hiện cụ thể qua hiện trạng của rừng trồng là các đặc trưng lâm học của rừng tại thời điểm điều tra, trong đó nổi bật chủ yếu là đặc trưng về cấu trúc và sinh trưởng của quần thể loài Sao đen, Dầu cát và Sến cát Từ các ưu, khuyết điểm của từng mô hình ở từng giai đoạn tuổi và từng phương thức trồng riêng, có thể đề xuất các biện pháp kỹ thuật hay giải pháp lâm sinh dựa theo yêu cầu và mục tiêu phục hồi của loài cây họ Sao Dầu tại KBT, cũng như mục đích của từng mô hình rừng trồng nhằm để phục hồi, nuôi dưỡng và bảo

vệ chúng sao cho hiệu quả hơn

3.4.2 Kế thừa các tài liệu có liên quan

- Thu thập các tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên rừng có liên quan tới đề tài, luận văn Nguồn cung cấp thông tin là Phòng Khoa học của KBT

- Thu thập số liệu về các hoạt động trồng rừng Nguồn cung cấp thông tin chính là Phòng Khoa học của KBT Các số liệu quan tâm đến như: loài cây trồng và quy cách trồng, phương thức xử lý đất, diện tích trồng, năm trồng và mật độ trồng, những biện pháp xử lý sau trồng

- Thu thập các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện trước đây tại KBT Nguồn cung cấp tài liệu: Phòng Khoa học của KBT, Phân viện ĐTQHR Nam Bộ, Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ, Sở NN&PTNT tỉnh Bà Rịa-VT, các website(s) liên quan v.v

3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu trên ô tiêu chuẩn

3.4.3.1 Xác định các chỉ tiêu nghiên cứu

Đề tài xác định 2 nhóm chỉ tiêu nghiên cứu chính như sau:

(1) Nhóm chỉ tiêu liên quan đến đặc điểm lâm học của quần thụ, gồm: mật độ lâm phần (N/ha, cây), đường kính thân cây ngang ngực (D1.3, cm), chiều cao vút ngọn (Hvn, m), chiều cao dưới cành (Hdc, m); đường kính tán cây (Dtán, m), tiết diện ngang thân cây (g, m2), tiết diện ngang lâm phần (G, m2/ha), thể tích thân cây (V,

m3), phẩm chất cây…

Trang 28

(2) Nhóm chỉ tiêu về các nhân tố sinh thái: Đề tài thu thập số liệu liên quan tới các nhân tố địa hình, loại đất đặc trưng cho khu vực như: độ dốc, loại đất; ngoài ra là hiện trạng rừng trồng bao gồm phương thức trồng (thuần hay hỗn giao), quy cách trồng (cự ly cây cách cây và hàng cách hàng) và loài cây (cây họ Sao Dầu hay loài cây gỗ khác)

3.4.3.2 Phân chia đối tượng và xác định mẫu nghiên cứu

Việc điều tra thu thập số liệu của rừng trồng gỗ lớn được tiến hành trên các ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình tạm thời, đại diện cho từng trạng thái rừng (loài cây, cấp tuổi), từng mô hình rừng trồng theo phương pháp rút mẫu điển hình với diện tích mỗi OTC là 1.000 m2 (25m x 40m hoặc 20m x 50m)

Đối với những loài cây rừng trồng có diện tích nhỏ hơn hoặc bằng 100 ha thì dung lượng mẫu cho mỗi loài cây và cấp tuổi là 5 ô tiêu chuẩn; với những loài cây rừng trồng có diện tích trên 100 ha thì dung lượng mẫu cho mỗi loài cây và một cấp tuổi là 10 ô tiêu chuẩn Ở đây, do diện tích nhỏ và rải rác, đề tài xác định mỗi đơn vị điều tra (tổ hợp của loài cây và tuổi) là 3 OTC, thấp nhất cũng phải 2 OTC Các ô tiêu chuẩn được chọn điển hình và phân bố tương đối đều trong từng mô hình và ở những giai đoạn tuổi khác nhau

Căn cứ vào những điều kiện trên, các OTC được bố trí theo từng mô hình rừng trồng và diện tích từng mô hình như ghi nhận trong bảng sau (Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Bố trí OTC tạm thời trong nghiên cứu rừng trồng cây họ Sao Dầu

STT Các mô hình

rừng trồng

Tổng diện tích rừng (ha)

Bố trí OTC Tổng số

OTC

Giai đoạn 10-12 tuổi

Giai đoạn 15-17 tuổi

Trang 29

tuổi là 28 OTC trên tổng diện tích là 400,0 ha Việc bố trí OTC, một mặt tuân theo tài liệu tập huấn hướng dẫn kỹ thuật điều tra rừng trồng kèm theo Quyết định số 689/QĐ-TCLN-KL ngày 23/12/2013 của Tổng cục Lâm nghiệp Mặt khác, căn cứ vào hiện trạng thực tế để chọn OTC đáp ứng cho yêu cầu đo đếm và so sánh được với nhau (phải đồng nhất hoá về một số chỉ tiêu ảnh hưởng đến rừng)

