1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đặc điểm lâm học của nhóm rừng giàu và rừng trung bình thuộc kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới ở Ban quản lý rừng Nam Huoai, tỉnh Lâm Đồng

104 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 12,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đa dạng sinh vật phụ thuộc vào vị trí địa lý vĩ độ, kinh độ, độ cao địa hình, khí hậu, thời gian hình thành môi trường, những rối loạn trong môi trường, cấu trúc và trạng thái diễn thế c

Trang 1

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào

đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn

của Hội đồng khoa học

Học viên cam đoan

Nguyễn Mạnh Tiến

Trang 2

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ từ phía nhà trường, bạn bè và gia đình

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành đến PGS

TS Trần Quang Bảo, người đã dành thời gian quý báu để tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận văn

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời biết ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại Học Lâm nghiệp việt nam, Ban Giám đốc cơ sở II trường Đại học Lâm nghiệp việt nam, phòng Sau Đại học, Ban chủ nhiệm Khoa lâm nghiệp, Ban khoa học công nghệ thuộc

cơ sở II trường Đại học Lâm Nghiệp và toàn thể quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt khóa học

Xin chân thành cảm ơn một số đồng nghiệp tại Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, Đội Kiểm Lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng số 2 và Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Huoai đã giúp tôi trong quá trình điều tra số liệu hiện trường, sưu tập tài liệu…

Tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn đến các bạn học viên Cao học khoá 22A và bạn bè đã đóng góp ý kiến, chia sẻ tài liệu trong suốt thời gian thực hiện Luận văn này Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người thân là nguồn động viên tinh thần rất lớn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này

Đồng Nai, tháng 04 năm 2016

NGƯỜI VIẾT LỜI CẢM TẠ

Nguyễn Manh Tiến

Trang 3

Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm học của nhóm rừng giàu và rừng trung bình thuộc kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới (Rkx) ở Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLR) Nam Huoai, tỉnh Lâm Đồng” Thời gian nghiên cứu từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016 Mục tiêu của đề tài là xác định những đặc điểm lâm học của nhóm rừng giàu và trung bình thuộc Rkx để làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất những biện pháp quản lý rừng và phương thức lâm sinh Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã thu thập 10 ô mẫu điển hình với kích thước 2.500 m2

và 100 ô dạng bản với kích thước 25 m2

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Rkx ở BQLR Nam Huoai thuộc tỉnh Lâm Đồng bắt gặp 53 loài cây gỗ ở nhóm rừng trung bình và 46 loài cây gỗ ở nhóm rừng giàu Số loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế dao động từ 4 – 9 loài ở nhóm rừng trung bình và 5 – 7 loài ở nhóm rừng giàu Trong cả hai nhóm rừng này, tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp nhiều nhất ở nhóm D < 20 cm và lớp H = 10 – 20 m, thấp nhất ở nhóm D > 40

cm và lớp H > 20 m Phân bố N/D của nhóm rừng trung bình có dạng một đỉnh lệch trái; trong đó số cây tập trung nhiều nhất ở nhóm D < 20 cm Phân bố N/D của nhóm rừng giàu có dạng giảm theo hình chữ “J”; trong đó số cây tập trung nhiều nhất ở nhóm D < 20 cm Tiết diện ngang và trữ lượng gỗ thân cây của nhóm rừng trung bình tập trung nhiều nhất ở nhóm D = 20 – 40 cm Trái lại, tiết diện ngang và trữ lượng gỗ thân cây của nhóm rừng giàu tập trung nhiều nhất ở nhóm D > 50 cm Tái sinh tự nhiên của nhóm rừng trung bình và nhóm rừng giàu diễn ra liên tục theo thời gian; trong đó mật độ cây tái sinh của nhóm rừng trung bình cao hơn so với nhóm rừng giàu

Ở cả hai nhóm rừng, phần lớn cây tái sinh có nguồn gốc hạt và có chất lượng tốt Số lượng cây có triển vọng ở nhóm rừng trung bình cao hơn so với nhóm rừng giàu Những thành phần đa dạng alpha (N, S, d, J’, H’ và Simpson) ở nhóm rừng trung bình

và nhóm rừng giàu khác nhau không đáng kể Trái lại, chỉ số đa dạng Beta của nhóm rừng trung bình lớn hơn đáng kể so với nhóm rừng giàu

Trang 4

Lời cam đoan i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt luận văn iii

Mục lục iv

Danh sách những chữ viết tắt vi

Danh sách các bảng vii

Danh sách các hình viii

Danh sách các phụ lục x

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình chung 3

1.2 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng 3

1.3 Những nghiên cứu về kết cấu loài cây gỗ và đa dạng loài cây gỗ 4

1.4 Phương pháp thu mẫu trong nghiên cứu lâm học 6

1.5 Thảo luận 7

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 8

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 8

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 8

2.2 Đối tượng nghiên cứu 8

2.3 Phạm vi nghiên cứu 8

2.4 Nội dung nghiên cứu 8

2.5 Phương pháp nghiên cứu 9

2.5.1 Phương pháp luận 9

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 9

2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 11

2.5.4 Công cụ tính toán 14

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16

3.1 Vị trí địa lý 16

3.2 Khí hậu - thủy văn 16

3.3 Địa hình – Đất 16

Trang 5

3.5 Giao thông 17

3.6 Tài nguyên rừng 18

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình và rừng giàu 19

4.1.1 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình 19

4.1.2 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu 25

4.2 Cấu trúc của nhóm rừng trung bình và rừng giàu 30

4.2.1 Kết cấu mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng theo nhóm đường kính 30

4.2.2 Phân bố số cây theo cấp đường kính 32

4.2.3 Phân bố số cây theo cấp chiều cao 37

4.2.4 Phân bố số loài cây gỗ theo lớp chiều cao 40

4.3 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của nhóm rừng trung bình và rừng giàu 43

4.3.1 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của nhóm rừng trung bình 43

4.3.2 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của nhóm rừng giàu 46

4.3.3 So sánh tái sinh tự nhiên của nhóm rừng trung bình và rừng giàu50 4.4 Đa dạng loài cây gỗ đối với nhóm rừng trung bình và nhóm rừng giàu 51

4.4.1 Đa dạng loài cây gỗ đối với nhóm rừng trung bình 51

4.4.2 Đa dạng loài cây gỗ đối với nhóm rừng giàu 52

4.4.3 So sánh đa dạng loài cây gỗ giữa nhóm rừng trung bình và rừng giàu 53

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 60

Trang 6

Chữ viết tắt Tên gọi đầy đủ

Dmax - Dmin Biên độ biến động đường kính thân cây

Hmax - Hmin Biên độ biến động chiều cao thân cây

G (m2/ha) Tiết diện ngang lâm phần

Beta - Whittaker Chỉ số đa dạng Beta của Whittaker

Trang 7

Bảng 2.1 Vị trí ô tiêu chuẩn của nhóm rừng trung bình thuộc BQLR Nam Houai 10

Bảng 2.2 Vị trí ô tiêu chuẩn của nhóm rừng giàu thuộc BQLR Nam Houai 10

Bảng 4.1 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình thuộc Rkx ở BQLR Nam Huoai, tỉnh Lâm Đồng 19

Bảng 4.2 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu thuộc Rkx ở BQLR Nam Huoai, tỉnh Lâm Đồng 25

Bảng 4.3 Đặc trưng thống kê phân bố N/D của nhóm rừng trung bình 33

Bảng 4.4 Đặc trưng thống kê phân bố N/D của nhóm rừng giàu 33

Bảng 4.5 Mô hình phân bố N/D của nhóm rừng trung bình 34

Bảng 4.6 Mô hình phân bố N/D của nhóm rừng giàu 35

Bảng 4.7 Ước lượng phân bố N/D của nhóm rừng trung 36

Bảng 4.8 Ước lượng phân bố N/D của nhóm rừng giàu 36

Bảng 4.9 Đặc trưng thống kê phân bố N/H của nhóm rừng trung bình 37

Bảng 4.10 Đặc trưng thống kê phân bố N/H của nhóm rừng giàu 38

Bảng 4.11 Mô hình phân bố N/H của nhóm rừng trung bình 39

Bảng 4.12 Mô hình phân bố N/H của nhóm rừng giàu 39

Bảng 4.13 Ước lượng phân bố N/H của nhóm rừng trung bình 40

Bảng 4.14 Ước lượng phân bố N/H của nhóm rừng giàu 40

Bảng 4.15 Phân bố số loài cây gỗ theo các lớp H ở nhóm rừng trung bình 41

Bảng 4.16 Phân bố số loài cây gỗ theo các lớp H ở nhóm rừng giàu 42

Bảng 4.17 Tổ thành cây tái sinh tự nhiên của nhóm rừng trung bình 43

Bảng 4.18 Tổ thành cây tái sinh tự nhiên của nhóm rừng giàu 47

Bảng 4.19 Phân bố cây tái sinh theo cấp H của nhóm rừng trung bình và rừng giàu 50 Bảng 4.20 Nguồn gốc cây tái sinh của nhóm rừng trung bình và nhóm rừng giàu 50

Bảng 4.21 Chất lượng cây tái sinh của nhóm rừng trung bình và nhóm rừng giàu 51

Bảng 4.22 Đặc trưng thống kê đa dạng loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình 52

Bảng 4.23 Đặc trưng thống kê đa dạng loài cây gỗ của nhóm rừng giàu 53

Bảng 4.24 So sánh đa dạng loài cây gỗ giữa hai nhóm rừng trung bình và giàu 54

Trang 8

Hình 4.1 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình 20

Hình 4.2 Đồ thị kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo nhóm D < 20 cm 21

Hình 4.3 Đồ thị kết cầu loài cây gỗ của rừng trung bình theo nhóm D = 20 - 40 cm 22