3.4.3.3 Thực hiện điều tra và ghi chép các chỉ tiêu nghiên cứu

Về OTC điều tra có hình chữ nhật diện tích 1.000 m2, kích thước (20m x 50m hay 25m x 40m), hình dạng OTC là hình chữ nhật được bố trí theo chiều của hàng cây (chiều dài chạy theo chiều hàng cây)

- Dựa vào số liệu tính toán diện tích, sẽ phân bổ số ô đo đếm cho các trạng thái rừng và cho từng nhóm điều tra

- Sử dụng bản đồ nền hiện trạng rừng kết hợp với máy định vị GPS ra thực địa để tiếp cận lô trạng thái cần điều tra

- Tại lô trạng thái rừng cần điều tra, phải quan sát để nắm bắt được tình hình chung về các nhân tố điều tra như mật độ, chất lượng rừng… của từng lô, trên cơ sở

đó sẽ chọn vị trí đặt ô sao cho tại đó các nhân tố điều tra theo qui định đại diện cho trạng thái rừng đó

- Dùng máy định vị GPS để xác định tọa độ ô đo đếm và ghi vào phiếu điều tra theo qui định

Số liệu điều tra trên OTC thu thập được ghi vào phiếu mẫu biểu theo quy định trong quy trình điều tra lâm học, cụ thể như sau:

(1) Điều tra địa hình, thổ nhưỡng:

- Xác định độ dốc trung bình của khu vực đo đếm, lấy đơn vị khoảnh rừng trồng làm đại diện cho khu vực, mỗi khoảnh một chỉ số độ dốc

- Phân chia loại đất căn cứ vào bản đồ phân loại đất đã có (Phân viện QHTKNN, 2003) Tuy nhiên, trong khu vực trồng rừng gần như chỉ có một loại đất,

do đó đã không có phân loại đất rừng trồng

(2) Điều tra các chỉ tiêu đo đếm trên các ô tiêu chuẩn:

- Đo đường kính thân cây:

Trang 30

 Xác định tên các loài cây trồng hỗn giao hay hỗ trợ đối với cây họ Sao Dầu có trong OTC Riêng đối với cây họ Sao Dầu, đo đường kính tại vị trí 1,3 m nếu cây trên tuổi 10 (D1,3)

Dụng cụ đo đường kính là thước dây

Đơn vị đo là cm; lấy tròn 0,1 cm

- Đo chiều cao cây:

 Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) của các loải cây họ Sao Dầu, không đo

chiều cao dưới cành (Hdc) với cây dưới 10 tuổi hoặc đối tượng chưa trưởng thành

Công cụ đo chiều cao: Thước đo cao Blume leis, sào đo cao

Đơn vị đo chiều cao là mét (m); lấy tròn đến 0,5 m

- Đo đường kính tán:

Đo đường kính tán (Dt) tất cả các tuổi hiện có của cây họ Sao Dầu

Công cụ đo chiều cao: Thước đo cao Blumeleis, sào đo cao

Đơn vị đo chiều cao là mét (m); lấy tròn đến 0,5 m

Như vậy, đối với cây họ Sao Dầu thuộc đối tượng nghiên cứu sau tuổi 10 nhưng chưa đến tuổi thành thục nên chỉ có 3 chỉ tiêu đo: D1,3, Hvn và Dtán

(3) Tất cả những cây gỗ đã đo đường kính đều được xác định phẩm chất cây theo 3 cấp phẩm chất: a, b, c

- Cây phẩm chất a: Cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng, đều, tán cân đối, không sâu bệnh hoặc rỗng ruột

- Cây phẩm chất b: Cây có một số đặc điểm như thân hơi cong, tán lệch, nhưng vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành; hoặc cây

đã trưởng thành, có một số khuyết tật nhỏ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng hoặc lợi dụng gỗ

- Cây phẩm chất c: Cây phẩm chất c là những cây đã trưởng thành, bị khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn ), những cây chưa trưởng thành nhưng có nhiều khiếm khuyết (cây cong queo, sâu bệnh hoặc sinh trưởng không bình thường), khó có khả năng sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành

Trang 31

Kết quả về số cây đo đếm ở các OTC của các mô hình rừng trồng thuộc đối tượng nghiên cứu được liệt kê trong Bảng 2.2 dưới đây:

Bảng 3.2 Thống kê các ô điều tra và số cây đo đếm theo từng mô hình

TT Phương thức trồng Các mô hình

trồng

Quy cách trồng (m)

Số ô điều tra (ô)

Số cây đo đếm (cây)

3.4.4 Phương pháp xử lý và tính toán số liệu

3.4.4.1 Phân chia đối tượng nghiên cứu

1) Phân chia mô hình rừng trồng: Căn cứ vào số loài cây trồng chính (3 loài) thuộc đối tượng nghiên cứu Căn cứ vào số phương thức trồng chính (thuần, hỗn giao) của đối tượng nghiên cứu (2 phương thức) Theo đó, về lý thuyết sẽ có 6 loại

mô hình rừng trồng (được đặt tên bởi loài cây và phương thức trồng) Tuy nhiên, trên thực tiễn diện tích rừng trồng, có thể không có hay không đủ lượng diện tích cần điều tra; cho nên thực tế có 4 loại mô hình; đó là:

- Mô hình Sao đen thuần loại (mã số 1)

- Mô hình Dầu cát thuần loại (mã số 2)

- Mô hình Sao đen hỗn giao (mã số 4)

- Mô hình Sến cát hỗn giao (mã số 5)

3.4.4.2 Tính toán số liệu thực nghiệm

2) Tính các đặc trưng định lượng (D1,3, Hvn, Dtán, N/ha) của từng loài cây theo tuổi và cho từng mô hình rừng trồng

Trang 32

Các chỉ tiêu như D1,3, Hvn, Dtán, N/ha tính cho từng OTC, sau đó tập hợp các

ô theo từng mô hình rừng trồng Điều kiện để sát nhập các OTC là phải trên cùng một khu vực trồng, loại đất trồng, phương thức trồng và quy cách trồng

Xác định sự biến động số cây và tỉa thưa tự nhiên của rừng trồng thông qua tất cả các tuổi rừng trồng hiện có

Xác định quá trình biến thiên của mật độ sau trồng, mật độ hiện tại dựa vào

số cây hiện có, tính trung bình cho các năm

3) Đặc tính phẩm chất hay chất lượng của cây phân theo 3 cấp thông thường là cây tốt (a), cây trung bình (b) và cây xấu (c): Chỉ tiêu phẩm chất được thu thập cho từng cây khi điều tra theo tiêu chuẩn đã định trong điều tra lâm học Sau đó, chúng được tính cho từng OTC theo tỷ lệ phần trăm (%) Phẩm chất cây trồng cũng được xác định theo từng loại cây trồng chính như các chỉ tiêu định lượng ở trên

3.4.4.3 Thực hiện các phân tích số liệu thực nghiệm

4) Xác lập phân bố số cây N theo cấp D1,3, phân bố N theo cấp Hvn và phân bố

N theo G cho mỗi mô hình rừng trồng và cho từng loài cây Các bước chính:

Căn cứ vào số lượng cây họ Sao Dầu có trong OTC, có 2 trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu số lượng cây đủ dung lượng khoảng 30 cây trở lên thì tính

thống kê về tính thuần nhất của phương sai của các chỉ tiêu đo giữa các ô với nhau

Chia đường kính (D1,3) và chiều cao (Hvn) thành các cấp, xác định số cây thực nghiệm ở các cấp này để lập phân bố tần số thực nghiệm (theo tần suất, %) Lập các phân bố thực nghiệm (N% theo D1,3 và Hvn), cụ thể sẽ chọn hai giai đoạn điển hình (hiện có) của rừng trồng

Dựa vào đường phân bố thực nghiệm, lựa chọn các hàm toán học để mô phỏng các qui luật phân bố N/D1,3, N/Hvn và N/Dt Các hàm toán học được chọn thử

Trang 33

nghiệm cho phân bố số cây ở rừng trồng phổ biến nhất là: hàm Gamma, hàm Normal, hàm Lognormal và hàm Weibull Đây cũng là các hàm phân bố lý thuyết sẵn có trong phần mềm Statgraphics

Để kiểm tra mức độ phù hợp của các quy luật phân bố lý thuyết với phân bố thực nghiệm N/D1,3 và N/Hvn, đề tài sử dụng trắc nghiệm 2 Phương pháp thực hành mô phỏng và kiểm tra sự phù hợp của phân bố hoàn toàn tuân theo nguyên tắc thống kê Tiêu chuẩn đánh giá dựa vào giá trị 2 tính và P-value từ máy tính Nếu xác suất P càng cao thì sự khác biệt giữa phân bố thực nghiệm và hàm lý thuyết càng không có ý nghĩa, nghĩa là hàm lắp vào càng phù hợp

5) Đề tài tiến hành thử nghiệm tương quan H/D1,3 của từng mô hình rừng trồng bằng cách lựa chọn từ các dạng phương trình khác nhau (có sẵn trong phần mềm Statgraphics) Để làm rõ vấn đề này, trước hết đề tài hết xác định các đặc trưng thống kê như hệ số tương quan (R), sai tiêu chuẩn (SE), sai số bình phương tổng nhỏ nhất (SSR),… ở mức ý nghĩa cao (P-value đều nhỏ hơn 0,05) của các phương trình thử nghiệm để so sánh, từ đó lựa chọn phương trình phù hợp nhất để mô phỏng cho quy luật tương quan giữa Hvn và D1,3 cho các mô hình rừng trồng ở khu vực nghiên cứu Sau đó, thực hiện so sánh hàm tương quan giữa các mô hình rừng

để xác định diễn biến của Hvn thay đổi theo D1,3 như thế nào

6) Sự cạnh tranh giữa những cây gỗ về nước, ánh sáng và không gian sống có ảnh hưởng đến thành phần loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, tái sinh và đa dạng loài cây gỗ Trong nghiên cứu này (ở rừng trồng), mức độ cạnh tranh giữa những cây gỗ trong ba trạng thái rừng được phân tích theo chỉ số cạnh tranh tán (CCI) = Crown Competiton Index) Sở dĩ sử dụng chỉ số CCI là vì sự giao tán giữa những cây gỗ có thể được xác định từ Dt Chỉ số CCI của cây thứ i (CCIi) trong quần thụ được xác định theo công thức; trong đó zi (m2/ha) là diện tích tán của cây i, Z = 1.000 m2