Hình 4.4 Đồ thị kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo nhóm D > 40 cm. 22

Hình 4.5 Đồ thị kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo lớp H < 10 m 23

Hình 4.6 Đồ thị kết cầu loài cây gỗ của nhóm trung bình theo lớp H = 10 - 20 m 24

Hình 4.7 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của rừng trung bình theo lớp H > 20 m 24

Hình 4.8 Đồ thị mô tả tổ thành cây gỗ của nhóm rừng giàu 25

Hình 4.9 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu theo nhóm D<20 cm 27

Hình 4.10 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của rừng giàu theo nhóm D = 20 - 40 cm 27

Hình 4.11 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của rừng giàu theo nhóm D > 40 cm 28

Hình 4.12 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của rừng giàu theo lớp H < 10 m 29

Hình 4.13 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của rừng giàu theo lớp H = 10 - 20 m 29

Hình 4.14 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của rừng giàu theo lớp H > 20 m 30

Hình 4.15 Kết cấu mật độ (N%), tiết diện ngang (G%) và trữ lượng gỗ (M%) của nhóm rừng trung bình 31

Hình 4.16 Kết cấu mật độ (N%), tiết diện ngang (G%) và trữ lượng gỗ (M%) của nhóm rừng giàu 32

Hình 4.17 Phân bố N/D của nhóm rừng trung bình 34

Hình 4.18 Phân bố N/D của nhóm rừng giàu 35

Hình 4.19 Phân bố N/H của nhóm rừng trung bình (a) và nhóm rừng giàu (b) 39

Trang 9

Hình 4.24 Đồ thị biểu diễn phân bố số cây tái sinh của nhóm rừng trung bình theo cấp

chất lượng (tốt, trung bình và xấu) 46

Hình 4.25 Đồ thị mô tả kết cấu loài cây tái sinh của nhóm rừng giàu 47 Hình 4.26 Đồ thị biểu diễn phân bố số cây tái sinh của nhóm rừng giàu theo cấp chiều

cao 48

Hình 4.27 Đồ thị biểu diễn phân bố số cây tái sinh của nhóm rừng giàu theo nguồn

gốc hạt và chồi 48

Hình 4.28 Đồ thị biểu diễn phân bố số cây tái sinh của nhóm rừng giàu theo cấp chất

lượng (tốt, trung bình và xấu) 49

Trang 10

Phụ lục 1 Danh lục thực vật thuộc nhóm rừng trung bình ở khu vực nghiên cứu 60

Phụ lục 2 Biểu đồ phẫu diện của nhóm rừng trung bình 62

Phụ lục 3 Tổ thành của nhóm rừng trung bình 63

Phụ lục 4 Danh lục thực vật thuộc nhóm rừng giàu ở khu vực nghiên cứu 66

Phụ lục 5 Tổ thành của nhóm rừng giàu 67

Phụ lục 6 Biểu đồ phẫu diện của nhóm rừng giàu 70

Phụ lục 7 Kết cấu N, G, M theo nhóm D 70

Phụ lục 8 Phân bố N/D của nhóm rừng trung bình 75

Phụ lục 9 Phân bố N/D của nhóm rừng giàu 76

Phụ lục 10 Phân bố N/H của nhóm rừng trung bình 77

Phụ lục 11 Phân bố N/H của nhóm rừng giàu 78

Phụ lục 12 Thành phần cây tái sinh của nhóm rừng trung bình 79

Phụ lục 13 Thành phần cây tái sinh của nhóm rừng giàu 81

Phụ lục 14 Số cá thể của các loài cây gỗ thuộc nhóm rừng trung bình 82

Phụ lục 15 Số cá thể của các loài cây gỗ thuộc nhóm rừng giàu 83

Phụ lục 16 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo nhóm D 84

Phụ lục 17 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo nhóm H 86

Phụ lục 18 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giầu theo nhóm D 88

Phụ lục 19 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giầu theo nhóm H 89

Phụ lục 20 Kết cấu mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng theo nhóm đường kính 91 Phụ lục 21 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của nhóm rừng trung bình 92

Phụ lục 22 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của nhóm rừng giàu 94

Trang 11

tế, quốc phòng và bảo vệ môi trường sống Tuy nhiên, cùng với sự mất rừng do nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng tăng cao, mặt khác do tầm quan trọng và giá trị trực tiếp của tài nguyên rừng đối với cuộc sống của con người rất lớn như gỗ trong xây dựng, đồ thủ công mỹ nghệ… Bên cạnh đó, nhận thức của người dân còn thấp và năng lực quản

lý của các cơ quan chức năng còn hạn chế, cộng với các giải pháp quản lý bảo vệ và phát triển rừng chưa cụ thể, chưa sâu sát nên hiệu quả bảo vệ rừng chưa cao làm cho kiểu rừng Rkx ở đây cũng bị suy giảm về diện tích

Nhiều nhà Lâm học (Richards, 1952, 1965 [12, 13]; Kimmins, 1998 [27]; Thái văn Trừng, 1999 [19]) đã chỉ ra rằng, quản lý rừng, bảo vệ rừng và những phương thức lâm sinh đòi hỏi phải có những kiến thức về các loại rừng Năm 2009, Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn [3] đã ban hành thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT về “Quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng” phục vụ điều tra, kiểm kê, thống kê rừng, quy hoạch bảo vệ phát triển rừng, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng các chương trình và

dự án lâm nghiệp Theo thông tư này, rừng nước ta được phân chia dựa theo các mục đích sử dụng, nguồn gốc hình thành, điều kiện lập địa, loài cây và trữ lượng Căn cứ vào trữ lượng gỗ, rừng gỗ được phân chia thành 5 loại phụ: rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo và rừng chưa có trữ lượng Rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo tương ứng là rừng có trữ lượng cây đứng (M, m3/ha) trên

300, 201 - 300, 101 - 200 và 10 – 100 m3/ha

Những phương thức lâm sinh được xây dựng dựa trên những thông tin về điều kiện tự nhiên (lập địa), kết cấu loài cây gỗ (tổ thành rừng), cấu trúc, tái sinh và đa dạng loài cây gỗ của rừng BQLR Nam Huoai được giao quản lý 17.359.23ha rừng và đất trong đó nhóm rừng giàu có diện tích là 555,06ha; rừng trung bình có diện tích là 6.691,58ha; rừng phục hồi, rừng hỗn giao và rừng lồ ô có diện tích là 6.569.66ha; Rừng trồng và đất khác có diện tích là 2.140,50ha Hai nhóm rừng giàu và trung bình

ở BQLR Nam Huoai có tổng diện tích 7.246,64 ha Đây là đối tượng rừng có thể cung

Trang 12

cấp gỗ cho kinh doanh gỗ dùng trong xây dựng nhà ở, công trình xây dựng và xuất khẩu Thế nhưng, cho đến nay khoa học và thực tiễn vẫn còn thiếu những thông tin về kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, tình trạng tái sinh đối với hai nhóm rừng này Vì thế, ngành lâm nghiệp của tỉnh Lâm Đồng đã gặp nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn quản lý rừng và xác định những phương thức lâm sinh đối với hai nhóm rừng này

Xuất phát từ đó, đề tài “Đặc điểm lâm học của nhóm rừng giàu và rừng trung bình thuộc kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới ở Ban quản lý rừng Nam Huoai, tỉnh Lâm Đồng" đã được đặt ra Kết quả của đề tài này mang lại những ý

nghĩa khác nhau Về lý luận, đề tài cung cấp những thông tin để phân tích so sánh kiểu Rkx ở mức địa phương, vùng và quốc gia Về thực tiễn, đề tài cung cấp những thông tin để làm cơ sở cho quản lý rừng và xây dựng những phương thức lâm sinh

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình chung

Vào thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX, một số nhà Lâm học người Pháp (Maurand, 1952;, Rollet, 1952; Vidal, 1958 và Schmid, 1962) đã có những khảo sát về

hệ thực vật rừng Đông Dương Sau này một số tác giả (Lý Văn Hội, 1969; Thái Văn Trừng, 1978, 1999; Võ Văn Chi, 1987) [Dẫn theo Thái Văn Trừng, 1999) [19] đã tiếp tục đi sâu nghiên cứu về rừng Việt Nam Theo Thái Văn Trừng (1999)[19], nếu dựa vào những nhân tố sinh thái phát sinh quần thể, thì thảm thực vật rừng Việt Nam có thể được phân loại thành nhiều kiểu khác nhau Ông cũng cho rằng, đơn vị phân loại

cơ bản đối với rừng nhiệt đới là quần hệ và xã hợp thực vật Quần hệ thực vật được phân loại thông qua hình thái và cấu trúc của thảm thực vật, còn xã hợp thực vật được phân loại theo thành phần loài cây Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, khi phân tích quần

xã thực vật rừng, nhà Lâm học cần phải làm rõ điều kiện hình thành, thành phần loài cây, kết cấu và cấu trúc rừng, tình trạng tái sinh rừng [3, 19, 20, 22, 35 - 30]

1.2 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

Theo Richards (1952)[12, 13], Ashton, 1992[25] và Thái Văn Trừng, 1999) [19], đối với rừng mưa nhiệt đới, cấu trúc tán rừng, vị trí cây trong tán rừng và động thái biến đổi của quần thụ có thể được mô tả bằng những trắc đồ dọc và ngang Sau này nhiều nhà Lâm học cũng đã ứng dụng phương pháp trắc đồ rừng để mô tả cấu trúc rừng nhiệt đới Tuy vậy, phương pháp mô tả cấu trúc rừng bằng biểu đồ trắc diện có nhược điểm là không định lượng được những đặc trưng cấu trúc rừng Để khắc phục nhược điểm này, ngày nay nhiều nhà Lâm học đã ứng dụng toán học để mô tả cấu trúc rừng Meyer đã mô tả phân bố đường kính thân cây (N/D) của rừng tự nhiên bằng hàm

số mũ có dạng y = k*exp(-αx); trong đó y là tần số, x là đường kính, k và α là tham số,

e là cơ số neper Rollet.B (1971) đã mô tả phân bố N/D bằng hàm Weibull (Dẫn theo Nguyễn Văn Trương, 1984 [16])