(diện tích ô tiêu chuẩn), Dt là đường kính tán của cây thứ i

CCIi = zi/Z = (0,785*Dti^2)/1.000

Chỉ tiêu zi của một cây gỗ trưởng thành (D > 6 cm) được ước lượng gần đúng theo diện tích hình tròn với đường kính bằng Dt Tổng diện tích tán của tất

Trang 34

cả cây gỗ trong quần thụ (ZQT, m2/ha) được xác định dựa vào tổng số cây (quy

ra hecta, trong đó có diện tích tán và N/ha là mật độ quần thụ)

3.4.4.4 So sánh giữa các trung bình mẫu

7) Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố trồng rừng tới các chỉ tiêu sinh trưởng của cây và quần thụ ở các mô hình rừng trồng

Chọn yếu tố tác động cần so sánh và chỉ tiêu so sánh: Yếu tố ảnh hưởng là phương thức trồng rừng và loài cây trồng rừng Chỉ tiêu so sánh là các chỉ tiêu sinh trưởng của cây D1.3, Hvn, Dtán và phẩm chất cây trồng đối với các cây cá thể được đo đếm trong OTC tạm thời

Khi so sánh một yếu tố gọi là yếu tố tác động thì các yếu tố còn lại phải được kiểm soát và tác động đến sinh trưởng của đối tượng nghiên cứu là như nhau Ví dụ: khi so sánh giữa hai phương thức trồng thì các yếu tố như cấp tuổi, loài cây trồng phải là đồng nhất Do vậy, việc chọn mẫu (là các OTC) để so sánh phải đáp ứng được các tiêu chí trên

Sử dụng trắc nghiệm t-Student để so sánh trung bình hai mẫu Vì các yếu tố tác động không so sánh phải là như nhau nên coi hai mẫu xuất phát từ một tổng thể

và do đó chọn kiểu so sánh giữa hai mẫu độc lập với phương sai bằng nhau Việc so sánh được thực hiện trên nguyên tắc số cây cho mỗi mẫu phải trên 30 cây (của 1 đến 3 ô tiêu chuẩn cùng loại tùy theo mật độ hiện tại)

Trong trường hợp nhiều hơn 3 mẫu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) để đánh giá Trong đó, yếu tố đưa vào so sánh là những loài tham gia vào từng mô hình (mỗi mô hình chỉ chọn một loài cây chính) Việc so sánh dựa vào chỉ tiêu đo của từng cây trên tất cả các cây của các OTC đưa vào mẫu cần so sánh

Đánh giá kết quả so sánh sinh trưởng giữa hai hay nhiều mẫu mẫu dựa vào trị

số xác suất ý nghĩa (P-value) của kiểm định t hay kiểm định F với xác suất P ở các ngưỡng ý nghĩa như sau:

P-value > 0,05 Sự khác biệt giữa hai trung bình là không có ý nghĩa

P-value ≤ 0,05 Sự khác biệt giữa hai trung bình là có ý nghĩa

Trang 35

P-value ≤ 0,01 Sự khác biệt giữa hai trung bình là rất có ý nghĩa

8) Cuối cùng, việc đề xuất các biện pháp lâm sinh cho kỹ thuật trồng rừng và nuôi dưỡng rừng trồng dựa vào kết quả của các nội dung ở trên, theo từng bước: Bước 1: Đặt ra các tiêu chí để đánh giá

Bước 2: Đối chiếu kết quả nghiên cứu với những tiêu chí đặt ra,

Bước 3: Chọn kết quả vừa có trong kết quả nghiên cứu vừa đạt ở thang bậc của tiêu chí để đưa vào biện pháp

Bước 4: Đề xuất biện pháp, cụ thể cho đối tượng, vị trí và cách làm

Trang 36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm lâm học của mô hình rừng trồng cây họ Sao Dầu

4.1.1 Kết quả phân chia các mô hình rừng trồng

Đầu tiên, dựa vào loài cây trồng chính đã lựa chọn trong đối tượng nghiên cứu đã xác định, có 3 loài là Sao đen, Dầu cát và Sến cát Trong trường hợp trồng hỗn giao nhiều loài cây gỗ thì lấy loài có số cá thể nhiều nhất trong mô hình Như vậy, mỗi mô hình được đặc trưng bằng một loài Tiếp theo, dựa vào dạng trồng kết hợp hay hỗn giao, chia ra thành 2 loại hình rừng trồng: (1) rừng trồng cây họ Sao Dầu kết hợp với cây nguyên liệu giấy (NLG) hay với cây nông nghiệp ngắn ngày (NNn), (2) rừng trồng cây họ Sao Dầu hỗn giao với các loài cây gỗ khác (cây lâm nghiệp) hay xen cây nông nghiệp dài ngày (NNd) Theo đó, tên của một mô hình là tên gọi cho một loại hình rừng trồng được hình thành bởi 2 yếu tố (loài cây và cách trồng), mỗi loài cây có thể có một hay cả hai cách trồng như trên