Ở Việt Nam, những nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng định lượng cũng đã được nhiều nhà lâm học sử dụng Đổng Sĩ Hiền (1974)(Dẫn theo [16, 17, 18]) đã sử dụng hàm phân bố Meyer và hệ đường cong Poisson và Pearson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên Nguyễn Văn Trương (1984)[16]

đã mô tả cấu trúc rừng hỗn loài bằng những hàm phân bố xác suất khác nhau Nguyễn

Trang 14

Hải Tuất (1982; 1990)[18] đã sử dụng phân bố khoảng cách để mô tả cấu trúc N/D của rừng tự nhiên Sau này Lê Minh Trung (1991)[14] và Lê Sáu (1996)[15] cũng đã ứng dụng những mô hình toán để phân tích cấu trúc rừng tự nhiên ở vùng Tây Nguyên

1.3 Những nghiên cứu về kết cấu loài cây gỗ và đa dạng loài cây gỗ

Khi nghiên cứu về rừng, thành phần loài cây và vai trò của chúng trong quần xã

là những vấn đề đáng quan tâm Nhiều nhà Lâm học (Richards, 1965[13]; Baur, 1976 [1]; Thái Văn Trừng, 1999 [19]) cho rằng, rừng được hình thành bởi những loài cây khác nhau Vì thế, khi phân tích kết cấu loài cây gỗ (tổ thành cây gỗ), nhà lâm học cần phải xác định chính xác tên loài cây và tỷ trọng của mỗi loài Dựa vào những loài cây hình thành rừng, Richards đã phân chia rừng mưa nhiệt đới thành hai nhóm Nhóm 1 là rừng mưa hỗn hợp với nhiều loài cây ưu thế Nhóm 2 là rừng mưa đơn ưu thế Curtis

và McIntosh (1951)(Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010[22]) đã sử dụng thuật ngữ giá trị quan trọng của loài (IV) để biểu thị cho vai trò của loài trong quần xã Chỉ số IV được tính bằng tổng độ thường gặp tương đối (F%), mật độ tương đối (N%) và tiết diện ngang thân cây tương đối (G%) Kayama (1961) (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010[22]) biểu thị vai trò của loài bằng 4 tham số: F%, N%, độ che phủ tương đối (W%) và thể tích thân cây tương đối (V%) Phương pháp của Curtis và McIntosh (1951) có một số nhược điểm: (a) chỉ số IV thay đổi tùy theo kích thước và số lượng ô mẫu; (b) F% chỉ có ý nghĩa khi phân bố của loài là ngẫu nhiên Ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (1999) [19] đã sử dụng N%, G% và V% để biểu thị cho vai trò của loài trong quần xã Dựa theo ba tham số này, những quần xã thực vật rừng được phân chia thành những quần hợp, ưu hợp và phức hợp Đối với cây bụi, chỉ tiêu đo đếm là thành phần loài và độ phong phú của loài Độ phong phú của loài được đánh giá dựa theo chiều cao và độ che phủ của tán lá trên mặt đất Độ phong phú của thảm cỏ được đánh giá theo phần trăm độ che phủ của thảm cỏ trên mặt đất Theo Druze (Nguyễn văn Thêm,

2002, 2010 [20, 22]), độ che phủ của thảm cỏ được phân chia thành 7 cấp (Un = 0,2%, Sol < 1%, Sp 1 – 4%, Cop1 = 5 – 20%, Cop2 = 21 – 50%, Cop3 = 51 – 75% và Soc =

76 – 100%) Trong tính toán, bảy cấp độ phong phú của Druze được mã hóa theo thứ

tự từ 0 – 6

Ngày nay đa dạng sinh vật là mối quan tâm lớn đối với mỗi quốc gia (Gaston,

2000 [26]; Magurran, 2004 [28]) bởi vì đa dạng sinh vật có ý nghĩa lớn đối với quy hoạch rừng, bảo tồn đa dạng sinh vật, đời sống cộng đồng và kinh tế Theo Whittaker

Trang 15

(1972) (Dẫn theo Magurran, 2004 [28]), đa dạng sinh vật trong một cảnh quan hay một khu vực địa lý nhất định là đa dạng gamma (γ) Đa dạng gamma bao gồm đa dạng

alpha (α) và đa dạng beta (β) Đa dạng alpha là đa dạng sinh vật trong một vi môi

trường sống nhất định hoặc một ô mẫu nhất định Đa dạng alpha được xác định bằng những chỉ số đa dạng loài bình quân trong một quần xã sinh vật nhất định Đa dạng

beta là đa dạng loài của nhiều quần xã sinh vật trong những môi trường khác nhau Đa

dạng beta được xác định bằng cách gộp chung nhiều quần xã trong những môi trường khác nhau Đa dạng sinh vật phụ thuộc vào vị trí địa lý (vĩ độ, kinh độ), độ cao địa hình, khí hậu, thời gian hình thành môi trường, những rối loạn trong môi trường, cấu trúc và trạng thái diễn thế của quần xã…Đa dạng sinh vật của một khu vực nào đó được xác định thông qua ba số đo: sự giàu có về loài, đa dạng loài và phân bố độ phong phú hay độ ưu thế của loài (Kimmins, 1998 [27]; Magurran, 2004 [28]) Sự giàu

có về loài của quần xã được biểu thị bằng số loài bắt gặp và có thể được đo bằng chỉ số của Margalef và chỉ số Menhinick Đa dạng loài thường được đo bằng các chỉ số của Simpson (1949), Shannon-Weiner (1948, 1949), McIntosh (1967), Berger-Parker (1970), Hill (1973) và Brillouin (Magurran, 2004 [28]) Chỉ số ưu thế Simpson được

sử dụng để xác định đa dạng sinh vật của những quần xã sinh vật ở một môi trường nhất định (đa dạng Alpha) Chỉ số đa dạng Shannon – Weiner được sử dụng để so sánh

đa dạng giữa những môi trường sống khác nhau (đa dạng Beta) Phân bố độ phong phú của các loài trong quần xã (chỉ số đồng đều) có thể được đo đạc bằng các chỉ số Shannon-Weiner (1948), Simpson (1949), Pielou (1969), Hill (1973) và Heip (1974); trong đó hai chỉ số thông dụng nhất là Shannon-Weiner và Pielou (Magurran, 2004 [28]) Những chỉ số này đã được sử dụng rộng rãi trong sinh thái học và cũng đã được xây dựng thành phần mềm tính toán trong các gói thống kê (Magurran, 2004 [28])

Đa dạng sinh vật ở Việt Nam cũng thu hút sự chú ý của nhiều nhà Lâm học và sinh thái học trong và ngoài nước Nhiều tác giả (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999[10]; Lê Quốc Huy, 2005[7]; Viên Ngọc Nam, 2005[11]; Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, 2007 [2]) đã biên soạn những tài liệu và sách hướng dẫn phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học Đỗ Hữu Thư và Trịnh Minh Quang (2007)[23] đã sử dụng những ô mẫu 0,2 – 1,0 ha để phân tích so sánh đa dạng thực vật giữa những loại hình rừng khác nhau ở lâm trường M’Drak tỉnh Đắk Lắk; trong đó sự giàu có về loài được tính theo chỉ số Magalef, chỉ số đồng đều được tính theo chỉ số Pielou và đa dạng loài

Trang 16

theo chỉ số Simpson và Shannon-Weiner Cao Thị Lý (2008)[9] đã nghiên cứu đa dạng

thực vật của một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây Nguyên Trung tâm đa dạng

sinh học thuộc Viện sinh học nhiệt đới (2009)[24] đã nghiên cứu đa dạng thực vật rừng tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước; trong đó chủ yếu định danh và

mô tả thành phần loài theo chi và họ

1.4 Phương pháp thu mẫu trong nghiên cứu lâm học

Phương pháp thu mẫu trong nghiên cứu lâm học thay đổi tùy theo mục đích nghiên cứu (Thái Văn Trừng, 1999 [19]; Nguyễn Văn Thêm, 2010 [21, 22]) Suratman (2007) [29] đã sử dụng những ô mẫu 0,2 ha để nghiên cứu kết cấu loài, cấu trúc quần thụ và đa dạng loài cây gỗ của rừng ưu thế cây họ Sao Dầu ở Vườn quốc gia Pahang, Malaysia Wang et al (2008)[30] đã sử dụng những ô mẫu với diện tích thay đổi từ 10*10 m đến 25 ha để nghiên cứu kết cấu loài, cấu trúc quần thụ và đa dạng loài cây

gỗ của rừng ôn đới thành thục ở vùng Đông Bắc Trung Quốc Khi nghiên cứu kết cấu loài, cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ của rừng tự nhiên hỗn loài ở Việt Nam, nhiều tác giả (Thái Văn Trừng, 1999 [19]; Nguyễn Văn Trương, 1984 [16]) đã sử dụng kích thước ô mẫu thay đổi từ 0,1 – 1,0 ha Hình dạng ô mẫu thường có dạng hình chữ nhật