Căn cứ vào hiện trạng rừng trồng, đề tài cần làm rõ một số “khái niệm” liên quan tới mô hình rừng trồng phục hồi tại khu vực nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, gọi là trồng kết hợp với cây họ Sao Dầu nghĩa là cây kết hợp chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, có thể là cây trồng hàng năm như khoa mì và cũng có thể là cây trồng tồn tại vài năm như Keo lai, Keo lá tràm Như vậy, việc gọi là rừng

“thuần” ở đây chỉ có nghĩa đối với cây trồng chính là Sao đen, Dầu cát hay Sến cát khi rừng đã khép tán, không xác định cho cây trồng hỗ trợ (Keo lai, Keo lá tràm)

Thứ hai, ngay trong mô hình gọi là trồng hỗn giao thì cây hỗn giao cũng có thể là cây lâm nghiệp (cây họ Dầu như Sao, Sến cát, Dầu, Cẩm liên hay cây họ Đậu như Gõ đỏ, Giáng hương); và cũng có thể là cây nông nghiệp dài ngày (NNd) như cây Điều, Hồ tiêu Về nguyên tắc, những cây nông nghiệp không thể tồn tại lâu trong rừng trồng, song một số mô hình vẫn còn cây Điều mặc dù rừng đã tuổi 10

Căn cứ vào hiện trạng thực tế, trong mỗi phương thức trồng lại có nhiều quy cách trồng (khoảng cách cây) khác nhau Trên thực tế, do có trồng xen nên cự ly

Trang 37

giữa các cây hay hàng đều không hoàn toàn như thiết kế, hai loại cự ly phổ biến là: (a) quy cách trồng 6x4 m (tương đương với mật độ trồng 417 cây/ha), (b) quy cách trồng 6x3,5 m (mật độ 475 c/ha) (tên quy cách trồng: số trước là cách hàng và số sau là cách cây trong hàng) Do cự ly trên thực tế là 6x4 m phổ biến hơn, nên đề tài thống nhất mật độ trồng ban đầu là 417 cây/ha cho tất cả các mô hình xem xét

Theo cách làm trên, loại hình rừng trồng là tương đối đơn giản nếu chỉ nhìn vào loại cây trồng chính (cây họ Sao Dầu) Song, với cây trồng kết hợp hay hỗn giao hoặc cây phụ trợ, vẫn có thể có nhiều cách “xen” với cây trồng chính, nghĩa là

do sự can thiệp của con người nên có nhiều kiểu mô hình rừng trồng khác nhau Vậy, khái niệm “mô hình rừng trồng” theo trình bày ở đây sẽ chỉ định cho một loài cây trồng chính, tương ứng với một kỹ thuật đã định (phương thức trồng, quy cách trồng) và tồn tại trên một điều kiện đất trồng có thể xác định được Tóm lại, theo cách tổ hợp sẽ có khoảng 6 loại mô hình rừng trồng nếu căn cứ vào loài cây trồng chính và phương thức trồng Thực tế xem xét là 4 mô hình Tất cả các trình bày liên quan đến rừng trồng sau đây đều sắp xếp theo thứ tự: phương thức trồng, mô hình rừng trồng, tuổi rừng trồng

+ Phương thức 1: Rừng trồng cây họ Sao Dầu với cây ngắn ngày

Loại hình rừng trồng cây Sao đen, Dầu cát với cây nông nghiệp ngắn ngày (viết tắt NNn) là khá phổ biến trong KBT Cây nông nghiệp gồm khoa mì, bắp và một và loài cây khác, trong đó chủ yếu là khoa mì (sắn) Thời gian giữa cây họ Sao Dầu với cây mì trồng sống chung với nhau có thể đến 5 - 6 năm đầu sau trồng, sau

đó khi rừng khép tán thì dừng trồng khoai mì Từ đó dẫn đến hiện trạng có mô hình chỉ còn lại cây trồng chính (họ Sao Dầu), có mô hình vẫn còn rải rác các đám cây nông nghiệp, đa số đều là dạng tận dụng đất để trồng với nhiều chu kỳ khác nhau

+ Phương thức 2: Rừng trồng cây họ Sao Dầu hỗn giao nhiều loài

Loại hình rừng trồng cây họ Sao Dầu với cây gỗ (cây lâm nghiệp) hay cây nông nghiệp dài ngày (viết tắt NNd) rất phổ biến trong KBT Cây lâm nghiệp gồm các loài họ Dầu hoặc những loài cây bản địa khác của khu vực, đa số trồng dưới dạng thử nghiệm; trong đó chủ yếu là một số loài cây họ Sao Dầu hay cây họ Đậu

Trang 38

(Dầu, Sến cát, Vên vên, Cẩm liên, Gõ đỏ và Giáng hương), thậm chí kể cả cây hỗ trợ như Keo lá tràm và cây công nghiệp như Điều Từ đó, dẫn đến hiện trạng rất phức tạp về loài cây trồng hỗn giao Đề tài xác định đối tượng cây trồng xen hay trồng hỗn giao kiểu này đều có thời gian chung sống rất lâu với cây trồng chính, cho nên gộp chung là mô hình trồng hỗn giao hai hay nhiều loài cây gỗ

Loại hình rừng trồng cây lâm nghiệp với cây nông nghiệp dài ngày (NNd) là một điểm mới của kỹ thuật trồng rừng dựa vào cộng đồng Xuất phát điểm là trên diện tích trồng rừng cây gỗ lớn giao cho người dân quản lý, họ được trồng xen cây nông nghiệp vào đó Đến nay, qua nhiều biến cố của xã hội, vừa có tính chọn lọc và vừa có tính thị trường mà tồn tại chủ yếu là rừng cây gỗ lớn xen cây ăn quả và cây công nghiệp Tuy nhiên, khác với cây trồng kêt hợp có thể bị tỉa thưa hoặc khai thác trắng, cây công nghiệp trong mô hình tương đối ổn định về số lượng theo thời gian, mật độ cây trồng chính và cây phụ trợ đã được cố định từ ban đầu

Dựa vào hồ sơ trồng rừng, trong 2 phương thức trồng rừng, diện tích rừng trồng hỗn giao của hai hay nhiều loài cây chiếm nhiều nhất và rừng trồng thuần Dầu cát chiếm ít nhất Dưới đây là một số đặc điểm chính của từng phương thức:

Bảng 4.1 Một số đặc điểm cơ bản của các mô hình rừng trồng họ Sao Dầu

Loài cây trồng chính Cây trồng hỗn giao, hỗ trợ Tuổi cây

(năm)

Mật độ (c/ha)

D00

(cm)

Hvn (m)

Loài cây trồng

Thời điểm trồng

Cách trồng

- Rừng trồng cây họ Sao Dầu kết hợp cây ngắn ngày

Tuổi 10-12 417 13 – 19 5 – 7 NNn Hàng năm Xen cây Tuổi 15-17 417 25 – 35 9 – 12 NNn Hàng năm Xen cây

- Rừng trồng cây họ Sao Dầu hỗn giao cây gỗ khác

Tuổi 10-12 417 13 – 19 5 – 7 LN, NNd Cùng Xen Tuổi 15-17 417 25 – 35 9 - 12 LN, NNd Cùng Xen Với kết quả trình bày ở Bảng 4.3, cùng với số liệu đã tóm tắt trong Bảng 3.1,

có thể nhận thấy đối tượng nghiên cứu có những đặc điểm chính sau đây:

Trang 39

1) Có 2 phương thức trồng chính và trong mỗi phương thức lại có các loài cây trồng khác nhau, các năm trồng của mỗi phương thức cũng không liên tục Theo

đó, việc chọn mẫu để so sánh giữa các chỉ tiêu nghiên cứu phải dựa trên việc đồng nhất các yếu tố tác động khác (cùng loại đất, cùng phương thức, cùng quy cách, cùng tuổi hay cùng loài) là rất khó khăn

2) Tuy có các tuổi 10, 11, 12 và 15, 16, 17 là liên tục, nhưng ở mỗi giai đoạn tuổi này lại không có các cặp phương thức trồng, loài cây trồng một cách liên tục giữa các năm, dẫn đến việc xác định những đặc điểm lâm học theo thời gian (năm) của các loại hình rừng trồng cũng là một trở ngại Mặt khác, theo thời gian, ở đây là xác định trên những đối tượng khác nhau, không phải của một đối tượng được xem xét liên tục trong nhiều năm, do đó đánh giá sinh trưởng chỉ mang tính thời điểm

3) Loại cây trồng hỗ trợ lấy gỗ (NLG) hay cây nông nghiệp ngắn ngày (NNn) có thể trồng trước, trồng cùng hay trồng lại (chu kỳ 2) so với thời điểm trồng của loài cây trồng chính Nếu cây NLG trồng trước hay trồng cùng thì có D1,3 và

Hvn luôn lớn hơn so với cây trồng chính Nếu trồng lại khi cây trồng chính đang ở tuổi 5 – 7, sau 2 – 3 năm cây hỗ trợ có D1,3 và Hvn xấp xỉ với cây trồng chính Tóm lại, trong trường hợp nào thì cây hỗ trợ cũng che bóng đối với cây trồng chính

4) Tương tự, loại cây trồng hỗ trợ là cây dài ngày (NNd) có thể trồng trước, trồng cùng hay trồng lần 2, lần 3 so với cây trồng chính Do đặc điểm của cây ăn quả (Điều) thường có đường kính tán lớn, nhưng cây không phát triển nhiều về chiều cao Theo đó, đối với cây NNd, trong một chu kỳ cây gỗ có thể thay đổi không chỉ số lần mà còn cả loài cây trồng hỗ trợ Tóm lại, diễn biến cây trồng hỗ trợ giữa các mô hình và giữa các giai đoạn rừng trồng cây gỗ đều rất thay đổi