Ô mẫu được chọn điển hình hay hệ thống

Nhiều tác giả (Thái Văn Trừng, 1999 [19]; Magurran, 2004 [28]; Nguyễn Văn Thêm, 2010 [22]) cho rằng, khi phân tích QXTV, nhà nghiên cứu phải quy ước rõ (a) kích thước ô mẫu và phương pháp bố trí ô mẫu; (b) những tài liệu dùng để nhận biết thành phần cây gỗ, kiểu rừng, kiểu QXTV, khí hậu, lập địa, địa hình, loại đất; (c) cây lớn (cây trưởng thành) và cây tái sinh; (d) vị trí đo D trên thân cây và Dmin bắt đầu đo đối với cây lớn; (e) phân cấp H cây lớn và cây cây tái sinh; (g) đơn vị đo đếm các chỉ tiêu và độ chính xác…

Một đặc tính quan trọng của rừng mưa nhiệt đới là tính không thuần nhất theo không gian và thời gian Vì thế, cùng một kiểu rừng giống nhau, nếu đối tượng và ranh giới hay vị trí thu mẫu khác nhau, thì kết quả báo cáo cũng khác nhau Do đó, khi báo cáo về đặc điểm lâm học của rừng, nhà nghiên cứu cần phải định nghĩa chính xác kiểu rừng, điều kiện môi trường và vị trí thu mẫu (Thái Văn Trừng, 1999 [19]; Nguyễn Văn Trương, 1984 [16]; Magurran, 2004 [28])

Trang 17

1.5 Thảo luận

(1) Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về những đặc trưng lâm học của rừng tự nhiên ở nước ta Phần lớn những nghiên cứu này đều tập trung làm rõ điều kiện hình thành rừng (khí hậu-thủy văn, địa hình – đất, khu hệ thực vật…), tổ thành rừng, cấu trúc rừng, diễn thế rừng và tình trạng tái sinh rừng Những nghiên cứu này là cơ sở khoa học để xây dựng và áp dụng những phương thức lâm sinh thích hợp đối với rừng tự nhiên ở nước ta

(2) Cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu về đặc trưng lâm học của những trạng thái rừng hay nhóm rừng khác nhau trong kiểu Rkx ở BQLR Nam Huoai thuộc tỉnh Lâm Đồng Vì thế, đề tài luận văn thạc sỹ này tập trung làm rõ tổ thành loài cây gỗ, cấu trúc đường kính và chiều cao thân cây, hiện trạng tái sinh tự nhiên và đa dạng loài cây gỗ đối với kiểu Rkx ở BQLR Nam Huoai thuộc tỉnh Lâm Đồng

(3) Trong sinh thái học và lâm học, kết cấu loài cây gỗ (IV%) và vai trò sinh thái của những loài cây gỗ có thể được xác định theo nhiều chỉ tiêu khác nhau như N%, G%, V% Trong nghiên cứu này, đề tài luận văn xác định IV% theo phương pháp của Thái Văn Trừng (1999)[19] Thành phần cây gỗ được nhận biết theo Phạm Hoàng

Hộ (1999)[4], Trần Hợp (2002)[5], Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh (2003)[6] Những cây gỗ trưởng thành (cây gỗ lớn) có D ≥ 8 cm, còn cây tái sinh có H = 10 cm đến D <

8 cm Đa dạng loài cây gỗ của những nhóm rừng giàu và trung bình được xác định thông qua ba thành phần: sự giàu có về loài, đa dạng loài và mức độ đồng đều về độ phong phú hay độ ưu thế của các loài Sự giàu có về loài được xác định theo chỉ số Margalef Đa dạng loài cây gỗ được đo bằng chỉ số ưu thế Simpson và chỉ số đa dạng Shannon-Weiner Chỉ số đồng đều được đo bằng chỉ số Pielou Sự tương đồng về thành phần loài giữa hai nhóm rừng được đánh giá theo chỉ số tương đồng của Sorensen (CS)

Trang 18

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định những đặc điểm lâm học của nhóm rừng giàu và trung bình thuộc Rkx

để làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất những biện pháp quản lý rừng và phương thức lâm sinh

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu chung, đề tài xác định 2 mục tiêu cụ thể sau đây:

(1) Xác định kết cấu loài cây gỗ và đa dạng loài cây gỗ của nhóm rừng giàu và trung bình

(2) Mô tả cấu trúc và tình trạng tái sinh tự nhiên của nhóm rừng giàu và trung bình

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nhóm rừng giàu và rừng trung bình thuộc Rkx ở BQLR Nam Huoai thuộc tỉnh Lâm Đồng Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 10/2015 và kết thúc vào tháng 3 năm 2016

2.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, đa dạng loài cây gỗ và hiện trạng tái sinh tự nhiên dưới tán hai nhóm rừng giàu và rừng trung bình thuộc kiểu Rkx Từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý rừng, xúc tiến tái sinh và nuôi dưỡng rừng

2.4 Nội dung nghiên cứu

(1) Kết cấu loài cây gỗ của nhóm trung bình và giàu

(2) Cấu trúc của nhóm rừng trung bình và giàu

- Phân bố số cây theo cấp đường kính thân cây

- Phân bố số cây theo cấp chiều cao thân cây

- Phân bố trữ lượng theo nhóm đường kính

(3) Đa dạng loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình và giàu

(4) Đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trung bình và giàu

Trang 19

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp luận

Sử dụng phương pháp điều tra điển hình để điều tra thành phần loài cây; đường kính thân cây ngang ngực, chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành; đường kính tán cây

Trên quan điểm ứng dụng nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh rừng và bảo vệ rừng, nên khi nghiên cứu cần thiết phải có sự kế thừa những thành quả của các tác giả

đi trước làm cơ sở lựa chọn những dạng toán học thích hợp, đảm bảo độ chính xác cho phép và đơn giản khi sử dụng

Trong quá trình nghiên cứu cần áp dụng phương pháp toán học thống kê hiện đại, trên cơ sở tôn trọng các quy luật sinh vật học của cây rừng và lâm phần

Nguyên tắc chung là, các phương pháp được sử dụng phải nhất quán từ bước thu thập số liệu đến xây dựng và đánh giá mô hình lý thuyết Sự nhất quán về mặt phương pháp còn được thể hiện ở mặt kế thừa Kết quả nghiên cứu ở nội dung này là

cơ sở để giải quyết những nội dung tiết theo, mà không giải quyết độc lập từng vấn đề một

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.2.1 Những chỉ tiêu nghiên cứu

Mỗi nhóm rừng được nghiên cứu 10 chỉ tiêu: (1) thành phần loài cây; (2) mật

độ quần thụ (N, cây/ha); (3) đường kính thân cây ngang ngực (D, cm); (4) chiều cao vút ngọn (H, m); (5) chiều cao dưới cành (HDC, m); (6) đường kính tán cây (DT, m); (7) độ tàn che tán rừng; (8) tiết diện ngang của quần thụ (G, m2/ha); (9) trữ lượng gỗ của quần thụ (M, m3/ha); (10) tái sinh dưới tán rừng

Điều kiện khí hậu – thủy văn được nghiên cứu 5 chỉ tiêu: (1) nhiệt độ không khí trung bình của các tháng trong năm (T,0C); (2) lượng mưa trung bình của các tháng trong năm (M, mm); (3) độ ẩm không khí trung bình của các tháng trong năm (R,%); (4) tốc độ gió trung bình của các tháng trong năm (S, m/s); (5) Chỉ số khô hạn của Thái Văn Trừng (K)

Đối với địa hình và đất, đề tài chỉ mô tả khái quát độ cao và loại đất

2.5.2.2 Thu thập những đặc trưng lâm học của hai nhóm rừng

(a) Phân chia đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu bao gồm hai nhóm

rừng giàu (M = 200 – 300 m3/ha) và rừng trung bình (M = 100 – 200 m3/ha) Hai

Trang 20

nhóm rừng này được xác định dựa theo bản đồ hiện trạng rừng năm 2015 của BQLR Nam Huoai

(b) Số lượng, kích thước và phương pháp bố trí ô tiêu chuẩn: Đặc trưng lâm

học của mỗi nhóm rừng được nghiên cứu dựa trên 5 ô tiêu chuẩn điển hình Tổng số hai nhóm rừng là 10 ô tiêu chuẩn Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 2.500 m2 (50*50 m) Những ô tiêu chuẩn được bố trí theo phương pháp điển hình Các ô tiêu chuẩn ở nhóm rừng trung bình và nhóm rừng giàu được đặt tương ứng ở tiểu khu 599 và 567 Vị trí các ô tiêu chuẩn được ghi lại Bảng 2.1 và Bảng 2.2

Bảng 2.1 Vị trí ô tiêu chuẩn của nhóm rừng trung bình thuộc BQLR Nam Houai

Bảng 2.2 Vị trí ô tiêu chuẩn của nhóm rừng giàu thuộc BQLR Nam Houai

(c) Xác định những đặc trưng lâm học của hai nhóm rừng: Trong mỗi ô tiêu

chuẩn, thành phần cây gỗ lớn (D ≥ 8,0 cm) được thống kê theo loài và sắp xếp theo chi

và họ Tên loài, chi và họ được đặt tên theo Phạm Hoàng Hộ (1991, 1999)[4], Trần Hợp (2002)[5], Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh (2003)[6] Đường kính thân cây được

đo bằng thước dây với độ chính xác 0,1 cm Chiều cao thân cây được đo bằng thước đo cao Blume - Leise với độ chính xác 0,5 m Độ tàn che tán rừng được xác định bằng biểu

Trang 21

đồ trắc diện Mỗi ô tiêu chuẩn được vẽ 1 biểu đồ trắc diện rừng Dải vẽ biểu đồ trắc diện rừng có chiều dài 30 m, chiều rộng 10 m Những thông tin để vẽ biểu đồ trắc diện rừng bao gồm thành phần loài cây, D (cm), H (m), HDC (m) và DT (m)