Những yếu tố trên dẫn đến việc xác định một đặc điểm lâm học nào đó của đối tượng nghiên cứu phải xét trên tổng thể có đặc điểm đó, cơ bản là dựa trên mẫu (là những OTC) có các chỉ tiêu tương xứng với các yếu tố so sánh khác nhau, nhưng phải trên “nền” các yếu tố tác động như nhau Đây chính là quan điểm cơ bản được nhất quán trong toàn bộ quá trình so sánh và phân tích, đánh giá các đặc điểm lâm học của đề tài luận văn này

Trang 40

+ Ưu nhược điểm của các loại rừng trồng cây họ Sao Dầu

i) Ở rừng Sao đen, Dầu cát, Sến cát kết hợp với cây NNn và NLG: Trước hết, bản thân các loài cây này thường có khả năng làm cho đất tốt hơn nhờ khả năng

cố định đạm của nó Tiếp theo, các cây NNn và NLG đều là cây mọc nhanh, chỉ sau một năm có thể che bóng cho cây trồng chính, tạo điều kiện cho cây trồng chính phát triển tốt hơn Vì thế, việc trồng cây trồng chính cùng hay sau cây phụ trợ là cây NLG đều có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của cây trồng chính

Có thể khẳng định rằng, nếu cây trồng hỗ trợ được thiết kế với mật độ đủ để che sáng, quy trình tỉa thưa áp dụng đúng lúc thì ảnh hưởng của cây phụ trợ là tích cực; ngược lại ảnh hưởng sẽ là tiêu cực Trên thực tế tại KBT đã tồn tại cả hai

ii) Ở rừng Sao đen, Dầu cát và Sến cát hỗn giao hay xen cây NNd: Như đã trình bày, cây NNd chủ yếu là Điều, Hồ tiêu Do việc chăm sóc đối với các loài cây này rất thiết thực đối với người dân, do đó có thể ảnh hưởng đến cây trồng rừng ở

cả hai mặt: tích cực và tiêu cực Mặt tích cực thể hiện rõ nhất là cây trồng chính được hưởng lợi về từ cách chăm sóc về độ ẩm đất, làm cỏ dại và phòng trừ sâu bệnh hại Mặt tiêu cực là vì tính cạnh tranh giữa các loài cây không phải do tự nhiên mà

do chính sự can thiệp của con người, dẫn đến một số cá thể cây rừng trồng có chất lượng xấu Bên cạnh, do cây rừng có thể che sáng cây ăn quả nên tán cây rừng cũng

có thể tỉa cành dưới quá mức

4.1.2 Biến động mật độ cây trồng theo loài và phương thức trồng rừng

Biến động mật độ cây trồng là tỷ lệ cây sống thay đổi theo vị trí nơi trồng (không gian), trong khoảng thời gian từ thời điểm trồng đến thời điểm điều tra Biến động mật độ được xác định cho điều kiện lập địa nơi trồng, loài cây trồng chính và các phương thức trồng Chỉ tiêu xác định biến động mật độ là số cây trên một đơn vị diện tích (N/ha), tỷ lệ trung bình cây sống (N,%), độ lệch tiêu chuẩn (S) và hệ số biến động (Cv,%) ở thời điểm điều tra ứng với các mật độ trồng ban đầu và ở các giai đoạn tuổi khác nhau