(d) Thu thập số liệu về tái sinh tự nhiên dưới tán rừng: Hiện trạng tái sinh tự

nhiên dưới tán rừng được đo đếm trong những ô tiêu chuẩn 0,25 ha Mỗi ô tiêu chuẩn

bố trí 10 ô dạng bản với kích thước 16 m2

(4*4 m) Những ô dạng bản này được bố trí cách đều 10 m trên 2 tuyến song song với hai cạnh của ô tiêu chuẩn Mỗi nhóm rừng được thu thập 50 ô dạng bản Tổng số 2 nhóm rừng là 100 ô dạng bản Trong mỗi ô dạng bản, thu thập thành phần cây tái sinh, chiều cao thân cây, nguồn gốc (hạt và chồi)

và tình trạng sức sống Thành phần cây tái sinh được nhận biết loài Chiều cao cây tái sinh được đo bằng cây sào với độ chính xác 0,10 m Tình trạng sức sống của cây tái sinh được phân chia theo 3 cấp: tốt, trung bình và xấu Cây tốt là những cây có thân thẳng, không bị cụt ngọn hay hai thân, không bị sâu bệnh, tán lá cân đối và tròn đều Cây xấu là những cây cụt ngọn hay hai thân, cây bị sâu bệnh, cây có tán lá dạng cờ Những cây có đặc điểm trung gian giữa tốt và xấu là cây có sức sống trung bình

2.5.2.3 Xác định địa hình, loại đất và điều kiện khí hậu - thủy văn

Độ cao và dạng địa hình của khu vực nghiên cứu được xác định dựa theo bản

đồ địa hình với tỷ lệ 1/50.000 Loại đất được xác định dựa theo bản đồ đất với tỷ lệ 1/100.000 Điều kiện khí hậu của khu vực nghiên cứu được xác định dựa theo số liệu của những trạm khí tượng - thủy văn gần nhất Điều kiện thuỷ văn được mô tả dựa theo bản đồ địa hình với tỷ lệ 1/50.000

2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu

2.5.3.1 Xác định kết cấu loài cây gỗ của hai nhóm rừng giàu và trung bình

Kết cấu loài cây gỗ của hai nhóm rừng trên những ô tiêu chuẩn được xác định

theo phương pháp của Thái Văn Trừng (1999) (Công thức 2.1); trong đó IVI% là tỷ lệ

tổ thành của mỗi loài cây gỗ; N%, G% và V% tương ứng là mật độ tương đối của loài, tiết diện ngang thân cây tương đối của loài và thể tích thân cây tương đối của loài Giá trị V = g*H*F, với F = 0,45

Độ hỗn giao của các cây gỗ được xác định theo công thức 2.2; trong đó S = số loài cây gỗ, N = mật độ của quần thụ

Trang 22

Sự tương đồng về thành phần cây gỗ giữa hai ô tiêu chuẩn thuộc cùng một nhóm rừng được xác định theo hệ số tương đồng của Sorensen (Công thức 2.3); trong đó a là số loài cây gỗ bắt gặp ở ô tiêu chuẩn 1; b là số loài cây gỗ bắt gặp ở ô tiêu chuẩn 2; c là

số loài cây gỗ cùng có mặt ở cả 2 ô tiêu chuẩn 1 và 2; (a+ b) là tổng số loài cây gỗ bắt gặp ở 2 ô tiêu chuẩn Sự tương đồng về thành phần loài cây gỗ giữa hai nhóm rừng (giàu và trung bình) cũng được xác định theo hệ số tương đồng của Sorensen (CS)

Sau đó tập hợp kết cấu loài cây gỗ (tổ thành loài cây gỗ) theo nhóm rừng bằng cách gộp chung các ô tiêu chuẩn thuộc mỗi nhóm rừng Từ đó phân tích so sánh: (a) tổng số loài cây gỗ bắt gặp (S, loài); (b) những loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế; (c) những loài cây gỗ khác; (d) tỷ lệ tổ thành theo N%, G% và V% Từ đó phân tích biến động thành phần loài cây gỗ và tổ thành của các loài cây gỗ trong mỗi nhóm rừng

2.5.3.2 Xác định cấu trúc quần thụ đối với 2 nhóm rừng giàu và trung bình

(a) Phân bố N/D và phân bố N/H Đặc trưng thống kê phân bố N/D và phân bố

N/H của những quần thụ trên những ô mẫu được tính toán bao gồm giá trị trung bình (X), mốt (M0), trung vị (Me), giá trị lớn nhất (Max), giá trị nhỏ nhất (Min), phương sai (S2), sai tiêu chuẩn (S), sai số chuẩn của số trung bình (Se), hệ số biến động (CV%), độ lệch (Sk), độ nhọn (Ku) và các tứ phân vị (Q1, Q2, Q3) Đây là những thông tin mô tả không chỉ biến động D và H, mà còn cả dạng phân bố N/D và phân bố N/H Để kiểm định phân bố N/D và phân bố N/H của những quần thụ trên những ô mẫu, chỉ tiêu D được phân chia thành các cấp với mỗi cấp 10 cm, còn H được phân chia thành các cấp cách nhau 4 m Số cấp D và cấp H nằm trong khoảng từ 6 đến 12 cấp Phân bố N/D được kiểm định theo phân bố mũ (mô hình 2.4) và phân bố khoảng cách (mô hình 2.5) Các tham số m, b và k của mô hình 2.4 được xác định bằng phương pháp hồi quy tương quan phi tuyến tính của Marquartz

Phân bố N/H được kiểm định theo phân bố khoảng cách (mô hình 2.5); trong đó

x = 0 tương ứng với cấp H nhỏ nhất; x = 1, 2,…, k tương ứng với cấp H từ thứ 2 đến thứ k

P(x) = a với x = 0

P(x) = (1 - a)(1 - b)*b^x-1 với x ≥ 1 (2.5)

Trang 23

Những mô hình phân bố N/D và phân bố N/H phù hợp được sử dụng để ước lượng số cây (N, cây), tỷ lệ số cây (N%), số cây tích lũy (NTL, cây), tỷ lệ số cây tích lũy (N%TL) trong những cấp D và cấp H khác nhau

Từ những đặc trưng cấu trúc quần thụ trên những ô tiêu chuẩn của hai nhóm rừng, phân tích so sánh: (a) sự khác biệt về đường kính và chiều cao bình quân; (b) phạm vi biến động đường kính và chiều cao; (c) hình thái phân bố N/D và phân bố N/H; (d) tỷ lệ đóng góp số cây theo cấp D và cấp H; (e) tính ổn định của rừng Khi rừng đã phát triển đến giai đoạn ổn định, thì phân bố N/D có dạng giảm theo hình chữ

“J” Trái lại, nếu phân bố N/D có dạng 1 hoặc nhiều đỉnh, thì rừng chưa phát triển đến giai đoạn ổn định (Kimmins, 1998 [20]; Thái Văn Trừng, 1999 [14]; Magurran, 2004 [21])

(b) So sánh N, G và M của hai nhóm rừng theo nhóm D Trước hết thống kê N,

G và M của những quần thụ thuộc 2 nhóm rừng theo 3 nhóm D (< 20, 20 – 40 và > 40 cm) và 4 lớp H (< 10, 10 – 20, 20 - 30 và > 30 m) Sau đó phân tích so sánh N, G và M của các nhóm D và lớp H

2.5.3.3 Xác định đa dạng loài cây gỗ đối với hai nhóm rừng giàu và trung bình

Đa dạng loài cây gỗ bao gồm ba thành phần: (a) số loài hay chỉ số giàu có về loài; (b) chỉ số đồng đều; (c) chỉ số đa dạng loài Trong đề tài này, mức độ giàu có về loài được xác định theo số loài (S) và chỉ số giàu có về loài của Margalef (dMargalef) Chỉ số đồng đều được xác định theo chỉ số Pielou (J’) Đa dạng loài cây gỗ được xác định theo chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’) Chỉ số ưu thế của loài được xác định theo chỉ số Gini-Simpson (1 – λ) Chỉ số giàu có về loài của Margalef, chỉ số đồng đều của Pielou, chỉ số đa dạng Shannon – Weiner và chỉ số ưu thế của Gini-Simpson được xác định tương ứng theo công thức 2.6, 2.7, 2.8 và 2.9; trong đó S = số loài cây gỗ bắt gặp trong ô tiêu chuẩn, Pi = ni/N (N = tổng số cây trong ô tiêu chuẩn và ni = số cây của loài thứ i), Ln() = logarit cơ số Neper

Đa dạng loài cây gỗ của hai nhóm rừng giàu và trung bình bao gồm đa dạng α và

đa dạng β Để tính đa dạng α, trước hết xác định những thành phần đa dạng loài cây gỗ

Trang 24

(S, N, d, J’ và H’) đối với từng ô mẫu của mỗi nhóm rừng Kế đến xác định các giá trị trung bình (S, N, d, J’ và H’) từ những ô mẫu của mỗi nhóm rừng Chỉ số đa dạng α là chỉ số đa dạng H’ trung bình của mỗi nhóm rừng Chỉ số đa dạng β được xác định theo phương pháp của Whittaker (1972) (Công thức 2.10); trong đó S = tổng số loài bắt gặp trong toàn bộ n ô tiêu chuẩn; s = số loài bình quân bắt gặp trong 1 ô tiêu chuẩn

Sự khác biệt về các thành phần đa dạng loài cây gỗ (S, N, d, J’ và H’, 1 - λ) giữa hai nhóm rừng giàu và trung bình được so sánh bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA)

Các thành phần đa dạng loài cây gỗ có thể thay đổi theo những nhóm D và lớp

H khác nhau Để làm rõ vấn đề đặt ra, đề tài xác định những thành phần đa dạng loài cây gỗ (S, N, d, J’ và H’, 1 - λ) theo 3 nhóm D (< 20, 20 – 40 và > 0 cm) và 4 lớp H (<

10, 10 – 20, 20 - 30 và > 30 m) Các chỉ số đa dạng (S, N, d, J’ và H’, 1 - λ) được tính toán tương tự như công thức 2.8 – 2.10 Sự khác biệt về đa dạng loài cây gỗ giữa 3 nhóm D và 4 lớp H được so sánh bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) Sau cùng phân tích biến động đa dạng loài cây gỗ theo những nhóm D và lớp H khác nhau của hai nhóm rừng

2.5.3.4 Xác định tái sinh tự nhiên đối với hai nhóm rừng giàu và trung bình

Tái sinh tự nhiên của hai nhóm rừng này được tính toán bao gồm mật độ, tổ thành, nguồn gốc, phân bố N/H và phân bố số cây theo tình trạng sống (tốt, trung bình, xấu) Thành phần cây tái sinh được xác định theo loài, chi và họ Mật độ cây tái sinh được tính bình quân từ những ô dạng bản 16 m2; sau đó quy đổi ra đơn vị 1 ha Tổ thành cây tái sinh được xác định theo N% của loài cây gỗ Phân bố N/H của cây tái sinh được phân chia thành 6 cấp: H ≤ 0,5, H = 50 – 100, H = 100 – 150, H = 150 –

200, 200 - 250 và H ≥ 250 cm Chất lượng cây tái sinh được phân chia thành 3 cấp: tốt, trung bình và xấu Sự tương đồng giữa thành phần cây tái sinh với thành phần cây mẹ được xác định theo hệ số tương đồng của Sorensen

2.5.4 Công cụ tính toán

Công cụ tính toán là bảng tính Excel, phần mềm thống kê Portable Statgraphics Centurion 15.2.11.0 (PSC 15.2.11.0), SPSS 10.0 và Primer Version 6.0 Bảng tính Excel được sử dụng để tập hợp số liệu và lập bảng phân bố N/D, phân bố N/H và kết cấu loài cây gỗ…Phần mềm thống kê PSC 15.2.11.0 được sử dụng để tính toán những

Trang 25

thống kê mô tả, kiểm định phân bố N/D và phân bố H Phần mềm thống kê SPSS 10.0 được sử dụng để xác định kết cấu loài cây gỗ Phần mềm Pimer Version 6.0 được sử dụng để tính toán những thành phần đa dạng loài cây gỗ

Trang 26

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Vị trí địa lý

BQLR Nam Huoai nằm cách thành phố Bảo Lộc 45 km về phía Đông Bắc Tọa

độ địa lý: 11020’50” đến 11050’20” độ vĩ Bắc; 107009’05” đến 107035’20” độ kinh Đông Ranh giới:

- Phía Bắc giáp huyện Đạ Tẻh và huyện Bảo Lâm;

- Phía Nam giáp huyện Đức Linh và Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận;

- Phía Đông giáp TP Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm;

- Phía Tây giáp huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

3.2 Khí hậu - thủy văn

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và được phân chia 02 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 05 đến thánh 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng

04 năm sau Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 25,00

C

Mùa khô nhiệt độ cao, không khí khô hanh thường không có mưa, hệ thống sông suối khô kiệt nước; mùa mưa thường mưa sớm, lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều Lượng mưa trung bình năm là 2.100 mm Độ ẩm không khí trung bình năm

là 80%

Sông trên tại khu vực nghiên cứu là phần đầu nguồn của hệ thống sông Đồng Nai Phần lớn lượng nước của khu vực này được khai thác công năng cho thủy điện và cung cấp nước cho hệ thống sông của tỉnh Đồng Nai Hệ thống sông suối trên địa bàn huyện được chia thành 02 nhóm chính như sau:

+ Nhóm Sông suối lớn chảy qua xã Hà Lâm, xã Đạ Tồn, xã Phước Lộc và Xã

Trang 27

Nhìn chung, địa hình tại khu vực nghiên cứu có sự biến đổi mạnh mẽ về địa mạo nên tạo ra nhiều cảnh quan đặc sắc, có tiềm năng về thủy điện, chi phối mạnh mẽ đến các yếu tố môi trường như khí hậu, đất đai và tài nguyên sinh vật

Khu vực nghiên cứu có hai loại là đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá mẹ granít và đất đỏ nâu phát triển trên đá Bazan, tầng đất > 60 cm, thành phần cơ giới thịt trung bình Cấp đất trong khu vực thuộc cấp đất 2

3.4 Dân sinh - kinh tế

Dân số, lao động: Huyện Đạ Huoai là một huyện thuộc phía nam tỉnh Lâm Đồng có tỷ lệ cao về người dân tộc thiểu số sinh sống, người dân lao động chủ yếu bằng nghề trồng trọt Toàn huyện có 8 xã và 2 thị trấn, tổng số hộ dân 9.131 hộ với 35.502 nhân khẩu, có 22 dân tộc anh em cùng sinh sống Hầu hết người dân sống trên địa bàn huyện là dân kinh tế mới đến từ khắp mọi miền trên đất nước; trình độ dân trí còn thấp, còn nhiều tập tục sản xuất lạc hậu; người trong độ tuổi lao động còn thiếu công ăn việc làm, một số hộ thuộc diện nghèo đói; phương thức sản xuất chủ yếu của người dân làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Phân bố dân cư: Do huyện Đạ Huoai là huyện vùng sâu, vùng xa kinh tế đặc biệt khó khăn nên có đặc thù dân cư sống ở ven rừng tương đối Gần đây nhiều thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng, trồng cao su trên địa bàn huyện, hầu hết các dự án nằm sâu trong rừng

Trình dộ dân trí, ý thức chấp hành của người dân về QLBVR& PCCCR nhìn chung còn chưa cao; đặc biệt là người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ còn nhiều tập tục, tập quán canh tác lạc hậu, ý thức chấp hành của người dân về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, về các quy định PCCCR vẫn còn hạn chế

3.5 Giao thông

Quốc lộ 20 là tuyến đường trục chính quan trong, nối huyện Đạ Huoai với các trung tâm huyện lỵ, thị trấn khác trong và ngoài tỉnh Đoạn chạy qua địa phận huyện dài 30 km, tiêu chuẩn cấp III miền núi

Tỉnh lộ 721: Bắt đầu từ thị trấn Mađaguoi, chạy qua xã Mađaguôi, xã Đạ Oai vào huyện Đạ Tẻh, Cát Tiên Đoạn chạy qua huyện 12,2 km, tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi, hiện trạng đang được đầu tư nâng cấp

Tỉnh lộ 721 đoạn 2: Đường ngã ba Bà Sa - thị trấn Đạ M’ri, chạy qua các xã

Đạ P’loa, Đoàn Kết qua các huyện của tỉnh Bình Thuận và nối với quốc lộ 1A Đoạn

Trang 28

chạy qua huyện dài 10,5 km, mặt đường trải nhựa và đã hoàn thiện hệ thống cầu cống nên lưu thông khá tốt đạt tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi

Hệ thống đường huyện: Gồm 5 tuyến với tổng chiều dài 43,3 km, trong đó có 26,1 km đường nhựa còn lại 17,2 km là đường đất Đây là các trục giao thông chính nối trung tâm huyện đến các xã, do đó ngày càng được đầu tư nâng cấp, đi lại tương đối tốt

Đường xá: Tổng chiều dài 186 km, đa phần là đường đất, cá biệt nhiều tuyến chưa có nền đường, chất lượng đường xấu, giao thông gặp nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ

Trang 29

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình và rừng giàu

4.1.1 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình

4.1.1.1 Kết cấu loài cây gỗ bình quân của nhóm rừng trung bình

Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình thuộc Rkx ở BQLR Nam Huoai của tỉnh Lâm Đồng được dẫn ra ở Bảng 4.1 và Hình 4.1

Bảng 4.1 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình thuộc Rkx ở BQLR Nam

Huoai, tỉnh Lâm Đồng Đơn vị tính: 1 ha

ưu thế và đồng ưu thế; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 7 loài cây gỗ đồng

ưu thế là Sao đen, Dền đỏ, Dầu rái, Thẩu tấu, Cầy, Trường lá nhỏ và Thành ngạnh

Trang 30

Mật độ trung bình của nhóm rừng trung bình là 663 cây/ha (100%); trong đó 8 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế đóng góp 422 cây/ha hay 63,6% (trung bình 8%/loài), còn lại 45 loài cây gỗ khác đóng góp 241 cây/ha hay 36,4% (trung bình 0,8%/loài) Tiết diện ngang trung bình là 20,5 m2/ha (100%); trong đó 8 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế chiếm 14,5 m2 hay 70,8% (trung bình 8,8%/loài), còn lại 45 loài cây gỗ đóng góp 6,0 m2/ha hay 29,2% (trung bình 0,13%/loài) Trữ lượng gỗ là 172,2

m3/ha (100%); trong đó 8 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế đóng góp 126,9 m3/ha hay 73,6% (trung bình 9,2%/loài), còn lại 45 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 45,3 m3/ha hay 26,4% (trung bình 0,59%/loài) Kết cấu loài cây gỗ trung bình của 8 loài cây gỗ ưu thế

và đồng ưu thế là 69,4% theo N, G và M, cao nhất là Kiền kiền (18,6%), thấp nhất là Thành ngạnh (4,1%); trung bình 8,7%/loài Kết cấu loài cây gỗ của 45 loài cây gỗ khác

là 30,6% theo N, G và M; trung bình 0,68%/loài Nhóm rừng trung bình có độ tàn che trung bình 0,8(Phụ lục 2)

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình phân bố không đồng đều theo không gian (Phụ lục 3) Thành phần loài cây gỗ trên diện tích ô tiêu chuẩn 2.500 m2 thay đổi từ 20 loài (Ô tiêu chuẩn 3 - Phụ lục 3.3) đến