Ngày đăng: 15/05/2021, 12:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Trần Văn Con (2005). Nghiên cứu đặc điểm lâm học một số hệ sinh thái rừng chủ yếu ở Việt Nam. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm học một số hệ sinh thái rừng chủ yếu ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Con
Năm: 2005
4. Phạm Thế Dũng (2014). Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa có giá trị ở vùng khô hạn Ninh Thuận – Bình Thuận. Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa có giá trị ở vùng khô hạn Ninh Thuận – Bình Thuận
Tác giả: Phạm Thế Dũng
Năm: 2014
5. Vũ Xuân Đề, 1985. Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp khai thác đảm bảo tái sinh rừng, cải tạo rừng và trồng rừng cây gỗ lớn gỗ quý ở miền Đông Nam Bộ. Phân viện Lâm nghiệp phía Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp khai thác đảm bảo tái sinh rừng, cải tạo rừng và trồng rừng cây gỗ lớn gỗ quý ở miền Đông Nam Bộ
6. Phạm Quốc Hùng, Nguyễn Huy Dũng, Nguyễn Quốc Dựng, Lê Đức Thanh, Lê Mạnh Tuấn, Nguyễn Mạnh Hùng, Trần Văn Hổ, Nguyễn Thị Hằng (2010).“Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc danh mục nghị định 32/2006/NĐ-CP theo vùng sinh thái”.Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp Viện Điều tra Quy hoạch Rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc danh mục nghị định 32/2006/NĐ-CP theo vùng sinh thái”
Tác giả: Phạm Quốc Hùng, Nguyễn Huy Dũng, Nguyễn Quốc Dựng, Lê Đức Thanh, Lê Mạnh Tuấn, Nguyễn Mạnh Hùng, Trần Văn Hổ, Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2010
7. Nguyễn Xuân Lợi, Lưu Văn Nông Và Trần Thế Bách (2011). “Nghiên cứu nhân giống cây Sao đen Pterocarpus macrocarpus kurz tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà. 704 – 707. Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhân giống cây Sao đen Pterocarpus macrocarpus kurz tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà. 704 – 707
Tác giả: Nguyễn Xuân Lợi, Lưu Văn Nông Và Trần Thế Bách
Năm: 2011
9. Hà Thị Mừng, 2007. Nghiên cứu một số đặc tính sinh học và biện pháp tạo cây con Sao đen (Pterocarpus macrocarpus) góp phần đề xuất kỹ thuật gây trồng ở Đắklắk – Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh. Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam. Hà Nội, 220-244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh học và biện pháp tạo cây con Sao đen (Pterocarpus macrocarpus) góp phần đề xuất kỹ thuật gây trồng ở Đắklắk – Tây Nguyên
10. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Đức Thành, Trần Thuỳ Linh (2007). Kết quả phân tích đa dạng di truyền loài Sến cát cát (Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib.) bằng chỉ thị phân tử RAPD. Viện Khoa học Lâm nghiệp - Viện Công nghệ sinh học. Tạp chí NN&PTNT, 14/2007, 44-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân tích đa dạng di truyền loài Sến cát cát (Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib.) bằng chỉ thị phân tử RAPD
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Đức Thành, Trần Thuỳ Linh
Năm: 2007
14. Nguyễn Minh Tân (2015). Đánh giá kết quả hoạt động quản lý rừng đối với giá trị bảo tồn cao tại Khu bảo tồn thiên nhiên – văn hóa Đồng Nai. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả hoạt động quản lý rừng đối với giá trị bảo tồn cao tại Khu bảo tồn thiên nhiên – văn hóa Đồng Nai
Tác giả: Nguyễn Minh Tân
Năm: 2015
15. Nguyễn Hữu Thế (2015). Đặc điểm lâm học của một số cây ưu hợp thực vật thuộc rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới tại vườn quốc gia Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm học của một số cây ưu hợp thực vật thuộc rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới tại vườn quốc gia Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Nguyễn Hữu Thế
Năm: 2015
19. Tô Bá Thanh (2015). Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ Dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên – văn hóa Đồng Nai. Luận văn tiến sỹ. Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ Dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên – văn hóa Đồng Nai
Tác giả: Tô Bá Thanh
Năm: 2015
20. Hồ Sỹ Trung (2015). Đặc điểm lâm học loài trôm (Sterculia foetida L.) phân bố tự nhiên và hiệu quả các mô hình rừng trồng Trôm tại huyện Thuận Nam tỉnh Bình Thuận. Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm học loài trôm (Sterculia foetida "L.)" phân bố tự nhiên và hiệu quả các mô hình rừng trồng Trôm tại huyện Thuận Nam tỉnh Bình Thuận
Tác giả: Hồ Sỹ Trung
Năm: 2015
21. Hồ Anh Tuấn (2015). Nghiên cứu về phân bố cây Sến cát cát tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Easô. Trường Đại học Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về phân bố cây Sến cát cát tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Easô
Tác giả: Hồ Anh Tuấn
Năm: 2015
22. Nguyễn Huy Sơn (1999). Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của một số loài cây họ Sao Dầu trên đất Bazan thoái hóa ở Tây Nguyên nhằm phục hồi rừng trồng và phát triển cây công nghiệp. Luận án tiến sỹ, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.Tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng cải tạo đất của một số loài cây họ Sao Dầu trên đất Bazan thoái hóa ở Tây Nguyên nhằm phục hồi rừng trồng và phát triển cây công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Huy Sơn
Năm: 1999
1. Angiosperm Phylogeny Group (APG) (2003). “An update of the Angiosperm Phylogeny Group classification for the orders and families of flowering plants: APG II” (PDF) (bằng tiếng Anh) 141. Botanical Journal of the Linnean Society. tr. 399–436 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An update of the Angiosperm Phylogeny Group classification for the orders and families of flowering plants: APG II
Tác giả: Angiosperm Phylogeny Group (APG)
Năm: 2003
2. Trần Hữu Biển, Nguyễn Kiên Cường (1/2014 – 12/2017). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học phục vụ cho việc xây dựng mô hình bảo tồn Sao đen trái to (Pterocarpus macrocarpus Kurz.) tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai Khác
11. Thông tin tổng quan và thông tin về các mô hình rừng trồng (2016). Phòng KTLS Khu Bảo tồn Thiên nhiên BC-PB Khác
16. Theo tài liệu tập huấn hướng dẫn kỹ thuật điều tra rừng (Kèm theo Quyết định số 689/QĐ-TCLN-KL ngày 23/12/2013 của Tổng cục Lâm nghiệp) Khác
17. Đặng Ngọc Thanh, 2007. Sách đỏ Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 412 trang Khác
18. Nguyen Duc Thanh, Le Thi Bich Thuy and Nguyen Hoang Nghia (2012), Genetic diversity of Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib in Vietnam based on analyses of chloroplast markers and random amplified polymorphic DNA Khác
2. DFSC 2000, Seed Leaflet No.6. Afzelia xylocarpa (Kruz.) Craib. Danida Forest Seed Centre (DFSC), September Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w