IVI%

Hình 4.1 Đồ thị mô tả kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình ở BQLR

Nam Huoai, tỉnh Lâm Đồng

Trang 31

có 29 loài (Ô tiêu chuẩn 2 - Phụ lục 3.2) Số loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế thay đổi

từ 4 (Ô tiêu chuẩn 5 - Phụ lục 3.5) đến 9 loài (Ô tiêu chuẩn 3 và 4 - Phụ lục 3.3 và 3.4) Những loài cây gỗ ưu thế thường bắt gặp là Kiền kiền (Ô tiêu chuẩn 1 và 2 – Phụ lục 3.1 và 3.2), Dầu rái (Ô tiêu chuẩn 3 và 4 – Phụ lục 3.3 và 3.4) và Sao đen (Ô tiêu chuẩn 5 – Phụ lục 3.5) Mật độ cây gỗ với D > 8 cm thay đổi từ 560 cây/ha (Ô tiêu chuẩn 1 – Phụ lục 3.1) đến 744 cây/ha (Ô tiêu chuẩn 5 – Phụ lục 3.5) Tiết diện ngang thân cây thay đổi từ 18,6 m2/ha (Ô tiêu chuẩn 4 – Phụ lục 3.4) đến 21,9 m2/ha (Ô tiêu chuẩn 2 – Phụ lục 3.2) Trữ lượng gỗ thay đổi từ 149,2 m3/ha (Ô tiêu chuẩn 4 – Phụ lục 3.4) đến 197,8 m3/ha (Ô tiêu chuẩn 1 – Phụ lục 3.1)

Nói chung, thành phần cây gỗ của nhóm rừng trung bình khá phong phú (53 loài); trong đó độ ưu thế trung bình của mỗi loài cây gỗ là 1,9% Trong nhóm rừng này, những loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế dao động từ 4 – 9 loài Những loài cây

gỗ ưu thế thường gặp là Kiền kiền, Dầu rái và Sao đen Những loài đồng ưu thế thường gặp là Bình linh, Cầy, Dền đỏ, Thẩu tấu và Trường lá nhỏ…Rừng hình thành 2 tầng cây gỗ khá rõ rệt Độ tàn che trung bình là 0,8

4.1.1.2 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo nhóm D

Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo ba nhóm D (< 20 cm, D = 20 – 40 cm và > 40 cm) được dẫn ra ở hình 4.2 – 4.4 và phụ lục 16 Đối với nhóm D < 20

cm (Hình 4.2; phụ lục 16.1), số loài cây gỗ bắt gặp là 46 loài; trong đó Dền đỏ là loài cây gỗ ưu thế, còn 7 loài cây gỗ đồng ưu thế là Sao đen, Kiền kiền, Dầu rái, Trường lá nhỏ, Thẩu tấu, Cầy và Thành ngạnh So với kết cấu loài cây gỗ của nhóm D < 20 cm (100%), Dền đỏ đóng góp 8,2%, 7 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 40,3% (trung bình 5,8%/loài), còn lại 38 loài cây gỗ khác đóng góp 51,6% (trung bình 1,4%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm D < 20 cm (46 loài) là 86,8%

51.6

0 10 20 30 40 50 60

Dền đỏ Sao đen Kiền kiền Dầu rái Trường

Trang 32

Đối với nhóm D = 20 - 40 cm (Hình 4.3; phụ lục 16.2), số loài cây gỗ bắt gặp là

26 loài; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 8 loài cây gỗ đồng ưu thế là Sao đen, Dầu rái, Thành ngạnh, Trường lá nhỏ, Cầy, Dền đỏ, Gạo và Chiêu liêu nghệ So với kết cấu loài cây gỗ của nhóm D = 20 – 40 cm (100%), Kiền kiền đóng góp 16,2%, 8 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 61,3% (trung bình 7,7%/loài), còn lại 17 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 22,5% (trung bình 1,3%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm D = 20 – 40 cm (17 loài) là 49,1%

Đối với nhóm D > 40 cm (Hình 4.4; phụ lục 16.3), số loài cây gỗ bắt gặp là 13 loài; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 5 loài cây gỗ đồng ưu thế là Sao đen, Dầu rái, Cầy, Trâm trắng và Dền đỏ So với kết cấu loài cây gỗ của nhóm D > 40 cm (100%), Kiền kiền đóng góp 34,3%, 5 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 51,5% (trung bình 10,3%/loài), còn lại 7 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 14,2% (trung bình 2,0%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ số

loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm D = 20 – 40 cm (13 loài) là 24,5%

16.2 13.3 12.8

Kiền kiền Sao đen Dầu rái Thành

ngạnh Trường lá nhỏ Cầy Dền đỏ Gạo liêu nghệ Chiêu Loài khác

Trang 33

Nói chung, kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình thay đổi rõ rệt theo nhóm D Trong nhóm rừng này, Dền đỏ chiếm ưu thế ở nhóm D < 20 cm, còn Kiền kiền chiếm ưu thế ở nhóm D = 20 – 40 cm và D > 40 cm So với tổng số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp giảm dần từ nhóm D < 20 cm (86,8%) đến nhóm D = 20 – 40 cm (49,1%) và D > 40 cm (24,5%) Những loài cây gỗ có kích thước lớn thường gặp là Kiền kiền, Dầu rái và Sao đen

4.1.1.3 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo lớp H

Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình theo ba lớp H (< 10 m, 10 – 20 m

và > 20 m) được dẫn ra ở Hình 4.5 – 4.7 và phụ biểu 17

Đối với lớp H < 10 m (Hình 4.5; phụ biểu 17.1), số loài cây gỗ bắt gặp là 33 loài; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 7 loài cây gỗ đồng ưu thế là Dền đỏ, Sao đen, Chò chai, Trường lá nhỏ, Bình linh và Thẩu tấu So với kết cấu loài cây gỗ của lớp

H < 10 m (100%), Kiền kiền đóng góp 16,9%, 7 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 50,6% (trung bình 7,2%/loài), còn lại 25 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 32,5% (trung bình 1,3%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ

số loài cây gỗ bắt gặp ở lớp H < 10 m (33 loài) là 62,3%

Đối với lớp H = 10 – 20 m (Hình 4.6; phụ biểu 17.2), số loài cây gỗ bắt gặp là 43 loài; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 6 loài cây gỗ đồng ưu thế là Sao đen, Dầu rái, Dền đỏ, Trường lá nhỏ, Thành ngạnh và Cầy So với kết cấu loài cây gỗ của lớp

Hình 4.5 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình

theo lớp H < 10 m

IVI%

Trang 34

H = 10 – 20 m (100%), Kiền kiền đóng góp 12,6%, 6 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 46,8% (trung bình 7,8%/loài), còn lại 36 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 40,6% (trung bình 1,1%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ

số loài cây gỗ bắt gặp ở lớp H = 10 - 20 m (43 loài) là 81,1%

Đối với lớp H > 20 m (Hình 4.7; phụ biểu 17.3), số loài cây gỗ bắt gặp là 19 loài; trong đó Kiền kiền là loài cây gỗ ưu thế, còn 4 loài cây gỗ đồng ưu thế là Sao đen, Dầu rái, Cầy và Dền đỏ So với kết cấu loài cây gỗ của lớp H > 20 m (100%), Kiền kiền đóng góp 23,5%, 4 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 37,3% (trung bình 9,3%/loài), còn lại 14 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 39,2% (trung bình 2,8%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (53 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp ở lớp H

Trang 35

Nói chung, kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình thay đổi rõ rệt theo lớp H Trong nhóm rừng này, Kiền kiền chiếm ưu thế ở cả ba lớp H Tỷ lệ số loài cây

gỗ bắt gặp lớn nhất ở lớp H = 10 – 20 m (81,1%), nhỏ nhất ở lớp H > 20 m (35,8%) Những loài cây gỗ có kích thước lớn là Kiền kiền, Dầu rái và Sao đen

4.1.2 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu

4.1.2.1 Kết cấu loài cây gỗ bình quân của nhóm rừng giàu

Số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm rừng giàu là 46 loài, thuộc 40 chi và 28 họ (Bảng 4.2; Hình 4.8; Phụ lục 4) Nhóm rừng giàu thường bắt gặp 5 loài cây gỗ ưu thế và đồng

ưu thế; trong đó Dầu rái là loài cây gỗ ưu thế, còn 4 loài cây gỗ đồng ưu thế là Kiền kiền, Cầy, Trâm vỏ đỏ và Trường lá nhỏ Mật độ trung bình của nhóm rừng giàu là 646 cây/ha(100%); trong đó 5 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế đóng góp 377 cây/ha hay 58,4% (trung bình 11,7%/loài), còn lại 41 loài cây gỗ khác đóng góp 269 cây/ha hay 41,6% (trung bình 1,0%/loài) Tiết diện ngang trung bình là 26,1 m2/ha (100%); trong

đó 5 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế chiếm 19,2 m2

hay 73,6% (trung bình 14,7%/loài), còn lại 41 loài cây gỗ đóng góp 6,9 m2/ha hay 26,4% (trung bình

0,64%/loài)

Bảng 4.2 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu thuộc Rkx ở BQLR Nam Huoai,

tỉnh Lâm Đồng Đơn vị tính: 1 ha

Hình 4.8 Đồ thị mô tả tổ thành cây gỗ của nhóm rừng giàu thuộc Rkx ở

BQLR Nam Huoai, tỉnh Lâm Đồng

Trang 36

Trữ lượng gỗ là 240,6 m3/ha (100%); trong đó 5 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế đóng góp 183,6 m3/ha hay 76,3% (trung bình 15,3%/loài), còn lại 41 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 57,0 m3/ha hay 23,7% (trung bình 0,58%/loài) Tổ thành trung bình của 5 loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế là 69,5% theo N, G và M, cao nhất là Dầu rái (23,7%), thấp nhất là Trường lá nhỏ (4,4%); trung bình 13,9%/loài Tổ thành của 41 loài cây gỗ khác là 30,5% theo N, G và M; trung bình 0,74%/loài

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu thay đổi tùy theo không gian (Phụ lục 5) Thành phần loài cây gỗ trên diện tích ô tiêu chuẩn 2.500 m2 thay đổi từ 21 loài (Ô tiêu chuẩn 6 - Phụ lục 5.1) đến có 26 loài (Ô tiêu chuẩn

8 và 10 - Phụ lục 5.3 và 5.5) Số loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế thay đổi từ 4 (Ô tiêu chuẩn 7 - Phụ lục 5.2) đến 7 loài (Ô tiêu chuẩn 9 - Phụ lục 5.4) Loài cây gỗ ưu thế thường bắt gặp là Kiền kiền (Ô tiêu chuẩn 6, 7 và 9 – Phụ lục 5.1, 5.2 và 5.4) và Dầu rái (Ô tiêu chuẩn 8 và 10 – Phụ lục 5.3 và 5.5) Mật độ cây gỗ với D > 8 cm thay đổi từ

588 cây/ha (Ô tiêu chuẩn 7 – Phụ lục 5.2) đến 680 cây/ha (Ô tiêu chuẩn 10 – Phụ lục 5.5) Tiết diện ngang thân cây thay đổi từ 24,0 m2/ha (Ô tiêu chuẩn 10 – Phụ lục 5.5) đến 30,0 m2

/ha (Ô tiêu chuẩn 9 – Phụ lục 5.4) Trữ lượng gỗ thay đổi từ 201,3 m3/ha (Ô tiêu chuẩn 6 – Phụ lục 5.1) đến 279,1 m3/ha (Ô tiêu chuẩn 9 – Phụ lục 5.4) Nhóm rừng giàu có độ tàn che trung bình 0,8(Phụ lục 6)

Nói chung, thành phần cây gỗ của nhóm rừng giàu khá phong phú (46 loài); trong đó độ ưu thế trung bình của mỗi loài cây gỗ là 2,2% Trong nhóm rừng này, những loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế dao động từ 4 – 7 loài; trung bình 5 loài Những loài cây gỗ ưu thế thường gặp là Kiền kiền và Dầu rái Những loài cây gỗ đồng

ưu thế thường gặp là Cầy, Sao đen, Trâm vỏ đỏ và Trường lá nhỏ Rừng hình thành 3 tầng cây gỗ khá rõ rệt Độ tàn che trung bình là 0,8

4.1.2.2 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu theo nhóm D

Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu theo ba nhóm D (< 20 cm, D = 20 – 40

cm và > 40 cm) được dẫn ra ở Hình 4.9 – 4.11 và phụ lục 18

Đối với nhóm D < 20 cm (Hình 4.9;phụ lục 18.1 ), số loài cây gỗ bắt gặp là 45 loài; trong đó Trâm vỏ đỏ là loài cây gỗ ưu thế, còn 6 loài cây gỗ đồng ưu thế là Kiền kiền, Dầu rái, Cám, Cầy, Trường lá nhỏ và Dền đỏ So với kết cấu loài cây gỗ của nhóm

D < 20 cm (100%), Trâm vỏ đỏ đóng góp 15,8%, 6 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 50,7% (trung bình 7,2%/loài), còn lại 38 loài cây gỗ khác đóng góp 33,5% (trung bình

Trang 37

0,9%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (46 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm D < 20 cm (45 loài) là 97,8%

Đối với nhóm D = 20 - 40 cm (Hình 4.10; phụ biểu 18.2), số loài cây gỗ bắt gặp

là 21 loài; trong đó Dầu rái là loài cây gỗ ưu thế, còn 5 loài cây gỗ đồng ưu thế là Kiền kiền, Cầy, Trâm vỏ đỏ, Trường lá nhỏ và Gạo So với kết cấu loài cây gỗ của nhóm D =

20 – 40 cm (100%), Dầu rái đóng góp 29,3%, 5 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 50,0% (trung bình 10,0%/loài), còn lại 15 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 20,7% (trung bình 1,4%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (46 loài), tỷ lệ

số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm D = 20 – 40 cm (21 loài) là 45,6%

Đối với nhóm D > 40 cm (Hình 4.11; phụ lục 18.3), số loài cây gỗ bắt gặp là 15 loài; trong đó Dầu rái là loài cây gỗ ưu thế, còn 3 loài cây gỗ đồng ưu thế là Kiền kiền, Cầy và Gạo So với kết cấu loài cây gỗ của nhóm D > 40 cm (100%), Dầu rái đóng góp

Dầu rái Kiền kiền Cầy Trâm vỏ đỏ Trường lá

Trang 38

30,2%, 3 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 53,4% (trung bình 17,8%/loài), còn lại 11 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 16,5% (trung bình 1,5%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (46 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp ở nhóm D = 20 –

40 cm (13 loài) là 32,6%

Nói chung, kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu thay đổi rõ rệt theo nhóm D Trong nhóm rừng này, Trâm vỏ đỏ chiếm ưu thế ở nhóm D < 20 cm, còn Dầu rái chiếm ưu thế ở nhóm D = 20 – 40 cm và D > 40 cm So với tổng số loài cây gỗ bắt gặp

ở nhóm rừng trung bình (46 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp giảm dần từ nhóm D <

20 cm (97,8%) đến nhóm D = 20 – 40 cm (45,6%) và D > 40 cm (32,6%) Những loài cây gỗ có kích thước lớn thường gặp là Kiền kiền, Dầu rái, Cầy và Trường lá nhỏ

4.1.2.3 Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu theo lớp H

Kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu theo ba lớp H (< 10 m, 10 – 20 m và >

20 m) được dẫn ra Hình 4.12 – 4.14 phụ biểu 19

Đối với lớp H < 10 m (Hình 4.12; phụ biểu 19.1), số loài cây gỗ bắt gặp là 31 loài; trong đó Dầu rái là loài cây gỗ ưu thế, còn 7 loài cây gỗ đồng ưu thế là Trâm vỏ đỏ, Kiền kiền, Chiếc tam lang, Dền đỏ, Cám, Cuống vàng và Giẻ So với kết cấu loài cây gỗ của lớp H < 10 m (100%), Dầu rái đóng góp 14,6%, 7 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 46,4% (trung bình 6,6%/loài), còn lại 23 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 39,0% (trung bình 1,7%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (46 loài), tỷ lệ

số loài cây gỗ bắt gặp ở lớp H < 10 m (31 loài) là 67,4%

Hình 4.11 Đồ thị mô tả kết cầu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu theo

nhóm D > 40 cm

IVI%

Trang 39

Đối với lớp H = 10 – 20 m (Hình 4.13; phụ biểu 19.2), số loài cây gỗ bắt gặp là

40 loài; trong đó Dầu rái là loài cây gỗ ưu thế, còn 6 loài cây gỗ đồng ưu thế là Kiền kiền, Trâm vỏ đỏ, Cầy, Trường lá nhỏ, Cám và Dền đỏ So với kết cấu loài cây gỗ của lớp H = 10 – 20 m (100%), Dầu rái đóng góp 19,7%, 6 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 52,7% (trung bình 8,8%/loài), còn lại 33 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 27,6% (trung bình 0,84%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (46 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp ở lớp H = 10 - 20 m (40 loài) là 87,0%

14.6 11.7 11.1

Dầu rái Trâm vỏ

đỏ Kiền kiền Chiếc tam lang

Trang 40

Đối với lớp H > 20 m (Phụ biểu 19.3; Hình 4.14), số loài cây gỗ bắt gặp là 16 loài; trong đó Dầu rái là loài cây gỗ ưu thế, còn 3 loài cây gỗ đồng ưu thế là Kiền kiền, Cầy và Gạo So với kết cấu loài cây gỗ của lớp H > 20 m (100%), Dầu rái đóng góp 29,9%, 3 loài cây gỗ đồng ưu thế đóng góp 50,5% (trung bình 13,6%/loài), còn lại 12 loài cây gỗ khác chỉ đóng góp 19,6% (trung bình 1,6%/loài) So với thành phần loài cây gỗ của nhóm rừng trung bình (46 loài), tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp ở lớp H > 20 m (16 loài) là 34,8%

Nói chung, kết cấu loài cây gỗ của nhóm rừng giàu thay đổi rõ rệt theo lớp H Trong nhóm rừng này, Dầu rái chiếm ưu thế ở cả ba lớp H Tỷ lệ số loài cây gỗ bắt gặp lớn nhất ở lớp H = 10 – 20 m (86,9%), nhỏ nhất ở lớp H > 20 m (34,8%) Những loài cây gỗ có kích thước lớn là Dầu rái, Kiền kiền, Trường lá nhỏ, Dền đỏ và Gạo

4.2 Cấu trúc của nhóm rừng trung bình và rừng giàu

4.2.1 Kết cấu mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng theo nhóm đường kính

Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật độ (N, cây/ha), tiết diện ngang (G, m2/ha) và trữ lượng gỗ (M, m3/ha) của nhóm rừng trung bình và nhóm rừng giàu thay đổi tùy theo nhóm D (Hình 4.15 – 4.16; Phụ lục 7 và phụ lục 20)

Đối với nhóm rừng trung bình (phụ lục 2.1; Hình 4.15), mật độ trung bình là

663 cây/ha (100%); trong đó số cây tăng dần từ nhóm D < 10 cm (230 cây/ha hay 34,7%) và đạt cao nhất ở nhóm D = 20 cm (277 cây/ha hay 41,7%), sau đó giảm nhanh

theo lớp H > 20 m

IVI%

Ngày đăng: 15/05/2021, 12:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm